Nhất là đối với HS lớp 12, việc sử dụng Atlat Địa líViệt Nam để đọc và phân tích các dữ liệu, rồi đi đến nhận biết kiến thức qua cáctrang bản đồ trong Atlat là rất cần thiết, giúp cho họ
Trang 1I MỞ ĐẦU.
1 Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết, Atlat Địa lí Việt Nam có vai trò rất quan trọng trongviệc giảng dạy và học tập bộ môn Địa lí lớp 12 Atlat được ví như quyển sáchgiáo khoa (SGK) Địa lí thứ 2 mà mỗi học sinh (HS) đều phải biết đọc và sửdụng
Hơn nữa, từ năm học 2014 - 2015 Bộ Giáo dục và đào tạo đã quyết địnhghép kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) và kì thi tuyển sinh đại học -cao đẳng (ĐH - CĐ) thành một kì thi chung gọi là trung học phổ thông quốc gia(THPTQG) Trong kì thi này có khá nhiều điểm mới, đặc biệt đối với bộ mônĐịa lí, trong những năm học trước các thí sinh chỉ được sử dụng Atlat trong kìthi tốt nghiệp và không được sử dụng trong kì thi tuyển sinh ĐH - CĐ thì từ nămhọc 2014 - 2015, các thí sinh hoàn toàn được sử dụng Atlat địa lí Việt Namtrong kì thi THPTQG Đây là một lợi thế rất lớn cho các em HS khi tham gia kìthi Nó giúp các em có thể khai thác được phần lớn kiến thức từ hệ thống cácbản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, có trong Atlat để trả lời câu hỏi mà không cần phảighi nhớ máy móc Đặc biệt từ năm học 2016 - 2017, lần đầu tiên Địa lí cùng cácmôn Lịch sử, Giáo dục công dân được đưa vào kì thi THPTQG dưới dạng bài thi
tổ hợp, với tên gọi bài thi Khoa học xã hội qua hình thức trắc nghiệm Lượngkiến thức cần học ngày càng nhiều, vì vậy Atlat Địa lí Việt Nam càng trở thànhtrợ thủ đắc lực cho HS trong ôn thi và làm bài môn Địa lí
Tuy nhiên, thực tế phần lớn HS còn lúng túng trong khi sử dụng Atlat Địa
lí Việt Nam cũng như chưa có cách khai thác hiệu quả Nhiều em trong quá trìnhlàm bài vẫn đang còn “ngại” dùng Atlat và tư tưởng “tô bừa” cho nhanh bởi vìcác em chưa biết cách dùng
Trước thực trạng trên, với tư cách là một giáo viên đang giảng dạy bộmôn Địa lí tại trường THPT, đặc biệt là đang trực tiếp giảng dạy lớp 12, tôi nhậnthấy việc rèn luyện kĩ năng khai thác kiến thức từ Atlat Địa lí Việt Nam có hiệuquả cho các em HS là rất cần thiết
Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Kỹ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam trong ôn tập Địa lí 12 và làm bài thi môn Địa lí trung học phổ thông quốc gia” để nghiên cứu.
2 Đối tượng nghiên cứu.
- Xác định và làm rõ hơn phương pháp sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam phục
vụ cho việc ôn tập kiến thức Địa lí 12 của HS
- Nâng cao kĩ năng khai thác kiến thức từ Atlat Địa lí Việt Nam để trả lời
các câu hỏi trắc nghiệm Địa lí trong kì thi THPTQG
3 Phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Tập trung vào chương trình Địa lí 12 THPT ban cơ bản
Trang 2Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy - học của giáo viên (GV) và
