Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 23 Chương 2 ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG NHÂN DÂ
Trang 1nghiên cứu độc lập của tác giả Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận án là trung thực,
Trang 2DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
1.1 Các công trình khoa học tiêu biểu ở nước ngoài và trong nước 101.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có
liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 23
Chương 2 ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG NHÂN
DÂN CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI-NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 272.1 Nhân dân, các đơn vị quân đội và những vấn đề cơ bản về
công tác tuyên truyền, vận động nhân dân của các đơn vịquân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội 272.2 Quan niệm, những vấn đề có tính nguyên tắc, tiêu chí đánh
giá đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nhân dân củacác đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội 55
Chương 3 THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ KINH
NGHIỆM ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUAN ĐỘI TRÊN
3.1 Thực trạng đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nhân
dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội 723.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm đổi mới công tác tuyên
truyền, vận động nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn
Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC
TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 108 4.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu đổi mới công tác tuyên
truyền, vận động nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa
4.2 Những giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền, vận động
nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Công tác TT, VĐ nhân dân của QĐND Việt Nam là một bộ phận CTDVcủa Đảng, là vấn đề thuộc bản chất cách mạng, chức năng, nhiệm vụ vàtruyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam; một nội dung công tác đảng, côngtác chính trị trong quân đội nhằm vận động cách mạng đối với nhân dân, xâydựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân dân Để đảm bảo chocông tác dân vận của quân đội có chất lượng, hiệu quả thì phải thường xuyênquan tâm đến đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của quân đội
Hà Nội là thủ đô nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, trung tâm chính trị-hànhchính quốc gia, có vị trí chiến lược về quốc phòng-an ninh Địa bàn thành phố cũng
là nơi đứng chân của nhiều cơ quan trung ương; nhiều trường đại học, cao đẳng;nhiều tổ chức quốc tế Nhân dân trên địa bàn thành phố có cơ cấu, thành phần, tâm lý
xã hội, thu nhập, mức sống, dân trí, hết sức đa dạng, phức tạp Trước sự chống pháquyết liệt của các thế lực thù địch, tác động mạnh mẽ từ mặt trái nền kinh tế thịtrường và những bức xúc của nhân dân chậm được giải quyết, trên địa bàn thành phố
Hà Nội đã xuất hiện những điểm nóng về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Do
đó, đổi mới công tác TT, VĐ quần chúng nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận củacác tầng lớp nhân dân đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; củng cố,tăng cường lòng tin của nhân dân; xây dựng “thế trận lòng dân” đã và đang là yêucầu khách quan, vừa cơ bản, vừa cấp thiết đặt ra đối với các cấp, các ngành, trong đó
có các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, BộQuốc phòng; sự hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, các đơn vị quân đội trên địabàn thành phố Hà Nội đã từng bước đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TT,
VĐ nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, chủ trương, nghị quyết của cấp ủy, chính quyền các cấp;tham gia xây dựng cơ sở chính trị của địa phương vững mạnh; phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội, xây dựng nông thôn mới, khu phố văn hóa; quán triệt và thựchiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn; góp phần giữ vững ổn định chính
Trang 6trị, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, củng cốkhối đại đoàn kết toàn dân Đồng thời, bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất,năng lực của cán bộ, chiến sĩ, giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội cụHồ”; góp phần xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn an toàn.
Tuy nhiên, đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân độitrên địa bàn thủ đô Hà Nội vẫn còn có những hạn chế, bất cập cả về nhận thức,trách nhiệm và triển khai tổ chức thực hiện Nội dung, hình thức, biện pháp tiếnhành TT, VĐ nhân dân chưa được đổi mới cho phù hợp với điều kiện kinh tế,văn hóa, xã hội và từng đối tượng, lực lượng ở địa phương Chất lượng, hiệuquả công tác TT, VĐ nhân dân còn hạn chế, bất cập, thiếu nhạy bén, sức thuyếtphục chưa cao; ở một số nơi chưa tạo được sự đồng thuận cao của nhân dân vớichủ trương, chính sách của cấp ủy, chính quyền địa phương; niềm tin của nhândân với cấp ủy, chính quyền một số địa phương bị giảm sút
Những bức xúc trong đời sống nhân (do tham nhũng, lãng phí; ùn tắc giaothông; thu hồi đất đai, đơn thư khiếu kiện tập thể;…trên địa bàn thủ đô); sự suy thoái
về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm giảmsút lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước; các thế lực thù địch, đối tượng cơhội chính trị, tổ chức phản động trong và ngoài nước cấu kết chặt chẽ, lợi dụng vấn
đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” thực hiện “diễn biến hòa bình”thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, tăng cường chống phá, xuyêntạc, kích động, lôi kéo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng vớinhân dân và quân đội, quân đội với nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội;…đã vàđang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho công tác TT, VĐ nhân dân của cấp ủy,chính quyền các cấp và các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biếnphức tạp, khó lường; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôngiáo, tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nhiều nhân tốgây mất ổn định chính trị Trên biển Đông, cạnh tranh chiến lược của các nước lớn,
sự trỗi dậy mạnh mẽ và những hành động cứng rắn của Trung Quốc khẳng định chủquyền theo yêu sách “đường lưỡi bò”; cải tạo và triển khai vũ khí, trang bị tại các đảo
Trang 7chiếm đóng trái phép tiềm ẩn xung đột vũ trang và gây bất bình trong nhân dân Cácthế lực thù địch, phản động ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền lôi kéo, kíchđộng, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, nhân dân va quân đội, âm mưu thực hiện “cáchmạng màu”, “cách mạng đường phố” Những tác động, ảnh hưởng của Cuộc cáchmạng khoa học, công nghệ 4.0; sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin; sựbùng nổ của truyền thông và mạng xã hội;…tiếp tục có những tác động mạnh mẽ đếncông tác TT, VĐ nhân dân.
Bên cạnh đó, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; ngăn chặn, phòng ngừanhững nhân tố bất lợi từ bên trong; thực hiện chủ trương của Đại hội XII củaĐảng: “xây dựng thế trận lòng dân” tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốcphòng toàn dân, an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dântrong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…đã đặt ra yêu cầu khách quan phải đổi mới,nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân độitrên địa bàn thành phố Hà Nội
Do vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề đổi mới công tác tuyên truyền, vận
động nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội làm đề tài
luận án tiến sĩ Đây là một vấn đề cơ bản, có ý nghĩa cấp thiết về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất giải pháp đổimới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố
Hà Nội hiện nay
Nhiệm vụ của đề tài
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan, xác định những vấn đề luận ántiếp tục tập trung nghiên cứu giải quyết
Làm rõ những vấn đề lý luận đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn
vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân; khái quát một số kinhnghiệm đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bànthành phố Hà Nội
Trang 8Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp đổi mới công tác TT, VĐ nhândân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bànthành phố Hà Nội là đối tượng nghiên cứu của luận án
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn công tác TT, VĐnhân dân và đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trênđịa bàn thành phố Hà Nội
Tập trung nghiên cứu, khảo sát thực tế tại một số đơn vị cơ sở ở các loạihình đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội gồm: khối quân chủng,binh chủng bộ, quân đoan đội chủ lực; khối học viện, nhà trường quân đội;khối doanh nghiệp quân đội và bệnh viện quân y; cơ quan, đơn vị bộ đội địaphương thuộc Bộ Tư lệnh thủ đô Hà Nội Các tư liệu, số liệu khảo sát sử dụngtrong luận án chủ yếu từ năm 2011 đến nay; đề xuất các giải pháp đổi mới côngtác TT, VĐ nhân dân có giá trị đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, chỉnh đốnĐảng, về quần chúng nhân dân và CTDV của Đảng; công tác vận động quần chúngcủa Quân đội nhân dân Việt Nam
Cơ sở thực tiễn
Toàn bộ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành công tác TT, VĐ nhân dân
và đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của cấp ủy, cán bộ chủ trì, các cơ quanchức năng của đơn vị quân đội trên địa bàn thủ đô Hà Nội; các chỉ thị, nghị quyếtcủa cấp ủy, tổ chức đảng, hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp về công tác
TT, VĐ nhân dân, các báo cáo tổng kết CTĐ, CTCT và CTDV của cấp uỷ, cơquan chức năng và kết quả nghiên cứu, điều tra, khảo sát của tác giả ở các đơn vịquân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 9Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đềtài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyênngành và liên ngành; chú trọng các phương pháp lôgíc - lịch sử, phân tích vàtổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học và phươngpháp chuyên gia
6 Những đóng góp mới của đề tài
Xây dựng khái niệm và luận giải làm rõ nội hàm khái niệm đổi mới côngtác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội.Rút ra một số kinh nghiệm có giá trị vận dụng thực tiễn đổi mới công tác
TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đề xuất một số nội dung, biện pháp cụ thể, khả thi trong những giải phápđổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thànhphố Hà Nội hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận vàthực tiễn đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địabàn thành phố Hà Nội;
Cung cấp cơ sở khoa học giúp cho cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì,
cơ quan chính trị các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội nghiêncứu, vận dụng vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới công tác TT, VĐ nhândân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay;
