1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm của các yếu tố hình thành đất tại Việt Nam

28 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất là một nguồn tài nguyên độc lập, thiết yếu và không thể thay thế cho mọi sinh vật trên cạn, bao gồm cả con người. Đất phát triển dựa trên sự tương tác qua lại giữa sinh vật với đá và khoáng vật; với nước; với không khí và khí hậu là yếu tố kiểm soát cường độ của các tương tác này. Sự hình thành đất là một quá trình lâu dài và phức tạp. Có năm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hình thành của đất là: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Sự tương tác và phối hợp giữa những yếu tố này quyết định đặc tính cuối cùng và phân biệt của mỗi loại đất. Quá trình tương tác và phối hợp giữa các yếu tố khác nhau sẽ tạo ra các loại đất khác nhau và ảnh hưởng lên sự phân bố của chúng. Các tác động của con người theo thời gian đã trở thành một yếu tố quan trọng trong sự hình thành của đất. Con người đã có những tác động tiêu cực cũng như tích cực đến sự hình thành của đất.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

-*** -BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH ĐẤT VIỆT NAM

Học viên

Người hướng dẫn khoa

học

: :

Hà Nội, tháng 9 năm 2019

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH PHONG HÓA KHOÁNG VẬT, ĐÁ VÀ SẢN PHẨM CỦA NÓ 2

1.1 QUÁ TRÌNH PHONG HÓA KHOÁNG VẬT VÀ ĐÁ 3

1.1.1 Phong hóa vật lý 3

1.1.2 Phong hóa hóa học 4

1.1.3 Phong hóa sinh học 5

1.2 VỎ PHONG HÓA 5

1.2.1 Các loại vỏ phong hóa 5

1.2.2 Vỏ phong hóa Việt Nam 6

CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH ĐẤT 8

2.1 ĐÁ MẸ 8

2.2 SINH VẬT 9

2.3 KHÍ HẬU 12

2.4 ĐỊA HÌNH 13

2.5 THỜI GIAN 14

2.6 TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 15

CHƯƠNG 3 HÌNH THÁI ĐẤT 16

3.1 CẤU TẠO PHẪU DIỆN ĐẤT 16

3.2 THÀNH PHẦN CỦA ĐẤT 19

3.3 CẤU TRÚC ĐẤT 19

3.4 MÀU SẮC ĐẤT 21

KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

MỞ ĐẦU

Đất là một nguồn tài nguyên độc lập, thiết yếu và không thể thay thếcho mọi sinh vật trên cạn, bao gồm cả con người Đất phát triển dựa trên sựtương tác qua lại giữa sinh vật với đá và khoáng vật; với nước; với không khí

và khí hậu là yếu tố kiểm soát cường độ của các tương tác này Sự hình thànhđất là một quá trình lâu dài và phức tạp Có năm yếu tố chính ảnh hưởng đến

sự hình thành của đất là: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian Sựtương tác và phối hợp giữa những yếu tố này quyết định đặc tính cuối cùng vàphân biệt của mỗi loại đất Quá trình tương tác và phối hợp giữa các yếu tốkhác nhau sẽ tạo ra các loại đất khác nhau và ảnh hưởng lên sự phân bố củachúng Các tác động của con người theo thời gian đã trở thành một yếu tốquan trọng trong sự hình thành của đất Con người đã có những tác động tiêucực cũng như tích cực đến sự hình thành của đất

Học viên đã thực hiện chuyên đề “Nghiên cứu đặc điểm của các yếu

tố hình thành đất ở Việt Nam” để thu được hiểu biết sâu rộng hơn về đặc

điểm của các yếu tố hình thành đất ở Việt Nam phục vụ cho công việc nghiêncứu sau này

Trang 4

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH PHONG HÓA KHOÁNG VẬT, ĐÁ VÀ SẢN PHẨM CỦA NÓ

