Nhiều công trình, nghiên cứu đã được công bố rộng rãi, qua tham khảo tác giả nêu những vấn đề liên quan đến quản lý thu, chi NSNN như sau: Hoàn thiện công tác phân cấp quản lý ngân sách
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NGÂN
ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG AN QUỐC
Tp.Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
khoa học của TS Hoàng An Quốc Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn dẫn rõ ràng, không sao chép từ công trình nghiên cứu khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngân
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng và hình vẽ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 5
3.1 Mục tiêu tổng quát: 5
3.2 Mục tiêu cụ thể: 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Những đóng góp mới của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHỆM THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH 8 1.1.1 Khái niệm và vai trò của ngân sách nhà nước 8
1.1.2 Nội dung công tác quản lý ngân sách 13
1.1.3 Nguyên tắc quản lý ngân sách 18
1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VÀ QUAN ĐIỂM VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH 20
1.2.1 Một số lý thuyết hiện đại về “Quản lý ngân sách” 20
Trang 51.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN
LÝ NGÂN SÁCH 25
1.3.1 Kinh nghiệm của TP.HCM 25
1.3.2 Kinh nghiệm của Tỉnh Bình Dương 26
1.3.3 Kinh nghiệm của Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 28
1.3.4 Những bài học rút ra cho việc đổi mới công tác quản lý ngân sách nhà nước 29
TÓM TẮT CHƯƠNG I 31
Chương II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2012 – 2015 32
2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH Tế - XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐỒNG NAI 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý 32
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 34
2.1.3 Một số hạn chế, yếu kém: 37
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 38
2.2.1 Hoạt động thu ngân sách 38
2.2.2 Hoạt động chi ngân sách 41
2.2.3 Nguồn nhân lực 50
2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2012 - 2015 51
2.3.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 51
2.3.2 Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân 53
Trang 62.3.3 Những vấn đề đặt ra trong đổi mới công tác quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai……….………64
2.3.3.1 Về quản lý thu NSNN………
2.3.3.2 Về quản lý chi NSNN………
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 65
Chương III: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 67
3.1 NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐỒNG NAI TRONG NHỮNG NĂM TỚI 67
3.1.1 Mục tiêu và phương hướng tổng quát 67
3.1.2 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu 68
3.2 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TỈNH ĐỒNG NAI 69
3.2.1 Những quan điểm cơ bản 69
3.2.2 Quan điểm của Đảng – Nhà nước về “Đổi mới quản lý ngân sách” 74
3.2.3 Phương hướng, mục tiêu 80
3.2.3.1 Phương hướng 80
3.2.3.2 Mục tiêu 81
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 82
3.3.1 Nhóm giải pháp về cải cách thủ tục hành chính 82
3.3.2 Nhóm cải cách về hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý 84
3.3.3 Nhóm giải pháp về tổ chức và giám sát có hiệu quả hoạt động thu, chi ngân sách 86
3.3.4 Nhóm giải pháp về đổi mới qui trình lập quyết định dự toán ngân sách 87
Trang 73.3.5 Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực cán bộ quản lý ngân sách 88
3.3.6 Nhóm giải pháp hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật 89
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 90
PHẦN KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết quản lý của Nhà nước, như vậy nhiều chính sách và quan hệ về kinh tế tài chính cũng được đổi mới cho phù hợp với tình hình kinh tế ở nước ta
Ngân sách nhà nước (NSNN) là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia, ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội và an ninh quốc gia
Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới quản lý kinh tế, quản lý NSNN đã có những đổi mới và mang lại những kết quả bước đầu rất quan trọng, tuy nhiên thực tiễn đời sống kinh tế xã hội cũng đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi công tác quản lý ngân sách phải được tiếp tục đổi mới hoàn thiện hơn nữa
Đồng Nai là tỉnh miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam Những năm qua, tỉnh luôn duy trì được tốc độ phát triển kinh tế cao và
ổn định, có những lợi thế về vị trí địa lí, tiềm năng kinh tế, nguồn nhân lực cùng truyền thống đoàn kết, tinh thần năng động sáng tạo Dưới dự lãnh đạo của Đảng bộ
và sự chỉ đạo của chính quyền, trong những năm qua, tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc quản lý thu nguồn ngân sách Tuy nhiên, năm 2014 chính sách thuế có nhiều thay đổi đã khiến hoạt động thu ngân sách bị giảm Trong khi đó, nhu cầu chi đòi hỏi ngày cao hơn, công tác quản lý càng được chú trọng để khơi dậy, khai thác nguồn thu phân bổ hợp lý đáp ứng đủ nhu cầu chi nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển Hiện nay, những hạn chế mà nguồn ngân sách Nhà nước gặp phải là những bất cập nảy sinh trong quá trình quản lý thu, chi đã trở thành rào cản cho sự phát triển nguồn NSNN của tỉnh Vì vậy, đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh
Trang 11Đồng Nai đang ra sức nghiên cứu, đẩy mạnh việc đổi mới quản lí NSNN trên phương diện lí luận lẫn thực tiễn, từ đó tìm ra phương hướng và giải pháp cho việc đổi mới NSNN của tỉnh Với những lí do trên, tác giả chọn đề tài “Đổi mới công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” làm luận văn thạc sĩ Kinh
Tế Chính Trị
2 Tổng quan nghiên cứu đề tài
NSNN là đề tài từ lâu thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà kinh tế, chính trị và các học giả của nhiều nước trên thế giới.Việt nam, với đường lối phát triển toàn diện của Đảng, Nhà nước thì NSNN là vấn đề quan trọng Từ các
cơ quan, ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, đến nhà kinh tế, nhà chính trị các nhà khoa học đều đi sâu vào nghiên cứu, khảo sát với các hình thức, góc độ, địa điểm, không gian và phạm vi khác nhau nhằm tìm lời giải đáp cho các vấn đề liên quan đến NSNN trong hoàn cảnh hiện nay Nhiều công trình, nghiên cứu đã được công bố rộng rãi, qua tham khảo tác giả nêu những vấn đề liên quan đến quản lý thu, chi NSNN như sau:
Hoàn thiện công tác phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2025 của Quách Ngọc Lan, Trường Đại học Kinh tế, 2015, đề
tài nghiên cứu mặt mạnh và các mặt còn hạn chế nhiệm vụ hoàn thiện công tác phân
cấp quản lý NSNN đưa ra những giải pháp hoàn thiện, định hướng đến 2025; Giải
pháp quản lý và sử dụng vốn ngân sách Nhà nước tại sở kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai của Nguyễn Thanh Phương, Trường Đại Học Kinh Tế, 2012 Đề tài nghiên cứu
mặt mạnh và mặt yếu trong việc quản lý và sử dụng vốn NSNN tỉnh Đồng nai;
Quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn tỉnh Đồng Nai của Nguyễn Thị Thùy Linh,
