1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm nâng cao kĩ năng giải bài tập phân bào cho đội tuyển học sinh giỏi sinh học 10 tại trường THPT tĩ

17 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 3,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua điều tra về thực trạng kỹ năng giải bài tập Sinh học của học sinh nói chung và của học sinh trường THPT Tĩnh Gia 3 nói riêng hiện nay cho thấy phần lớn học sinh còn lúng túng, chưa c

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Theo Nghị quyết số 29/NQ- TW Hội nghị Trung ương 8 khoá XI đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền đạt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích

tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật, đổi mới tri thức, kĩ năng và phát triển năng lực[3] Vì vậy, trong những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những chủ trương và biện pháp để cải tiến nội dung chương trình và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đặc biệt là đổi mới mạnh mẽ về phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm Để đổi mới phương pháp dạy học, cần

sử dụng rất nhiều biện pháp như đổi mới phương pháp kiểm tra- đánh giá, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học Trong đó sử dụng và rèn kĩ năng giải bài tập giúp học sinh nắm và vận dụng kiến thức linh hoạt là một trong những biện pháp có nhiều hiệu quả nhất Có thể nói, bài tập có vai trò định hướng hoạt động

tư duy của học sinh, giúp học sinh phát huy tính tích cực, năng lực chủ động sáng tạo trong học tập Đặc biệt ở những nội dung kiến thức có nhiều mối quan

hệ thì việc giải bài tập có thể giúp học sinh mở rộng được kiến thức Cho nên rèn kĩ năng giải bài tập sẽ tạo sức ảnh hưởng rất lớn trong quá trình tổ chức hoạt động học tập cho học sinh hiện nay Học sinh có kĩ năng giải bài tập tức là đã vận dụng được kiến thức và sẽ củng cố mở rộng được kiến thức Tuy nhiên, đối với môn sinh học 10 có rất ít tài liệu và bài giảng của giáo viên đề cập đến vấn

đề này Qua điều tra về thực trạng kỹ năng giải bài tập Sinh học của học sinh nói chung và của học sinh trường THPT Tĩnh Gia 3 nói riêng hiện nay cho thấy phần lớn học sinh còn lúng túng, chưa có các kĩ năng cơ bản để giải bài tập phân bào thậm chí là bài tập trong sách giáo khoa một cách hoàn chỉnh và chính xác Chính điều đó đã hạn chế rất nhiều đến việc tiếp thu kiến thức Sinh học, khả năng tự học của học sinh THPT nói chung và những học sinh tham gia đội tuyển Sinh học từ lớp 10 nói riêng

Mặt khác, Trường THPT tĩnh Gia 3 thành lập đội tuyển học sinh giỏi các môn văn hoá lớp 10 bắt đầu từ tháng 4, đồng nghĩa với môn Sinh các em đã học xong kiến thức phân bào trên lớp Vì vậy, với tâm lí học sinh bài tập phần phân bào khó, các em thường hay lúng túng và hay làm sai, đặc biệt phải bó tay với các bài toán kết hợp cả 3 nội dung nguyên phân, giảm phân đồng hành cùng thụ tinh Dẫn đến làm cho học sinh áp lực, không tự tin, không mạnh dạn đăng kí tham gia đội tuyển nên việc thành lập và thu hút những học sinh tốp đầu của trường vào đội tuyển Sinh học 10 cực kì khó khăn Thực tế rất rõ ràng những học sinh ở các lớp khối của trường (Trường không có lớp khối B) thường tham gia các đội tuyển Toán, Lí, Hoá đến môn Sinh chỉ “vớt” lại tốp sau cùng (có học lực khá) nhưng cũng không hề dễ dàng Có thể nói ngay ban đầu chất lượng đội tuyển môn Sinh trường THPT Tĩnh Gia 3 thấp

Vậy làm thế nào để bồi dưỡng những học sinh có học lực khá này có thể đạt giải học sinh giỏi cấp Tỉnh là một vấn đề trăn trở của rất nhiều giáo viên phụ trách đứng đội tuyển Qua nhiều năm được phân công phụ trách đội tuyển Sinh