Quá trình phá hủy khoáng vật và đá được gọi là quá trình phong hóa

Từ “phong hóa” biểu thị rằng đá mẹ đang bị biến đổi dưới ảnh hưởng của thờitiết Ban đầu, sau khi toàn bộ phạm vi của mỗi khối đá rắn bị nứt hoặc bịnghiền nát một phần, nước sau đó xâm nhập vào các vết nứt và sau khi tiếpxúc trực tiếp lâu dài với các khoáng chất của đá, thành phần hóa học củachúng bị thay đổi Quá trình phong hóa không thể xảy ra, hoặc xảy ra khônghoàn hảo và triệt để nếu như không có nước Nước có tác dụng rửa lũa và hòatan các khoáng vật, đồng thời là môi trường để cho các phản ứng hóa học xảy

ra làm biến đổi khoáng vật từ dạng này sang dạng khác Nguồn năng lượng đểthực hiện quá trình phong hóa chủ yếu là năng lượng Mặt Trời mà Trái Đấtnhận được Nguồn năng lượng này như vô tận, liên tục và dễ dàng chuyển hóa

từ dạng nhiệt năng sang các dạng khác, vì vậy quá trình phong hóa cũng liêntục xảy ra ở khắp mọi nơi Các quá trình phong hóa diễn ra mạnh mẽ nhất ở

bề mặt Trái Đất nơi tiếp xúc trực tiếp với khí quyển và thủy quyển Một số đáphong hóa dễ dàng nhưng cũng có một số khác có sức kháng cự Ví dụ như đátrầm tích phong hóa nhanh chóng tạo ra các hạt cát và phù sa nhỏ hơn, trongkhi đá núi lửa có khả năng kháng cự phong hóa tốt hơn Sự phong hóa của đárắn thành các hạt cát và phù sa không phải là giai đoạn cuối cùng của phonghóa mặc dù quá trình này mất rất nhiều năm đề hoàn thành mà thêm vào đó,các chuỗi quá trình phong hóa sẽ vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều mức độ khácnhau Trong khí hậu ấm áp, ẩm ướt của vùng nhiệt đới, tốc độ của cường độphong hóa cao hơn so với khu vực ôn đới [1,3]

Tùy thuộc vào các yếu tố tác dụng lên đá và sản phẩm tạo thành, phonghóa được chia thành ba loại phong hóa gồm phong hóa vật lý, phong hóa hóahọc và phong hóa sinh học Sự phân chia các loại phong hóa chỉ là tương đối,trong thực tế, các quá trình phong hóa liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau,tùy điều kiện cụ thể mà một trong ba quá trình xảy ra mạnh hơn

Trang 5

1.1 QUÁ TRÌNH PHONG HÓA KHOÁNG VẬT VÀ ĐÁ

1.1.1 Phong hóa vật lý

Phong hóa vật lý là quá trình phá hủy đá dưới tác dụng của nhiệt độ và

áp suất làm cho đá bị nứt nẻ và vỡ vụn, nhưng không thay đổi về thành phầnkhoáng vật và hóa học so với thành phần ban đầu của đá mẹ Quá trình pháhủy đá do yếu tố nhiệt độ gọi là phong hóa nhiệt Quá trình phá hủy đá do yếu

tố áp suất gọi là phong hóa cơ học [1]

Phong hóa nhiệt thể hiện rõ rệt nhất ở những vùng hoang mạc khô nóngvới sự chênh lệch lớn về nhiệt độ giữa ngày và đêm Tại những vùng này,lượng mưa rất thấp, nhiệt độ ban ngày có thể lên tới 70 – 80oC nhưng banđêm có thể xuống tới -40oC Do quá trình truyền nhiệt được thực hiện từngoài vào bên trong khối đá, nên vào ban ngày các lớp ngoài của khối đáđược nung nóng và giãn nở ra, phần bên trong vẫn còn nguội lạnh Vào banđêm, nhiệt độ giảm xuống, các lớp ngoài của đá bị co lại Sự dao động nhiệtngày qua ngày làm cho các khoáng vật tạo đá bị co giãn liên tục Do hệ sốgiãn nở nhiệt của các khoáng vật khác nhau nên dần dần liên kết giữa chúng