Đề tài luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu,giảng dạy ở các nhà trường trong và ngoài quân đội
8 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu; 4 chương, 9 tiết; kết luận và kiến nghị; danh mụccác công trình tác giả đã công bố; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình khoa học tiêu biểu ở nước ngoài và trong nước
1.1.1 Các công trình khoa học tiêu biểu ở nước ngoài
Các công trình nghiên cứu về công tác TT, VĐ nhân dân của đảng cộng sản
Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng Cộng sản Trung Quốc, “Công tác
tuyên truyền, tư tưởng trong thời kỳ mới” [11] Tác phẩm đã chỉ rõ yêu cầu
của công tác TT, VĐ nhân dân trong thời kỳ mới là phải tạo ra động lực tolớn, tạo ra sự ủng hộ bằng trí tuệ, bảo đảm về tư tưởng và môi trường dư luậnlành mạnh cho công cuộc cải cách, mở cửa, xây dựng thể chế kinh tế thịtrường XHCN, xây dựng một xã hội tiến bộ toàn diện
Trần Khang, Lê Cự Lộc, “Giáo trình tổng kết một cách toàn diện, có
hệ thống những kinh nghiệm cơ bản trong công tác tuyên truyền tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc” [84] Công trình đã tổng kết một cách có hệ
thống những kinh nghiệm cơ bản trong công tác tuyên truyền tư tưởng củaĐảng Cộng sản Trung quốc, trong đó chỉ rõ vai trò đặc biệt quan trọng củacông tác tuyên truyền Trên các mặt trận lãnh đạo của Đảng thì tuyên truyền
tư tưởng là mặt trận hết sức quan trọng Trong các cơ quan lãnh đạo các cấpcủa Đảng thì chính quyền làm công tác tuyên truyền tư tưởng là hết sức quantrọng Còn trong hàng ngũ cán bộ của Đảng thì những người làm công tác tuyêntruyền tư tưởng là lực lượng hết sức quan trọng
Phùng Linh Chi, Chu Hiểu Tín (2008), “Xây dựng cơ chế phản hồi
nhanh dư luận, tạo kênh thông tin thông tin thông suốt cho quyết sách của Đảng và Chính phủ” [22] Các tác giả đã đi sâu làm rõ những quan niệm về
hiệu quả công tác tuyên truyền và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả, trình độhiểu biết chủ nghĩa Mác, đường lối, chính sách của Đảng, Pháp luật củaNhà nước; ý thức, niềm tin cộng sản chủ nghĩa va tính tích cực xã hội(tiêu chuẩn quyết định công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền) Các tácgiả cũng chỉ ra các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để nâng
Trang 11cao hiệu quả TT, VĐ quần chúng nhân dân Theo đó, điều kiện kháchquan là lối sống xã hội, chế độ dân chủ và môi trường xã hội Nhân tốchủ quan bao gồm: trình độ lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với côngtác tuyên truyền, năng lực của cán bộ tuyên truyền, thường xuyên cảitiến các hình thức, phương pháp tuyên truyền; phát huy vai trò của các
cơ quan tuyên truyền và các tổ chức xã hội khác trong công tác này
Tác phẩm cũng nhấn mạnh tính tất yếu của việc đổi mới công táctuyên truyền của Đảng Cộng sản Qua nghiên cứu sự sụp đổ của CNXH
ở Liên Xô và Đông Âu, các tác giả cho rằng: không được để khoảngtrống trên trận địa tư tưởng, văn hóa
Từ đó, các tác giả yêu cầu phải phát huy sức mạnh của các “binh chủng”của công tác tuyên truyền như báo chí, truyền thông, dư luận xã hội,…để nângcao hiệu quả mặt công tác này Trên cơ sở đó, xây dựng cơ chế phản hồi nhanh dưluận, tạo ra suốt cho quyết sách của Đảng và Chính phủ” [22, tr.83]
Các công trình khoa học nghiên cứu về công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong quân đội
I.A.A.Ê-pi-sep (chủ biên), Tóm tắt lịch sử công tác đảng, công tác
chính trị trong lực lượng vũ trang Liên Xô 1918 - 1973, [55].
Đây là công trình tổng kết khá sâu sắc quá trình hình thành vàphát triển CTĐ, CTCT trong các lực lượng vũ trang Xô-viết Bàn về sựthống nhất giữa quân đội và nhân dân ở điểm 1 phần II chương I có đềcập: Các lực lượng vũ trang Xô-viết là một bộ phận của nhân dân, giữalực lượng vũ trang và nhân dân có sự thống nhất không gì phá vỡ nổi
Theo các tác giả, sự nhất trí giữa Quân đội và nhân dân thể hiện ở
sự tham gia tích cực của Quân đội vào đời sống chính trị - xã hội của đấtnước, thể hiện ở những mối quan hệ rộng rải và nhiều mặt của các bộ đội
và binh đoàn với các tổ chức đảng, Xô-viết, đoàn thanh niên và côngđoàn, với các tập thể sản xuất của những người lao động Về vấn đề giáodục cán bộ,chiến sĩ về sự thống nhất giữa Quân đội và nhân dân, điểm 3phần IV của chương ba đã xác định: Các cơ quan chính trị và các tổ chức
Trang 12đảng của Hồng quân phải làm cho lời thề “Tôi là con em của nhân dânlao động…” ăn sâu vào ý thức của mỗi chiến sĩ Hồng quân và trở thànhnguyên tắc lãnh đạo trong mọi hoạt động của họ [55, tr.204] Theo cáctác giả: để củng cố sự thống nhất giữa Quân đội và nhân dân cần có sựtham gia của tất cả mọi người dân Xô-viết vào việc nâng cao sức chiếnđấu của Quân đội và hạm đội, vào việc giáo dục chính trị cho các chiến
sĩ Hồng quân và coi đây là một trong những hình thức quan trọng đểcủng cố mối liên hệ của Hồng quân với hàng triệu quần chúng nông dân
Chương Tư Nghị (chủ biên), Giáo trình “Công tác chính trị của Quân
Giải phóng nhân dân Trung Quốc dùng trong các Học viện, nhà trường trong thời kỳ mới” [97] Cuốn sách gồm 10 phần với 47 chương tổng kết
kinh nghiệm giáo huấn, phản ánh quy luật khách quan, khái quát những vấn
đề mang tính quy luật được rút ra từ thực tiễn; có sự sáng tạo mới trên cơ sởphát huy truyền thống tốt đẹp đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội TrungQuốc ngày càng hiện đại Trong nội dung bàn về hoạt động “song ủng”(công tác dân vận), các tác giả khẳng định: Quân đội từ nhân dân mà ra, vìvậy, phải phục vụ nhân dân Trong chiến tranh cách mạng trường kỳ vàtrong thời gian sau ngày thành lập nước, Quân đội cùng chính quyền địaphương và quần chúng nhân dân đoàn kết chặt chẽ, cùng chiến đấu, kếtthành quan hệ máu thịt thân thiết, tạo nên truyền thống tốt đẹp “yêu dân, ủng
hộ chính quyền và ủng hộ Quân đội” [97, tr.224] Từ đó, các tác giả xác địnhcác biện pháp tăng cường mối quan hệ quân - dân trong Quân giải phóngNhân dân Trung Quốc: một mặt, Quân đội phải tích cực tham gia và giúp đỡđịa phương xây dựng XHCN Đặc biệt là xây dựng các công trình trọngđiểm, dùng những việc làm thực tế từ xây dựng văn minh vật chất XHCN đểlàm ảnh hưởng, tác động tốt tới quần chúng, thúc đẩy sự phát triển khôngngừng của sự nghiệp xây dựng XHCN; mặt khác, phải ra sức tuyên truyềnđường lối, chính sách của Đảng, tuyên truyền ý nghĩa to lớn của việc cảicách thể chế kinh tế, phải kịp thời ca ngợi thành tích tốt của các gương điểnhình, kịp thời thông báo tin tức kinh tế cho quần chúng, cung cấp viện trợkhoa học kỹ thuật, thúc đẩy cải cách kinh tế, nâng cao năng suất lao động
Trang 13Phôn Thoong Phăn Chạ Lơn Phôn, Luận án Tiến sĩ khoa học quân sự
“Nghiên cứu xây dựng và hoạt động của Bộ đội địa phương trong khu vực
phòng thủ tỉnh ở Bắc Lào” [105] Công trình đã khẳng định vị trí, vai trò công
tác dân vận đối với việc xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh của bộ đội địaphương đồng thời phân tích đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của đất nước, củaquân đội, chỉ ra phương hướng, yêu cầu công tác TT, VĐ nhân dân của bộ độiđịa phương trong thời gian tới Đặc biệt, tác giả có nhấn mạnh các giải phápnâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi lực lượng trong vàngoài quân đội đối với công tác vận động quần chúng nhân dân
Sổm Vảy Nanh Xay Khun, Luận án Tiến sĩ Khoa học chính trị “Công
tác dân vận của tổ chức cơ sở Đảng bộ đội địa phương miền Nam Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” [73] Tác giả đã đánh giá Quân đội nhân dân cách
mạng Lào đã có bước chuyển quan trọng về nhận thức đối với công tác TT,
VĐ nhân dân; đã nâng cao được vai trò, trách nhiệm và năng lực của cấp ủy,chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, tổ chức, điều hành đơn vị tiến hành công tác
TT, VĐ nhân dân; tổ chức thực hiện có bước tiến bộ rõ nét-toàn diện, chặtchẽ, đồng bộ hơn và ngày càng phù hợp hơn với tình hình mới; đi sâu luậngiải, làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, hìnhthức, phương pháp công tác dân vận nói chung, công tác TT, VĐ nhân dânnói riêng của bộ đội địa phương miền Nam Lào; đánh giá đúng thực trạng, chỉ
rõ nguyên ngân, kinh nghiệm, để từ đó xác định mục tiêu, phương hướng, yêucầu và một số giải pháp cơ bản trong công tác TT, VĐ nhân dân của các tổchức cơ sở đảng bộ đội địa phương miền Nam Lào
Sẳn Ti Súc Canh Phu Vông, Luận án Tiến sĩ khoa học chính trị “Công
tác dân vận của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay” [149] Tác giả đã đi sâu phân tích, luận giải làm
rõ những vấn đề cơ bản về lý luận công tác dân vận của bộ đội địa phươngcác tỉnh Tây Bắc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào như quan niệm, đặc điểm
và những vấn đề có tính nguyên tắc công tác dân vận của bộ đội địa phươngcác tỉnh Tây Bắc Lào; rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất nội dung, biện
Trang 14pháp tăng cường công tác dân vận của bộ đội địa phương các tỉnh Tây BắcLào giai đoạn hiện nay Hệ thống các giải pháp của Luận án có đề cập đến
việc “Đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương
pháp tiến hành công tác dân vận của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” [149, tr.123] Trong đó nhấn mạnh đổi mới
nội dung TT, VĐ nhân dân trong giai đoạn hiện nay cần tập trung làm chomọi người nhận thức đúng và chấp hành nghiêm chỉnh mọi đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; nhận thức
rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù chống phá cách mạng Lào Bộ đội địaphương các tỉnh cần thường xuyên quán triệt các nghị quyết của Đảng, vănbản pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên, bám sáttình hình thực tiễn, nhất là tình hình địa phương và nhân dân cũng như đặcđiểm tình hình, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị để xác định nội dung mộtcách kịp thời, thiết thực, sinh động, đúng định hướng Nội dung, hình thứctuyên truyền, vận động phải nhạy bén, năng động, thiết thực, cụ thể, gắn với
quyền lợi, nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân
1.1.2 Các công trình khoa học tiêu biểu ở trong nước
Các công trình khoa học tiêu biểu về CTDV và đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân
Nguyễn Khánh, “Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa Đảng-Nhà nước
và nhân dân” [69] Sau khi khẳng định: thời kỳ nào, công tác vận động và tổ
chức quần chúng nhân dân làm cách mạng cũng có ý nghĩa chiến lược, nhất làtrong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay, tác giả khẳng định tăngcường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay
là vấn đề mang tính cấp thiết Muốn vậy, công tác quần chúng của Đảng nhấtđịnh phải được đổi mới cả về nội dung, hình thức, phương pháp cho phù hợp
Về mặt hình thức, không chỉ biểu hiện bằng công tác vận động quần chúngtrực tiếp của các đảng viên và bằng các đoàn thể quần chúng do Đảng lãnhđạo mà còn thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa Về mặt nội dung, công tácvận động quần chúng không chỉ là giáo dục, động viên, nâng cao giác ngộ của
Trang 15quần chúng mà còn thể hiện ở chỗ Đảng và Nhà nước chăm lo đến nhữngquyền lợi thiết thực của nhân dân.