Trang 2

học 10, 11 tôi nhận thấy: cần phải thay đổi linh hoạt cách bồi dưỡng sao cho phù hợp với đối tượng người học và một trong những thay đổi đó chính là dạy học theo chuyên đề, mỗi chuyên đề cần biên soạn lại nội dung, kiến thức từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp thì học sinh sẽ không bị ngợp kiến thức đồng thời giúp các em dễ tiếp cận và nâng cao tính tự học, góp phần đưa chất lượng đội tuyển đi lên

Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn nội dung nghiên cứu: Nâng cao

kĩ năng giải bài tập phân bào cho đội tuyển học sinh giỏi Sinh học 10 và khi áp dụng vào thực tiễn đã đem lại kết quả rất khả thi Chính vì vậy tôi mạnh dạn đưa

ra đề tài: “Kinh nghiệm nâng cao kĩ năng giải bài tập phân bào cho đội tuyển học sinh giỏi Sinh học 10 tại trường THPT Tĩnh Gia 3” làm sáng kiến

kinh nghiệm

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này giúp học sinh có khả năng tự học và củng cố lí thuyết cũng như

vận dụng giải các bài tập phân bào linh hoạt Đồng thời giúp các anh chị, đồng nghiệp có thêm một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học có hiệu quả

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Nâng cao kĩ năng giải bài tập phân bào cho học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi Sinh học 10

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai nội dung của sáng kiến kinh nghiệm chúng tôi sử dụng các

phương pháp nghiên cứu sau:

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích tổng hợp, hệ thống hoá kiến thức phân bào, thụ tinh, vai trò của việc rèn kĩ năng giải bài tập sinh học

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Sử dụng phương pháp điều tra sư phạm: áp dụng để thu thập số liệu về kết quả thực nghiệm

- Phương pháp thử nghiệm: Rèn luyện và nâng cao kĩ năng giải bài tập phân bòa cho học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi môn Sinh học 10

- Phương pháp thống kê toán học: dùng để xử lí số liệu thu được về thực trạng

và tính khả thi của đề tài

2 Nội dung

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Quan niệm về kĩ năng

Theo Trần Bá Hoành, kĩ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn Kĩ năng đạt tới mức hết sức thành thạo, khéo léo thì sẽ trở thành kĩ xảo Mỗi kĩ năng chỉ biểu hiện thông qua một nội dung [4]

2.1.2 Vai trò của kĩ năng

Kĩ năng không chỉ là kỹ thuật, cách thức hành động mà còn là thành tố cấu trúc nên mục tiêu dạy học và tạo nên năng lực của người học Trong quá trình dạy học tuỳ mục đích mà dạy kĩ năng tương ứng bởi lẽ có nắm vững kiến thức

Trang 3

mới hình thành được kĩ năng và có kĩ năng chứng tỏ đã vận dụng được kiến thức

2.1.3 Kĩ năng giải bài tập phân bào

Bài tập phân bào cũng được chia làm 2 nhóm: bài tập định tính và bài tập định lượng

- Bài tập định lượng là bài tập mà muốn hoàn thành chúng học sinh phải sử dụng

tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, hệ thống hoá, cụ thể hoá nhằm giải quyết vấn đề nhận thức

- Bài tập định tính là dạng bài tập mà khi giải học sinh phải thực hiện được các thao tác tính toán

Bài tập phân bào bản chất là sự mâu thuẫn những mối quan hệ sinh học đã biết với những mối quan hệ sinh học cần tìm Là dạng bài tập học sinh phải vận dụng kiến thức về chu kì tế bào, điều hoà phân bào, nguyên phân, giảm phân và thụ tinh để:

- Giải thích được bản chất của vấn đề phân bào trong các tình huống mới

- Xác định được hàm lượng ADN và trạng thái, số lượng nhiễm sắc thể (NST)

trong các pha của kì trung gian, các kì của nguyên phân và giảm phân

- Dựa vào hình vẽ để xác định được tế bào đang ở kì nào và thuộc kiểu phân bào gì?

