Địa lí là một trong những môn học sử dụng nhiều PT-ĐDDH như, bản đồ,tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu thống kê, phim ảnh…đặc biệt là Atlat.. Ở bài viết này, tôi xin trìnhbày một số kinh nghiệm
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 2
1.1.Lí do chọn đề tài 2
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lí luận của SKKN 4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 5
2.3 Các hoạt động đã sử dụng để giải quyết vấn đề 7
2.4 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
17 PHẦN 3: KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Ý KIẾN NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ 21
Trang 2PHẦN 1:MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong quá trình tiếp thu tri thức, phương pháp là vô cùng quan trọng, khoahọc đã chứng minh khi chúng ta sử dụng nhiều hơn các giác quan, đặc biệt là thịgiác hay trực tiếp thực hành khả năng tiếp thu sẽ cao hơn so với việc chúng ta chỉdùng thính giác Do đó, hiện nay hầu như tất cả các môn học đều sử dụng rất nhiềuphương tiện - đồ dùng dạy học (PT-ĐDDH), các phương tiện trực quan sinh độngnhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy
Địa lí là một trong những môn học sử dụng nhiều PT-ĐDDH như, bản đồ,tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu thống kê, phim ảnh…đặc biệt là Atlat Mặc dù vậy,trong quá trình dạy và học môn Địa lí nhiều giáo viên (GV) và học sinh (HS) vẫn
có quan niệm quan niệm đó là môn học thuộc lòng, chỉ cần học thuộc bài là đạtđiểm cao, không cần tư duy, suy nghĩ như các môn học khác Việc dạy và học củathầy và trò do đó thường là giảng và chép như một môn học thuộc, mà chưathường xuyên sử dụng các đồ phương tiện dạy học nhằm tạo hứng thú cho HS khihọc Do đó, chưa kích thích được khả năng tư duy, sáng tạo, chủ động của HS,chưa giúp cho HS nắm bắt được bản chất các hiện tượng địa lí, đặc biệt là khả năngphân tích, tổng hợp, so sánh còn yếu
Đây là một vấn đề cấp thiết, nhằm đổi mới tư duy, phương pháp dạy học,phương pháp tiếp cận với tri thức Đối với bản thân tôi, là một GV trẻ, tôi rất mongmuốn được áp dụng những cái mới, những phương pháp dạy học tích cực vàogiảng dạy
Việc viết sáng kiến kinh nghiệm mang lại ý nghĩa lớn; đây là cơ hội để giáo viênchia sẻ và giúp nhau một cách thiết thực nhất trong việc nâng cao chất lượng giảngdạy của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh Ở bài viết này, tôi xin trìnhbày một số kinh nghiệm – kết quả tích lũy của bản thân trong quá trình giảng dạyĐịa lý ở lớp 12 và ôn thi TN THPT cho các em học sinh của trường THPT Trường
Thi - đó là “HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM NHẰM KHẮC SÂU KIẾN THỨC BÀI 27 – ĐỊA LÍ 12 : “VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG ĐIỂM”.Việc áp dụng
phương pháp dạy học này đã mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy của giáo viêncũng như trong học tập của học sinh Chính vì tính hiệu quả đó nên tôi cũng khôngngần ngại chia sẻ với nhiều đồng nghiệp và nhận được sự đồng tình rất cao Do đótôi mạnh dạn trình bày những nội dung chính của sáng kiến để các thầy cô đồngnghiệp tham khảo, cũng như góp ý bổ xung để sáng kiến hoàn thiện hơn
Trong quá trình thực hiện, chắc rằng nội dung và hình thức bài viết cũngkhông tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tôi rất mong được sự chỉ dẫn và góp ý
Trang 31.3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh khối 12 trường THPT Trường Thi
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thử nghiệm
- Các phương pháp khác có liên quan
- Phương pháp thu thập số liệu : sử dụng phiếu thu thập ý kiến học sinh
- Phương pháp xử lí số liệu
- Thông qua kinh nghiệm thực hiện giảng dạy đối với chương trình đổi mới sáchgiáo khoa 12