HS trường THPT Hoằng Hóa 2, Hoằng Hóa, Thanh Hóa
4 Mục đích nghiên cứu đề tài.
Việc nghiên cứu và thực hiện đề tài nhằm giúp cho HS hình thành nănglực tư duy chủ động, sáng tạo, phát triển kĩ năng quan sát, phân tích, so sánh,đánh giá, vấn đề, sự việc Quan trọng hơn, HS có được sự say mê, hứng thútrong học tập bộ môn Địa lí, từ đó dễ dàng tiếp thu kiến thức một cách nhanhchóng và có hệ thống, bớt phần ghi nhớ máy móc; đồng thời có những kĩ năngcần thiết để làm bài thi Địa lí trong kì thi THPTQG đạt kết quả cao nhất
5 Phương pháp nghiên cứu.
Thông qua các phương pháp nghiên cứu lí thuyết như thu thập, đọc vàphân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan cùng các phương pháp nghiên cứuthực tiễn như PP khảo sát, điều tra thực tế, PP thực nghiệm sư phạm
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
1 Cơ sở lí luận của đề tài.
Atlat Địa lí Việt Nam là một hệ thống hoàn chỉnh các bản đồ có nội dungliên quan hữu cơ với nhau và bổ sung cho nhau, được sắp xếp theo trình tự củachương trình và nội dung SGK với 3 phần chính: địa lí tự nhiên, địa lí kinh tế -
xã hội, địa lí các vùng kinh tế
Trong các bộ môn khoa học đang dạy ở nhà trường môn nào cũng có mộtvai trò nhất định, giúp HS nâng cao nhận thức về tự nhiên và xã hội Môn Địa lígiữ một vị trí hết sức quan trọng, nó mở mang cho HS hiểu biết về thiên nhiêntrên Trái Đất và cả ngoài Vũ trụ, hoạt động văn hoá, xã hội kinh tế của conngười Giúp các em đi sâu nghiên cứu khoa học, tìm hiểu khám phá cấu trúc củaTrái Đất, nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, xã hội để phát triểnkinh tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.…
Riêng ở trường THPT, mỗi môn học đều yêu cầu những đặc điểm riêng,cần các phương pháp giảng dạy thích hợp Môn Địa lí đã xác định phương phápđặc trưng là sử dụng kênh hình và kênh chữ trong việc dạy và học Song việcgiảng dạy kênh chữ đã quen thuộc trong nhà trường, nhưng kênh hình mới đượcchú trọng trong những năm đổi mới phương pháp dạy học, nên việc vận dụng nócòn nhiều khó khăn bỡ ngỡ Nhất là đối với HS lớp 12, việc sử dụng Atlat Địa líViệt Nam để đọc và phân tích các dữ liệu, rồi đi đến nhận biết kiến thức qua cáctrang bản đồ trong Atlat là rất cần thiết, giúp cho học sinh nhận thức đầy đủ kiếnthức, tiếp thu nhanh, dễ hiểu Đồng thời tránh được phương pháp diễn giải dàidòng, từng bước gây hứng thú và ham mê học tập môn Địa lí cho học sinh
2 Cơ sở thực tiễn của đề tài.
2.1 Bố cục của Atlat Địa lí Việt Nam.
Trang 3Bố cục của Atlat Địa lí Việt Nam.do nhà xuất bản Giáo dục phát hànhnăm 2009 có thể khái quát như sau:
* Bản đồ chung bao gồm các bản đồ: Hành chính, hình thể, địa chất khoáng sản,khí hậu, đất, thực vật và động vật, các miền tự nhiên, dân số
* Bản đồ dùng cho các ngành kinh tế: Nông nghiệp chung, nông nghiệp, lâmnghiệp và thuỷ sản, công nghiệp chung, công nghiệp, giao thông, thương mại,
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Trong mỗi vùng đều có bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế và biểu đồ GDP
so với cả nước
- Trong một trang bản đồ của Atlat thể hiện nhiều yếu tố:
+ Yếu tố tự nhiên: Địa hình, đất đai, khoáng sản, sông ngòi, khí hậu, sinhvật…
+ Yếu tố kinh tế, xã hội: Dân cư, hành chính, các ngành kinh tế, các vùngkinh tế
- Trong một trang bản đồ của Atlat còn thể hiện:
+ Hình thể của cả nước, một vùng hay hai vùng liền kề nhau
+ Một số biểu đồ như dân số qua các năm, cơ cấu, mật độ dân số, haybiểu đồ biểu hiện giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản,công nghiệp…
+ Một số hình ảnh quan trọng của những địa phương, sản xuất kinh tế,hoạt động văn hoá…