- Tính được các đại lượng trong nguyên phân, giảm phân: Số tế bào con tạo ra,

số lần nguyên phân, số NST môi trường cung cấp

- Xác định được số giao tử hình thành và số hợp tử tạo ra, hiệu suất thụ tinh

- Xác định được số cách sắp xếp NST tại kì giữa I của giảm phân

- Tính được số loại tinh trùng, số loại trứng tạo ra tối đa của 1 cơ thể, của một tế bào và một nhóm tế bào sinh giao tử

Vì vậy quy trình chung khi rèn kĩ năng giải bài tập phân bào cần tiến hành theo các bước sau:

- Bước 1: Hệ thống hoá được kiến thức, từ đó xác định được những kiến thức liên quan đến bài tập

- Bước 2: Hình thành kĩ năng cơ bản qua hướng dẫn bài tập mẫu

- Bước 3: Củng cố kĩ năng qua luyện tập theo mẫu

- Bước 4: Phát triển kĩ năng qua luyện tập theo mẫu có biến đổi

- Bước 5: Phát triển kĩ năng qua luyện tập bài tổng hợp để phối hợp các kĩ năng đó

2.2 Thực trạng vấn đề

Trong chương trình Sinh học 10 cơ bản, kiến thức về phân bào gồm có 2 tiết

lí thuyết được đề cập ở bài 18- “Chu kì tế bào và quá trình nguyên phân”, bài 19- “Giảm phân” và 1 tiết thực hành “Quan sát các kì của nguyên phân trên tiêu bản rễ hành”, không có tiết bài tập củng cố và nâng cao kiến thức phần phân bào Hiện nay, khi được xây dựng lại khung chương trình thì một số trường có

bổ sung thêm 1 tiết bài tập Nhưng với 1 tiết đó không thể đủ để học sinh củng

cố và rèn luyện được kĩ năng giải bài tập nguyên phân, giảm phân thành thạo, khắc phục được những lỗi hay sai, nhất là với các trường THPT có điểm đầu vào thấp như THPT Tĩnh Gia 3, Tĩnh Gia 4, Cấp 2-3 Nghi Sơn trên địa bàn huyện Tĩnh Gia nói riêng và nhiều trường ở các huyện khác nói chung Mà đây là nội

Trang 4

dung kiến thức rất quan trọng thường hay gặp trong các đề thi THPT Quốc gia,

đề thi học sinh giỏi (Riêng với tỉnh Thanh Hoá hầu như luôn chiếm một câu 2 điểm trong đề thi học sinh giỏi thang điểm 20)

Qua điều tra thực tế cho thấy phần lớn kỹ năng giải bài tập Sinh học của học sinh nói chung và của học sinh trường THPT Tĩnh Gia 3 nói riêng còn lúng túng, chưa có các kĩ năng cơ bản để giải bài tập, thậm chí là bài tập phân bào trong sách giáo khoa một cách hoàn chỉnh và chính xác Chính điều đó đã hạn chế rất nhiều đến việc tiếp thu kiến thức Sinh học, khả năng tự học của học sinh THPT nói chung và những học sinh tham gia đội tuyển Sinh học từ lớp 10 nói riêng

Nguyên nhân của thực trạng trên, theo tôi có thể còn do một số nguyên nhân sau:

- Về phía giáo viên: Việc trang bị cho học sinh những kiến thức có liên quan đến

kỹ năng giải bài tập phân bào chưa được hệ thống đầy đủ, khoa học Ví dụ như kiến thức về quá trình giảm phân phát sinh giao tử, thụ tinh

- Nhiều em chưa có phương pháp học tập phù hợp, học theo kiểu thụ động hoặc xem môn sinh học là môn học phụ Điều này đã ảnh hưởng không ít đến chất lượng học tập bộ môn và công tác thu hút, giáo dục chất lượng mũi nhọn