Trang 4PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong việc dạy và học môn Địa lý ở trường phổ thông, các loại Atlat nóichung và Atlat Địa lý Việt Nam nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng Có thể coi
đó là “ cuốn sách giáo khoa ” Địa lý đặc biệt, mà nội dung của nó được thể hiệnchủ yếu bằng bản đồ và bản đồ được xem là “Ngôn ngữ thứ hai” của Địa lý học
Atlat Địa lý Việt Nam được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1992 - là một tàiliệu học tập hữu ích không chỉ đối với học sinh mà còn cả đối với giáo viên THPT.Theo công văn số 8065/BGD&ĐT-GDTrH ngày 14-9-2009 của BGD& ĐT “v/v sửdụng Atlat Địa lí Việt Nam”: “Năm học 2008-2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đãhoàn thành việc triển khai chương trình và sách giáo khoa phổ thông mới Để phùhợp với chương trình và sách giáo khoa mới, năm 2009 Công ty Cổ phần Bản đồ
và Tranh ảnh giáo dục tái bản cuốn Atlát Địa lí Việt Nam trên cơ sở chỉnh lí và bổsung cuốn Atlat Địa lí Việt Nam đã sử dụng từ năm 1994 đến năm học 2008-2009các nội dung như sau:
1 Thay đổi hệ thống số liệu mới trên toàn cuốn Atlát để cập nhật;
2 Điều chỉnh nội dung một số trang bản đồ trong Atlát;
3 Tách trang bản đồ Đất, thực vật và động vật thành 02 trang: Các nhóm vàcác loại đất chính; Động vật và thực vật;
4 Bổ sung thêm 03 trang bản đồ: Các hệ thống sông; Kinh tế chung; Cácvùng kinh tế trọng điểm
Yêu cầu các địa phương hướng dẫn giáo viên và học sinh sử dụng cuốn AtlatĐịa lí Việt Nam tái bản có chỉnh lí và bổ sung do Công ty Cổ phần Bản đồ vàTranh ảnh giáo dục xuất bản năm 2009 trong học tập, kiểm tra và đánh giá bộ mônĐịa lí” - Các bộ môn khoa học đang giảng dạy trong nhà trường hiện nay đều gópphần giúp học sinh phát triển tư duy, nâng cao nhận thức về tự nhiên và xã hội
Tính đến năm học 2008 – 2009, cả nước ta đã hoàn thành việc thay sáchgiáo khoa từ lớp 1 đến lớp 12 theo chương trình mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo.Bám sát vào chường trình và sách giáo khoa Địa lý phổ thông hiện hành, cuốnAtlat Địa lý Việt Nam đã được bổ sung và chỉnh lý để ngày càng phù hợp hơn, gầngũi với người đọc và dễ hiểu hơn Cuốn Atlas Địa lý Việt Nam (xuất bản năm2010) rất phù hợp với chương trình và sách giáo khoa Địa lý 12 mới do Bộ Giáodục và Đào tạo ban hành Bên cạnh việc cập nhật nội dung kiến thức và số liệu(chủ yếu là kiến thức và số liệu của năm 2007), trong Atlat Địa lý Việt Nam cònđược tăng cường thêm một số trang với nhiều nội dung về tự nhiên, về kinh tế - xãhội
Trang 5Trên cơ sở các vấn đề đã nêu trên Vậy làm sao giáo viên có thể tổ chức cho
HS làm việc tích cực, tự học trong học tập và làm bài thi có hiệu quả cao qua sửdụng Atlat thì đòi hỏi giáo viên và học sinh phải nắm vững các kỹ năng sau:
* Đối với giáo viên:
- Tìm hiểu kĩ danh mục, hiểu rõ nội dung, công dụng của từng bản đồ để phục vụcho từng bài cụ thể
- Trong quá trình chuẩn bị bài lên lớp, GV cần chú ý dự kiến những kiến thức sẽđược khai thác từ Atlat, cách thức khai thác những kiến thức đó; dự kiến cả những
kĩ năng HS cần sử dụng
- Đưa ra những yêu cầu, hướng dẫn phù hợp thông qua việc thiết kế những hoạtđộng với các câu hỏi, bài tập chi tiết cho từng nội dung bài học; chú ý việc khaithác kĩ năng địa lý của HS để các em được rèn luyện, đồng thời phát triển phươngpháp tự học địa lý
- Chọn cách trình chiếu trên powerpoint hoặc vị trí treo bản đồ (có sẵn hay phóng
to một số trang) dễ theo dõi, kết hợp giữa các bản đồ trong Atlat với bản đồ treotường, giữa các trang trong Atlat hoặc với lược đồ trong SGK hay với các tranhảnh
- Atlat cần được khai thác cho cả khâu HS tìm hiểu, tiếp thu kiến thức mới, rèn kĩnăng địa lý, kể cả kĩ năng trình bày, báo cáo trước tập thể và đánh giá, ôn tập, kháiquát hóa kiến thức cũng như khi làm bài thi
* Đối với học sinh:
- Nắm vững bảng ký hiệu nằm ở trang bìa
- Nắm vững nội dung từng trang Atlat.