2.2 Tầm quan trọng của Atlat Địa lí Việt Nam.
Do bố cục của Atlat rất phong phú, nên có thể giúp cho việc giảng dạymôn Địa lí đạt hiệu quả
- Trong phương pháp sử dụng kênh hình để dạy và học môn Địa lí thì kỹ
năng sử dụng Atlat là phức tạp hơn cả, vì nó là phương tiện để phục vụ cho nội
Trang 4dung bài giảng Mỗi trang bản đồ trong Atlat chứa đựng những kiến thức cụ thể
và rất phong phú, mang đặc trưng của bộ môn
- Atlat Địa lí Việt Nam được dùng để giảng dạy và học tập môn Địa lí cho
các bài ở nhiều khối lớp khác nhau như lớp 8, lớp 9 và cả các lớp của THPT.Nhưng trong từng bài cụ thể mức độ khai thác, sử dụng Atlat không giống nhau.Đối với học sinh lớp 12, đòi hỏi kỹ năng sử dụng Atlat phải thành thạo và đượcrèn luyện một cách thường xuyên qua từng tiết học
Trong chương trình Địa lí lớp 12 có bài chỉ cần sử dụng một trang bản đồtrong Atlat, nhưng cũng có bài phải sử dụng nhiều trang bản đồ khác nhau, songlại có trang Atlat dùng để dạy và học được nhiều bài Vì vậy, khi giảng dạy Địa
lí lớp 12, giáo viên nên tích cực rèn luyện cho HS kỹ năng sử dụng Atlat giúpcác em biết cách khai thác kiến thức qua từng trang bản đồ của Atlat để có thểchủ động vận dụng lâu dài trong ôn tập và làm bài thi Địa lí THPTQG
2.3 Cấu trúc đề thi Địa lí THPTQG.
Bài thi môn Địa lí THPTQG gồm 40 câu trắc nghiệm Nội dung đề thinằm trong chương trình Địa lí lớp 11 và lớp12 So sánh đề thi chính thức năm
2018 và đề thi minh họa năm 2019 thì cấu trúc đề thi phân theo các chủ đề ở mỗilớp như sau:
Địa lí 11
Địa lí 12
Như vậy, phần câu hỏi thực hành các kỹ năng Địa lí có 15 câu ứng với3,75 điểm Trong đó, kỹ năng đọc Atlat Địa lí Việt Nam chiếm tới 11 câu Nhưvậy, nếu HS khai thác tốt Atlat thì điểm số mang lại không hề nhỏ Hơn nữa, sosánh cấu trúc đề năm 2018 và đề minh họa năm 2019 thì lượng câu hỏi lí thuyếtlớp 11 giảm đáng kể, thay vào đó là các câu hỏi lí thuyết lớp 12 Điều đó càng
Trang 5tạo điều kiện cho những HS có khả năng khai thác kiến thức từ Atlat trả lời tốtcác câu hỏi và giành điểm số cao.
3 Các phương pháp rèn luyện kĩ năng khai thác Atlat Địa lí Việt Nam cho học sinh.
3.1 Các bước đọc một bản đồ, biểu đồ trong Atlat.
Muốn tìm hiểu được nội dung của mỗi bản đồ, biểu đồ thì việc hiểu cácngôn ngữ của nó là việc hết sức quan trọng Trong Atlat, ngôn ngữ được dùng lànhững quy định thống nhất, chính xác về màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ của bản đồ Ngay từ trang đầu tiên của Atlat, GV cần hướng dẫn cho HS tìm hiểu và nắmvững các quy ước ở mục chú giải để có thể đọc nhanh, đúng bản đồ và từ đóphân tích chính xác hơn
GV cần hướng dẫn cho HS khi đọc bất cứ một bản đồ nào đều cần phải:
- Đọc tên bản đồ trước để hình dung ra nội dung của bản đồ.
- Đọc phần chú giải để hiểu rõ các kí hiệu được dùng cho bản đồ đó.