Nguyễn Thế Trung, “Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
trong thời kỳ mới” [139] Tác giả đề cập đến việc đổi mới phương thức lãnh
của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đặc biệt, tác giả khẳng định cần xâydựng đội ngũ cán bộ có phong cách “gần dân, hiểu dân, học dân, trọng dân và
có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” và thực sự
là “công bộc của nhân dân” Người cán bộ trực tiếp làm công tác TT, VĐnhân dân phải vừa có uy tín, vừa có kỹ năng thuyết phục, kỹ năng tuyên
truyền, kỹ năng đồng cảm
Đặng Mạnh Trung,“Công tác vận động đồng bào công giáo của đảng bộ
một số tỉnh miền Đông Nam Bộ từ năm 1986 đến năm 2006” [138] Tác giả
đã trình bày khá rõ nét về tình hình kinh tế - xã hội; tình hình công giáo vàcông tác vận động đồng bào công giáo của một số tỉnh miền Đông Nam Bộ.Đồng thời, tác giả nêu lên những yêu cầu đối với công tác vận động giáo hội,giáo sĩ và đồng bào công giáo; những nhiệm vụ cần tập trung trong công tácvận động đồng bào công giáo ở miền Đông Nam Bộ
Tác giả đề cập các chủ trương, nhừng thành quả và kinh nghiệm trongcông tác vận động đồng bào công giáo ở Miền Đông Nam Bộ
Hoành Mạnh Đoàn,“Công tác vận động giáo dân của tổ chức cơ sở
đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay” [53] Công trình đưa ra
quan niệm về nội dung, chất lượng công tác vận động đồng bào Công giáo.Theo tác giả, nội dung cơ bản của công tác này là tuyên truyền, giáo dục vềđường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tổ chức hướng dẫngiáo dân nâng cao nhận thức, trình độ văn hoá, khoa học, vận động đồng bàotham gia xây dựng hệ thống chính trị, cơ sở chính trị VMTD, tích cực thamgia các phong trào xây dựng nếp sống mới, phòng - chống tệ nạn xã hội, nêucao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụngtín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch
Trang 16Đào Duy Tùng, “Một số vấn đề về công tác tuyên truyền” [143] Tác giả
đã khẳng định vị trí, vai trò, và nhiệm vụ lớn lao của công tác TT, VĐ nhân dântrong tiến trình cách mạng Việt Nam cũng như trong công tác xây dựng Đảng;những bài học kinh nghiệm, phương châm chỉ đạo, nội dung, biện pháp công táctuyên truyền nhằm chống lại ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, phong kiến, nângcao chất lượng và hiệu quả công tác TT, VĐ quần chúng nhân dân
Lương Khắc Hiếu, “Nguyên lý công tác tư tưởng” [63] Cuốn sách đã đề
cập những vấn đề chung nhất của công tác tuyên truyền như đối tượng, bảnchất, hình thái, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châm,hoạt động và vai trò của công tác tuyên truyền; những nội dung cơ bản củacông tác giáo dục tư tưởng; về thế giới quan, nhữngvấn đề về phương pháp,hình thức, phương tiện và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyêntruyền; đưa ra hai nhóm giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng đólà: 1 Thiết lập các điều kiện công tác tư tưởng gồm: môi trường sống, điềukiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và tồn tại xã hội nói chung; 2 Tác độngvào các yếu tố của công tác tư tưởng gồm: nắm vững đối tượng, xác định mụcđích, nội dung, phương thức phù hợp; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản
lý của Nhà nước, kiện toàn bộ máy công tác tuyên truyền
Phạm Tất Thắng (chủ biên), “Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [120] Cuốn sách đã đề cập sâu
sắc về công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, trong đó đưa ra những biện phápđổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương pháp nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác tư tưởng, lý luận phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tronggiai đoạn hiện nay Tác giả khẳng định: một trong những biện pháp để “đổi mớinội dung, cách thức triển khai công tác tư tưởng” đó là: Công tác tư tưởng cầnphải được tiến hành mạnh hơn ở các thành phố lớn Cần tăng cường hơn nữa côngtác tuyên truyền đường lối, chính sách cho nhân dân, đặc biệt là chính sách liênquan đến lợi ích trực tiếp của người dân, truyền thông về tình hình thực hiện chínhsách trong thực tế Tập trung công tác tư tưởng vào những thắc mắc, bức xúc nhấtcủa nhân dân tong từng giai đoạn, trước mắt là các vấn đề về: tham nhũng, sự viphạm pháp luật, sa sút đạo đức của công chức
Trang 17Ban Tuyên giáo Trung ương, “Nguyên lý tuyên truyền” [5], “Giáo trình
chuyên ngành về công tác tư tưởng” [6], "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2010" [7], “Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta” [8] Các cuốn sách đã phân tích rõ
những nhược điểm, hạn chế của công tác TT, VĐ quần chúng nhân dân như:chậm đổi mới phương thức hoạt động để phù hợp với tình hình mới; công táctuyên truyền về lĩnh vực kinh tế chưa được chú trọng đúng mức…Từ đó đề ranhững giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng và côngcuộc hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung
Hà Học Hợi, “Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư
tưởng” [66] Cuốn sách đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh nhữngnăm đầu thế kỷ XXI, góp phần tạo ra sự thống nhất hơn nữa trong Đảng và đồngthuận trong xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,văn minh Trên cơ sở đó làm rõ tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác
tư tưởng, dự báo tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên
Một trong các giải pháp được tác giả đưa ra đó là phải đổi mới và nângcao chất lượng công tác tuyên truyền, cổ động đối với quần chúng nhân dân;xây dựng bộ máy làm công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền vững mạnh,hoạt động hiệu quả trong tình hình mới
Trần Thị Anh Đào, “Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm
công tác tư tưởng” [50] và “Công tác tư tưởng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" [51] Trong hai cuốn sách chuyên khảo này, tác giả đã đề
cập khá toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn của công tác tư tưởng nói chung
và công tác tuyên truyền nói riêng, trong đó đi sâu luận giải về năng lực củađội ngũ cán bộ làm công tác TT, VĐ quần chúng, nhất là vấn đề đào tạo cán
bộ làm công tác này, trên cơ sở hoạt động thực tiễn giáo dục đào tạo của Họcviện Báo chí và Tuyên truyền
Trang 18Lê Mai Trang, “Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu
cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” [136] Luận án đã bổ sung và phát
triển một số vấn đề lý luận về công tác tyên truyền và đổi mới công tác tuyêntruyền của Đảng trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay từ góc
độ chính trị học; làm rõ nội hàm khái niệm công tác tuyên truyền của Đảngvới tính cách là một phương thức cầm quyền của Đảng cùng những đặc trưngcủa nó; phân tích những yêu cầu của hội nhập quốc tế đặt ra đối với công táctuyên truyền hiện nay Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác tuyên truyềncủa Đảng trong điều kiện hội nhập quốc tế, tác giả đã đề xuất bộ giải pháp đểđổi mới công tác tuyên truyền đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế bao gồm:nhóm giải pháp về nhận thức, nhóm giải pháp về thể chế, nhóm giải pháp vềcán bộ và cơ sở vật chất-kỹ thuật
Các công trình nghiên cứu có liên quan đến công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong quân đội
Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, “Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và những bài học thực tiễn xây dựng quân đội về chính trị trong giai đoạn mới
[128] Công trình nghiên cứu cơ sở lý luận, bài học thực tiễn, tình hình xây
dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị và những điều kiện, yêu cầu,nội dung xây dựng quân đội về chính trị trong giai đoạn mới Một trongnhững giải pháp cơ bản được công trình khẳng định đó là: “Giữ gìn và vunđắp mối quan hệ quân-dân, thực hiện quân với dân một ý chí, xây dựng vữngchắc nền tảng chính trị-xã hội của quân đội” Các tác giả nhấn mạnh: để làmtốt công tác TTVĐ nhân dân, quân đội cần nâng cao năng lực vận động quầnchúng phù hợp với những điều kiện lịch sử mới, với trình độ và sự biến đổi đadạng của các tầng lớp dân cư Quân đội phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoạivới các tầng lớp nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, nâng cao trình độkiến thức mọi mặt của mình, phải thành thạo trong ứng xử thời bình, định rõthái độ chính trị đối với các sự kiện xã hội và nội bộ, đáp ứng yêu cầu làm tốtcông tác dân vận trong giai đoạn cách mạng mới
Trang 19Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, “Công tác dân vận của quân đội
trong tham gia giải quyết “điểm nóng” ở địa phương” [132] Cuốn sách
khẳng định: quân đội tiến hành công tác dân vận tham gia giải quyết điểmnóng có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định vị trí, vai trò, chức năngnhiệm vụ cơ bản đã được Đảng và nhân dân ta xác định, góp phần quan trọngvào việc xây dựng bản chất, truyền thống cách mạng của quân đội ta, thiếtthực đấu tranh chống các luận điệu và mọi âm mưu “diễn biến hoà bình” củacác thế lực thù địch [132, tr.32]
Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam,“Đổi mới công tác dân vận của
Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới” [126] Công trình đã phân
tích đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của đất nước, quân đội, chỉ ra phươnghướng, yêu cầu công tác dân vận của quân đội trong thời gian tới đặt ra vấn
đề nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi tổ chức, mọi lực lượng trong vàngoài quân đội đối với công tác vận động quần chúng nhân dân Từ đó, cáctác giả đã khẳng định: để tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác dân vận của quân đội trong tình hình hiện nay phải đẩy mạnh việcđổi mới công tác dân vận của các đơn vị quân đội trong toàn quân cả về nhậnthức, trách nhiệm, nội dung và hình thức
Đồng Ngọc Châu, “Công tác dân vận của các đơn vị quân đội ở vùng
đồng bào theo đạo trên địa bàn miền Đông Nam bộ giai đoạn hiện nay” [21].