Trước thực trạng trên, theo tôi không chỉ với “giáo dục đại trà” mà ngay giáo dục mũi nhọn cần phải “dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo

cơ sở để người học tự cập nhật, đổi mới tri thức, kĩ năng và phát triển năng lực”

Và trên thực tế cũng đã có nhiều chuyên đề, đề tài viết về vấn đề này song lại chưa hệ thống đầy đủ, chưa cụ thể hoá rõ ràng cho từng dạng, từ lí thuyết đến bài tập để người học, nhất là những học sinh tham gia đội tuyển rèn luyện được

kĩ năng giải bài tập phân bào ở các trường có điểm đầu vào thấp, chất lượng đội

tuyển không cao Vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra đề tài: “Kinh nghiệm nâng cao kĩ năng giải bài tập phân bào cho đội tuyển học sinh giỏi Sinh học 10 tai trường THPT Tĩnh Gia 3” làm sáng kiến kinh nghiệm.

2.3 Giải pháp thực hiện

A Hệ thống lí thuyết theo chuyên đề

I Chu kì tế bào

1 Khái niệm

2 Các giai đoạn

3 Đặc điểm các pha của kì trung gian

II Phân biệt các hình thức phân bào

- Phân đôi: là hình thức phân bào không có tơ hay không có thoi phân bào

- Gián phân: Là hình thức phân bào có tơ hay có thoi phân bào Gồm:

+ Nguyên phân

+ Giảm phân

III Nguyên phân

1 Xảy ra ở loại tế bào

2 Diễn biến

3 Kết quả

4 Ý nghĩa

IV Giảm phân

Trang 5

1 Xảy ra ở loại tế bào

2 Diễn biến

3 Kết quả

4 Ý nghĩa

V Thụ tinh

1 Khái niệm: là sự hợp nhất giữa nhân giao tử đực với nhân của giao tử cái để

tạo thành hợp tử, từ đó phát triển thành cơ thể mới

2 Cơ chế: Khi thụ tinh có rất nhiều tinh trùng tham gia nhưng chỉ có 1 con thành công kết hợp với trứng tạo thành hợp tử, từ đó phát triển thành cơ thể mới.

B Rèn và nâng cao kĩ năng giải bài tập phần phân bào

Dạng 1: Câu hỏi và bài tập về chu kì tế bào

a Dựa vào đặc điểm từng pha trong chu kì tế bào để gải quyết các bài tập liên quan

Câu 1 : Trong chu kì tế bào pha nào có biến động nhiều nhất về sinh hóa và pha

nào có biến động nhiều nhất về hình thái? Giữa 2 pha này có mối quan hệ thuận nghịch không?

Đáp án

- Trong chu kì tế bào: pha S có biến động nhiều nhất về sinh hóa

pha M có biến động nhiều nhất về hình thái

- Giữa 2 pha này có mối quan hệ một chiều: pha S hoàn tất mới chuyển sang pha M

Câu2: Từ những hiểu biết về các pha của kì trung gian, hãy đề xuất thời điểm

dùng tác nhân gây đột biến gen và đột biến đa bội để có hiệu quả nhất?

Đáp án

- Kì trung gian gồm 3 pha là G1, S và G2

- Thời điểm xử lí đột biến

+ Để gây đột biến gen nên tác động vào pha S vì ở pha này diễn ra nhân đôi ADN

+ Để gây đột biến đa bội để có hiệu quả cần xử lí cônsixin vào pha G2, vì ở pha này tế bào tiếp tục tổng hợp và trùng hợp các phân tử prôtêin Tubulin tạo các vi ống để từ đó hình thành thoi phân bào Mà cônsixin gây ức chế sự hình thành các vi ống nên sẽ ngăn cản hình thành thoi phân bào Vì vậy hiệu quả tạo đột biến đa bội sẽ cao

Câu 3: Vì sao pha G1 lại là pha sinh trưởng của tế bào?

Đáp án

Vì:

- Diễn ra sự gia tăng của tế bào chất Tổng hợp các chất cần cho sự phân bào: Protein, nucleotit,…

- Sự hình thành thêm các bào quan khác nhau

Câu 4 : Tế bào động vật có những điểm kiểm soát nào? Với vai trò gì?