- Sau đó sẽ tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học được thể hiện trên
bản đồ, biểu đồ trong Atlat Từ đó rút ra những nhận xét về các yếu tố của tựnhiên và kinh tế - xã hội theo từng nội dung của bài học
3.2 Kĩ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam trong ôn tập kiến thức Địa lí 12.
Cấu trúc theo sách giáo khoa Địa lí lớp 12 và Atlat tương tự như nhau.Nếu SGK Địa lí lớp 12 được cấu trúc thành 4 đơn vị kiến thức cơ bản là: Địa lí
tự nhiên, Địa lí dân cư, Địa lí các ngành kinh tế, Địa lí các vùng kinh tế thì AtlatĐịa lí Việt Nam cũng được cấu trúc tương tự như vậy
Trong Atlat Địa lí Việt Nam chia thành:
- Phần 1: Địa lí tự nhiên (từ trang 4 đến trang 14).
- Phần 2: Địa lí dân cư (từ trang 15 đến trang 16).
- Phần 3: Địa lí các ngành kinh tế (từ trang 17 đến trang 25).
- Phần 4: Địa lí các vùng kinh tế (từ trang 26 đến trang 30)
Thông thường mỗi trang bản đồ, đặc biệt bản đồ dân cư hay bản đồ kinh
tế đều có từ 1 đến 2 biểu đồ (cột, đường, tròn…) kèm theo HS cần biết cáchkhai thác các biểu đồ trong các bài có liên quan để nắm được đặc điểm của đốitượng địa lí và đỡ phải nhớ nhiều số liệu trong phần lí thuyết
3.2.1 Kĩ năng khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để tìm hiểu và củng cố kiến thức về địa lí tự nhiên
Riêng trang 4, 5 giúp các em xác định được phạm vi lãnh thổ của nước ta,biết được các đơn vị hành chính Việt Nam, dân số, diện tích, các thành phố trựcthuộc trung ương Trang 3 là trang cung cấp hệ thống kí hiệu bản đồ
Trang 6Từ trang 6 đến trang 14 là những kiến thức giúp học tốt chương Tự nhiên(Bài 6 đến bài 15 trong chương trình Địa lí 12 cơ bản).
Ví dụ: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam, hãy trình bày hoạt động của bão ở nước
ta
- Trước hết HS cần xác định trang Atlat cần khai thác là trang 9 - Khí hậu
- Sau đó, dựa vào hệ thống kí hiệu và bản đồ, HS có thể rút ra được các ýsau:
+ Bão ở nước ta thường di chuyển từ biển Đông vào
+ Hoạt động của bão từ tháng 6 đến tháng 12
+ Bão tập trung nhiều nhất vào tháng 9, sau đó là tháng 8 và tháng 10.+ Mùa bão chậm dần từ bắc vào nam
+ Nơi chịu ảnh hưởng nhiều nhất của bão là Bắc Trung Bộ, khu vực ítchịu ảnh hưởng nhất là đồng bằng sông Cửu Long
3.2.2 Kĩ năng khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để tìm hiểu và củng cố kiến thức về địa lí dân cư
Trang 15, 16 giúp học tốt chương Địa lí dân cư (Bài 16, 17,18 SGK Địa lí
12 cơ bản)
Ví dụ:
- Khi dạy bài 16 SGK Địa lí 12 cơ bản “Đặc điểm dân số và phân bố dân cư
nước ta”, GV hướng dẫn cho HS cách phân tích Atlat trang 16, HS rút ra nhận
xét:
+ Phân bố các dân tộc nước ta không đều: Các nhóm dân tộc ít người chỉ
có trên 13% dân số nhưng phân bố rất rộng trên khắp các vùng trong cả nước,tập trung nhiều nhất ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và vùng Tây Nguyên
+ Hiểu được ngữ hệ và các nhóm ngôn ngữ của các dân tộc
- Khi dạy bài 16 - 17 SGK Địa lí 12 cơ bản, GV hướng dẫn cho HS cách
phân tích bản đồ, biểu đồ trên Atlat trang 15 “Dân số” (Phụ lục 1) để rút ra kết
luận về đặc điểm dân cư và nguồn nhân lực nước ta:
+ Dựa vào màu sắc của bản đồ, phân tích mật độ dân số: Nước ta có mật
độ dân số cao nhưng phân bố không đều (tập trung đông ở Đồng bằng sôngHồng và Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt mật độ dân số ở các thành thị rấtcao, thưa thớt ở miền núi nhất là vùng Tây nguyên)
+ Phân tích biểu đồ Dân số Việt Nam qua các năm, từ đó HS nhận thứcđược: Dân số nước ta đông, gia tăng nhanh từ đầu thế kỷ XX đến nay (Năm
1960 có khoảng 30,17 triệu người Năm 1999 có 76,6 triệu người Năm 2007 cókhoảng 85,17 triệu người) Ngoài ra, thông qua phân tích biểu đồ HS còn biết
Trang 7được thông tin về số dân thành thị và số dân nông thôn qua các năm, từ đó rút rakết luận về quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra chậm chạp.