bị phá vỡ, khe nứt xuất hiện, ngày càng mở rộng và ăn sâu vào trong khối đá.Kết quả là khối đá bị vỡ ra, ban đầu là những tảng lớn, tiếp đến là những dămcục nhỏ hơn và cuối cùng là cát, bột Các khoáng vật khác nhau có hệ số giãn

nở khác nhau Ví dụ như hệ số giãn nở của thạch anh là 0,00031; của calxit là0,00020… Màu sắc khoáng vật cũng là một yếu tố quan trọng đối với phonghóa nhiệt Khoáng vật sẫm màu như olivin, pyroxen, amphibol, biotit có khảnăng hấp thụ nhiệt lớn và dễ bị phá hủy hơn những khoáng vật sáng màu hấpthụ nhiệt kém như thạch anh, muscovit [1,4]

Tác động của nước đóng băng, của rễ cây tăng trưởng, muối kết tinhtrong các khe nứt của đá đều gây ra phong hóa cơ học Khi đóng băng, thểtích của nước tăng lên khoảng 10 – 11%, tạo thành một cái nêm chèn sâu vàotrong khe nứt gây ra một áp lực lớn làm cho khối đá bị vỡ toác thành nhữngmảnh riêng biệt Trong quá trình tăng trưởng, bộ rễ của cây cối ngày càng lớn,xuyên sâu vào các khe nứt của đá, tương tự cũng đóng một cái nêm làm cho

đá bị nứt ra Sự kết tinh muối trong các khe nứt nhỏ cũng làm cho đá bị dập

Trang 6

vỡ Hiện tượng này thường xảy ra trong khí hậu khô, Mặt Trời làm cho nướcbốc hơi và muối trong khe nứt kết tinh lại Sự tăng trưởng của cá tinh thểmuối qua thời gian sẽ gây ra một áp lực làm cho các khe nứt mở rộng dần vàđến một lúc nào đó, đá nguyên khối sẽ bị phá vỡ [1]

1.1.2 Phong hóa hóa học

Phong hóa hóa học là quá trình phá hủy, biến đổi đá về thành phầnkhoáng vật và nguyên tố xảy ra do các phản ứng hóa học giữa khoáng vật của

đá mẹ ban đầu với các tác nhân phong hóa Các quá trình phong hóa gồmthủy phân, oxy hóa, hydrat hóa, carbonat hóa… trong đó thủy phân và oxy làhai quá trình phổ biến và quan trọng nhất [1]

- Thủy phân: là cơ chế phân hủy chủ yếu đối với các khoáng vật silicat

và alumosilicat Do phản ứng thủy phân, các nguyên tố kiềm, kiềm thổđược giải phóng dưới dạng cation hòa tan trong nước, còn silic mộtphần tạo ra acid silic, một phần được giữ lại trong khoáng vật sét cùngvới nhôm Ví dụ:

2KAlSi3O8 + 11H2O  2K+ + 2OH- + 4Al2Si2O5(OH)4 + 4H4SiO4

Orthclas Kaolinit

- Oxy hóa: là phản ứng giữa oxy và khoáng vật chứa các nguyên tố cóthể thay đổi số oxy hóa như sắt, lưu huỳnh, mangan Phản ứng oxy hóađóng vai trò lớn trong việc phân hủy các khoáng vật chứa Fe2+ Ví dụ: Khoáng vật pyrit bị oxy hóa và biến đổi như sau:

2FeS2 + 7O2 + 2H2O = 2FeSO4 + 2H2SO4

12FeSO4 + 3O2 + 6 H2O = 4Fe2(SO4)3 + 4Fe(OH)3

- Hydrat hóa: là quá trình thâm nhập của phần từ nước vào mạng lưới

tinh thể của khoáng vật làm suy yếu cấu trúc bền vững của nó và làmthay đổi thành phần hóa học của khoáng vật Ví dụ:

CaSO4 + 2H2O  CaSO4.2H2O

Anhydrit Thạch cao

Fe2O3 + nH2O  Fe2O3.nH2O

Hematit Limonit

Trang 7

- Carbonat hóa: là phản ứng có sự tham gia của ion carbonat [CO3]2-.