Đáp án

Ở tế bào động vật có 3 điểm chốt :

- Điểm chốt R ở cuối pha G1 báo hiệu các quá trình cần thiết cho sự nhân đôi của ADN và NST phải được chuẩn bị đầy đủ Kiểm tra sửa chữa các phân tử ADN bị đột biến để tránh nhân đôi các ADN bị đột biến

Trang 6

- Điểm chốt G2 để báo hiệu các quá trình cần thiết cho sự phân bào phải được hoàn tất Các quá trình đó chưa hoàn tất tế bào sẽ bị ách lại ở pha G2 để ngăn không xảy ra hư hỏng trong hệ gen

- Điểm chốt của giai đoạn M( ở kì giữa chuyển sang kì sau): Điều kiện là các quá trình tan rã màng nhân, tạo thoi phân bào, các trung tiết (tâm động) bám gắn vào thoi phân bào thì tế bào mới chuyển sang kì sau Nếu các quá trình trên chưa hoàn tất thì tế bào bị ách lại ở kì giữa tạo nên các tế bào đa bội, kì sau kì cuối không xảy ra

Câu 5 : Bệnh ung thư có thể xem là bệnh về điều hòa phân bào không? Vì sao?

Đáp án

Có Vì:

Bệnh ung thư do các tế bào khối u xuất hiện tại một vị trí nào đó trong cơ thể, có khả năng di chuyển đến nơi khác tạo nên nhiều khối u ở các bộ phận khác

Khối u ban đầu được xuất phát do một tế bào trong cơ quan nào đó có chu

kì tế bào không bình thường (phần nhiều do đột biến gen hoặc do virut) làm tế bào phân chia liên tục không ngừng Các cơ chế điều khiển chu kì tế bào bị hỏng nên có thể coi đây là bệnh về điều hòa phân bào

b Xác định thời gian của kì trung gian ở các loại tế bào

Câu 1: Thời gian của kì trung gian ở tế bào vi khuẩn, tế bào hồng cầu người, tế

bào hợp tử, tế bào gan, tế bào thần kinh có gì khác nhau? Giải thích?

Đáp án

- Thời gian của kì trung gian ở tế bào vi khuẩn thường rất ngắn, không chia thành các pha như ở tế bào nhân thực Vì vi khuẩn phân bào trực phân, không cần thoi phân bào, kích thước nhỏ, cấu tạo đơn giản nên tốc độ tổng hợp các chất diễn ra nhanh

- Thời gian của kì trung gian ở tế bào hồng cầu người: không có kì trung gian vì hồng cầu người không có nhân nên không phân chia

- Thời gian của kì trung gian ở tế bào hợp tử rất ngắn do G1 rất ngắn

- Thời gian của kì trung gian ở tế bào gan rất dài vì chu kì tế bào dài, rất ít phân chia

- Thời gian của kì trung gian ở tế bào tế bào thần kinh: không có kì trung gian vì

tế bào thần kinh không phân chia

Câu 2 : Sự khác nhau giữa các tế bào phôi sớm và tế bình thường

Đáp án

Chỉ tiêu Tế bào bình thường Tế bào phôi sớm

Các pha Gồm 4 pha G1, S,G2, M Không Có G1 có khi không

có pha G2

Thời gian cử chu

Hệ thống điều

chỉnh chu kì tế

bào

Hệ thống điều chỉnh phải thích ứng với khoảng thời gian dài , tế bào phải được điều chỉnh để vượt qua điểm

Hệ thống điều chỉnh phải thích ứng với khoảng thời gian ngắn cho phép tế bào trong khoảng thời gian ngắn

Trang 7

chốt R phải hoàn thành được các quá trình

Câu 3: Tại sao các tế bào phôi sớm lại có chu kì ngắn chỉ khoảng 30 phút?