+ Phân tích Tháp dân số có trên trang bản đồ để rút ra kết luận: Dân sốnước ta có kết cấu dân số trẻ, giải thích xu hướng thay đổi cơ cấu theo độ tuổi ởnước ta So sánh được giới tính giữa nam và nữ tương đối cân bằng
+ Qua phân tích biểu đồ Cơ cấu lao động đang làm việc phân theo khuvực kinh tế, học sinh có thể nhận thức được: lao động trong khu vực nông - lâm
- thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao và đang có xu hướng giảm, lao động trong khu vựccông nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm tỉ trọng còn thấp nhưng đang có xuhướng tăng lên
3.2.3 Kĩ năng khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để tìm hiểu và củng cố kiến thức về địa lí các ngành kinh tế.
Trang 17 - 25: Nói về địa lí các ngành kinh tế Trong đó, trang 17: Trìnhbày kinh tế chung; trang 18, 19, 20 là các kiến thức liên quan ngành nông nghiệp(bài 21, 22, 24, 25 SGK Địa lí 12 cơ bản); trang 21, 22 cung cấp kiến thức liênquan đến ngành công nghiệp (bài 26, 27, 28 GSK Địa lí 12 cơ bản); trang 23, 24,
25 là kiến thức của ngành dịch vụ
Ví dụ 1: Sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam để dạy - học và ôn tập bài 22 “Vấn đề
phát triển nông nghiệp”, GV có thể yêu cầu HS phân tích Atlat trang 18 và 19
- Dựa vào Atlat trang 18 “Nông nghiệp chung” (Phụ lục 2): HS có thể khai
thác được đặc điểm hiện trạng sử dụng đất, sự phân vùng nông nghiệp và hướngchuyên môn hóa sản xuất của các vùng nông nghiệp ở nước ta
Ngoài ra, qua biểu đồ HS có thể lập được bảng s li u v c c u giá tr ố liệu về cơ cấu giá trị ệu về cơ cấu giá trị ề cơ cấu giá trị ơ cấu giá trị ấu giá trị ị
s n xu t nông, lâm, th y s n phân theo ng nh (theo giá th c t , ấu giá trị ủy sản phân theo ngành (theo giá thực tế, đơn vị: ành (theo giá thực tế, đơn vị: ực tế, đơn vị: ế, đơn vị: đơ cấu giá trị n v : ị
Trang 8- Dựa vào Atlat trang 19 “Nông nghiệp” (Phụ lục 3), HS có thể khai thác
kiến thức về:
+ Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, để thấy được ngành trồngtrọt chiếm tỉ trọng rất cao (73,9% năm 2007) và đang có xu hướng giảm; ngànhchăn nuôi chiếm tỉ trọng còn thấp (24,4% năm2007) và đang có xu hướng tăngnhưng chưa ổn định; ngành dịch vụ nông nghiệp chiếm tỉ trọng còn rất thấp(1,7% năm 2007)
+ Ngành trồng trọt:
Dựa vào biểu đồ Giá trị sản xuất cây lương thực trong tổng giá trị sản xuấtngành trồng trọt trong bản đồ Lúa, HS sẽ rút ra kết luận về vai trò chủ đạo củacây lương thực (chiếm 56,5% năm 2007) và đang có xu hướng giảm tỉ trọng
Tổng diện tích và sản lượng lúa cả nước; diện tích trồng cây công nghiệpqua các năm; diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp quan trọng (cao su,
cà phê, điều) của cả nước; diện tích và sản lượng lúa của các tỉnh…
Như vậy, từ nội dung sách giáo khoa kết hợp đọc bản đồ, biểu đồ trongAtlat, học sinh nhận thức sâu hơn, rộng hơn những nội dung các em học sinhcần lĩnh hội, không phải ghi nhớ máy móc, không cần học thuộc lòng nhữngkiến thức mà có thể tìm ngay trong bản đồ, giúp cho học sinh hoạt động trí tuệhợp lý hơn