Tác giả đi sâu luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn tìnhhình tôn giáo và công tác vận động nhân dân ở vùng đồng bào theo đạo, chỉ rathực trạng công tác dân vận của các đơn vị quân đội trên địa bàn miền ĐôngNam bộ còn nhiều bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa quânđội và nhân dân Đây là cơ sở để tác giả nghiên cứu, so sánh thực trạng và đềxuất giải pháp tiến hành công tác dân vận của các đơn vị quân đội ở vùng đồng
bào theo đạo trên địa bàn Miền Đông Nam Bộ giai đoạn hiện nay
Bộ Quốc phòng, “Nâng cao chất lượng công tác dân vận của quân đội
trên địa bàn trọng yếu về quốc phòng-an ninh trong tình hình mới” [15] Đề
tài khẳng định công tác dân vận của quân đội trên địa bàn trọng yếu về quốc
Trang 20phòng-an ninh là một bộ phận công tác dân vận của Đảng, là một nội dungCTĐ, CTCT của quân đội nhằm vận động cách mạng đối với nhân dân, xâydựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân,mối quan hệ đoàn kết quân dân; là chức năng, nhiệm vụ, truyền thống củaQuân đội nhân dân Việt Nam.
Đề tài nhấn mạnh việc “đổi mới nội dung TT, VĐ nhân dân thực hiệnthắng lợi các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về pháttriển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh” Trong đó, việc đổi mớihướng vào những vấn đề như: tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệmcông dân tham gia xây dựng và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ quốc gia, dân tộc; tuyên truyền các bộ luật đã được Quốc hội thông qua;tuyên truyền sâu rộng về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch…Các nộidung tuyên truyền cần được biên soạn ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo,phù hợp với tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán sản xuất và sinh hoạt của từngcộng đồng dân cư; sử dụng hệ thống thông tin đại chúng, các loại hình phương
tiện tuyên truyền công nghệ cao kết hợp tuyên truyền trực tiếp,…
Vũ Đình Tấn, Luận án Tiến sĩ Lịch sử: “Đổi mới công tác dân vận của
Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
[116].Tác giả đã khẳng định: Một tư tưởng sâu sắc, một thành công to lớn của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo lực lượng
vũ trang cách mạng là xác định quân đội có một chức năng cơ bản là “độiquân công tác” Để thực hiện tốt chức năng này và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụcách mạng trong tình hình mới, đòi hỏi phải đổi mới công tác dân vận củaquân đội Đổi mới công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất làlàm cho công tác dân vận của quân đội đi đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh,phát triển ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới
Nguyễn Tiến Dũng, “Hoạt động tham gia xây dựng cơ sở địa phương
vững mạnh của các đơn vị quân đội trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn hiện nay” [31] Trong quá trình nghiên cứu, luận giải những vấn đề cơ bản về hoạt
động tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh của các đơn vị quân
Trang 21đội trên địa bàn Tây Nguyên, tác giả đã đề cập khá rõ nét vai trò của công tácTTVĐ nhân dân góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương trong tìnhhình hiện nay Đặc biệt, gắn với thực trạng tình hình an ninh, chính trị, trật tự
an toàn xã hội ở Tây Nguyên có những diễn biến phức tạp, thì cùng với cácgiải pháp quân đội tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh, công tácTTVĐ nhân dân của các đơn vị trên địa bàn Tây Nguyên càng phải được coitrọng và thực hiện có hiệu quả cao nhất
Nguyễn Hoàng Lân, “Nghiên cứu kỹ năng tuyên truyền của cán bộ chính
trị đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam” [75] Tác giả đi sâu nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn kỹ năng tuyên truyền của cán bộ chính trị đơn vị cơ
sở Phân tích thực trạng một số kỹ năng tuyên truyền của cán bộ chính trị, từ
đó đi sâu làm rõ thực trạng những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả thựchiện kỹ năng tuyên truyền của cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở hiện nay, tổchức thực nghiệm tác động nâng cao kỹ năng tuyên truyền của cán bộ chínhtrị ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam
Vũ Minh Thực, “Đổi mới công tác tuyên truyền miệng ở đơn vị cơ sở
Quân đội nhân dân Việt Nam” [124] Khẳng định công tác tuyên truyền
miệng ở đơn vị cơ sở là một bộ phận của công tác tư tưởng của Đảng trongquân đội, một nội dung của CTĐ, CTCT, có vai trò to lớn và có ưu thế đặcbiệt trong tuyên truyền, giáo dục cán bộ chiến sĩ trong đơn vị cũng như trongTTVĐ nhân dân; tác giả đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễnđổi mới công tác tuyên truyền miệng ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân ViệtNam Trên cơ sở đánh giá thực trạng đổi mới công tác tuyên truyền miệng ởđơn vị, tác giả đề xuất hệ thống các giải pháp đổi mới công tác tuyên truyềnmiệng, như: nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ chủ trì, cáccấp, các ngành, của cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộ, đảng viên đối vớicông tác tuyên truyền miệng ở đơn vị cơ sở; đổi mới nội dung, hình thức,phương pháp tuyên truyền miệng; nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên,tuyên truyền viên và tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới phương tiện công táctuyên truyền miệng ở đơn vị cơ sở,
Trang 22Ngô Văn Bích, “Nâng cao chất lượng công tác dân vận của Quân
đội trên địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh”, [13]
Bài báo khẳng định các địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh có vịtrí chiến lược trong thế trận phòng thủ của cả nước và khu vực; đồng thời, lànơi các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” vànhững khó khăn trong đời sống xã hội để chống phá ta Vì thế, thực hiện tốtcông tác dân vận trên địa bàn này, là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệthống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, quân đội giữ vai trònòng cốt Tác giả cũng đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng côngtác dân vận của quân đội trên địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh nhưsau: Một là, làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm chocán bộ, chiến sĩ về vị trí, vai trò công tác dân vận đối với địa bàn chiến lượccủa Tổ quốc Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, tráchnhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộchính trị các cấp Phát huy vai trò của cơ quan chính trị, cán bộ chính trịtrong việc tham mưu, chỉ đạo, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương,các tổ chức chính trị - xã hội và các lực lượng trên địa bàn trong thực hiệncông tác dân vận; Ba là, đổi mới mạnh mẽ nội dung và hình thức công tácdân vận theo hướng hiệu quả, thiết thực, phù hợp với nhận thức, phong tục,tập quán của đồng bào Bốn là, phát huy tốt vai trò của cơ quan chuyên trách
và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận
Phùng Quang Thanh, “Một số vấn đề về công tác dân vận của quân
đội nhân dân Việt Nam”,[117] Bài báo đã xác định công tác dân vận của lực
lượng vũ trang có các nội dung chủ yếu sau: 1 Tham gia tuyên truyền, vậnđộng nhân dân; 2 Thực hiện chức năng tham mưu cho các cấp ủy Đảng,chính quyền các cấp, góp phần tham gia xây dựng cơ sở, địa phương vữngmạnh toàn diện; 3 Tham gia góp phần thực hiện các chức năng phát triểnkinh tế - xã hội Tích cực giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống và
Trang 23khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; 4 Tham gia có hiệu quả cácphong trào, cuộc vận động cách mạng ở địa phương và trong phạm vi cảnước; 5 Xây dựng các mô hình kinh tế quốc phòng hiệu quả góp phần pháttriển kinh tế, văn hóa - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an
ninh trên địa bàn, nhất là các địa bàn trọng điểm, chiến lược
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết
1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài
Thứ nhất, đã có nhiều công trình của nước ngoài và trong nước nghiên