Đáp án

Các tế bào phôi sớm lại có chu kì ngắn chỉ khoảng 30 phút vì chúng không

có pha G1. Các nhân tố cần thiết cho sự nhân đôi của AND đã đựơc chuẩn bị từ trước và có sẵn trong tế bào chất của trứng

c Xác định hàm lượng ADN và trạng thái, số lượng NST trong các pha của

kì trung gian

Cho tế bào có bộ NST 2n, biết hàm lượng ADN trong nhân là a (pg) Xác định hàm lượng ADN và trạng thái, số lượng NST, số crômatít trong các pha của

kì trung gian?

Đáp án

1 Hàm lượng

Dạng 2: Câu hỏi và bài tập về nguyên phân

a Hệ thống câu hỏi củng cố về lí thuyết nguyên phân

Câu 1: Trong nguyên phân, những cơ chế nào đảm bảo cho các tế bào con có bộ

NST hoàn toàn giống với bộ NST của tế bào mẹ?

Đáp án

Các cơ chế:

+ Nhân đôi ADN và NST ở pha S: Quá trình nhân đôi ADN phải đảm bảo chính xác để tạo ra các cromatit hoàn toàn giống nhau

+ Tổng hợp prôtêin thoi phân bào ở pha G2: Lượng prôtêin tham gia cấu tạo thoi phân bào cần được tổng hợp đầy đủ ở pha G2 để đảm bảo tất cả các NST đều được đính trên tơ vô sắc vào kì giữa

+ Sự sắp xếp các NST kép ở kì giữa: Vào kì giữa, tất cả các NST kép phải được đính trên tơ vô sắc và xếp trong một mặt phẳng xích đạo của thoi vô sắc

+ Sự phân li của các crômatit trong các NST kép ở kì sau: Các crômatit trong NST kép phải tách nhau ra và phân li bình thường về hai cực của tế bào

Câu 2: Tại sao các nhiễm sắc thể phải co xoắn tối đa trước khi bước vào kì sau

của quá trình phân bào? Điều gì sẽ xảy ra nếu ở kì trước của nguyên phân thoi phân bào không được hình thành?

Đáp án

- Các NST phải co xoắn tối đa trước khi bước vào kì sau để việc di chuyển về 2 cực tế bào được dễ dàng, không bị rối loạn do kích thước của NST

- Nếu ở kì trước của nguyên phân thoi phân bào không được hình thành thì các NST không phân li được về 2 cực tế bào => tế bào không phân chia => tạo ra tế bào có bộ NST tăng gấp đôi(4n)

Trang 8

Câu 3 : Trong phân bào, nhiễm sắc thể sau khi nhân đôi không tách nhau ra ngay

mà vẫn dính với nhau ở tâm động sẽ đem lại lợi ích gì? Màng nhân biến mất vào

kì đầu và xuất hiện trở lại vào kì cuối có ý nghĩa gì?

Đáp án

- Lợi ích: giúp phân chia đồng đều vật chất di truyền cho các tế bào con

- Ý nghĩa:

+ Màng nhân biến mất vào kì đầu nhằm giải phóng NST vào tế bào chất để NST tiếp xúc với thoi vô sắc và thực hiện phân chia NST cho tế bào con + Màng nhân xuất hiện trở lại vào kì cuối để bảo vệ NST trước các tác nhân của môi trường và điều hoà hoạt động của gen

Câu 4: Ở tế bào thực vật không có trung tử, thoi phân bào sẽ được hình thành

như thế nào?

Đáp án

Tế bào thực vật không có trung tử nhưng ở vùng cạnh nhân vẫn có vùng

đậm đặc tương tự vùng quanh trung tử Vai trò của chúng là hoạt hóa sự trùng hợp tubulin để tạo thành thoi phân bào => gọi là sự phân bào không sao

Câu 5: Trong quá trình nguyên phân:

a Sự phân chia tế bào chất diễn ra rõ nhất ở kì nào?

b Điểm khác nhau cơ bản trong sự phân chia tế bào chất ở tế bào động vật và tế bào thực vật được thể hiện như thế nào?

c Nguyên nhân của sự xuất hiện vách ngăn trong quá trình phân chia tế bào chất

ở tế bào thực vật được giải thích như thế nào?