- Đọc kĩ đề xem đề thi yêu cầu những gì?
- Để đáp ứng yêu cầu của đề thì cần phải sử dụng những bản đồ nào? Bản đồ ấy
nằm ở đâu?
- Tìm đến trang bản đồ cần sử dụng (tên bản đồ), rất nhiều học sinh đã bỏ qua việclàm này, trong khi ở một trang bản đồ đôi khi có nhiều bản đồ với nhiều nội dungkhác nhau, một nội dung nhưng nó lại có ở nhiều trang, nhiều bản đồ khác nhau.(Về cơ bản các nội dung về nguồn lực nằm ở nửa đầu, các nội dung về các ngành,các vùng nằm ở các trang sau)
- Xem trong bản chú thích: Các nội dung mình cần tìm được kí hiệu như thế nào?
Có những nội dung nào được thể hiện trên bản đồ đó? (Các màu sắc, các biểu đồtrên bản đồ, các kí hiệu nó có ý nghĩa gì trên bản đồ đó?)
- Phân tích, tổng hợp, so sánh và rút ra nhận xét kết luận theo yêu cầu của đề thi –
đây là việc làm khó nhất, đôi khi phải sử dụng nhiều bản đồ mới đưa ra được mộtkết luận, một nhận xét cần thiết
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Tình hình nghiên cứu
Trang 6- Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta thì Atlat Địa lý Việt Namđược sử dụng trong giảng dạy , học tập và thi Tốt nghiệp THPT ở bộ môn Địa lý.
- Việc sử dụng Atlat đia lý Việt Nam trong giảng dạy và học tập Địa lý 12 khôngnhững giúp cho học sinh giảm gánh nặng học thuộc lòng mà còn tạo hứng thú và
sự tự tin trong ôn tập môn Địa lý khi thi TN THPT Vì vậy việc ứng dụng Atlat Đialý Việt Nam trong giảng dạy và học tập môn Địa lý là có ý nghĩa lý luận và thựctiễn rất lớn
- Đã có một số nhà Địa lý học nghiên cứu và phổ biến hướng dẫn sử dụng AtlatĐịa lý Việt Nam trong giảng dạy Địa lý Việt Nam như Lê Thông, Lê Thị Sen …lồng trong một số sách tham khảo, tạp chí giáo dục …
- Một số hội nghị, hội thảo nhỏ mang tính địa phương thỉnh thoảng được tổ chức
để chia sẻ những kiến thức về kỹ năng sử dụng Atlat
- Tuy nhiên, trên thực tế thì không ít giáo viên thường rất ít khi sử dụng Atlat đialý Việt Nam trong giảng dạy địa lý và ôn tập Địa lý Việt Nam Chính vì vậy màkhả năng đạt hiệu quả trong giảng dạy – học tập, thi cử chưa cao; học sinh khôngbiết sử dụng bản đồ - biểu đồ sao cho hiệu quả nhất
2.2.2 Thực trạng khảo sát cụ thể tại trường THPT Trường Thi
- Số học sinh khảo sát: 35
- Kết quả học sinh khảo sát trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trang 72.3 Các hoạt động đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Phân tích Tình hình phát triển và phân bố của ngành công nghiệp năng lượng.
Hoạt động 1:
Học sinh quan sát bản đồ công nghiệp năng lượng – Hình 1, nhận xét
Trang 8HS cần nhận biết các nhà máy thủy điện, nhiệtđiện, các cụm diezel, các nhà máy thủy điện đangxây dựng Các mỏ than, mỏ dầu đang khai thác.