+ Ngành chăn nuôi: Dựa vào bản đồ Chăn nuôi, Atlat trang 19, HS cóthể rút ra kết luận về cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi qua các năm, từ đótrình bày được giá trị sản lượng của ngành chăn nuôi gia súc và gia cầm tăngtrưởng mạnh qua các năm 2000, 2005, 2007 Ngoài ra, HS có thể xác định được
sự phân bố của đàn trâu, bò, lợn, gia cầm của nước ta
Ví dụ 2: Sử dụng Atlat để dạy - học và ôn tập bài 26 SGK Địa lí 12 cơ bản “Cơ
cấu ngành công nghiệp”
- HS phải xác định được trang Atlat quan trọng nhất cần dùng là trang 21
“Công nghiệp chung” (Phụ lục 4) Qua phân tích, HS sẽ nhanh chóng tự khai
thác được những kiến thức cần thiết
+ Dựa vào biểu đồ Giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước qua các năm,
HS có thể rút ra kết luận giá trị sản xuất công nghiệp của nước ta tăng liên tục từ336,1 nghìn tỉ đồng (2000) lên 1469,3 nghìn tỉ đồng (2007)
+ Dựa vào biểu đồ Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước phântheo nhóm ngành, HS có thể rút ra kết luận cơ cấu ngành công nghiệp nước ta đadạng, bao gồm 3 nhóm và đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng: tăng tỉtrọng công nghiệp chế biến, giảm tỉ trọng nhóm công nghiệp khai thác và côngnghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước
+ Dựa vào qui mô và sự phân bố của các trung tâm công nghiệp trên bản
đồ, HS sẽ có thể rút ra kết luận về cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ
Trang 9+ Dựa vào biểu đồ Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước phântheo thành phần kinh tế, HS có thể rút ra kết luận về sự chuyển dịch cơ cấu côngnghiệp theo thành phần kinh tế của nước ta: khu vực Nhà nước giảm tỉ trọng,khu vực ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng
tỉ trọng
- Ngoài ra, HS có thể kết hợp thêm Atlat trang 22 để có thể nhận biếtđược một số ngành công nghiệp trọng điểm như: Công nghiệp năng lượng, côngnghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm…
Ví dụ 3: Sử dụng Atlat để dạy - học và ôn tập bài 31 SGK Địa lí 12 cơ bản “Vấn
đề phát triển thương mại, du lịch”
- Sử dụng Atlat trang 24 “Thương mại” (Phụ lục 5), HS có thể khai thác
được những kiến thức cần thiết về ngành thương mại nước ta
+ Dựa vào biểu đồ Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêudùng của cả nước phân theo thành phần kinh tế qua các năm, HS có thể rút rakết luận về sự phát triển của hoạt động nội thương thông qua sự tăng nhanh củatổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước nói chung vàphân theo các thành phần kinh tế nói riêng
+ Dựa vào biểu đồ Xuất - nhập khẩu hàng hóa qua các năm, HS có thểrút ra kết luận về sự tăng nhanh giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu; về cán cânxuất nhâp khẩu luôn âm (từ 2000 đến 2007); và cơ cấu giá trị xuất nhập khẩu có