Đáp án

a Sự phân chia tế bào chất diễn ra rõ nhất ở kì cuối vì sự phân chia này có thể bắt đầu diễn ra ở cuối kì sau nhưng chưa thật rõ rệt

b Điểm khác nhau cơ bản:

+ Tế bào động vật: hình thành eo thắt ở vùng xích đạo của tế bào bắt đầu

co thắt từ ngoài màng sinh chất vào trung tâm

+ Tế bào thực vật: hình thành vách ngăn đi từ trung tâm ra ngoài vách tế bào

c Nguyên nhân: vì tế bào thực vật có thành tế bào bằng xenlulozo làm cho tế bào không vận động được

b Xác định trạng thái, số lượng NST, số crômatít, số tâm động trong mỗi tế bào ở các kì của nguyên phân

Câu 1: Cho tế bào người có bộ NST 2n = 46, Xác định trạng thái, số lượng

NST, số crômatít trong mỗi tế bào ở các kì của nguyên phân?

Đáp án

Câu 2: Ở lúa 2n = 24, nhóm tế bào I có các NST đang tập trung trên mặt phẳng

xích đạo ít hơn số lượng NST của nhóm tế bào II có các NST đang phân li về hai cực của tế bào là 1200 Tổng số NST của cả hai nhóm tế bào là 1680

Trang 9

a Tính số tế bào mỗi nhóm?

b Khi kết thúc nguyên phân hai nhóm đã tạo ra bao nhiêu tế bào con?

Đáp án

a Gọi a, b lần lượt số tế bào nhóm I và II, ta có:

a + b = 1680

b – a = 1200 Suy ra a = 240 tế bào, b = 1440 tế bào

Số tế bào nhóm I: 240/ 24 = 10 (tế bào)

Số tế bào nhóm I: 1440/ 48 = 30 (tế bào)

b Khi kết thúc nguyên phân hai nhóm đã tạo ra số tế bào con:

10.2 + 30 2 = 80(tế bào)

c Tính các đại lượng trong nguyên phân

c.1 Gọi a là số tế bào mẹ ban đầu có bộ lưỡng bội = 2n, k là số lần nguyên phân liên tiếp, ta có:

1 Tổng số TB con được tạo thành = 2k a

2 Số TB mới được tạo thành từ nguyên liệu môi trường = (2k – 1).a

3 Số TB mới được tạo thành hoàn toàn từ nguyên liệu môi trường=(2k – 2).a

4 Tổng NST có trong các TB con = 2n a 2k

5 Môi trường nội bào cung cấp nguyên liệu tương đương với số NST

= 2n.(2k – 1)

Bài tâp vận dụng

Câu 1: Ở thỏ 2n = 44, có 10 tế bào nguyên phân 3 lượt liên tiếp Tính:

a số tế bào con hình thành?

b số NST đơn môi trường cung cấp?

c số NST đơn có nguyên liệu mới hoàn toàn trong các tế bào con?

d số thoi vô sắc hình thành hoặc phá huỷ trong quá trình trên?

Đáp án

a Số tế bào con hình thành = 10 23 = 80 (tế bào)

b Số NST đơn môi trường cung cấp = 10 (23 – 1) 44 = 3080(NST)

c Số NST đơn có nguyên liệu mới hoàn toàn trong các tế bào con:

10.(23 – 2).44 = 2640(NST)

d Số thoi vô sắc hình thành hoặc phá huỷ trong quá trình trên= 10 (23 – 1)= 70

Câu 2: 10 hợp tử của cùng một loài nguyên phân 4 lượt liên tiếp như nhau đòi

hỏi môi trường nội bào cung cấp 11700 NST

a Tìm 2n?

b Tính số tế bào con tạo thành?

c Số NST trong các tế bào con?