Hệ thống đường dây tải điện 500KV & các trạmbiến áp thông qua hệ thống các dạng kí hiệu + Ngôi sao màu xanh: Nhà máy thủy điện
+ Ngôi sao màu đỏ: Nhà máy nhiệt điện
+ Ngôi sao màu xanh bên trong có chấm tròn màutrắng: Nhà máy thủy điện đang xây dựng
+ Hình thang màu đen có đường tròn bao bênngoài: mỏ dầu đang khai thác
+ Hình thang viền đen nền trắng có đường trònbao bên ngoài: mỏ khí đang khai thác
+ Hình vuông màu đen có đường tròn bao bênngoài: mỏ than đang khai thác
+ Đường màu tím: đường ống dẫn khí
+ Chấm tròn màu đỏ: Trạm 500KV
+ Chấm tròn màu xanh: Trạm 220KV
+ Đường màu đỏ: đường dây 500KV
+ Đường màu xanh: đường dây 220KV
- Quy mô nhà máy điện được phân ra làm 2 loại: + Loại > 1000MW (Phả Lại, Hòa Bình, Phú Mỹ).+ Loại < 1000MW (Na Hang, Sơn La, A Vương,Xê-Xan 3, Thác Bà, Nậm Mu, Uông Bí, NinhBình, Yaly, Vĩnh Sơn, Đa Nhim, Trị An, ThủĐức,…)
- Quy mô các mỏ than cũng được phân ra làm 2loại:
+ Loại > 10 triệu tấn/năm
+ Loại < 1 triệu tấn/năm
Trang 9Ngành công nghiệp điện
Thủy điện Tên nhà máy Công suất Địa điểm (trên sông nào?)
Nhiệt điện Tên nhà máy Công suất Năng lượng sử dụng
Các nhà máy
thủy điện đang
xây
Tên nhà máy Địa điểm (trên sông nào?)
Ngành công nghiệp khai thác than, dầu, khí
Than
Dầu
Khí
Hình 1 chủ yếu thể hiện sự phân bố các ngành công nghiệp năng lượng Do đó, Gv
sẽ hướng dẫn HS khai thác kiến thức kết hợp với các lược đồ tự nhiên để biết rõhơn sự phân bố của chúng
+ Khi nêu tên các nhà máy thủy điện, cần kết hợp với bản đồ về sông ngòi (Atlattrang 10), địa hình ( Atlat trang 6-7) hoặc lược đồ tự nhiên Việt Nam để biết đượccác nhà máy thủy điện nằm trên sông nào? Và giải thích được sự phân bố củachúng
+ Khi tìm hiểu các nhà máy nhiệt điện, cần kết hợp với lược đồ khoáng sản và các
tư liệu viết, những hiểu biết cảu bản thân để biết các nhà máy sử dụng nguồn nănglượng nào? Từ đó giải thích được sự phân bố chúng
Từ những gợi ý trên kết hợp với sự hướng dẫn của Gv, HS hoàn thành bảngthông tin:
Ngành công nghiệp điện
Tên nhà máy Công suất Địa điểm (trên sông nào)
Trang 10- Xrê Pok3, 4, Buôn
Kuôp, Đức Xuyên, Buôn
Tua Srah
- Đồng Nai 3, 4
Sông ChuSông CảSông Quảng TrịSông Xê sanSông Xrê Pok
Trang 11Ngành công nghiệp khai thác than, dầu, khí
(triệutần/năm)
- Lan Đỏ, Lan
Tây
- Bể trầm tích Vịnh Bắc Bộ
- Bể trầm tích Nam Côn Sơn
Giáo viên chuẩn kiến thức cho học sinh
Hoạt động 2: Học sinh nhận xét biểu đồ cột: Sản lượng khai than dầu thô và than sạch qua các năm:
Học sinh có thể đưa ra kết luận:
- Sản lượng dầu thô và than sạch từnăm 2000 – 2007 đều tăng:
+ Sản lượng dầu thô tăng (tăng từ 16,3triệu tấn lên 15,9 triệu tấn) và tăngkhông liên tục, không đồng đều:
Từ 2000 – 2005: Sản lượng dầu thôtăng, tăng từ 16,3 triệu tấn lên 18,5triệu tấn do ngày càng tìm thêm nhiều
mỏ mới và đưa vào khai thác
Từ 2005 – 2007: Sản lượng dầu thôgiảm, giảm từ 18,5 triệu tấn lên 15,9triệu tấn