Ví dụ: PbSO4 + H2CO3  PbCO3 + H2SO4 [1,6]

Anglesit Cerussit

1.1.3 Phong hóa sinh học

Phong hóa sinh học là quá trình biến đổi cơ học, hóa học các loạikhoáng chất và đá dưới tác động của sinh vật và những sản phẩm của chúng.Mọi sinh vật từ bậc thấp đến bậc cao đều tham gia phá hủy các khoáng vật và

đá Rễ cây len lỏi vào các khe nứt để hút nước và các chất khoáng, theo thờigian, rễ cây to dần phá vỡ đá Nhưng song song với quá trình đó, rễ cây tiết

H2O và CO2 tạo H2CO3 để hòa tan đá và khoáng vật Khi chết đi, xác sinh vật

bị phân hủy sinh ra các axit hữu cơ góp phần hòa tan các khoáng vật và đá.Nhà khoa học nổi tiếng người Nga Vecnatxki cho rằng: "Hoạt động hoá họccủa vỏ Trái Ðất, gần 99% có liên quan tới quá trình sinh hoá học" [3]

1.2 VỎ PHONG HÓA

Sản phẩm của các quá trình phong hóa là vỏ phong hóa – một thể địachất nằm ở phần trên cùng của vỏ Trái Đất, gồm các sản phẩm được hìnhthành tại chỗ trong quá trình phong hóa Những sản phẩm này phân bố có quyluật từ trên xuống dưới tạo thành từng lớp khác nhau về cấu tạo, thành phầnvật chất và được gọi là các đới (zone) hoặc tầng (horizon) phong hóa [1]

1.2.1 Các loại vỏ phong hóa

Căn cứ vào quá trình tích lũy, thành phần và tính chất, vỏ phong hóađược chia thành vỏ phong hóa tại chỗ và vỏ phong hóa trầm tích

- Vỏ phong hóa tại chỗ: các sản phẩm phong hóa tích lũy ngay trên đá

mẹ tạo thành vỏ phong hóa tại chỗ Vỏ phong hóa tại chỗ gồm các loạisau:

o Vỏ phong hóa vụn thô: thường gặp ở vùng xói mòn mạnh, cácmảnh vụ cơ học có kích thước lớn tích lũy ngay trên đá mẹ

Trang 8

o Vỏ phong hóa feralit: phổ biến ở vùng ôn đới có khí hậu ôn hòa.Hầu hết các khoáng vật silicat, nhôm silicat đều hóa sét khi silicbắt đầu bị rửa trôi cùng với các kim loại kiềm, kiềm – thổ Cáckhoáng vật nguyên sinh còn lại đều là khoáng vật bền vững nhưthạch anh (SiO2)

o Vỏ phong hóa alit: phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nơicác quá trình phong hóa diễn ra mạnh

- Vỏ phong hóa trầm tích: các sản phẩm phong hóa di chuyển theo dòng

nước chảy hay bị gió thổi cuốn theo, được tích lũy lại khi gặp các điềukiện thời tiết thuận lợi tạo thành vỏ phong hóa trầm tích Vỏ phong hóatrầm tích gồm các loại sau:

o Vỏ phong hóa trầm tích siallit: có thanh phần chủ yếu là sét, cáckeo sét, ngoài ra còn có limon cát Khoáng vật nguyên sinh cóthạch anh, felspat

o Vỏ phong hóa carbonat – siallit: thành phần tương tự như vỏphong hóa siallit nhưng có chứa một lượng CaCO3 nhất định

o Vỏ phong hóa clorua, sunfat, carbonat – siallit: thành phần của

vỏ phong hóa này giống hai vỏ phong hóa trên và có chứa thêmcác muối clorua sunfat của các chất kiềm và kiềm đất [1,9]