2009 Đề tài nghiên cứu các mặt hạn chế về nhiệm vụ chi được phân cấp, tự cân đối, lập dự toán, chấp hành dự toán và kế toán, quyết toán ở ngân sách cấp xã, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới; Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước
tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020 của Tô Thiện Hiền,
Trang 122012 Đề tài nghiên cứu các mặt mạnh và mặt yếu về hiệu quả quản lý các khoản thu, chi, định mức, chỉ tiêu cơ bản và chủ yếu của NSNN tỉnh Đồng Nai ở các cấp chính quyền địa phương, một số ngành, công ty, doanh nghiệp, đơn vị thụ hưởng NSNN địa phương, có giải pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN
tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới Nâng cao hiệu quả quản lý thu, chi ngân sách
nhà nước trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng, giai đoạn 2015 – 2020 và tầm nhìn 2025 của Phạm Ánh Nga, Trường Đại Học Kinh Tế, 2015, đề tài nghiên cứu
những nguyên nhân, hạn chế trong quản lý thu, chi Ngân sách, đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc quản lý NSNN trong thời gian tới; Tăng
cường công tác thanh tra thu, chi Ngân sách nhà nước tỉnh Đồng Nai của Nguyễn
Thế Khang, 2006 Đề tài nghiên cứu những hạn chế trong kết quả thanh tra thu, chi NSNN, đưa ra các giải pháp tăng cường công tác thanh tra có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao pháp chế XHCN, thực hiện tốt công tác phòng chống tham nhũng,
lãng phí và thất thoát; Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn
huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai của Phan Mỹ Ngọc, 2012 Đề tài nghiên cứu tình
hình quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN, kiến nghị đến các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp liên quan nhằm khắc phục hạn chế và hoàn thiện công tác quản lý vốn xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Nhơn trạch,
tỉnh Đồng Nai Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN cấp quận, tại quận 6, Thành phố
Hồ Chí Minh đến năm 2015 của Phạm Thị Xuân Hà Đề tài nghiên cứu mối quan hệ
biện chứng giữa quản lý ngân sách và phát triển KT-XH tại địa phương, phân tích các hạn chế, đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN cấp quận trong thời gian tới
Các bài viết Trên trang web của trường Đại Học Kinh Tế Hồ Chí Minh đã
được công bố như: Nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước tại các Bệnh viện
công trên địa bàn Nhà nước tại các Bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ năm 2009 – 2020 của Trịnh Thị Hà, Trường Đại Học Kinh Tế, 2013; Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng ở tỉnh Vĩnh Long của
Nguyễn Thị Nhung, Trường Đại Học Kinh Tế, 2015; Quản lý chi ngân sách nhà
Trang 13nước qua Kho bạc Nhà nước trong cơ chế thị trường của Nguyễn Đức Thanh,
Trường Đại Học Kinh Tế; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà
nước trên địa bàn tỉnh Long An của Trần Anh Vũ, Trường Đại Học Kinh Tế, 2015; Hoàn thiện cơ chế cấp phát và kiểm soát thanh toán ngân sách nhà nước theo dự toán qua kho bạc nhà nước Bình Thuận của Võ Thị Xuân Phương, Trường Đại Học
Kinh Tế, 2006; Đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
từ ngân sách nhà nước tại tỉnh Cà Mau của Đặng Minh Khởi, Trường Đại Học
Kinh Tế, 2015; Các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành dự án đầu tư xây
dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước, Trường Đại Học Kinh Tế, 2015; Mối quan hệ giữa thu chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu Việt Nam của Nguyễn Thị Kim Tuyến, Trường Đại Học Kinh Tế, 2015; Hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách tỉnh Bình Thuận của Tăng Việt Cường,
Trường Đại Học Kinh Tế, 2005; Hoàn thiện ngân sách địa phương các tỉnh của Phạm Dũng, Trường Đại Học Kinh Tế, 1999; Hoàn thiện ngân sách địa phương
trong cơ chế thị trường ở Viện Nam của Võ Duy Khương, Trường Đại Học Kinh
Tế, 2001; Quản lý nợ công và điều chỉnh cơ cấu ngân sách nhà nước của Nguyễn
Vũ, Thuế Nhà nước; Phân tích sự tác động cung tiền của Ngân hàng Nhà nước đến
giá cả và sản lượng tại Việt Nam của Nguyễn Văn Trị, Trường Đại Học Kinh Tế,
2013; Hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Việt Nam của Phạm Quang Huy, Trường Đại Học Kinh Tế, 2014; Các nhân tố tác động thâm hụt
ngân sách nhà nước tại Việt Nam 2002 – 2012 của Lê Tự Thành Công, Trường Đại
Học Kinh Tế, 2013; Nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Đắk lắk của Vũ Thị Minh Hằng,
Trường Đại Học Kinh Tế, 2011;
Ngoài ra, trên các tạp chí còn đăng rất nhiều bài viết về tình hình Ngân sách
của nhà nước như: Một số vấn đề thu chi ngân sách hiện nay của Nguyễn Xuân Sang, tạp chí Kinh tế và dự báo; Đầu tư phát triển kinh tế hạ tầng giao thông bằng
vốn ngân sách nhà nước, Lao động và xã hội; Thực trạng và một số gợi ý chính sách về phân cấp ngân sách tại Việt Nam của TS Vũ Sỹ Cường, đăng trên tạp chí
Trang 14Tài chính, 2013, số 5 Bài viết đánh giá khái quát tình hình thực hiện phân cấp quản
lý NSNN trong những năm gần đây và đưa ra một số gợi ý cải cách trong giai đoạn
sắp tới; Phân cấp ngân sách và kỷ luật tài khóa nhìn từ góc độ thể chế ở Việt Nam
của PGS TS Lê Thị Thanh, đăng trên tạp chí Tài chính, 2013, số 5, tr.13-16 Bài viết về phân cấp quản lý NSNN và vấn đề kỷ luật tài khóa là nội dung chủ yếu của pháp luật NSNN, chịu sự chi phối trực tiếp của thể chế chính trị, kinh tế quốc gia;
Nâng cao hiệu quả đầu tư công từ NSNN của TS Nguyễn Minh Phong, đăng trên
tạp chí Tài chính, 2013, số 5, tr.25-26 Bài viết về thực trạng phân cấp quản lý đầu
tư công còn nhiều bất cập, nên các dự án đầu tư công do các địa phương quyết định thường thiếu cân đối với nguồn vốn và bị dàn trải; không ít dự án chậm đưa vào sử dụng, chất lượng thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư Để khắc phục tình trạng trên, bài viết đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công từ nguồn NSNN;
Nâng cao hiệu quả đầu tư công từ ngân sách nhà nước của Võ Thành Hưng, tạp chí
tài Chính,…
Như vậy, những vấn đề về NSNN tuy đã được các nhà khoa học, các học giả tiếp cận, nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, và cấp độ khác nhau, các công trình nghiên cứu của các tác giả đưa những luận cứ, kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thu, chi; phân cấp ngân sách…Kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu trên, tác giả
cố đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề đổi mới quản lý ngân sách.Việc nghiên cứu vấn đề đổi mới quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, hiện nay chưa có công trình nào đề cập Do đó tác giả chọn nghiên cứu vấn đề này với mục đích góp phần luận giải những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đổi mới công tác quản lý Ngân sách trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Trang 154 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
- Phạm vi nghiên cứu: Về thời gian, từ năm 2012 đến nay, định hướng tới năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 Về không gian, nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, có liên hệ với một số địa phương khác như: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng tàu…để so sánh, tham khảo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: luận văn dựa trên hệ thống những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Ngoài ra luận văn còn dựa trên các chỉ thị, công văn, nghị quyết, quyết định, các chính sách đổi mới NSNN của tỉnh Đồng Nai