Đáp án

a ADCT số NST môi trường cung cấp ta có: 10 (24 – 1) 2n = 11700

Suy ra 2n = 78

b Số tế bào con tạo thành= 10 24 = 160(tế bào)

c Số NST trong các tế bào con = 160.78 = 12480(NST)

c.2 Nếu số lần nguyên phân của các tế bào không bằng nhau:

Giả sử có a tế bào có số lần nguyên phân lần lượt là: k1, k2, k3,….ka (ĐK: nguyên dương)

Trang 10

=> Tổng số TB con = 2 k1+ 2 k2 + 2 k3 + …+ 2 ka

Bài tâp vận dụng:

Ba tế bào A, B, C có tổng số lần nguyên phân là 10 và tạo ra 36 tế bào con.

Biết số lần nguyên phân của tế bào B gấp đôi số lần nguyên phân của tế bào A Tìm số lần nguyên phân và số tế bào con tạo ra từ mỗi tế bào A, B, C

Đáp án

Gọi số lần nguyên phân tế bào A là k => Số lần nguyên phân của tế bào B là 2k

Số lần nguyên phân tế bào C là y => k + 2k + y = 10 => y = 10 – 3k

2k + 22k + 2y = 36 => 2k + 22k + 210 – 3k = 36 => k = 2 => y = 4

Vậy A: 2 lần và tạo 2 tế bào con, B: 4 lần và tạo 16 tế bào con, C: 4 lần và tạo

16 tế bào con

Dạng 3: Câu hỏi và bài tập về giảm phân

a Hệ thống câu hỏi củng cố lí thuyết về giảm phân

Câu1: Tại sao các nhiễm sắc thể tương đồng lại phải bắt đôi với nhau trong kì

đầu I của giảm phân Nếu các NST không bắt đôi với nhau thì điều gì sẽ xảy ra? Đáp án

- Vì: trong quá trình bắt đôi, các nhiễm sắc tử(cromatit) của cặp NST tương đồng có thể trao đổi đoạn cho nhau làm xuất hiện những tổ hợp gen mới Đây là nguyên nhân làm tăng các biến dị tổ hợp

- Nếu các NST không bắt đôi với nhau thì sự phân chia các NST về các cực sẽ không đồng đều dẫn đến đột biến về số lượng NST

Câu 2: a Nguyên nhân gây nên sự khác biệt về số lượng NST ở các tế bào con

trong nguyên phân và giảm phân?

b Các loài sinh vật đơn bội có giảm phân không? Nếu số lượng NST của tế bào

là đa bội lẻ( 3n, 5n…) thì quá trình giảm phân xảy ra có gì trục trặc?

Đáp án

a - Trong kì đầu của GP I, mỗi NST kép trong cặp NST tương đồng chỉ lien kết với dây tơ vô sắc ở một phí của tâm động, vì thế khi phân li thì cả NST kép đi về

1 cực của tế bào

- Trong GP II hay trong nguyên phân: mỗi NST kép liê kết với dây tơ vô sắc ở

cả 2 phía của tâm động nên khi phân li thì 2 nhiễm sắc tử tách rời nhau và trượt theo các dây tơ vô sắc về 2 cực của tế bào

b Các loài sinh vật có bộ NST n không có quá trình giảm phân

- Khi có 3, 5 NST tương đồng trong mỗi cặp NST thì sự bắt đôi và phân li của các NST sẽ dẫn đến sự phân chia không đồng đều các NST cho các tế bào con

Câu 3: Cơ thể có kiểu gen Aa

bd

BD

cho ra 8 loại giao tử là: A BD, A bd, a BD, a

bd, A Bd, A bD, a Bd, a bD Những cơ chế nào xảy ra trong giảm phân đã dẫn đến việc hình thành 8 loại giao tử đó?

Đáp án

- Trong giảm phân NST nhân đôi một lần ở giai đoạn chuẩn bị và xảy hai lần phân li đồng đều của NST về hai cực của tế bào ở kì sau I và kì sau II

- Trong giảm phân xảy ra sự tiếp hợp trao đổi đoạn tương ứng của cặp NST kép tương đồng ( cặp BD bd ) ở kì đầu của giảm phân I

Ngày đăng: 28/10/2019, 19:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w