sự thay đổi qua các năm
+ Dựa vào biểu đồ Cơ cấu giá trị hàng xuất - nhập khẩu năm 2007, HS
có thể rút ra kết luận: các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước ta bao gồmhàng công nghiệp nặng và khoáng sản, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp,hàng nông, lâm, thủy sản Các mặt hàng nhập khẩu của nước ta chủ yếu là tưliệu sản xuất (nguyên, nhiên, vật liệu (64,0%), máy móc, thiết bị phụ tùng(28,6%) và một phần nhỏ là hàng tiêu dùng (7,4%)
+ Dựa vào bản đồ Ngoại thương, HS sẽ có thể rút ra được kết luận: cácthị trường xuất khẩu lớn nhất hiện nay của nước ta là Hoa Kì, Nhật Bản, TrungQuốc… Các thị trường nhập khẩu chủ yếu của nước ta là khu vực châu Á TháiBình Dương và châu Âu
- Sử dụng Atlat trang 25 “Du lịch” (Phụ lục 6), HS có thể khai thác được
những kiến thức cần thiết về ngành du lịch nước ta
+ Dựa vào bản đồ Du lịch, HS có thể chứng minh tài nguyên du lịch nước
ta phong phú, đa dạng, bao gồm 2 nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tàinguyên du lịch nhân văn Ngoài ra, HS cũng có thể xác định được các trung tâm
du lịch có y nghĩa quốc gia là Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và cáctrung tâm du lịch có y nghĩa vùng là Hạ Long, Hải Phòng…
Trang 10+ Dựa vào biểu đồ Khách du lịch và doanh thu từ du lịch, HS có thể rút rakết luận về sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch nước ta từ những năm
90 của thế kỉ XX
Qua các phân tích trên ta thấy rằng: Khi tìm hiểu một số kiến thức về kinh
tế - xã hội, việc sử dụng Atlat đã giúp cho học sinh có phương pháp tiếp thu kiếnthức chủ động so với cách học thụ động trước đây Học sinh tự tìm hiểu các kiếnthức cần thiết, bổ ích, ít phải thuộc lòng các kiến thức một cách máy móc, tầmnhìn khoa học của học sinh được mở rộng hơn
Như vậy, việc khai thác kiến thức qua bản đồ, biểu đồ, học sinh nhận thứckiến thức địa lí một cách nhẹ nhàng, đơn giản, tăng thêm hứng thú, trên cơ sở đã
mã hoá các thông tin bằng ký hiệu, màu sắc, kích thước làm cho học sinh say
mê học môn Địa lí hơn
3.2.4 Kĩ năng khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để tìm hiểu và củng cố kiến thức về tình hình phát triển kinh tế của các vùng kinh tế nước ta.
Các trang Atlat còn lại là kiến thức của các vùng kinh tế và vùng kinh tếtrọng điểm
Nội dung kiến thức quan trọng của chương trình Địa lí 12 là nghiên cứucác vùng Kinh tế Vấn đề phát triển kinh tế của mỗi vùng vừa thể hiện đặc điểmchung của cả nước, vừa thể hiện tính chất đặc thù riêng của từng vùng Vì vậykhi trình bày nội dung kiến thức của vùng đòi hỏi phảỉ có kỹ năng sử dụng nhiềutrang Atlat để tìm hiểu kiến thức GV cần hướng dẫn HS làm như sau:
- Trước hết HS phải xác định vị trí, ranh giới của vùng Dựa vào bản đồtrong Atlat xác định vị trí: phía Bắc, phía Nam, phía Đông, phía Tây giáp đâu?