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biên chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích các tài liệu, phương pháp điều tra, phân bổ, thống kê kinh nghiệm, lịch sử logic, phương pháp tìm hiểu Đặc biệt là phương pháp tổng hợp để làm sáng
tỏ vấn đề cần nghiên cứu
Trang 166 Những đóng góp mới của luận văn
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện
cơ sở lý luận của công tác quản lý ngân sách
Về thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa thiết thực đối với các đơn vị quản lý Nhà nước ở tỉnh Đồng nai trong việc hoạch định, thực thi các chính sách thu, chi ngân sách, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển lớn mạnh của ngân sách tỉnh Đồng Nai
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới công tác quản lý
ngân sách trên địa bàn cấp tỉnh
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai giai đoạn 2012 - 2015
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp đổi mới công tác quản lý
ngân sách trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nhìn đến năm
2025
Trang 17Luật NSNN đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, có ghi:
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Ngân sách nhà nước là một công cụ đắc lực của Nhà nước, giữ vai trò trọng yếu trong việc động viên và phân phối các nguồn lực tài chính để bảo đảm việc thực thi các chức năng của Nhà nước đương quyền, thông qua các chính sách thuế: Thuế trực thu, thuế gián thu, phí và các nguồn thu khác
Thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc được quyết định bởi quyền của Nhà nước thông qua hệ thống pháp lý, đồng thời thuế là khoản thu không hoàn trả Nhưng suy cho cùng với bản chất của Nhà nước, của dân, do dân và vì dân, nó sẽ được hoàn trả gián tiếp bằng những hình thức khác nhau thông qua các quan hệ phân phối do Nhà nước thực hiện Ngoài thuế, phí… NSNN còn động viên các nguồn tài chính khác dưới hình thức nợ công như: Phát hành công trái (trái phiếu hay tín dụng nhà nước), vay nợ nước ngoài (ODA) và tín dụng quốc tế (IMF, WB, ADB…)
Quá trình động viên các nguồn lực vào NSNN cũng là quá trình điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo hướng kích thích hoặc hạn chế các hoạt động kinh doanh tùy vào lợi ích mà nó mang lại cho quốc kế dân sinh Bảo đảm công bằng xã hội và
Trang 18hợp lý đối với các loại hình kinh doanh thông qua ý nghĩa và vai trò của nó đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Quá trình huy động vốn vào ngân sách cũng là quá trình bồi dưỡng các nguồn thu và kích thích tăng trưởng kinh tế, phù hợp với các định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
Chi NSNN nhìn một cách bao quát là để bảo đảm việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước đương quyền Trong đó, có thể phân thành 3 nội dung chi cơ bản: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên và chi dự trữ quốc gia Để thường xuyên bảo đảm cân đối thu – chi ngân sách và thực hiện chính sách tài khóa tích cực, chi NSNN cần tuân thủ các nguyên tắc trong phân phối vốn NS như: Tiết kiệm tối đa và hợp lý trong tiêu dùng vốn NSNN; Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm đầu trong dùng vốn NSNN chi cho đầu tư phát triển
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao Bên cạnh các tính ưu việt đó, kinh tế thị trường cũng còn rất nhiều khiếm khuyết dẫn tới sự phát triển không lành mạnh, mất cân đối, gây lạm phát, thất nghiệp,… ảnh hưởng đến tình hình chính trị - xã hội Để khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, vai trò can thiệp của Nhà nước thông qua điều tiết vĩ mô có ý nghĩa rất quan trọng
Vai trò điều tiết vĩ mô của NSNN được thực hiện thông qua các công cụ động viên các nguồn tài chính dưới hình thức thuế, phí là công cụ điều tiết vĩ mô rất nhạy cảm và hiệu quả, bởi thuế, phí luôn gắn chặt với các hoạt động kinh doanh mà các hoạt động kinh doanh là trụ cột của nền kinh tế Thông qua các nguyên tắc xây dựng thuế suất và chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế đã tạo ra cho quá trình động viên các nguồn tài chính
Đầu tư công từ vốn NSNN được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu: “xây dựng mô hình kinh tế hiện đại với một cơ cấu kinh tế tiên tiến và hợp lý”.Trong đó, trọng tâm là đầu tư kết cấu hạ tầng công nghệ cao, phát triển các vùng kinh tế động lực và khai thác các tiềm lực của nền kinh tế quốc dân Đó là cơ sở để bảo đảm cho tăng trưởng và phát triển bền vững Suy cho cùng
Trang 19đây cũng chính là các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô thông qua hoạt động của NSNN Bên cạnh đó, việc huy động và sử dụng vốn vay của chính phủ (ODA) cũng
là biện pháp gián tiếp điều tiết kinh tế theo các định hướng được xác lập
Tất cả các khoản chi khác của NSNN, dù rất đa diện, nhưng cũng đều hướng tới điều tiết các mối quan hệ cân đối trong nền kinh tế quốc dân Ngoài ra dự trữ tài chính của NSNN, cũng là công cụ điều tiết quan trọng thông qua bảo đảm an ninh tài chính, hậu thuẫn để ứng phó với các động thái kinh tế nhằm vào ổn định kinh tế -
Ngân sách nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành then chốt,
để trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
Việc hình thành các doanh nghiệp nhà nước cũng là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ vững cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo
▪ Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhà nước trong những trường hợp cần thiết đảm bảo cho sự ổn định về cơ cầu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấu mới, cao hơn
▪ Thông qua các chính sách thuế, sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh
▪ Các nguồn vay nợ từ nước ngoài và từ trong nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vay nợ của nhà nước
Trang 20cũng là một vấn đề cần phải xem xét thận trọng khi quyết định thực hiện các biện pháp huy động tiền vay
Về xã hội
▪ Đầu tư của ngân sách nhà nước để thực các chính sách xã hội, chi giáo dục – đào tạo, y tế, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh, chi bảo đảm
xã hội, sắp xếp lao động và việc làm, trợ giá mặt hàng,…
▪ Thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân nhằm điều tiết thu nhập cao để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp
▪ Thuế gián thu góp phần hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước
▪ Một chính sách ngân sách (chính sách tài khóa) thắt chặt hay nới rộng đều
có thể tác động mạnh mẽ cung – cầu xã hội Như huy động của NSNN dưới hình thức thuế, phí, lệ phí,…
▪ Trên thị trường tài chính, nếu nhà nước vay vốn với lãi suất cao sẽ tác động tăng cung ứng vốn từ phía các nhà đầu tư và tiết kiệm tiêu dùng để dành cho tương lai; đồng thời làm giảm lượng cầu về vốn đầu tư của doanh nghiệp các thành phần kinh tế
▪ Ở đây, cần nhấn mạnh đến dự trữ nhà nước Trong cơ chế thị trường nhà nước không thể bắt buộc các doanh nghiệp bán hàng theo giá cả quy định, mà ngược lại, giá cả là do thị trường quyết định, phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu và các yếu tố khác