cứu về CTDV, công tác TT, VĐ quần chúng dưới nhiều góc độ, cách tiếp cận,với đối tượng, nội dung, phạm vi cụ thể khác nhau; song thống nhất khẳngđịnh: quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử và có vai trò đặc biệtquan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác vận động quần chúng có vị trí chiếnlược trong mọi giai đoạn cách mạng Một số công trình đi sâu phân tích quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quầnchúng nhân dân và công tác TT, VĐ quần chúng; đường lối, quan điểm củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tuyên truyền, CTDV.Khẳng định vai trò to lớn của công tác vận động quần chúng trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong bốicảnh tình hình quốc tế, khu vự, trong nước diễn biến phức tạp, khó lường hiệnnay, các công trình đề xuất nhiều giải pháp góp phần nâng cao chất lượngcông tác TT, VĐ nhân dân trong tình hình mới
Thứ hai, các công trình khoa học đã tiếp cận những vấn đề lý luận và
thực tiễn của CTDV, công tác tuyên truyền; làm rõ nội hàm khái niệm, vai trò,nội dung, hình thức, phương pháp của CTDV, công tác tuyên truyền của Đảng;đánh giá thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm rút ra trong đổi mới,
Trang 24nâng cao chất lượng hiệu quả CTDV, công tác tuyên truyền giai đoạn hiện nay;
đề xuất yêu cầu và giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng CTDV, công táctuyên truyền của Đảng, cấp ủy, chính quyền các cấp trong tình hình mới
Thứ ba, một số công trình đi sâu nghiên cứu CTDV của QĐNDVN,
khẳng định đây là vấn đề thuộc về bản chất cách mạng của một đội quân từnhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; phân tích chức năng, nhiệm vụ củaquân đội, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của chức năng “đội quân công tác”của quân đội Từ đó khẳng định công tác dân vận của quân đội là một bộ phậncông tác dân vận của Đảng, một nội dung cơ bản của CTĐ, CTCT Các côngtrình nghiên cứu đã phân tích thực tiễn, kinh nghiệm công tác TTVĐ nhândân của quân đội trong hơn 70 năm qua; phân tích làm sáng tỏ lý luận về chấtlượng, nâng cao chất lượng công tác dân vận của quân đội ở vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo, đồng bào công giáo, những địa bàn trọng yếu về quốcphòng-an ninh Một số công trình tập trung nghiên cứu, đề xuất các giải phápđổi mới công tác tuyên truyền, CTDV của quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ cách mạng trong từng giai đoạn, thời điểm
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước liênquan đến đề tài luận án đã được công bố đã khái quát, luận giải khá toàn diệnnhững vấn đề cơ bản về CTDV, công tác TT, VĐ nhân dân nói chung vàtrong quân đội Song, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệthống, sâu sắc về công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địabàn thành phố Hà Nội dưới góc độ khoa học chuyên ngành xây dựng Đảng và
Chính quyền Nhà nước Vì vậy, đề tài “Đổi mới công tác tuyên truyền, vận
động nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” là công trình khoa học độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa
học đã nghiệm thu, công bố
1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục tập trung nghiên cứu giải quyết
Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan cho thấy, đểthực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, Luận án tiếp tục nghiên cứu,giải quyết những vấn đề cụ thể sau:
Trang 25Một là, luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về
công tác TT, VĐ nhân dân và đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn
vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội Trên cơ sở làm rõ những vấn đề cơbản về địa bàn thành phố Hà Nội, các đơn vị quân đội và nhân dân trên địabàn thành phố Hà Nội; tập trung khái quát, luận giải, làm rõ vị trí, vai trò, đặcđiểm, nội dung, hình thức công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân độitrên địa bàn thành phố Hà Nội
Hai là, nghiên cứu khái quát quan niệm, luận giải, làm rõ nội hàm quan
niệm; nội dung, hình thức, biện pháp đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân củacác đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Ba là, xác định những vấn đề có tính nguyên tắc và tiêu chí đổi mới công
tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bốn là, tiến hành khảo sát thực tiễn, đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên
nhân ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm; rút ra một số kinh nghiệm đổi mới công tác
TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Năm là, dự báo sự tác động của tình hình, nhiệm vụ; xác định yêu cầu
và đề xuất những giải pháp đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vịquân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 26Kết luận chương 1
Công tác vận động quần chúng nhân dân được đặc biệt coi trọng đốivới mọi chính thể trên thế giới Nhiều học giả nước ngoài đã có những côngtrình nghiên cứu luận giải về vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân trong lịchsử; phương pháp, nghệ thuật tuyên truyền; vai trò của công tác vận động quầnchúng đối với đảng cộng sản cầm quyền và quân đội
Đối với Việt Nam, CTDV nói chung và công tác TT, VĐ nhân dân nóiriêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng ta, có ý nghĩa sốngcòn đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; là vấn đềthuộc về bản chất cách mạng, thực hiện chức năng “đội quân công tác” củaQuân đội nhân dân Việt Nam Nhận thức rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng củacông tác TT, VĐ nhân dân trong bối cảnh mới, những năm qua, đã có nhiềucông trình khoa học của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các nhà khoa họcquan tâm nghiên cứu ở những góc độ, phạm vi khác nhau Kết quả của cáccông trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài luận án là tương đốitoàn diện Các công trình đã làm rõ những vấn đề về lý luận của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách củacác chính đảng và Đảng Cộng sản Việt Nam về CTDV, công tác tuyêntruyền; quan niệm, nội dung, hình thức, phương pháp CTDV, công tác tuyêntruyền; khẳng định CTDV là vấn đề thuộc về chức năng, nhiệm vụ, thể hiệnbản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của QĐNDVN Một số công trìnhbàn về công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn vị quân đội và đổi mới côngtác tuyên truyền, CTDV của quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạngtrong từng thời kỳ, giai đoạn
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứusinh đã sưu tầm, hệ thống hóa các tài liệu; khái quát kết quả nghiên cứu củacác công trình, xác định những vấn đề luận án tiếp tục tập trung giải quyết,tiếp thu chọn lọc giá trị khoa học, sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử,chuyên ngành xây dựng đảng và chính quyền nhà nước để xác định đối tượng,nội dung, phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
Trang 27Chương 2 ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ
NỘI
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Nhân dân, các đơn vị quân đội và những vấn đề cơ bản về công tác tuyên truyền, vận động nhân dân của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.1.1 Nhân dân và các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Khái lược về địa bàn thành phố Hà Nội
Thành phố Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam-trung tâm chính trị-hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở các cơ quan trungương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội, cơ quan đại diệnngoại giao, tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về văn hóa, giáo dục, khoa học
và công nghệ, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước
Về diện tích tự nhiên: Thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóaX) và Nghị quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12, ngày 29 tháng 05 năm 2008 và Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 8 năm 2008, toàn bộ hệ thống chính trị của thành phố Hà Nộisau hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính Thủ đô bao gồm: Thành phố HàNội, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyệnLương Sơn - tỉnh Hòa Bình Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diệntích tự nhiên 334.470,02 ha
Cơ cấu hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội hiện nay bao gồm: Thành
ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Đoàn đại biểu quốchội Hà Nội; các sở, ban, ngành, đoàn thể trực thuộc Thành ủy, UBND; các quận,huyện, thị xã; các hội trực thuộc; các đoàn thể trực thuộc thành phố
Các cơ quan của Thành ủy bao gồm: Văn phòng Thành ủy Hà Nội, Ban
Tổ chức Thành ủy, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy, Ban Dân vận Thành ủy, Ban
Trang 28Tuyên giáo Thành ủy, Ban Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cán bộ Thành ủy,Ban Nội chính Thành ủy.