- Xác định đặc điểm tự nhiên: Địa hình, khí hậu, sông ngòi…
- Từ những đặc điểm trên, tìm thuận lợi và khó khăn cho việc phát triểnkinh tế của vùng
- Sau đó, dựa vào bản đồ để phát hiện được các tiềm năng, các thế mạnh vàhiện trạng kinh tế của vùng đó
Ví dụ: Sử dụng Atlat để dạy - học và ôn tập bài 33 SGK Địa lí 12 cơ bản “Vấn
đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng”
- Sử dụng Atlat trang 26 “Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, vùng đồng
bằng sông Hồng” (Phụ lục 7) và một số trang Atlat khác có liên quan, HS có thể
rút ra những kết luận cần thiết về đồng bằng sông Hồng
+ Dựa vào Atlat trang 26 và trang 30, HS xác định vị trí địa lí và phạm vilãnh thổ của vùng: phía Bắc và phía Tây giáp vùng Trung du và miền núi Bắc
Bộ Phía Nam giáp vùng Bắc Trung Bộ, phía Đông giáp biển Đông; ngoài ra xácđịnh được vùng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Từ đó rút ra ýnghĩa của vị trí địa lí trong việc phát triển kinh tế của vùng
Trang 11+ Dựa vào bản đồ Tự nhiên trên trang 26, HS có thể rút ra được nhữngđặc điểm cơ bản về địa hình, thủy văn, sinh vật (các bãi cá) và khoáng sản Kếthợp với một số trang Atlat khác như trang 11 “Các nhóm và các loại đất chính”,trang 15 “Dân số”, trang 23 “Giao thông”, HS có thể xác định được các thếmạnh và hạn chế chính của vùng.
+ Dựa vào bản đồ Kinh tế trên trang 26, HS có thể khai thác hiện trạng sửdụng đất qua nền màu, sự phân bố các trung tâm kinh tế, cơ cấu các ngành côngnghiệp và các cây trồng vật nuôi của vùng Định hướng phát triển vùng
+ Ngoài ra, dựa vào các biểu đồ Cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tếcủa các vùng và biểu đồ GDP của các vùng so với GDP cả nước năm 2007 trêntrang Atlat 26, HS có thể thấy được tỉ trọng GDP của vùng so với cả nước, qua
đó phản ánh vai trò của vùng đối với nền kinh tế đất nước Kết hợp với sự phânvùng các cơ sở kinh tế, cơ cấu ngành và bản đồ Tự nhiên để thấy được khả năngkhai thác và sử dụng tài nguyên của vùng
Tương tự ta có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu các vùng kinh tế khác dựavào các trang bản đồ trong Atlat
Tóm lại khi phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội mỗi vùng chúng
ta phải xác định xem nên sử dụng bản đồ nào, từ đó ta khai thác kiến thức gìtheo trình tự: đặc điểm tự nhiên, xã hội, tình hình phát triển kinh tế của mỗivùng Mỗi kiến thức địa lí tự nhiên, xã hội, kinh tế của từng vùng nói riêng và cảnước nói chung đều chứa đựng trong các trang bản đồ của Atlat Mỗi ước hiệuđều nói lên một kiến thức địa lí, giáo viên cần cho học sinh tìm hiểu kỹ ngônngữ của bộ môn Địa lí mà các em cần ghi nhớ chính là các ký hiệu, ước hiệunày
3.3 Kĩ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam trả lời câu hỏi trắc nghiệm và làm bài thi Địa lí THPTQG.
3.3.1 Kĩ năng trả lời câu hỏi trắc nghiệm Địa lí.
Để trả lời tốt các câu hỏi trắc nghiệm Địa lí, ngoài việc nắm vững kiếnthức, HS cần lưu ý những điều sau:
- Phải tìm được "key word" (từ khóa) trong câu hỏi Đây chính là mấu chốt
để các em giải quyết vấn đề Mỗi khi đọc câu hỏi xong, xác định được từ khóagiúp các em định hướng được rằng câu hỏi liên quan đến vấn đề gì và đáp án sẽgắn liền với từ khóa ấy, nhanh chóng loại bỏ đáp án sai
- Phương pháp loại trừ: khi các em không có một đáp án thực sự chính xácthì phương pháp loại trừ cũng là một cách hữu hiệu giúp tìm ra câu trả lời đúng
Có thể thay vì đi tìm đáp án đúng, các em hãy thử tìm phương án sai… Đó cũng
là một cách, loại trừ càng nhiều phương án càng tốt