Trang 21▪ Kiềm chế và kiểm soát lạm phát là một nội dung quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường
▪ Ngân sách nhà nước có cân bằng hay không sẽ tác động sâu sắc đến sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế Bởi vì: Cân bằng của NSNN tác động trực tiếp đến sự cân bằng của cán cân thương mại; cân bằng của NSNN thực hiện được hay không, nói lên khả năng trả nợ đến hạn của các khoản vay nước ngoài có thực hiện được hay không
Trong các khâu của hệ thống tài chính, tài chính nhà nước được xem là khâu quan trọng của hệ thống tài chính gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung hoạt động của nó liên quan đến việc thực hiện các chức năng của Nhà nước về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và phúc lợi xã hội Tài chính nhà nước bao gồm: ngân sách nhà nước, dự trữ nhà nước, tín dụng nhà nước, ngân hàng nhà nước, tài chính các cơ quan hành chính nhà nước, tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước, tài chính doanh nghiệp nhà nước, các quỹ nhà nước, trong đó NSNN là hạt nhân là thành phần chủ yếu Ngân sách nhà nước đóng vai trò chủ đạo và tổ chức các hoạt động của hệ thống tài chính Điều này được chứng tỏ bằng sự chi phối, tác động và phối hợp hoạt động của nó với các khâu khác của hệ thống tài chính Trong nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước không chỉ đóng vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy nhà nước, cho an ninh – quốc phòng và các mục đích khác nhằm củng cố quyền lực nhà nước, mà nó còn có vai trò to lớn trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội Đó là vai trò định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội,… Để thực hiện được vai trò này đòi hỏi NSNN phải có các nguồn vốn được huy động từ các khu vực kinh tế, từ dân cư và từ các nguồn tài chính ngoài nước Từ đó, thực hiện các khoản chi về đầu tư kinh tế và ngoài kinh tế Hoạt động thu, chi của NSNN làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội, giữa nhà nước này với các cơ quan chức năng của nhà nước hoặc các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế Việc chi tiêu của NSNN cho các mục tiêu kinh tế và ngoài kinh tế sẽ có tác động làm gia tăng nguồn vốn bằng các con đường trực tiếp hoặc gián tiếp
Trang 22NSNN được phân thành 4 cấp: Ngân sách Trung ương, Ngân sách cấp tỉnh, Ngân sách cấp huyện, Ngân sách cấp xã
Ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia như: Các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có tác động đến cả nước hoặc nhiều địa phương, các chương trình,
dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng, điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi NS;
Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý;
Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương do HĐND cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiện phân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương; cấp xã được tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính – ngân sách để quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp;
Kết thúc mỗi kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhiệm
vụ chi của từng cấp, Quốc hội, HĐND điều chỉnh mức bổ sung cân đối từ NS cấp trên cho NS cấp dưới; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, HĐND cấp tỉnh quyết định việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa NS các cấp
1.1.2 Nội dung công tác quản lý ngân sách
NSNN được cấu thành bởi hai phần: Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào ngân sách; Phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
Thu ngân sách
Thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước
và các chủ thể kinh tế dựa trên quyền lực nhà nước để tập trung một phần nguồn tài
Trang 23chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước
Ở Việt Nam, đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu quả mình Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị rang buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp
Việc phân phối các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN Dựa vào nội dung kinh tế và tính chất các khoản thu có thể chia thu ngân sách thành hai nhóm: Nhóm thu thường xuyên có tính chất bắt buộc bao gồm thuế, phí và lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế nhà nước Nhóm thu không thường xuyên gồm các khoản đóng góp của các
tổ chức và cá nhân, các khoản do nhà nước vay để bù đắp bội chi Ngoài ra còn có các khoản thu vay và viện trợ của nước ngoài
Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng khuyến khích SXKD phát triển Đây là khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị rang buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách Phần lớn các khoản thu đều mang tính cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ, thực hiện
Trong việc quản lý các nguồn thu ngân sách, thuế là nguồn thu quan trọng nhất của Nhà nước
Trang 24Cơ quan thu ngân sách là cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải quan
và cơ quan khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao hoặc ủy quyền tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước
Cơ quan thu ngân sách có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Phối hợp với các cơ quan nhà nước liên quan tổ chức thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Bộ Tài chính, cơ quan quản lý cấp trên, Ủy ban nhân dân và sự giám sát của Hội đồng nhân dân về công tác thu ngân sách tại địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan;
+ Tổ chức quản lý và thực hiện thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước Trường hợp được phép thu qua ủy nhiệm thu thì phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào Kho bạc Nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính
+ Cơ quan thu có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, tổ chức, đơn vị,
cá nhân nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thu phải nộp vào ngân sách nhà nước;
+ Kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu của ngân sách; kiểm tra, thanh tra việc chấp hành kê khai, thu, nộp ngân sách và xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật
+ Kho bạc Nhà nước được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
và ngân hàng thương mại để tập trung các khoản thu của ngân sách nhà nước; hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản thu vào ngân sách, điều tiết các khoản thu cho ngân sách các cấp theo đúng quy định
Chi ngân sách
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bào thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tác nhất định Chi NSNN
Trang 25là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng Do đó, chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước
Quá trình chi ngân sách nhà nước
- Quá trình phân phối: Là quá trình cấp phát kinh phí từ ngân sách nhà nước
để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng;
- Quá trình sử dụng: Là trực tiếp chi dung khoản tiền cấp phát từ ngân sách nhà nước mà không phải trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng
Có nhiều cách phân loại các khoản chi như căn cứ vào mục đích kinh tế - xã hội hay căn cứ vào lĩnh vực chi, nhưng theo thông lệ quốc tế, các khoản chi được phân thành: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác Chi thường xuyên
là các khoản chi cho tiêu dung hiện tạo gồm tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng của các
tổ chức, sự nghiệp Các khoản chi đầu tư là các khoản chi cho tiêu dùng trong tương lai, các khoản chi này có tác dụng làm tăng cơ sở vật chất của quốc gia và góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế
Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý
Các nhiệm vụ chi đã bố trí trong dự toán được bảo đảm kinh phí theo đúng tiến độ thực hiện và trong phạm vi dự toán được giao
Đối với các dự án đầu tư và các nhiệm vụ chi cấp thiết khác được tạm ứng vốn, kinh phí để được thực hiện các công việc theo hợp đồng đã ký kết Mức vốn tạm ứng căn cứ vào giá trị hợp đồng và trong phạm vi dự toán ngân sách được giao
Trang 26và theo quy định của pháp luật có liên quan, vốn, kinh phí tạm ứng được thu hồi khi thanh toán khối lượng, nhiệm vụ hoàn thành
Việc quản lý, cấp phát và thanh toán các khoản chi ngân sách cấp tỉnh phải đảm bảo yêu cầu sau:
- Mọi khoản chi ngân sách cấp tỉnh được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên độ ngân sách và theo mục lục NSNN Các khoản chi ngân sách bằng hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán chi ngân sách bằng đồng Việt Nam theo giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan có thẩm quyền quy định
- Các khoản chi phải có trong kế hoạch, đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả
- Ban tài chính phải mở tài khoàn tại Kho bạc Nhà nước, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Kho bạc Nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trong quá trình lập và quyết toán ngân sách cấp tỉnh
- Trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi ngân sách, các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi, căn cứ vào quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi giảm chi ngân sách
Trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi ngân sách cấp tỉnh
Trang 27+ Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và quyết toán
sử dụng kinh phí với Ban tài chính và công khai kết quả thu, chi tài chính của tổ chức, đơn vị
- Ban tài chính của tỉnh
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi ngân sách, sử dụng tài sản của các tổ chức đơn vị sử dụng ngân sách, phát hiện và báo cáo đề xuất kịp thời Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về những vi phạm chế độ, tiêu chuẩn, định mức, để có biện pháp đảm bảo thực hiện mục tiêu và tiến độ quy định
+ Kiểm tra nhu cầu sử dụng kinh phí của các đơn vị
+ Bố trí nguồn dự toán năm và dự toán quý để đáp ứng nhu cầu chi, trong trường hợp nhu cầu chi lớn hơn thu cần phải có biện pháp đề nghị cấp trên cấp bổ sung hoặc tạm thời sắp xếp lại nhu cầu chi cho phù hợp với tình hình
- Kho bạc Nhà nước
+ Đối chiếu, kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi ngân sách cấp tỉnh theo đúng quy định, tham gia với cơ quan tài chính, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách cấp tỉnh và xác nhận số thực chi ngân sách cấp tỉnh qua Kho bạc Nhà nước
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc người được ủy quyền
+ Quyết định chi phải theo đúng tiêu chuẩn, chế độ và mức chi trong phạm vi
dự toán được phê duyệt và người ra quyết định chi phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình, nếu chi sai phải bồi hoàn cho công quỹ, tùy mức độ vi phạm bị xử lý
kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
1.1.3 Nguyên tắc quản lý ngân sách
Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; có phân công, phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp
Trang 28Toàn bộ các khoản thu, chi ngân sách phải được dự toán, tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước
Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Ngân sách các cấp, đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị
sử dụng ngân sách không được thực hiện nhiệm vụ chi khi chưa có nguồn tài chính,
dự toán chi ngân sách làm phát sinh nợ khối lượng xây dựng cơ bản, nợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên
Bảo đảm ưu tiên bố trí ngân sách đề thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ về phát triển kinh tế; xóa đói, giảm nghèo; chính sách dân tộc; thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; phát triển nông nghiệp, nông thôn, giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ và những chính sách quan trọng khác
Bố trí ngân sách để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh phí hoạt động của bộ máy nhà nước
Ngân sách nhà nước bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động của tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội
Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự bảo đảm; ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ cho các nhiệm vụ Nhà nước giao theo quy định của Chính phủ
Bảo đảm chi trả các khoản nợ lãi đến hạn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước
Việc quyết định đầu tư và chi đầu tư chương trình, dự án có sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải phù hợp với Luật đầu tư công và quy định của pháp luật có liên quan
Trang 29Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách Trường hợp được ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn điều lệ theo quy định của pháp luật thì phải phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước
và chỉ thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: Được thành lập và hoạt động theo đúng quy định của pháp luật; có khả năng tài chính độc lập; có nguồn thu, nhiệm vụ chi không trùng với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước
* 1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VÀ QUAN ĐIỂM VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
1.2.1 Một số lý thuyết hiện đại về “Quản lý ngân sách”
Trước thế kỷ thứ 19, trong các nền kinh tế tự cung - tự cấp, kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chức năng cơ bản của nhà nước là thực hiện các nhiệm vụ truyền thống như: cảnh sát, tư pháp, quốc phòng và ngoại giao Còn các hoạt động kinh tế thì để mặc cho khu vực tư nhân quyết định, nhà nước không can thiệp Hay nói khác hơn là nhà nước đứng ngoài các hoạt động kinh
tế Trong bối cảnh đó, mục đích của NSNN là cung cấp những nguồn lực cần thiết
để tài trợ cho các hoạt động chính trị, quản lý hành chính, tư pháp và quốc phòng của nhà nước Và điều quan trọng là, NSNN không làm bóp méo thị trường, không gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của khu vực tư thông qua các chính sách phân phối thu nhập Bước sang thể kỷ 20, vai trò của nhà nước có nhiều thay đổi cho phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội: (i) nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có
sự can thiệp của nhà nước; (ii) hệ thống tiền tệ không ổn định; (iii) nền kinh tế phát triển theo xu hướng quốc tế hóa Trong bối cảnh đó, NSNN không những là công cụ
để nhà nước huy động các nguồn lực của xã hội nhằm tài trợ mọi nhu cầu chi tiêu của nhà nước, mà còn là công cụ để nhà nước can thiệp vào các hoạt động kinh tế –
xã hội