1.2.2 Vỏ phong hóa Việt Nam

Lãnh thổ Việt Nam nằm trong khu vực nội chí tuyến có nền nhiệt cao

và độ ẩm lớn, thuận lợi cho quá trình phong hóa hóa học Mặt khác, sự phânhóa khí hậu theo vĩ độ và độ cao cùng với một nền địa chất với nhiều loại đákhác nhau đã tạo nên một lớp vỏ phong hóa đa dạng gồm các kiểu như siallit,sialferit, ferosiallit, feralit và ferit [1]

- Vỏ phong hóa feralit hình thành chủ yếu trên các đá basalt và trầm tíchbiến chất ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ Thành phần khoáng vật đặctrưng của vỏ feralit gồm gibbsit, goethit, ngoài ra có kaolinit,montmorillonit và hydromica Trên vỏ phong hóa này hình thành nênnhóm đất feralit – đất đỏ vàng ở nước ta [1,3]

Trang 9

- Vỏ phong hóa siallit hình thành trên các đá magma acid (granit, ryolit,felsit…) thuộc các vùng núi thấp, trung bình và cao Các đá này có ởnhiều nơi, vì vậy vỏ phong hóa siallit phân bố rải rác trên khắp lãnh thổViệt Nam dưới dạng đốm da báo [1,3]

- Vỏ phong hóa ferosiallit rất phổ biến trên lãnh thổ Việt Nam, phát triểnhầu hết trên các loại đá và các dạng địa hình khác nhau; từ vùng gò đồithấp thoải đến vùng núi cao; từ miền Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, dọctheo dãy Trường Sơn, Tây Nguyên cho đến vùng cực Nam Trung Bộ.[1]

- Vỏ phong hóa sialferit phát triển trên các đá granit, ryolit, đá phiến, đáphiến kết tinh thạch anh – felspat Kiểu vỏ này gặp ở Tú Lệ, Sa Pa, Pu

Si Lung, Fansipan, Điện Biên, Tam Lang, Tam Lung, phía Tây các tỉnh

từ Thanh Hóa đến Bình Thuận [1]

- Vỏ phong hóa ferit thường có diện phân bố hẹp, gặp tại một số nơi ởBắc Giang, Vĩnh Phúc và phía Tây các tỉnh miền Trung [1]

Trang 10

CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH ĐẤT

Sự hình thành đất là một quá trình lâu dài và phức tạp Ước tính rằngmột inch đất có thể mất từ 500 tới 1000 năm để hình thành Đất đang liên tụcđược hình thành và cũng đang liên tục bị xói mòn Theo nhà bác học ngườiNga Dokuchaev năm 1883 thì đất được hình thành do sự tác động phối hợpcủa năm yếu tố là: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian Sự tác độngcủa năm yếu tố trên quyết định và chi phối tất cả các quá trình hình thành vàbiến đổi diễn ra trong đất để hình thành nên các loại đất khác nhau SauDokuchaev, các nhà thổ nhưỡng học bổ sung thêm một yếu tố nữa là sự tácđộng của con người lên sự hình thành đất [3,9]

Hình 2.1 Sự hình thành đất

Trang 11

Mỗi loại đá mẹ đều có những đặc tính lý hóa bẩm sinh ảnh hưởng đến

sự hình thành của đất ngay từ đầu Ví dụ:

- Đất hình thành từ đá mẹ gra-nít thường mang tính chất chua, nhiều cát.Đất chua nên ở những vùng có loại đất này thường không thể trồng trọtcác loại cây ăn quả hay cây lâu năm được vì đất chua sẽ làm thối rễ vàgốc cây chết dần