+ Sản lượng than sạch tăng nhanh,tăng từ 11,6 triệu tấn lên 42,5 triệu tấn
Trang 12Hình 2 và tăng liên tục, tăng không đồng đều:
Từ 2000 – 2005: Sản lượng thansạch tăng nhanh, tăng từ 11,6 triệu tấnlên 34,1 triệu tấn Nguyên nhân là docải tiến khâu tổ chức, quản lí, đầu tưmáy móc, trang thiết bị, phương tiệnkhai thác hiện đại và tìm thêm thịtrường mới
Từ 2005 – 2007: Sản lượng than tăngchậm, tăng từ 34,1 triệu tấn lên 42,5triệu tấn
Trang 13Giải thích nguyên nhân:
- Sản lượn điện tăng nhanh là do điện ngày càng có vai trò quan trọng trongcông cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ trương của Nhà nước làngành điện phải đi trước một bước để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sảnxuất và đời sống
- Sản lượng điện tăng còn gắn liền với việc nước ta đã xây dựng và đưa vào sảnxuất một số nhà máy điện có công suất lớn
Hoạt động 4: Học sinh nhận xét biểu tròn: Tỉ trọng giá trị sản xuất của công nghiệp năng lượng so với toàn ngành công nghiệp.
Hình 4
Học sinh có thể đưa ra kết luận:
* Tỉ trọng giá trị sản xuất của côngnghiệp năng lượng so với toàn ngànhcông nghiệp từ năm 2000 – 2007 có
+ Từ 2000 - 2005: Tỉ trọng giá trị sảnxuất của công nghiệp năng lượnggiảm từ 18,6% xuống còn 13,7%.+ Từ 2005 – 2007: Tỉ trọng giá trịsản xuất của công nghiệp năng lượnggiảm từ 13,7% xuống 11,1%
Giáo viên chuẩn kiến thức cho họcsinh
2.3.2 Phân tích tình hình phát triển và phân bố ngành Công nghiệp chế biến
lương thực, thực phẩm của nước ta.
Hoạt động 5: GV hướng dẫn HS quan sát bản đồ Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm:
- Học sinh tìm các ký trên bản đồ kết hợp quan sát Atlat trang 3
Trang 14- Dựa vào bản đồ Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, HS nhận xét quy
mô, sự phân bố các trung tâm và nêu các ngành chế biến chính
Công nghiệp chế biến
+ Lớn: Hải Phòng, Nha Trang, Thủ DầuMột, Biên Hòa, Cần Thơ, Cà Mau
+ Vừa: Mộc Châu, Thái Nguyên, HảiDương, Hạ Long, Nam Định, ThanhHóa, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Buôn MaThuật, Vũng Tàu, Tân An, Sóc Trăng,Rạch Giá, Cà Mau
+ Nhỏ: Sơn la, Yên Bái, Vinh, Huế,Quảng Ngãi, Bảo Lộc, Phan Thiết, TâyNinh, Bến Tre, Long Xuyên
- Các ngành chế biến chính:
+ Chế biến lương thực: phân bố tậptrung ở Đồng bằng Sông Củu Long,Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng.+ Chế biến hải sản: Tập trung ở Đồngbằng sông Cửu Long, duyên hải NamTrung Bộ, Hải Phòng, Hạ Long
+ Chế biến sản phẩm chăn nuôi: HảiPhòng, TP Hồ Chí Minh
+ Chế biến đường, sữa, bánh kẹo: phân
bố tập trung ở Đồng bằng sông Hồng,Đông Nam Bộ, rải rác ở Đồng bằngSông Củu Long, Bắc Trung Bộ
+ Chế biến chè, cà phê, thuốc lá, hạtđiều: phân bố ở Đông Nam Bộ, TâyNguyên, Trung di và miền núi Băc Bộ.+ Rượu, bia, nước giải khát: phân bố ởĐồng bằng sông Hồng, Duyên hải MiềnTrung, TP Hồ Chí Minh
- Các trung tâm công nghiệp chếbiến lương thực, thực phẩm phân