Bước sang thế kỷ 20, có nhiều sự kiện kinh tế – xã hội đáng ghi nhận xảy ra như chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các cuộc khủng khoảng kinh tế chu kỳ, lạm
Trang 30phát, thất nghiệp, đặc biệt là siêu lạm phát 1921-1923 ở Đức và khủng khoảng kinh
tế thế giới 1929-1933…Tất cả những sự kiện đó cho thấy rằng nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh với cơ chế tự điều tiết không thể duy trì được sự phát triển bền vững Do vậy, cần phải có sự can thiệp của nhà nước NSNN lúc này trở thành công cụ để nhà nước can thiệp vào hoạt động kinh tế Trong bối cảnh đó, quan điểm cân đối NSNN cũng có nhiều thay đổi
Thuyết ngân sách theo chu kỳ
Nền kinh tế trải qua một chuỗi dài các chu kỳ, mỗi chu kỳ gồm có 3 giai đoạn phồn thịnh - khủng khoảng - suy thoái Sự vận động có tính chu kỳ tự phát theo các qui luật kinh tế khách quan của thị trường là một biểu hiện bản chất của kinh tế thị trường Sự can thiệp của nhà nước chỉ có thể giúp cho nền kinh tế không rơi vào trạng thái quá “nóng” hoặc quá “nguội” trong chu kỳ phát triển của nó, chứ không thể loại trừ hoàn toàn tính chu kỳ đó Bởi vậy, thu – chi NSNN cũng có tính chu kỳ
Khi nền kinh tế ở giai đoạn phồn thịnh, của cải vật chất được tạo ra nhiều, năng suất lao động xã hội cao, thất nghiệp ít… Do vậy, NSNN có cơ sở để có thể huy động được số thu thuế lớn hơn so với nhu cầu chi tiêu Mặt khác, trong giai đoạn này cũng nên tăng thuế suất, giảm chi tiêu NSNN để kìm hãm nền kinh tế không phát triển quá “nóng” Trong bối cảnh đó, NSNN thặng dư là điều dễ hiểu Nếu không xem xét cân đối NSNN theo chu kỳ, chính phủ rất dễ dùng số thặng dư này để chi tiêu, đầu tư vào những hoạt động không cần thiết, hoặc điều chỉnh chính sách thuế để giảm thu Những hành động này dễ làm cho nền kinh tế rơi vào khủng khoảng Ngược lại, khi khủng hoảng xảy ra, nền kinh tế chuyển sang giai đoạn suy thoái, của cải vật chất tạo ra giảm, năng suất lao động xã hội thấp, thất nghiệp gia tăng… Thu NSNN trong giai đoạn này sẽ khó khăn hơn Mặt khác, để kích thích phục hồi kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội thì nhà nước cần phải giảm thuế và tăng chi tiêu Kết quả, NSNN sẽ bội chi Nếu vì ngại bội chi NSNN, cố giữ cân đối
Trang 31NSNN theo quan điểm cổ điển trên cơ sở hạn chế chi tiêu thì sẽ làm cho nền kinh tế khó vượt qua suy thoái hơn
Như vậy, theo quan điểm này, sự cân bằng của NSNN sẽ không duy trì trong khuôn khổ một năm mà sẽ duy trì trong khuôn khổ của một chu kỳ kinh tế Nghĩa
là, vẫn tôn trọng nguyên tắc cân đối giữa số thu và số chi của NSNN, nhưng thực hiện sự cân bằng này trong một thời kỳ gồm nhiều tài khóa liên tục ứng với từng chu kỳ phát triển kinh tế Khi đó, tình trạng bội thu hay bội chi NSNN trong từng tài khóa không hẳn là mất cân đối, chúng có thể bù trừ cho nhau trong cả chu kỳ Tuy nhiên, mức bội thu hay bội chi, đặc biệt là bội chi, phải được khống chế trong một giới hạn nhất định mà chính phủ có thể kiểm soát được
Thuyết ngân sách thiếu hụt
Lý thuyết này xuất phát từ quan điểm cho rằng kinh tế quyết định tài chính Vấn đề tài chính công nói chung và NSNN nói riêng phải được giải quyết tùy theo tình trạng kinh tế và ảnh hưởng của NSNN vào tình trạng kinh tế
Như đã phân tích ở phần trên, muốn thực hiện nguyên tắc ngân sách cân bằng tuyệt đối trong giai đoạn kinh tế suy thoái, nhà nước phải tiết kiệm chi tiêu hoặc tăng thuế Cả hai phương pháp trên đều kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế,
và càng làm cho nền kinh tế khó thoát khỏi suy thoái hơn Do vậy, khi kinh tế suy thoái cần phải tránh sử dụng chúng và tránh bằng cách cố ý hi sinh sự cân bằng của NSNN Hơn thế nữa, phải sử dụng sự mất cân bằng của ngân sách để góp phần đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái trên cơ sở tăng chi tiêu ngân sách hoặc giảm thuế để kích cầu Tuy nhiên, việc cố ý tạo sự thiếu hụt NSNN có thể tác động tiêu cực đến tình hình lưu thông tiền tệ, lạm phát có thể gia tăng Bởi vì, muốn có tiền để tài trợ cho những chương trình, dự án trong giai đoạn kinh tế suy thoái thì nhà nước phải
in thêm giấy bạc ngân hàng Thế nhưng, những người ủng hộ lý thuyết này cho rằng
sự phục hồi kinh tế sẽ đem lại nguồn để NSNN trở về tình trạng cân bằng và đẩy lùi lạm phát Họ đưa ra các lý do sau để lý giải cho quan điểm của mình:
Trang 32- Việc thúc đẩy những hoạt động kinh tế đang đình trệ sẽ làm nhẹ gánh nặng của NSNN đối với khoản chi trợ cấp thất nghiệp
- Chính sách cố ý tạo ra sự mất cân đối của NSNN xét cho cùng chỉ là một việc làm trước hạn, căn cứ vào những việc chắc chắn sẽ xẩy ra trong tương lai Nhờ chính sách kích cầu hiệu quả, kinh tế sẽ dần dần hồi phục, và khi đó nhà nước sẽ dần dần cắt giảm chi tiêu Mặt khác, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn hưng thịnh, thuế sẽ đánh một cách lũy tiến Kết quả là tránh được nạn lạm phát và NSNN
sẽ cân bằng
Thuyết hạn chế tiêu dùng
Lý thuyết này chỉ liên hệ một phần nào đó với vấn đề cân đối NSNN, và nó
đã từng được thực hiện lần đầu trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất và áp dụng triệt để trong chiến tranh thế giới lần thứ hai Lý thuyết hạn chế tiêu dùng cho rằng, trong thời chiến để thỏa mãn những nhu cầu của chiến tranh NSNN đã chi tiêu rất nhiều, trong khi đó khối lượng hàng hóa cung cấp trên thị trường lại khan hiếm hơn thời bình Lúc này nhà nước nên thực hiện chế độ hạn chế công chúng chi tiêu và kiểm soát giá cả Do sự hạn chế chi tiêu nên công chúng không chi xài hết thu nhập khả dụng của họ, nguồn tài chính dư thừa này sẵn sàng gia nhập thị trường Lúc này, nhà nước có thể thu vào một phần số tiền mà mình đã tung ra qua chi tiêu NSNN thông qua hai công cụ: thuế và phát hành công trái
Tóm lại, mỗi một lý thuyết xem xét cân đối NSNN ở một giác độ nhất định
và phù hợp với từng bối cảnh cụ thể Do vậy, trong bối cảnh ngày nay, quan điểm
cổ điển trở nên hơi cứng nhắc Duy trì ngân sách tiêu dùng như quan điểm cổ điển
là cần thiết, nhưng theo chúng tôi là chưa đủ trong điều kiện nền kinh tế bước vào giai đoạn hiện đại Một mặt, sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước đòi hỏi phải có một ngân sách đủ tiềm lực bảo đảm hoạt động của bộ máy quản lý hành chính, duy trì và cải thiện cơ sở hạ tầng, bảo đảm an ninh quốc phòng, đảm bảo công bằng và an ninh trật tự xã hội Nhưng mặt khác, nhà nước cần phải tổ chức điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, can thiệp hợp lý và đúng cách vào nền kinh tế,
Trang 33khắc phục những khiếm khuyết của cơ chế thị trường, đảm bảo cho nền kinh tế xã hội phát triển bền vững Chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm hiện đại rằng, bội chi NSNN trong một vài tài khóa là điều không thể tránh khỏi, và nó cũng chưa hẳn là
do tình trạng yếu kém của nền kinh tế hay do thiếu hiệu quả trong điều hành NSNN của nhà nước Tuy nhiên, chấp nhận bội chi NSNN theo chu kỳ, hay cố ý gây bội chi thì cũng là để tạo tiền đề nhằm đạt được sự cân bằng NSNN trong dài hạn