Các cơ quan của Hội đồng nhân dân bao gồm: Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ban Pháp chế, Ban Kinh tế-ngân sách, Ban Văn hóa-xã hội và các
tổ đại biểu đại diện cho các quận, huyện, thị xã trực thuộc
Các cơ quan của UBND thành phố Hà Nội bao gồm: Văn phòng Ủy
ban Nhân dân , Bộ Tư lệnh thủ đô Hà Nội, Sở Công An, Sở Công Thương, SởGiao thông Vận tải, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoahọc và Công nghệ, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ, Sở Ngoại
Vụ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Quy hoạch Kiến trúc, Sở Tàichính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư Pháp, Sở Thông tin và Truyềnthông, Sở Văn hóa Thể thao, Sở Du lịch, Sở Xây dựng, Sở Y tế, Ban Dân tộc ,Thanh tra, Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng, Ban Quản lý các khu côngnghiệp và chế xuất, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Thương mại Du lịch
Các quận, huyện, thị xã trực thuộc thành phố: Tính đến 31/12/2016,
toàn thành phố có 30 quận, huyện, thị xã trực thuộc với tổng số 584 xã, phường,thị trấn (177 phường, 21 thị trấn, 386 xã); trong đó:
Các quận: Ba Đình (14 phường), Hoàn Kiếm (18 phường), Tây Hồ (8phường), Long Biên (14 phường), Cầu Giấy (8 phường), Đống Đa (21 phường),Hai Bà Trưng (20 phường), Hoàng Mai (14 phường), Thanh Xuân (11 phường),Nam Từ Liêm (10 phường), Bắc Từ Liêm (13 phường), Hà Đông (17 phường)
Các huyện: Sóc Sơn (1 thị trấn, 25 xã), Đông Anh (1 thị trấn, 23 xã),Gia Lâm (2 thị trấn, 20 xã), Thanh Trì (1 trị trấn, 15 xã), Mê Linh (2 thị trấn,
16 xã), Ba Vì (1 thị trấn, 30 xã), Phúc Thọ (1 thị trấn, 22 xã), Đan Phượng (1thị trấn, 15 xã), Hoài Đức (1 thị trấn, 19 xã), Quốc Oai (1 thị trấn, 20 xã),Thạch Thất (1 thị trấn, 22 xã), Chương Mỹ (2 thị trấn, 30 xã), Thanh Oai (1thị trấn, 20 xã), Thường Tín (1 thị trấn, 28 xã), Phú Xuyên (2 thị trấn, 26 xã),Ứng Hòa (1 thị trấn, 28 xã), Mỹ Đức (1 thị trấn, 21 xã) Thị xã Sơn Tây (9phường, 6 xã)
Trang 29Các đoàn thể chính trị-xã hội của thành phố gồm: Liên đoàn lao động
Hà Nội, Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị, Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh,Hội Liên hiệp Phụ nữ
Ngoài ra, còn có các đơn vị, trường học trực thuộc trực tiếp: Đài phát
thanh và truyền hình Hà Nội, Trường Đại học Thủ đô (trước là Cao đẳng Sưphạm thành phố Hà Nội), Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, ViệnNghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội, Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
và các Ban Quản lý như: Ban Chỉnh trang đô thị, Ban Chỉ đạo giải phóng mặt
bằng, Ban Quản lý dự án trọng điểm, Ban Quản lý Khu phố cổ, Ban Quản lýphát triển vận tải công cộng xe điện, Ban Quản lý đầu tư phát triển đô thị HồTây, Ban Quản lý dự án hạ tầng tả ngạn sông Hồng,…
Các cơ quan, đơn vị kể trên đều quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến đờisống xã hội của nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội và nằm trong mốiquan hệ phối hợp công tác đối với các đơn vị quân đội trong tổ chức thực hiệncông tác TT, VĐ nhân dân [24]
Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh
Thời gian qua, kinh tế thành phố tiếp tục phát triển, đạt mức tăng trưởng
khá Tổng sản phẩm trên địa bàn bình các năm 2016, 2017, 2018 lần lượt là:
7,15 %, 7,31% và 7,37% Cùng với phát triển kinh tế, thành phố chú trọngđảm bảo an sinh xã hội và chăm lo đời sống nhân dân Tỷ lệ hộ nghèo đếncuối năm 2018 ước còn 1,19%, giảm 0,5% so với năm trước, vượt chỉ tiêu đề
ra và hoàn thành trước 2 năm mục tiêu nhiệm kỳ; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tếđạt 86,5% dân số, vượt 1,2% kế hoạch
Văn hóa tiếp tục phát triển; việc xây dựng người Hà Nội thanh lịch, vănminh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Giáo dục và đào tạo Thủ đô tiếptục được đổi mới, phát triển, dẫn đầu cả nước về các tiêu chí: quy mô giáo dục,mạng lưới trường lớp và chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục mũi nhọn, sốhọc sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế
An ninh chính trị được giữ vững; quốc phòng và quân sự địa phươngngày càng được củng cố, tăng cường, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình thế
Trang 30giới, khu vực và những vấn đề liên quan đến biển Đông có nhiều diễn biếnphức tạp Phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và cáctầng lớp nhân dân Thủ đô trong tổ chức thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ
an ninh Tổ quốc Bảo vệ vững chắc hệ thống chính trị; bảo đảm an toàn tuyệtđối các mục tiêu trọng điểm, sự kiện quan trọng diễn ra trên địa bàn
Trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thủ đô có nhiều chuyển biến tích cực
Đã kiềm chế, từng bước đẩy lùi hoạt động của các loại tội phạm và vi phạmpháp luật Chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh trấn áp các loại tội phạmđược nâng lên Đã triển khai đồng bộ nhiều chương trình, kế hoạch, mô hìnhmới, tạo sự đột phá, hiệu quả cao trong phòng, chống tội phạm và vi phạmpháp luật, được nhân dân Thủ đô ghi nhận và nhân rộng kinh nghiệm tạinhiều tỉnh, thành trong cả nước
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng của Thủ đôđược chú trọng và đạt kết quả toàn diện Nhiệm vụ giáo dục và bồi dưỡngkiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng, học sinh, sinh viên đượcthực hiện thường xuyên, chất lượng tốt Tiềm lực quốc phòng được nâng lên
Hà Nội là địa phương đầu tiên trong cả nước ban hành và thực hiện có hiệuquả Nghị quyết chuyên đề của HĐND Thành phố về “Xây dựng khu vựcphòng thủ Thành phố đến năm 2020 và những năm tiếp theo”
Tuy nhiên, kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và thế
mạnh Thủ đô; thực hiện một số tiêu chí cơ bản tái cơ cấu kinh tế chưa đạt yêucầu đề ra; kinh tế tri thức phát triển chậm; hội nhập kinh tế quốc tế chưa sâu, hợptác kinh tế vùng kém hiệu quả, vai trò điều phối kinh tế vùng chưa được thể hiện
rõ Tốc độ đô thị hóa cao ở các huyện ngoại thành kéo theo nhiều hệ lụy như: sựphân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, tranh chấp đất đai, khiếu kiện đôngngười,…làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Nếp sốngvăn hóa, trật tự, kỷ cương, văn minh đô thị có mặt còn yếu kém Một số mặt củacông tác giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chuyển biến chậm, hiệuquả giáo dục đạo đức học đường, ứng xử văn minh ở các cấp học vẫn còn bấtcập Công tác y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân có mặt còn hạn chế.Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc ở một số địa bàn còn thiếu
Trang 31chiều sâu, hiệu quả chưa cao Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biếnphức tạp; kỷ cương, kỷ luật và ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm; trật tự
an toàn xã hội ở một số địa phương, đơn vị cơ sở chưa tốt v.v [125]
Nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trên địa bàn thành phố Hà Nội có rất nhiều tầng lớp nhân dân, cộngđồng người nước ngoài đang học tập công tác, với thành phần hết sức phongphú, đa dạng Có thể kể ra các đối tượng chính như: Cán bộ, công chức, viênchức thuộc hệ thống chính trị, cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp của Trungương và thành phố Hà Nội; cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang; cán bộ, đảngviên nghỉ hưu sinh sống trên địa bàn; học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên; chủdoanh nghiệp và người lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh; nhữngngười buôn bán, tiểu thương; nông dân ở các huyện ngoại thành; người lao độngtạm trú; khách vãng lai.v.v Sự xác định đối tượng trên là cơ sở để xác định đốitượng cụ thể của TT, VĐ, trong đó tập trung vào những đối tượng là công dânViệt Nam đang sinh sống, học tập, công tác; có hộ khẩu thường trú và có đăng
ký tạm trú trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
Theo số liệu thống kê năm 2017, dân số trung bình trên địa bàn thànhphố Hà Nội là 7.654,8 nghìn người, tăng 1,8% so năm trước Trong đó, dân
số thành thị là 3.764,1 nghìn người, chiếm 49,2% và tăng 1,7% so năm2016; dân số nông thôn là 3.890,7 nghìn người, chiếm 50,8% và tăng 1,8%
Mật độ dân số trung bình là 2.279 người/km2, dân cư phân bố khôngđều, tốc độ đô thị hóa phát triển tương đối nhanh, mật độ dân số tập trung tạicác quận khá cao (mật độ dân số trung bình của 12 quận là 11.220 người/km2,trong đó cao nhất là quận Đống Đa 42.171 người/km2, thấp nhất là quận LongBiên 4.840 người/km2)
Cơ cấu dân số theo giới tính của Hà Nội tương đối cân bằng, số nữnhiều hơn số nam không đáng kể, trung bình cứ 100 nữ thì có 97 nam Tại khuvực nông thôn, biến động dân số chủ yếu do luồng di dân đi làm ăn kiếm sốngtại đô thị hoặc học tập Xu hướng dịch cư từ các tỉnh quanh Hà Nội, lượng dịch
cư đa số chọn các vùng ven đô để sinh sống và đi làm tại vùng nội đô
Trang 32Hiện nay, lực lượng lao động (lao động từ 15 tuổi trở lên) của thành phố
Hà Nội năm 2017 là 3,8 triệu người (trong đó, khu vực thành thị là 2 triệu người;khu vực nông thôn là 1,8 triệu người) Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là67,8%, trong đó, khu vực thành thị là 62,3% và khu vực nông thôn là 75,3%
Số người có việc làm trong năm 2017 ước đạt trên 3,7 triệu người, chiếm97,4% so với tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên Trong đó, khu vực thành thịchiếm 53,1% trong tổng số người có việc làm; khu vực nông thôn chiếm 46,9%
Tỷ lệ lao động đang làm việc qua đào tạo năm 2017 ước đạt 60,7% và
Với 30 quận, huyện, thị xã trực thuộc, Hà Nội vừa có vùng đô thị, vừa
có vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc ít người; song song tồn tại cộngđồng dân cư nông thôn và cộng đồng dân cư thành thị Hiện nay, dân số nôngthôn chiếm tỉ lệ khoảng 50,8% (tương đương 3,8231 triệu người) và dân sốthành thị là 49,2% (tương đương 3,6995 triệu người) Vì vậy, công tác TT, VĐcần chú ý đến những sự khác biệt về kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tậpquán, lối sống, đặc điểm riêng của các đối tượng quần chúng nhân dân
Trong cộng đồng dân cư Hà Nội, bên cạnh những người có hộ khẩuthường trú còn có một số lượng rất lớn những người lao động, buôn bán, côngtác được đăng ký tạm trú Một số lượng lớn trong số 753.760 sinh viên đạihọc, cao đẳng, 89.353 học sinh trung cấp chuyên nghiệp và 227.400 sinh viêncác cơ sở dạy nghề (số liệu năm 2016) là người ngoại tỉnh về học tập Tính đadạng, phức tạp trong cơ cấu thành phần còn thể hiện ở sự đa dạng trên lĩnhvực nghề nghiệp Ước tính, trong số 3.749.000 lao động từ 15 tuổi trở lênđang làm việc tại thời điểm 1/7/2016 thì có: 557.000 người làm việc trong
Trang 33khu vực nhà nước, 2.961.000 làm việc trong khu vực ngoài nhà nước và231.000 người làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Mặt khác,cộng đồng dân cư Hà Nội tính ổn định không cao do nhập cư, xuất cư và di cưhàng năm (Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2016, tỉ lệ nhập cư:4,6%, xuất cư: 2,6%, di cư thuần là: 2,0% Như vậy, sự biến động lên đến9,2%) [24] Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý của địa phương vàviệc xác định đối tượng TT, VĐ.
Tính phong phú, đa dạng, phức tạp còn thể hiện trong vấn đề dân tộc vàtôn giáo Theo báo cáo “Các tổ chức tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội”của Thành ủy Hà Nội thì đến nay, ở Hà Nội có 7 tôn giáo được Nhà nước côngnhận tư cách pháp nhân đang hoạt động tôn giáo bình thường, ổn định gồm:Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hồi giáo, Baha’I, Minh Sư Đạo Cụthể: đạo Phật có hơn 1900 tăng ni với hơn 600.000 tín đồ; Đạo Công giáo có235.000 tín đồ; Đạo Cao Đài có 1000 tín đồ; Đạo Tin Lành có gần 800 tín đồ;Đạo Hồi có 80 tín đồ; Đạo Baha’I có 179 tín đồ; Minh Sư Đạo có 300 tín đồ.Bên cạnh đó còn một số tôn giáo, giáo phái, hiện tượng tôn giáo mới đang tìmcách xâm nhập, truyền bá trong nhân dân thành phố những năm gần đây
Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở tất cả 30/30 quận, huyện, thị
xã với tổng số trên 92.000 người thuộc 37 thành phần dân tộc Trong đó, chủyếu là dân tộc Mường, dân tộc Dao sống tập trung theo cộng đồng thôn, xã tại
153 thôn thuộc 14 xã của 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương
Mỹ, Mỹ Đức Những năm gần đây, thành phố Hà Nội đã có nhiều chủ trương,biện pháp kịp thời, đúng đắn, huy động được nhiều nguồn lực từ các tổ chức,
cá nhân để hỗ trợ đồng bào phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo Đờisống đồng bào được cải thiện rõ rệt
Hai là, nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội có sự phân hóa sâu sắc
về thu nhập, điều kiện sống, mức sống
Ở thành phố Hà Nội, sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội thể hiệnrất rõ rệt Theo Tổng cục Thống kê: thu nhập bình quân nhân khẩu một thángchia theo 5 nhóm thu nhập của Hà Nội, chênh lệch giữa nhóm 1 (những người
Trang 34có thu nhập thấp nhất) và nhóm 5 (những người có thu nhập cao nhất) lên đến8,5% (1.223.900 VNĐ so với 10.367.800 VNĐ theo Kết quả khảo sát mứcsống dân cư Việt Nam năm 2014, và 1.510.000 VNĐ so với 12.791.000 VNĐtheo số liệu sơ bộ năm 2016) Năm 2018, tỉ lệ hộ nghèo ở Hà Nội ước còn1,19% Đi cùng sự chênh lệch về thu nhập là sự chênh lệch rất lớn về sựhưởng thụ đời sống vật chất và tinh thần [24]
Sự phân hóa giàu nghèo đã khắc sâu thêm hố sâu ngăn cách giữa nhóm giàuvới nhóm nghèo, từ đó dẫn tới mối liên kết giữa các nhóm xã hội ngày càng lỏnglẻo Đây là một yếu tố gây ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc - yếu tố cơ bản trong việc đảm bảo vấn đề an ninh chính trị Nó cũng là tiền đề
nảy sinh tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội; dẫn tới người dân suy giảm lòng tin vào
sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, vào chế độ; tạo ra tâm lý chống đối, làm phátsinh khiếu kiện và những “điểm nóng” phức tạp trên địa bàn
Ba là, trình độ nhận thức chính trị của một bộ phận quần chúng nhân
dân thành phố Hà Nội khá cao Nhiều người có hiểu biết sâu sắc về các vấn
đề chính trị xã hội và được tiếp cận thông tin đa chiều
Trong cộng đồng dân cư, nhiều người là những cán bộ cao cấp của các cơquan Đảng, Nhà nước đương chức hoặc hưu trí; cán bộ lực lượng vũ trang; nhữngtrí thức, văn nghệ sĩ; những cán bộ khoa học, giảng viên ở các học viện, trường đạihọc, viện nghiên cứu,…Họ không chỉ là đội ngũ có nhiều đóng góp cho Đảng, Nhànước trong việc hoạch định đường lối, chính sách mà còn là lực lượng đông đảotham gia phản biện xã hội Trong số đó, có những người uy tín xã hội cao và nhữngngười rất nổi tiếng, được đông đảo quần chúng biết đến và ngưỡng mộ Đặc biệt, họnhạy cảm về chính trị, tiếp cận thông tin đa chiều, từ nhiều kênh khác nhau, rấtnhanh nhạy Đặc điểm này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác TT, VĐ phải khôngngừng đổi mới, nâng cao tính thuyết phục và thu hút đội ngũ này tự nguyện thamgia TT, VĐ nhân dân, phát huy vai trò tích cực, khả năng định hướng dư luận của
họ nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TT, VĐ nhân dân
Bốn là, một bộ phận nhân dân trên địa bàn ít quan tâm đến các hoạt
động chính trị-xã hội và các chủ trương do cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban,ngành địa phương các cấp tổ chức, triển khai
Trang 35Dưới tác động của mặt trái kinh tế thị trường, lối sống cơ hội, thực dụng,
cá nhân chủ nghĩa, sùng bái vật chất, chạy theo đồng tiền,…đã khiến một bộphận người dân thành phố Hà Nội ít quan tâm đến các vấn đề chính trị, xãhội Bên cạnh đó, đại đa số người lao động trên địa bàn luôn phải bươn trải,vất vả hàng ngày để kiếm sống cho bản thân và gia đình Phần lớn nhữngngười trẻ tuổi luôn đắm chìm trong “thế giới ảo” của internet và mạng xãhội,…đã dẫn đến hiện tượng thờ ơ với đời sống hiện thực cũng như các chủtrương do cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban, ngành địa phương các cấp tổchức, triển khai Vì vậy, việc thu hút quần chúng nhân dân đến với các hoạtđộng của công tác TT, VĐ là một thách thức không nhỏ dành cho các đơn vịquân đội trên địa bàn thành phố
Các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm:
Các cơ quan, đơn vị trực thuộc cơ quan Bộ Quốc phòng và các tổng cụcgồm: Văn phòng Quân ủy Trung ương- Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, BộTổng tham mưu, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Tổngcục II, Tổng cục Kỹ thuật, Cục Tài chính, Cục Kế hoạch và Đầu tư, Cục Đốingoại quốc phòng, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự, Viện Chiến lược.Các cơ quan, đơn vị thuộc các quân chủng, binh chủng, binh đoàn chủlực gồm: Quân chủng Phòng không-Không quân, Bộ Tư lệnh Biên phòng,Binh chủng Pháo binh, Binh chủng Thông tin - Liên lạc, Binh chủng Tăng-Thiết giáp, Binh chủng Đặc công, Binh chủng Hóa học, Binh chủng Côngbinh, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, Quân đoàn 1
Các học viện, nhà trường quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng gồm:Học viện Quốc phòng, Học việc Chính trị, Học viện Kỹ thuật quân sự, Họcviện Quân y, Học viện Hậu cần, Học viện Biên phòng, Trường Sĩ quan Chínhtrị, Trường Sĩ quan Lục quân 1
Các đơn vị bộ đội địa phương trực thuộc Bộ Tư lệnh thủ đô Hà Nộigồm: Ban Chỉ huy quân sự các quận, huyện, thị xã, Sư đoàn 301, TrườngQuân sự Bộ tư lệnh, Trường Trung cấp nghề số 10, Trung đoàn Pháo binh
452 và các Tiểu đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh
Trang 36Các doanh nghiệp quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội gồm: Tập đoànCông nghiệp, Viễn thông Quân đội; Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội;Tổng Công ty Vaxuco; Tổng Công ty 319; Tổng Công ty dịch vụ bay Miền Bắc;Binh đoàn 11; Binh đoàn 12; Tổng Công ty 36; Tổng Công ty Duyên Hải.
Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga và các bệnh viện quân y trên địa bànthành phố: Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện 103, Bệnh viện
154, Bệnh viện Y học cổ truyền quân đội
Vai trò của các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Thứ nhất, các đơn vị quân đội là lực lượng nòng cốt tham gia xây dựng
khu vực phòng thủ, lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòngdân” trên địa bàn
Các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội TT, VĐ nhân dânthực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước, xây dựng “thế trận lòng dân”; tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân
sự, quốc phòng, chủ động phối hợp với các lực lượng xử lý hiệu quả các tìnhhuống, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủnghĩa, giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình để xây dựng, pháttriển đất nước và quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng
Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể củathành phố Hà Nội, phát huy vai trò nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàndân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vữngchắc; góp phần đắc lực tăng cường tiềm lực chính trị-tinh thần, tiềm lực khoahọc-công nghệ, tiềm lực quân sư, tiềm lực kinh tế,…để xây dựng khu vựcphòng thủ thành phố vững mạnh
Các đơn vị quân đội còn thực hiện công tác giáo dục, bồi dưỡng kiếnthức quốc phòng và an ninh, nâng cao nhận thức về đối tác, đối tượng cho cán
bộ, đảng viên và nhân dân địa phương Xây dựng và huấn luyện lực lượng dự
bị động viên và dân quân tự vệ vững mạnh, có chất lượng nhằm phát huy sứcmạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc
Trang 37Mặt khác, các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội còn thực
sự là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn cóhiệu quả những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động nhằmbảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, toàn vẹn lãnh thổ, truyền thống vănhóa dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quanđiểm của Đảng Với tư cách là đội quân công tác, các đơn vị thực hiện công tácvận động quần chúng, tuyên truyền giáo dục đường lối đổi mới của Đảng, chínhsách và pháp luật của Nhà nước, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào sựlãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, thông qua đó tiếp tụcgóp phần tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần của nền quốc phòng toàn dân
Thứ hai, các đơn vị quân đội có vai trò rất quan trọng góp phần giữ gìn
an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Các đơn vị quân đội cùng với nhân dân thành phố Hà Nội tham gia đấutranh bảo vệ sự ổn định chính trị của đất nước trên cả hai phương diện:phối hợp với các lực lượng có liên quan bảo vệ Đảng, chính quyền, triệtphá các băng nhóm phản cách mạng, các hoạt động tình báo, gián điệp củađịch trên địa bàn Hà Nội và đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng để bảo
vệ nền tảng tư tưởng của chế độ đó là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh Bằng công tác vận động quần chúng, các đơn vị quân đội đãgóp phần làm cho nhân dân đi theo và tin vào sự lãnh đạo của Đảng, củng
cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân cũng là cách để vô hiệuhóa mưu đồ đòi đa nguyên, đa đảng, cùng những thủ đoạn lừa mị khác củacác thế lực thù địch về "dân chủ’’, "nhân quyền’’…
Các đơn vị quân đội cũng giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo trật
tự an toàn xã hội địa bàn thành phố Hà Nội Trong các tình huống liên quanđến đấu tranh phòng, chống tội phạm, biểu tình, khủng bố, bạo loạn chính trị
và gây mất trật tự, an toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, điều hànhcủa chính quyền địa phương, các đơn vị quân đội phối hợp với lực lượngcông an và các lực lượng khác xử lý theo chức năng, nhiệm vụ do luật phápquy định Bộ đội biên phòng tích cực đấu tranh phòng chống việc vậnchuyển trái phép ma túy, hàng buôn lậu từ biên giới về thủ đô Ngoài ra,quân đội còn tham gia cứu hộ, cứu nạn, phòng cháy, chữa cháy, đối phó
Trang 38với các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhằm đảm bảo đời sống an toàncho nhân dân trên địa bàn thành phố
Thứ ba, các đơn vị quân đội góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội; cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, các doanh nghiệp quân đội sản xuất,kinh doanh gắn với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, hoạt động theo đúngpháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng; sản xuất ngày càngnhiều sản phẩm chất lượng cao phục vụ quốc phòng và xã hội, tạo việc làm,thu nhập ổn định cho hàng chục nghìn lao động, bảo đảm an sinh xã hội Đặcbiệt, nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh uy tín, chất lượng, tạo nênnhững thương hiệu nổi tiếng cả trong nước và quốc tế như: Tập đoàn Côngnghiệp Viễn thông quân đội, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội, TổngCông ty Thành An,…đóng góp chủ yếu cho ngân sách trong khối doanhnghiệp Nhà nước Bên cạnh đó, các đơn vị thường trực, đơn vị sự nghiệpcông lập cũng tích cực phát huy nội lực, đẩy mạnh tăng gia, sản xuất và làmmột số dịch vụ theo quy định, tạo nguồn thu trực tiếp cải thiện đời sống bộđội và tích cực tham gia giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôngmới, góp phần phát triển kinh tế địa phương nơi đóng quân
Trên lĩnh vực văn hóa-xã hội, nhiều cơ quan văn học, nghệ thuật quânđội trên địa bàn thành phố Hà Nội đồng thời cũng là những địa chỉ văn học,nghệ thuật uy tín hàng đầu của quốc gia như: Đại học Văn hóa nghệ thuậtQuân đội, Tạp chí Văn nghệ quân đội; Nhà hát ca, múa, nhạc quân đội;Nhà hát Chèo quân đội; Các đơn vị này đã không chỉ thực hiện tốt vai trò,chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của bộ đội mà còn góp phầntích cực trong việc xây dựng môi trường văn hóa, giải trí lành mạnh chothủ đô Hà Nội Bên cạnh đó, hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thểdục, thể thao, của các đơn vị quân đội với cấp ủy, chính quyền và nhândân các địa phương cũng góp phần tích cực xây dựng đời sống văn hóa mớitrên địa bàn đóng quân Các bệnh viện quân y trên địa bàn cũng nằm trong sốnhững bệnh viện hàng đầu của đất nước, tham gia rất hiệu quả vào việc khám,
Trang 39chữa bệnh cho các tầng lớp nhân dân thành phố, góp phần làm giảm tải cho hệthống y tế dân sinh
Đặc điểm các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Một là, các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội với nhiều
loại hình đơn vị, có nhiệm vụ chính trị trung tâm và vai trò khác nhau trongcông tác TT, VĐ nhân dân trên địa bàn
Hà Nội là địa bàn tập trung hầu hết các loại hình đơn vị biên chế trongQĐNDVN hiện nay Các đơn vị đều phải thực hiện những chức năng cơ bảnlà: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất Tuynhiên, mỗi loại hình đơn vị lại có nhiệm vụ chính trị trung tâm riêng, do đócũng có thế mạnh, sở trường khác nhau trong TT, VĐ nhân dân
Các đơn vị bộ đội chủ lực: Nhiệm vụ chính trị trung tâm là huấn luyện,
sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi Đây cũng là lực lượng thường trực,
cơ động sẵn sàng chiến đấu, có nhiều đơn vị đủ quân, có những thuận lợi nhấtđịnh để thực hiện công tác dân vận nói chung và công tác TT, VĐ nhân dânnói riêng Tuy nhiên, do huấn luyện sẵn sàng chiến đấu với cường độ cao, ưutiên nhiệm vụ trực sẵn sàng chiến đấu, nên quỹ thời gian và kiến thức, kinhnghiệm dành cho công tác TT, VĐ nhân dân còn hạn chế
Các đơn vị bộ đội địa phương: Có nhiệm vụ tham mưu cho cấp uỷ,
chính quyền địa phương về công tác quân sự, quốc phòng địa phương hìnhthành hệ thống từ thành phố đến cơ sở; có lợi thế là từng đơn vị, từng conngười cụ thể gắn chặt với địa bàn công tác, nắm chắc tình hình và tâm tư, tìnhcảm, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; có điều kiện thuận lợi và khảnăng trực tiếp TT, VĐ nhân dân
Các đơn vị kinh tế - quốc phòng: Có nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất,
kinh doanh; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng tiềm lựcquốc phòng và thế trận quốc phòng toàn dân trên địa bàn thành phố HàNội Một số doanh nghiệp Quân đội có thương hiệu mạnh, chiếm lĩnh thịtrường trong nước và vươn ra thị trường nước ngoài Các doanh nghiệpquân đội đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, thực hiện ansinh xã hội và hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế Thế mạnh của những đơn vị
Trang 40này là tận dụng một phần lợi nhuận để giúp nhân dân địa phương phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội
Các học viện, trường sĩ quan: Có nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục, đào
tạo và nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học quân sự Đây thường lànhững điểm sáng trong công tác TT, VĐ nhân dân với đội ngũ cán bộ, giảngviên, học viên có trình độ cao, hiểu biết sâu sắc về các vấn đề chính trị, vănhóa, xã hội, có năng lực TT, VĐ nhân dân khá tốt
Các cơ quan thông tấn, báo chí và các đoàn nghệ thuật của Quân đội:
Phát huy sở trường của mình thực hiện công tác TT, VĐ nhân dân rất hiệuquả thông qua hình thức truyền hình, truyền thanh, báo giấy, báo điện tử, cácsản phẩm văn học, nghệ thuật,…
Đặc điểm trên đòi hỏi, đổi mới công tác TT, VĐ nhân dân của các đơn
vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay cần lãnh đạo, chỉ đạo,phối kết hợp và phát huy năng lực thế mạnh sở trường của từng loại hình đơn
vị để thực hiện các nội dung, hình thức TT, VĐ Bên cạnh đó, giữa các đơn vịphải thường xuyên có sự phối hợp chặt chẽ nhằm phát huy sức mạnh tổng hợptrong công tác TT, VĐ nhân dân trên địa bàn
Hai là, các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội có mối quan
hệ khá chặt chẽ và được lãnh đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất
Các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm nhiều loạihình đơn vị, có nhiệm vụ chính trị trung tâm khác nhau Song, tất cả được đặtdưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất của Quân ủy Trungương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị; đảng ủy, chỉ huy các đầu mối trựcthuộc Bộ Quốc phòng và phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địaphương Do vậy, trong quá trình công tác, các đơn vị luôn thống nhất trong ýchí và hành động; liên hệ công tác chặt chẽ, hỗ trợ, tạo điều kiện lẫn nhau,cùng hoàn thành nhiệm vụ Đây là một đặc điểm chi phối đến toàn bộ các mặtcông tác của các đơn vị, trong đó có công tác TT, VĐ nhân dân
Ba là, các đơn vị quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội có cơ sở vật
chất, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại và đời sống vật chất ngày càng cải