- Đất hình thành từ đá mẹ bazan có tầng đất dày, thành phần cơ giới nặng

và chứa nhiều các chất dinh dưỡng thích hợp cho việc trồng các loạicây ăn quả [3,7]

Ở Việt Nam, trong việc nghiên cứu, phân loại đất vùng đồi núi chúng tathường dựa vào cơ sở đầu tiên là đá mẹ

hệ sinh thái Các chất hữu cơ tích tụ trong đất theo thời gian có liên quan đến

sự đa dạng của các sinh vật định cư trong đá mẹ và các điều kiện mà đất đượchình thành [5]

Tham gia vào quá trình hình thành đất có nhiều loại sinh vật khác nhaunằm trong ba ngành chính là: thực vật, động vật và vi sinh vật

Trang 12

- Vai trò của thực vật:

Thực vật là nguồn cung cấp chính chất hữu cơ cho đất Khoảng 4/5 chấthữu cơ trong đất có nguồn gốc từ thực vật Các loài thực vật hút nước và cácchất khoáng trong đất kết hợp với quá trình quang hợp tạo thành các chất hữu

cơ trong cơ thể chúng để duy trì sự sống Sau khi chết đi, xác của chúng rơivào đất sau đó bị phân giải trả lại các chất lấy từ đất và bổ sung thêm cacbon,nitơ… tạo thành chất hữu cơ trong đất Sự tích lũy các chất hữu cơ và chu kỳđất – cây – đất diễn ra liên tục trong tự nhiên làm cho độ phì của đất ngàycàng tăng dần [3,5]

Thực vật có ảnh hưởng mạnh lên sự hình thành của đất Đất hình thànhdưới rừng rụng lá khác so với đất hình thành dưới đồng cỏ ngay cả khi khíhậu không có sự khác biệt Đất phát triển trong một khu vực tương đối ẩm ướtdưới một lớp cây rừng có xu hướng tích tụ chất hữu cơ ở bề mặt nhưng lạithường thể hiện một lớp đất bên dưới bị rửa trôi Ngược lại, đất hình thànhdưới một lớp cỏ có xu hướng tích lũy chất hữu cơ qua một lớp đất sâu hơn.Dưới các kiểu rừng khác nhau gặp các loại đất có độ phì khác nhau Ví dụ:đất dưới rừng tre, nứa có độ phì thấp hơn đất dưới rừng cây lá rộng [5]

Một số loài thực vật được dùng làm cây chỉ thị cho một số tính chất đất

Ví dụ: thực vật chỉ thị đất chua, cằn cỗi có có lau, có chít…; thực vật chỉ thịđất phèn có cây sậy, cỏ bàng, cỏ lác…

- Vai trò của động vật:

Động vật giúp truyền tải chất hữu cơ đến độ sâu lớn hơn và tạo ra cáckênh dẫn thuận lợi cho sự di chuyển của nước và không khí cũng như sự dichuyển của các hạt và chất hòa tan Động vật góp phần bổ sung chất hữu cơ

và làm tăng độ phì cho đất

Các loài động vật có thể chia thành hai nhóm: động vật sống trên mặtđất và động vật sống trong đất Đối với động vật sống trên mặt đất sau khichết đi, xác chúng rơi vào đất và bị phân hủy bổ sung chất dinh dưỡng và chấthữu cơ cho đất Đối với động vật sống trong đất có nhiều loài như: giun, kiến,mối… Trong đó giun đất là loài có vai trò rất lớn trong sự tạo độ phì đất.Theo Russell, một hecta đất tốt có thể chứa tới 2.500.000 cá thể các loại giun

Trang 13

Giun đất ăn các mảnh vụn cây (rễ chết, lá, cỏ…) và đất Mỗi ngày, một cá thểgiun đất có thể ăn được số lượng bằng 1/3 trọng lượng cơ thể của nó Phângiun là các hạt kết viên bền vững làm cho đất tới xốp Khi chết đi, xác củachúng được phân giải cung cấp cho đất nhiều nitơ và các chất khoáng cho đất.[3,8]

Hình 2.2 Vai trò của giun đất

Nguồn: Internet

- Vai trò của vi sinh vật:

Tập đoàn vi sinh vật trong đất rất phong phú với nhiều chủng loại khácnhau Về số lượng có thể lên tới hàng trăm triệu con trong một gam đất Các

vi sinh vật quan trọng nhất là các vi khuẩn, nấm và sinh vật đơn bào Trong

đó vi khuẩn là nhóm chiếm nhiều nhất về số lượng bao gồm: vi khuẩn háokhí, vi khuẩn kị khí, vi khuẩn tự dưỡng, vi khuẩn dị dưỡng… Nếu chia theocác nguồn dinh dưỡng thì lại có nhóm tự dưỡng cacbon, tự dưỡng amin, dịdưỡng amin, vi khuẩn cố định nitơ… Các vi sinh vật đóng một vai trò trực

Trang 14

tiếp trong sự hình thành của đất Ví dụ như hoạt động của vi khuẩn và nấmlên các khoáng chất đất như felspat (một thành phần của đá gra-nít) giúp giảiphóng các nguyên tố có giá trị như kali vào hệ sinh thái Bên cạnh đó, các loàinấm như Penicillium đã được chứng minh là có khả năng kết tủa các khoángchất đất như một Hydromagnesite do đó thúc đẩy quá trình tân hóa khoángvật [3,4]

Có thể kể đến các quá trình diễn ra trong đất có sự tham gia trực tiếphoặc gián tiếp của các loài vi sinh vật như quá trình hình thành mùn, quá trìnhchuyển hóa đạm trong đất, quá trình phân giải xác hữu cơ… Mỗi quá trìnhđều có sự tham gia của một loài sinh vật cụ thể Vi sinh vật tham gia vào quátrình phân giải hữu cơ thành dạng vô cơ cho cây trồng hấp thụ, biến dạng vô

cơ khó tiêu thành dạng dễ tiêu Vi sinh vật sống trong vùng rễ có quan hệ mậtthiết với cây, chúng sử dụng những chất tiết của cây làm chất dinh dưỡng,đồng thời cung cấp chất dinh dưỡng cho cây qua quá trình hoạt động phângiải của mình Ngược lại, vi sinh vật còn tiết ra các vitamin và chất sinhtrưởng có lợi đối với cây trồng Trong quá trình hoạt động của vi sinh vật,nhất là nhóm háo khí đã hình thành nên một thành phần của mùn là axithumic Axit humic có vai trò hết sức quan trọng cùng với các axit mùn khác

có tác dụng kích thích sự phát triển của hệ rễ để hấp thu chất dinh dưỡng tốthơn, cây sinh trưởng phát triển mạnh hơn Hầu hết các loài vi sinh vật đềusinh sản theo cách tự phân nên lượng sinh khối tạo ra trong đất lớn, sau khichết đi xác các loài sinh vật bị phân giải góp phần cung cấp chất hữu cơ vàtạo độ phì cho đất [4,11]

2.3 KHÍ HẬU

Khí hậu là một yếu tố rất quan trọng trong việc hình thành đất Các đặctrưng của khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm không khí, lượng mưa… đều có ảnhhưởng rất lớn tới sự hình thành đất Nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng đến tốc độhòa tan, quá trình phân hủy hóa học, rửa trôi hay lắng đọng của các thànhphần đất Ở những vùng ấm và ẩm, các thành phần dễ hòa tan (như các cation

cơ bản Ca, Na, K và Mg) có thể bị rửa trôi hoàn toàn khỏi đất, chỉ để lại cáckhoáng chất không bị ảnh hưởng như oxit sắt Các loại đất như vậy có xu

Ngày đăng: 28/10/2019, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w