Đặc biệt, qua nghiên cứu các lý thuyết này chúng tôi nhận thấy rằng, cân đối NSNN luôn được bắt đầu từ việc quyết định vai trò của nhà nước, bởi vì các quyết định về vai trò của nhà nước sẽ tạo ra các nghĩa vụ chi trả của nhà nước trong tương lai Bởi thế, trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, do vận hành theo cơ chế hành chính, bao cấp nên cân đối NSNN có các đặc điểm: (i) bị chi phối nặng nề bởi các qui định hành chính, phi thị trường Thu, chi NSNN được thực hiện theo cơ chế giao - nộp, xin – cho đã làm thất thoát vốn, cạn kiệt nguồn lực của nhà nước, gây phương hại cho tính ổn định kinh tế
vĩ mô Điều đó có nghĩa là, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính kém hiệu quả, tùy tiện và vi phạm kỷ luật tài khóa; (ii) cân đối NSNN mang tính hình thức, chủ yếu phục vụ cho cơ chế bao cấp toàn bộ nhu cầu nền kinh tế quốc dân; (iii) sự bị động trong thu, chi NSNN Thật vậy, do nhu cầu bao cấp ngày càng gia tăng nên áp lực tăng chi ngân sách rất lớn, nguồn thu thuế không đủ để đáp ứng trong khi thị trường tài chính lại chưa phát triển, buộc nhà nước thường xuyên phải phát hành tiền để bù đắp bội chi NSNN Do vậy, cùng với thời gian hầu hết các quốc gia đều chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường và hướng đến ứng dụng một cách linh hoạt hơn các học thuyết cân đối NSNN hiện đại vào trong hoạt động thực tiễn
*
Trang 341.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
1.3.1 Kinh nghiệm của TP.HCM
Thành phô Hồ Chí Minh được chia thành 24 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 19 quận huyện và 05 huyện; Và 322 đơn vị hành chính câp xã Trong đó
có 2259 phường, 05 thị trấn và 58 xã NSĐP của TP.HCM được phân chia thành 3 cấp: NS cấp tỉnh(Thành phố), Ngân sách cấp huyện, Ngân sách cấp xã
Trong năm 2015 ngành tài chính thành phố đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách năm 2015 với số thu ngân sách thực hiện là 279.158 tỷ đồng, đạt 105,04% dự toán, tăng 10,7% so với cùng kỳ Nguyên nhân là do ngành thuế thành phố tăng cường các biện pháp để quản lý nguồn thu và bồi dưỡng nguồn thu; đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật; đồng thời tích cực giải quyết các vướng mắc trong lĩnh vực thuế để tạo điều kiện giúp đỡ các cơ sở sản xuất kinh doanh đẩy mạnh hoạt động và thực hiện tốt nghĩa vụ thuế
Sở Tài chính, cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc đã tập trung thực hiện cải cách hành chính; nâng cao năng lực bộ máy; tinh thần trách nhiệm của cán bộ tài chính; xử lý nghiêm cán bộ vô cảm, thiếu trách nhiệm, vòi vĩnh, tiêu cực; thực hiện thường xuyên, công khai, minh bạch, công bằng, tạo lòng tin, sự thiện cảm của người dân, của doanh nghiệp ngày càng lớn
Ủy ban Nhân dân các quận huyện đã giữ vai trò quan trọng trong điều hành, chỉ đạo quản lý thực hiện nhiệm vụ ngân sách; cần tiếp tục quan tâm, chỉ đạo công tác thu tại Chi cục Thuế; điều hành ngân sách tại địa phương Đồng thời, khai thác các nguồn thu trên địa bàn; vốn xã hội hóa; tập trung đôn đốc, đẩy mạnh khai thác nguồn thu từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển nhượng nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước qua xử lý, sắp xếp…
TP.HCM phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi như sau:
- Phân cấp nguồn thu: Hưởng 100%, phí, lệ phí, thu sự nghiệp, thu phạt vi phạm hành chính theo phân cấp; thu khác ngân sách; Thu viện trợ không hoàn lại
Trang 35của các tổ chức; cá nhân nước ngoài; Đóng góp tự nguyện ở trong và ngoài nước; đóng góp xây dựng kết cầu hạ tầng
- Phân cấp nhiệm vụ chi: Hiện nay TP.HCM thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính cho các xã, phường, thị trấn
+ Chi thường xuyên: Quản lý Hành chính, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam UBMTTQ, các tổ chức chính trị xã hội , chi sự nghiệp kinh tế, văn hoá, thề dục thể thao…
+ Kinh phí tự chủ: Sau khi sắp xếp bộ máy biên chế và các khoản chi quản lý hành chính, nếu tiết kiệm thì được phép chi bổ sung tăng thu nhập và trích lập các quỹ theo quy định ban hành
Có 3 phương thức mà TP.HCM áp dụng để đem lại nhiều mặt tích cực trong quản lý ngân sách của Thành phố như sau:
- Thứ nhất, đầu tư hoàn toàn từ vốn ngân sách và tuỳ công trình mà thành phố bỏ vốn ra để làm Cụ thể, những công trình có qui mô lớn thì vay của tổ chức nước ngoài và ngân sách sẽ trả lại sau Công trình có qui mô vừa thì bỏ vốn ngân sách ra đầu tư, hoặc để DN bỏ tiền ra làm trước và ngân sách trả lại sau
- Thứ hai, Nhà nước và người dân cùng đầu tư (những công trình nhỏ)
- Thức ba, DN bỏ tiền ra đầu tư, sau đó cho họ kinh doanh thu tiền để thu hồi vốn đầu tư
Có thể nói, TP.HCM là địa phương luôn hoàn thành và vượt kế hoạch nhiệm
vụ ngân sách được trung ương giao hàng năm, TP.HCM sẵn sàng tạo mọi điều kiện trong việc chia sẻ kinh nghiệm quản lý, điều hành ngân sách
1.3.2 Kinh nghiệm của Tỉnh Bình Dương
Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, có tốc độ tăng trưởng khá cao về công nghiệp so với cả nước Trong nhiều năm qua Bình Dương có nhiều chính sách thay đồi nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 36Phân cấp nguồn thu: Các nguồn thu của ngân sách địa phương hưởng 100%; Thuế môn bài khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thu từ cá nhân hộ kinh doanh và thuế khoán thu; thuế nhà đất được hưởng từ 85 đến 90% thuế nhà đất; lệ phí trước
bạ nhà, đất hưởng 70% lệ phí trước bạ; Các khoản phí, lệ phí quy định thu vào ngân sách; các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp kinh tế, văn hóa, xã hội phát sinh trên địa bàn; các khoản thu đóng góp của các tổ chức cá nhân và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên
Phân cấp nhiệm vụ chi:
- Chi đầu tư phát triển: Đầu tư, xây dựng và sửa chữa các công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội
- Chi thường xuyên: Chi hoạt động về sự nghiệp kinh tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, chi quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phần giao địa phương quản lý, chi hoạt động quản lý Nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, hoạt động của các tổ chứ xã hội – chính trị
Việc phân cấp nguồn thu, tỉnh Bình Dương đã thực hiện phân cấp mạnh mẽ Tạo điều kiện phát triển đều Và phân cấp đầy đủ nhiệm vụ chi, thực hiện tốt chế độ
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý ngân sách
Để đạt được mục tiêu và phương thức trên, tỉnh sẽ thực hiện các nhóm giải pháp tăng cường quản lý, chống thất thu, tổ chức thu đúng, đủ, kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác vào ngân sách nhà nước Cùng với việc tập trung thu hồi số thuế nợ đọng từ các năm trước, các khoản thu từ các dự án đầu tư đã hết thời gian ưu đãi, tỉnh sẽ quản lý chặt chẽ các khoản chi đảm bảo chi ngân sách tiết kiệm
và hiệu quả
Việc phân cấp quản lý ngân sách đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo tính tích cực cho cấp huyện, thị xã, thành phố; xã, phường, thị trấn trong việc chủ động khai khác nguồn thu trên địa bàn để tăng thu ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi của địa phương, hạn chế tối đa việc ỷ lại vào trợ cấp của ngân sách cấp trên
Trang 37Nhờ đó, việc quản lý và điều hành ngân sách các cấp có nhiều tiến bộ; các khoản thu, nhiệm vụ chi năm sau luôn cao hơn năm trước; trình độ chuyên môn nghiệp vụ quản lý tài chính ngân sách từng bước được nâng lên, xây dựng ngân sách các cấp lành mạnh; sử dụng vốn và tài sản nhà nước tiết kiệm và hiệu quả, tăng dần tích luỹ để đầu tư phát triển các công trình hạ tầng cơ sở, bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội của địa phương
Ngành thuế tỉnh tổ chức thực hiện tốt các luật thuế và nhiệm vụ thu NSNN; bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu theo quy định của pháp luật; cùng với đó tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế và kiên quyết xử lý thu hồi nợ đọng thuế Ngành cũng quản lý chi NSNN theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ, đúng quy định
1.3.3 Kinh nghiệm của Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Bà Rịa – Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, ở cị trí của ngõa ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ, Bà Rịa – Vũng Tàu kết nối thuận lợi với TP.HCM và các địa phương khác bằng đường bộ, đường không, đường thủy
và đường sắt;
Vũng Tàu thành phố du lịch biển nổi tiếng và là trung tâm của hoạt động khai thác dầu mỏ phía Nam, đã từng là trung tâm hành chính của tỉnh Đây là tình luôn đi đầu trong việc phát triền kinh tế, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhờ tận dụng được lợi thế địa hình, phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng và thu nhập bình quân đầu người khá cao
Phân cấp nguồn thu: Các khoản thu địa phương hưởng 100%; thuế môn bài
từ các các nhân và nhóm kinh doanh nhỏ; lệ phí trước bạ; các khoản phí, lệ phí và các khoản thu được đóng góp; thu từ sử dụng quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác; Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ %
Trang 38Phân cấp nhiệm vụ chi: Chi đầu tư phát triển: Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng từ nguồn đóng góp của nhân dân, do Hội đồng nhân dân quy định đưa vào ngân sách quản lý và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
1.3.4 Những bài học rút ra cho việc đổi mới công tác quản lý ngân sách nhà nước
TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu là những tỉnh thành đi đầu cả nước về mọi lĩnh vực kinh tế, du lịch có tốc độ tăng trưởng cao trong vùng Đông Nam Bộ Để đạt được những thành tựu trên là nhờ chính quyền và nhân của của tỉnh này biết phát huy thế mạnh, tinh thần đoàn kết, và có nhiều chính sách hợp lý cho thời kỳ đổi mới
Từ thực tiễn của TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu Đồng Nai có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau, vận dụng để nâng cao, đổi mới công tác quản lý thu, chi NSNN trên địa bàn tỉnh
Một là: Để bảo đảm triển khai việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần
ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể về mục tiêu, cách thức, biện pháp thực hiện Việc quy định rõ, minh bạch các cơ chế, giải pháp, biện pháp trong quản
lý, sử dụng các nguồn lực trong khu vực nhà nước (NSNN, vốn, tài sản, lao động ), nguồn lực của các doanh nghiệp cũng như các nguồn tài nguyên làm tăng tính hiệu quả, hiệu lực của các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Hai là: Quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong quy trình
ngân sách từ khâu lập dự toán phải căn cứ vào hệ thống định mức chi tiêu ngân sách; đồng thời thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí NSNN có trách nhiệm giải trình để làm rõ từng nội dung của bảng dự toán và phải chịu trách nhiệm cá nhân trong khâu tổ chức thực hiện dự toán bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả
Việc ban hành đồng bộ, đầy đủ các tiêu chuẩn, định mức, chế độ, chuẩn mực hợp lý, đầy đủ cho từng ngành, lĩnh vực và thường xuyên thực hiện rà soát, sửa đổi cho phù hợp với thực tế biến động của thị trường, sự phát triển khoa học kỹ thuật và
Trang 39công nghệ được coi là xương sống bảo đảm việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực, là cơ sở để thực hiện kiểm soát, xử lý hành vi gây lãng phí
Ba là: Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về tài chính ở
cấp địa phương, thực hiện nghiêm kỷ luật tài khóa: Việc đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách chỉ có thể đạt được mục tiêu mong muốn nếu được gắn liền với việc tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về tài chính ở cấp địa phương Tăng cường tính minh bạch, công khai trong quản lý ngân sách ở các cấp chính quyền, đồng thời tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm tính hiệu quả của quản lý ngân sách Tăng cường trách nhiệm giải trình của mỗi cấp chính quyền trong quản lý ngân sách không chỉ với cấp trên mà trước hết là với trước hội đồng nhân dân và người dân ở địa phương
Bốn là: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải được xác định rõ về mục
tiêu, chỉ tiêu và có chương trình cụ thể cho từng giai đoạn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Điều này không những giúp cho việc định lượng mức độ tiết kiệm so với định mức, tiêu chuẩn, chế độ mà còn tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa tình trạng thất thoát, lãng phí
Việc ban hành các chương trình, mục tiêu, chỉ tiêu, định mức, chế độ tiết kiệm, phải có các giải pháp, chính sách hỗ trợ, khen thưởng, khuyến khích nhằm tạo động lực thúc đẩy triển khai hiệu quả việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Năm là: Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý, sử dụng và điều
hành hoạt động chi tiêu NSNN giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời nắm bắt chính xác thông tin liên quan đến chi tiêu NSNN Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể ra quyết định điều chỉnh kịp thời, hạn chế tối đa việc lãng phí trong
sử dụng NSNN
Tăng cường thực hiện công tác ủy nhiệm thu, điều này vừa tăng thu được cho ngân sách về thuế, chống thất thu sót hộ, đồng thời tăng cường trách nhiệm của tỉnh trong công tác thu ngân sách
Trang 40Coi việc thực hiện công khai tài chính ngân sách các cấp là biện pháp để tăng cường giám sát của cán bộ, công chức và nhân dân trong việc quản lý sử dụng ngân sách ở địa phương, đơn vị, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách
Đẩy mạnh thực hiện việc khoán biên chế và quỹ lương, coi đây là biện pháp
để nâng cao hiệu quả công tác của bộ máy hành chính, tăng cường trách nhiệm của cán bộ công chức trong thực thi nhiệm vụ đồng thời tăng thu nhập cho cán bộ công chức
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước của các cơ quan, đơn vị, các tỉnh và đơn vị trong tỉnh
Ngoài ra, tỉnh còn cần có một hệ thống khuôn khổ pháp lý tiên tiến, hạ tầng công nghệ thông tin, đội ngũ cán bộ quản lý tư duy và trình độ đủ để tiếp cận phương thức đổi mới
TÓM TẮT CHƯƠNG I
Gồm những nội dung chính sau:
- Làm rõ được các khái niệm về quản lý thu, chi NSNN nói chung và đặc điềm của NSNN cấp tỉnh nói riêng
- Khẳng định được vai trò quan trọng của quản lý thu, chi NSNN đối với sự phát triển KT-XH và Thị trường
- Trình bầy được một số lý thuyết hiện đại và quan điểm về quản lý ngân sách và đổi mới công tác quản lý ngân sách
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương trong công tác quản lý ngân sách, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho tỉnh Đồng Nai
Đây là khung lý luận để phân tích thực trạng và đề ra giải pháp cho Đổi mới công tác quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai