Theo đó việc mua sắm tài sản tập trung sẽ được phân theo ngành và phân cấp từ trung ương đến chính quyền địa phương... Từ thực tế thực hiện công tác chuyên quản hoạt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
-
NGUYỄN THỊ THU HẢO
CHÍNH SÁCH MUA SẮM TẬP TRUNG TÀI SẢN CÔNG CẤP ĐỊA PHƯƠNG: TRƯỜNG HỢP TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
-
NGUYỄN THỊ THU HẢO
CHÍNH SÁCH MUA SẮM TẬP TRUNG TÀI SẢN CÔNG CẤP ĐỊA PHƯƠNG: TRƯỜNG HỢP TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong
Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình là những người đã luôn sát cánh ủng hộ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian khóa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Phạm Duy Nghĩa và quý Thầy Cô của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đóng góp hữu ích, trao đổi chân thành, cởi mở, tạo môi trường thuận lợi để tôi học tập, nghiên cứu tại trường và cho tôi những lời khuyên bổ ích, giúp tôi hoàn thành được luận văn này
Tôi xin gửi sự biết ơn sâu sắc đến ban lãnh đạo cũng như tập thể cán bộ công chức Sở Tài chính và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng dân dụng và công nghiệp tỉnh Gia Lai, phòng Tài chính kế hoạch thành phố Pleiku, huyện Chư Sê, Chư Pưh, Đăk Pơ, An Khê, Ayun Pa
và những đơn vị khác đã trả lời phỏng vấn trực tiếp và cung cấp thông tin giúp tôi hoàn thành luận văn này
Và sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn học viên MPP8, những người đã luôn quan tâm giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập tại trường
Trang 5TÓM TẮT
Áp dụng rộng rãi phương thức mua sắm tập trung trên phạm vi cả nước được xem là bước cải cách lớn trong hoạt động mua sắm công nhằm đạt được hiệu quả trong sử dụng ngân sách và quản lý tài sản nhà nước Tuy nhiên các địa phương đều gặp khó khăn khi bước đầu thực hiện chính sách Phân tích thực tế tại tỉnh Gia Lai xác định được các nguyên nhân sau:
i) Pháp luật, hệ thống quy định về mua sắm tập trung và đấu thầu được quy định rõ ràng,
cụ thể nhưng phức tạp, chồng chéo, thường xuyên thay đổi, bổ sung gây khó khăn trong đọc, hiểu văn bản của các cơ quan nhà nước, đơn vị sử dụng tài sản và nhà thầu;
ii) Các đơn vị sử dụng tài sản tận dụng thời gian chờ chính sách có hiệu lực đã nhanh chóng thực hiện mua sắm theo phương thức cũ; chưa có quy định xử phạt đối với các hành
vi vi phạm nên việc đăng ký nhu cầu chậm trễ xảy ra phổ biến gây ảnh hưởng đến hoạt động MSTT của tỉnh;
iii) Năng lực quản lý của Ban Dân dụng chưa đáp ứng đủ yêu cầu khi có sự gia tăng về mức độ và khối lượng công việc cần giải quyết từ chính sách MSTT; đa số các nhà thầu tại địa phương chưa đủ năng lực, kinh nghiệm để tham gia cạnh tranh trong những gói thầu có giá trị lớn;
iv) Truyền thông còn ở mức độ hạn chế nên khả năng tiếp cận thông tin, hiểu chính sách chưa được tốt;
v) Có sự chênh lệch lợi ích giữa chính sách mua sắm cũ và MSTT nên các đơn vị sử dụng tài sản có xu hướng không ủng hộ, doanh nghiệp nhỏ không tham gia dự thầu;
vi) Mặc dù đã có quy trình cụ thể nhưng thời gian thực hiện MSTT diễn ra trong 4 đến 6 tháng không để đáp ứng nhu cầu của các đơn vị sử dụng tài sản
Từ những nguyên nhân trên, đề tài đưa ra các khuyến nghị khắc phục nhằm giúp chính sách được vận hành tốt hơn như: hình thành bộ quy định chuẩn cho MSTT, bổ sung các quy định còn thiếu sót về tiêu chuẩn, định mức tài sản và trách nhiệm của đơn vị sử dụng tài sản; tổ chức các buổi tập huấn, trao đổi kinh nghiệm, đào tạo nâng cao nghiệp vụ về công tác đấu thầu; kết hợp công tác giữa Ban Dân dụng và các cơ quan khác rút ngắn thời
Trang 6gian tổng hợp nhu cầu, ứng dụng công nghệ thông tin để làm nền tảng tham gia đấu thầu qua mạng
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, HỘP viii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HỘP viii
PHỤ LỤC viii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Bối cảnh và sự ra đời chính sách 1
1.2 Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Câu hỏi chính sách 2
1.2.3 Ý nghĩa thực tiễn 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN MUA SẮM TÀI SẢN CÔNG THEO PHƯƠNG THỨC TẬP TRUNG 5
2.1 Định nghĩa và các hình thức mua sắm công 5
2.2 Nhu cầu thúc đẩy cải cách trong mua sắm tài sản công 6
2.3 Tình hình và quy định chung hiện nay 8
2.4 Kinh nghiệm quốc tế 10
2.5 Khung phân tích 11
CHƯƠNG 3: PHÁT HIỆN TRỤC TRẶC 13
3.1 Đánh giá các quy định pháp luật liên quan đến MSTT 13
3.1.1 Giai đoạn tiền đấu thầu 13
3.1.1.1 Xác định nhu cầu 13
3.1.1.2 Đăng ký và tổng hợp nhu cầu 16
3.1.2 Giai đoạn Đấu thầu 17
Trang 83.2 Cơ hội 19
3.3 Năng lực 20
3.3.1 Ban Dân dụng 20
3.3.2 Nhà thầu 22
3.4 Truyền thông 24
3.4.1 Truyền thông từ Trung ương đến cấp tỉnh 25
3.4.2 Truyền thông từ tỉnh đến các đơn vị sử dụng tài sản 25
3.5 Lợi ích giữa các bên liên quan 26
3.6 Quy trình 27
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 31
4.1 Kết luận 31
4.2 Kiến nghị chính sách 32
4.3 Hạn chế 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 37
Trang 9Đơn vị sử dụng tài sản Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng tài
sản GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
Cooperation and Development Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, HỘP
Sơ đồ 1 Quy trình MSTT theo 3 giai đoạn 9
Sơ đồ 2: Thời gian đăng ký và tổng hợp nhu cầu 16
Sơ đồ 3:Thời gian chuyển giao chính sách 19
Sơ đồ 4: Cơ cấu tổ chức và phân công nhiệm vụ của Ban Dân dụng 21
Sơ đồ 5: Quy trình mua sắm theo phương thức phân tán 28
Sơ đồ 6: Quy trình mua sắm theo phương thức tập trung 29
Sơ đồ 7: Quy trình đấu thầu rộng rãi đối với gói thầu mua sắm hàng hoá 30
DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Tổng hợp tiêu chuẩn, định mức phòng làm việc của các cơ quan, tổ chức, đơn vị các cấp 14
Bảng 2: Cơ cấu doanh nghiệp dựa trên quy mô của tỉnh Gia Lai năm 2015 23
DANH MỤC HỘP Hộp 1 Ý kiến về danh mục MSTT 14
Hộp 2: Trường hợp đột xuất, cấp bách 16
PHỤ LỤC Phụ lục 1 Rủi ro tham nhũng trong mua sắm công 34
Phụ lục 2 Danh mục MSTT mốt số tỉnh 35
Phụ lục 3 Danh sách tham gia phỏng vấn 37
Phụ lục 4 Bảng hỏi 40
Phụ lục 5 Danh sách văn bản pháp luật tính đến 31/3/2017 41
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Bối cảnh và sự ra đời chính sách
Mua sắm công (hay mua sắm chính phủ) là những khoản chi tiêu của các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp nhà nước để mua hàng hoá, dịch vụ và công trình phục vụ cho việc sử dụng của chính mình; tổng giá trị mua sắm công thường chiếm từ 15% đến 20% GDP1
của một quốc gia đang phát triển như Việt Nam Vì vậy ngoài mục đích đảm bảo sự hoạt động thường xuyên của khu vực công, mua sắm công còn được xem như một công cụ chính sách tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội
Từ năm 2008, Việt Nam đã áp dụng 2 hình thức mua sắm tài sản là mua sắm phân tán và mua sắm tập trung (MSTT) Đối với hình thức phân tán, các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp sử dụng tài sản là đơn vị trực tiếp thực hiện mua sắm; hình thức tập trung, đơn vị thực hiện mua sắm là đơn vị mua sắm tập trung cấp quốc gia và các đơn vị mua sắm tập trung cấp bộ, ngành, địa phương Từ năm 2015 trở về trước, đa số các đơn vị sử dụng tài sản thực hiện hình thức mua sắm phân tán nhưng có một số hạn chế như: không chuyên nghiệp
và chưa tách bạch được nhiệm vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ trong quản lý tài sản công; tốn kém chi phí tổ chức thực hiện, xảy ra tham nhũng… Chính phủ cũng đồng thời thực hiện thí điểm phương thức mua sắm tập trung tại một số địa phương, Bộ, ngành nhằm giảm tình trạng tham nhũng, nâng cao hiệu quả quản lý mua sắm công, quản lý NS hiệu quả, tiết kiệm3
Ngày 26/02/2016, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 08/2016/QĐ-TTg ban hành quy định việc mua sắm tài sản tập trung trên phạm vi cả nước Theo đó việc mua sắm tài sản tập trung sẽ được phân theo ngành và phân cấp từ trung ương đến chính quyền địa phương Ngoài những quy định chung được ban hành bởi Chính phủ, UBND cấp tỉnh được tại những khoảng mở để điều chỉnh chính sách phù hợp với tình hình thực tế nhưng tình hình thực hiện tại các địa phương trên cả nước chưa được đồng bộ (Phụ lục 2)
Đối với tỉnh Gia Lai, UBND tỉnh đã ban hành quyết định danh mục tài sản MSTT cấp tỉnh; thành lập đơn vị thực hiện cấp tỉnh là Ban quản lý dự án các công trình đầu tư xây dựng
Trang 12dân dụng và công nghiệp; hướng dẫn các đơn vị áp dụng hình thức mua sắm mới Sau 01 năm, hoạt động MSTT trên địa bàn tỉnh thực hiện được 01 lần cung cấp 123 thiết bị cho 16 đơn vị, trị giá 707 triệu Đây là một con số rất nhỏ so với quy mô thực tế trên địa bàn tỉnh
và tồn tại nhiều đơn vị không thể mua sắm tài sản nằm trong danh mục MSTT trong giai đoạn từ tháng 4/2016 đến nay4
MSTT mang lại nhiều lợi ích nhưng trường hợp thực hiện chậm trễ như hiện tại sẽ gây khó khăn trong đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị, tổ chức, gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, hàng hoá công do các đơn vị, tổ chức này cung cấp và giảm hiệu quả phân bổ dự toán ngân sách (NS) trong năm
Áp dụng rộng rãi MSTT là sự thay đổi chính sách quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đồng loạt thay đổi hệ thống pháp luật đồng bộ như Luật Đấu thầu 2013, Luật Đầu tư công
2014, Luật Ngân sách nhà nước 2015 để phù hợp với các cam kết quốc tế… vì vậy không thể tránh khỏi những khó khăn trong thời gian đầu thực hiện Từ thực tế thực hiện công tác chuyên quản hoạt động mua sắm tài sản nhà nước theo thẩm quyền tại Sở Tài chính tỉnh Gia Lai, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài này tìm hiểu những nguyên nhân gây khó khăn trong việc vận hành chính sách, qua đó đề xuất giải pháp cải thiện
1.2 Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn
1.2.1 Mục tiêu
Tìm hiểu nguyên nhân chính sách mua sắm tài sản công theo phương thức tập trung vẫn chưa được vận hành thuận lợi khi áp dụng các quy định vào thực tế Qua đó đưa ra những đề xuất trong thẩm quyền thực hiện của địa phương để chính sách thực hiện hiệu quả hơn, mang lại những lợi ích như kỳ vọng
1.2.2 Câu hỏi chính sách
Câu hỏi 1: Vì sao việc MSTT cấp địa phương tại tỉnh Gia Lai còn trục trặc?
Câu hỏi 2: Giải pháp cải thiện để chính sách được áp dụng hiệu quả hơn?
Trang 13tương đồng về nhiều mặt, xác định được nguyên nhân trong trường hợp tỉnh Gia Lai có thể
sẽ đưa ra được những giải pháp cải thiện chính sách cho tỉnh và các địa phương khác
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
i) Đối tượng nghiên cứu: Chính sách mua sắm hàng hoá, dịch vụ công (gọi tắt là tài sản công) theo phương thức tập trung chịu sự chi phối của các quy định của chính phủ và chính quyền địa phương
ii) Khách thể nghiên cứu gồm 3 nhóm chính: Cơ quan quản lý nhà nước, Đơn vị sử dụng tài sản và Đơn vị tham gia vào quá trình đấu thầu
iii) Phạm vi nghiên cứu: Chính sách mua sắm tập trung cấp địa phương tại tỉnh Gia Lai giai đoạn từ 2016 đến nay
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định tính để trả lời câu hỏi nghiên cứu:
Bộ tiêu chí ROCCIPI được dùng để xem xét tính hợp lý của chính sách mua sắm tập trung hiện hành: Luật và các văn bản dưới luật quy định về mua sắm tài sản công tập trung, các văn bản của UBND cấp tỉnh và hướng dẫn của các sở ngành liên quan Thu thập dữ liệu dựa trên quan sát, phỏng vấn, tài liệu văn bản, trong đó phỏng vấn có vai trò quan trọng Tác giả thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc chuyên sâu vào trường hợp MSTT tại Gia Lai đối với các đối tượng thuộc 3 nhóm khách thể liên quan đến việc thực hiện chính sách Cụ thể:
i) Cơ quan quản lý nhà nước: Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch – Đầu tư, Sở Tài chính, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh Gia Lai;
ii) Đơn vị sử dụng tài sản: các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập… sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nằm trong danh mục MSTT và nhóm tham gia vào quá trình cung cấp tài sản;
iii) Đơn vị tham gia quá trình đấu thầu: nhà thầu, đơn vị tư vấn đấu thầu, đơn vị đấu thầu chuyên nghiệp
Danh sách đối tượng phỏng vấn và Bảng hỏi: Phụ lục 3 và 4
Trang 141.5 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm 4 chương: Chương 1 giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu, Chương 2 là khung lý thuyết được chọn phân tích vấn đề, Chương 3 là nội dung phân tích và Chương 4 kết luận, đưa ra các kiến nghị chính sách
Trang 15CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN MUA SẮM TÀI SẢN CÔNG THEO PHƯƠNG THỨC
TẬP TRUNG 2.1 Định nghĩa và các hình thức mua sắm công
Theo OECD, mua sắm công (public procurement) là hoạt động mua sắm của chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước về hàng hoá, dịch vụ và công trình Mua sắm công bao gồm các đặc điểm như: nguồn vốn dùng để mua sắm là vốn ngân sách nhà nước, chủ thể thực hiện mua sắm công là các cơ quan nhà nước, tổ chức thuộc sở hữu nhà nước từ trung ương đến địa phương nhằm mục đích trang bị điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện các hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp Mua sắm công gồm nhiều cách thức lựa chọn nhà thầu như đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp, chỉ định thầu và lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
Hiện nay Việt Nam đang thực hiện hai hình thức mua sắm là phân tán và tập trung Hình thức mua sắm phân tán, các chủ thể sử dụng tài sản trực tiếp thực hiện mua sắm các loại tài sản tuỳ theo nhu cầu của chủ thể thông qua các cách thức lựa chọn nhà thầu đã nêu như trên Hình thức MSTT là cách tổ chức đấu thầu rộng rãi để lựa chọn nhà thầu thông qua đơn vị MSTT, áp dụng trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ cần mua sắm với số lượng nhiều, chủng loại tương tự ở một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư; có thể thực hiện bằng ký hợp đồng trực tiếp hoặc thực hiện theo thoả thuận khung
Ký hợp đồng trực tiếp là cách thức đã được tỉnh Gia Lai áp dụng thí điểm trong MSTT lĩnh vực y tế trong giai đoạn 2008-2013, theo đó đơn vị MSTT tổng hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà, trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn và trực tiếp thanh toán cho nhà thầu Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng tài sản tiếp nhận tài sản, hồ sơ về tài sản và thực hiện chế độ bảo hành, bảo trì tài sản từ nhà thầu được lựa chọn Đối với ký thoả thuận khung, Đơn vị MSTT tổng hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu,
ký thỏa thuận khung với nhà thầu được lựa chọn Đơn vị sử dụng tài sản trực tiếp ký hợp đồng mua sắm, trực tiếp thanh toán cho nhà thầu được lựa chọn, tiếp nhận tài sản, hồ sơ về tài sản và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, chế độ bảo hành, bảo trì tài sản từ nhà thầu được lựa chọn
Sự tranh luận giữa lựa chọn hình thức mua sắm phân tán hay MSTT diễn ra không chỉ tại Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác Những lập luận ủng hộ hình thức mua sắm phân
Trang 16tán được đưa ra như: giảm cơ hội tham nhũng và sai phạm ở quy mô lớn, tài sản phù hợp với nhu cầu của người dùng cuối, thời gian thực hiện ngắn, tạo cơ hội để doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia Tuy nhiên, MSTT mang lại sự tiết kiệm từ giảm chi phí thực hiện, giảm giá mua tài sản, dịch vụ khách hàng tốt hơn, đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường, quản lý dễ dàng và hiệu quả hơn, chi phí đào tạo thấp và tính minh bạch được cải thiện
2.2 Nhu cầu thúc đẩy cải cách trong mua sắm tài sản công
Mua sắm tài sản công theo phương thức tập trung là chính sách đa mục tiêu của Chính phủ nhằm giảm chi phí, thời gian, đầu mối tổ chức đấu thầu, tăng cường tính chuyên nghiệp trong đấu thầu, góp phần tăng hiệu quả kinh tế5 trong bối cảnh thâm hụt NS và thực hiện mục tiêu kinh tế, công nghiệp trong dài hạn
Chi thực hiện nghĩa vụ nợ và chi thường xuyên chiếm phần lớn, lấn át nguồn chi đầu tư, phát triển của nước ta Từ năm 2011, các khoản chi thường xuyên được duy trì trên 70% chi NSNN; trong khi đó chi cho đầu tư phát triển từ mức trung bình 29% chi NS giai đoạn 2001-2010 đã giảm xuống còn 25,6% giai đoạn 2011-2015 và 20,1% năm 2016 (ước tính)6 Theo ước tính của Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, mức bội chi NS năm
2016 ở mức 5,64% GDP, Chính phủ gặp tình thế tiến thoái lưỡng nan khi muốn tăng đầu tư, phát triển thì cần vay nợ, sẽ làm tăng nợ công và nghĩa vụ nợ, trong khi đó mua sắm tài sản nhà nước chiếm 20% chi NS7
Đối với phương thức mua sắm phân tán, mỗi đơn vị dự toán sử dụng tài sản đều thực hiện một quy trình mua sắm như nhau đối với cùng trang thiết bị phục vụ công tác gây tốn kém về chi phí tổ chức đấu thầu, thời gian và nhân lực thực hiện Thực tế cho thấy, các đơn vị mua cùng một mặt hàng nhưng giá cả chênh lệch khá lớn, cao hơn mặt bằng chung do mua sắm nhỏ lẻ; ít bị kiểm tra, giám sát nên xảy ra mua sắm không đảm bảo tiêu chuẩn, định mức trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước Trường hợp MSTT được triển khai đối với toàn bộ các hàng hóa, dịch vụ như ở một số nước thì hàng năm dự kiến sẽ tiết kiệm chi NS
Trang 17khoảng 15%8 Bỏ qua những ý phản đối về tỷ lệ được ước lượng là chính xác hay không thì việc áp dụng MSTT rõ ràng sẽ giúp tiết kiệm NS nhà nước thông qua nhiều hình thức khác nhau
Thứ nhất, thực hiện mua sắm tập trung, từ 100.000 đầu mối mua sắm còn 170 đầu mối MSTT (02 đơn vị cấp quốc gia, 42 đầu mối thuộc các Bộ, cơ quan trung ương và 126 đầu mối của các tỉnh, thành phố) giúp giảm đáng kể chi phí trực tiếp cố định trong các cuộc đấu thầu mua sắm riêng lẻ bị trùng lắp Trong khi đó tập trung về một đầu mối giúp chuyên môn hoá, giảm các chi phí gián tiếp về đào tạo cán bộ đấu thầu tại từng đơn vị và chi phí thời gian làm việc ngoài chuyên môn của các công chức phụ trách đấu thầu kiêm nhiệm
Thứ hai, quyền lực đàm phán hợp đồng của các đơn vị đầu mối MSTT tăng khi số lượng
và giá trị tài sản được mua sắm lớn, đồng thời đối với các nhà thầu đây là cơ hội kinh doanh tốt, rủi ro thấp vì vậy các gói thầu tập trung sẽ làm gia tăng áp lực cạnh tranh giữa các nhà thầu khi đưa ra mức giá cung cấp thấp hơn, chất lượng tốt hơn
Thứ ba, tập trung hoá nhu cầu mua sắm tài sản giúp các cơ quan giám sát dễ dàng thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra tình trạng mua sắm vượt nhu cầu, định mức Bên cạnh
đó, chính phủ áp dụng MSTT với mong muốn với một quy trình rõ ràng, minh bạch hơn giúp giảm tình trạng tham nhũng, tài sản được trang bị phục vụ công tác hiện đại, đồng bộ
Xa hơn, các chính phủ xem MSTT không chỉ đơn thuần để sử dụng NS hiệu quả hơn mà còn được xem như một công cụ chính sách kinh tế và công nghiệp9 Nhu cầu của khu vực công chiếm tỷ lệ quan trọng trong tổng nhu cầu, với sức mạnh đó chính phủ có thể tạo sự ảnh hưởng, đưa ra tính hiệu về sự thay đổi của thị trường như Liên minh Châu Âu EU đặt
ra các tiêu chuẩn để thực hiện mua sắm công xanh, thống nhất thị trường nội bộ; hoặc ở
Mỹ, mua sắm công được thực hiện để hỗ trợ bảo vệ những thành phần người dân dễ bị tổn thương như dân tộc thiểu số, phụ nữ, cựu chiến binh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
8 Bộ Tài chính (2015);
9
Albano, Sparro (2010),
Trang 182.3 Tình hình và quy định chung hiện nay
Năm 2013, Việt Nam có sự thay đổi lớn hệ thống pháp luật về đấu thầu khi cho ra đời Luật Đấu thầu sửa đổi và trở thành quan sát viên của Hiệp định về Mua sắm công của WTO (2012), EVFTA với Liên minh Châu Âu
Hoạt động mua sắm tài sản công theo phương thức tập trung nằm trong phạm vi điều chỉnh chung bởi Luật Đấu thầu 2013, Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ, Thông tư số 34/2016/TT-BTC và 35/2016/TT-BTC ngày 26/02/2016 của Bộ Tài chính, Quyết định số 08/2016/QĐ-TTg ngày 26/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ Xét về phân cấp quản lý thì mô hình MSTT sẽ có đơn vị mua sắm tập trung cấp quốc gia (thuộc Bộ Tài chính và Bộ Y tế) và đơn vị mua sắm tập trung cấp bộ, ngành, địa phương
Những tài sản được thực hiện mua sắm tập trung là hàng hóa, dịch vụ cần mua sắm với số lượng lớn, chủng loại tương tự ở nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư Có
2 cách để thực hiện MSTT sau khi đơn vị MSTT tổng hợp nhu cầu và lựa chọn nhà thầu: i) đơn vị MSTT trực tiếp kí hợp đồng đối với nhà thầu được chọn (hợp đồng trực tiếp) hoặc ii) đơn vị MSTT ký văn bản thoả thuận khung với một hoặc nhiều nhà thầu được lựa chọn làm cơ sở để các đơn vị có nhu cầu mua sắm trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn (thoả thuận khung)
Ngoài Luật và các văn bản dưới luật đã được đề cập thì MSTT cấp tỉnh được điều tiết trực tiếp bởi quyết định của UBND tỉnh Đối với tỉnh Gia Lai, vào ngày 12/5/2017 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 317/QĐ-UBND quy định danh mục tài sản MSTT và phân công đơn vị thực hiện; sau đó được thay thế bởi quyết định số 798/QĐ-UBND ngày 24/10/2016 gồm 4 loại Những tài sản này được mua sắm tập trung thông qua hình thức ký thoả thuận khung do đơn vị thực hiện MSTT cấp tỉnh là Ban Dân dụng
Quy trình mua sắm TSNN theo cách thức ký thỏa thuận khung gồm 11 bước và tách quy trình này thành 3 giai đoạn chính gắn với những bên liên quan như: giai đoạn tiền đấu thầu, giai đoạn đấu thầu và giai đoạn sau lựa chọn nhà thầu Quy trình chuẩn này được áp dụng cho tất cả các trường hợp MSTT vừa phù hợp với các quy định hợp lý về mua sắm tài sản trước đây, vừa có sự thay đổi để đảm bảo các cam kết, thông lệ quốc tế
Trang 19Nguồn: Tác giả tổng hợp theo Quyết định 08/2016/QĐ-TTg ngày 26/02/2016
Lập, phê duyệt dự toán mua sắm tài sản
Tổng hợp nhu cầu MSTT
Lập, thẩm định, phê duyệt KHCLNT
Chuẩn bị lựa chọn nhà thầu
Đánh giá hồ sơ dự thầu, thương thảo thoả
thuận khung
Thẩm định, phê duyệt, công khai KQLCNT
Ký kết thoả thuận khung
Ký hợp đồng mua tài sản
Thanh toán, bàn giao, tiếp nhận tài sản, quyết toán, thanh lý hợp đồng
mua tài sản
Bảo hành, bảo trì tài sản
Trang 202.4 Kinh nghiệm quốc tế
Đối với mua sắm tài sản công theo phương thức tập trung thì đây không còn là mô hình mua sắm mới, được áp dụng rộng rãi trên thế giới và kể cả ở Việt Nam cũng đã được thực hiện thí điểm tại một số ngành, địa phương từ năm 2008 MSTT được xem là một lựa chọn chính sách có ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng hiệu quả NS trong bối cảnh các quốc gia thâm hụt và định hướng thị trường Luận văn đề cập đến kinh nghiệm của 3 quốc gia: Anh, Trung Quốc và Hàn Quốc Trong đó, Trung Quốc là quốc gia có bộ máy nhà nước tương đồng với Việt Nam; Anh, Hàn Quốc đại diện cho các quốc gia phát triển thuộc nhóm Procurement G613 và Hàn Quốc là quốc gia hỗ trợ Việt Nam xây dự hệ thống đấu thầu qua mạng
Tại Anh, mua sắm tập trung được giao cho Cơ quan dịch vụ mua sắm chính phủ (The Office of Goverment Commerce - OGC), hoạt động dựa trên nguồn phí thu từ các nhà thầu được cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho chính phủ OGC có một trụ sở chính, 4 văn phòng nằm tại các vùng khác nhau với hơn 400 nhân viên và 80% là chuyên gia mua sắm; thực hiện chức năng ra soát nhu cầu, tổng hợp, lựa chọn nhà thầu, tư vấn hỗ trợ trong việc mua sắm của các cơ quan thuộc chính phủ Hàng hoá, dịch vụ phục vụ hoạt động của các cơ quan chính phủ được chia thành hai nhóm chính là i) hàng hoá, dịch vụ có tính đặc thù, chuyên dùng, chuyên biệt và ii) hàng hoá dịch vụ thông thường: dịch vụ thông tin, nhiên liệu, năng lượng, viễn thông, văn phòng phẩm, in ấn, vận tải … Các hàng hoá thuộc nhóm
1 sẽ được mua sắm theo hình thức phân tán, tất cả hàng hoá thuộc mục 2 sẽ thực hiện MSTT bởi OGC14
Trung Quốc thực hiện MSTT từ năm 2005, đã hình thành hai hệ thống riêng biệt là Luật mua sắm chính phủ và Luật đấu thầu để có sự minh bạch, rõ ràng, không chồng chéo giữa các quy định Hoạt động mua sắm công tại Trung Quốc có sự tham gia của 03 bên: Bên Mua; Bên cung cấp; Công ty tư vấn hoặc đại lý gọi thầu Đối với các gói thầu nằm trong danh mục mua sắm tập trung, Bên mua bắt buộc uỷ thác cho đại lý gọi thầu để tổ chức đấu thầu, sau đó thì Bên mua được tiếp nhận tài sản và sử dụng Luật của Trung Quốc cũng
13
Procurement G6 là một nhóm không chính thức bao gồm Cơ quan Mua sắm Tập trung của 6 quốc gia Canada, Chile, Italy, Hàn Quốc, Anh và Hoa Kỳ định hướng xây dựng về mua sắm điện tử và thỏa thuận khung;
14
Báo Đấu thầu (2014);
Trang 21quy định các đại lý gọi thầu là những tổ chức hoạt động phi lợi nhuận, không có quan hệ lợi ích hoặc lệ thuộc với Bên mua Để trở thành đại lý gọi thầu cần đáp ứng được các các quy định như: i) có địa điểm hoạt động và nguồn vốn để hành nghề; ii) đội ngũ chuyên môn đủ năng lực để soạn thảo Hồ sơ mời thầu và tổ chức xét thầu; iii) có đội ngũ chuyên gia kinh tế, ký thuật phù hợp với các tiêu chuẩn (có thời gian công tác ít nhất 8 năm trong lĩnh vực đấu thầu, có chức danh chuyên môn bậc cao hoặc có trình độ nghiệp vụ phù hợp), các chuyên gia này sẽ được Chính phủ hoặc UBND cấp tỉnh cung cấp … để được lựa chọn thành thành viên của Uỷ ban xét thầu Luật cũng quy định các đại lý gọi thầu hình thành hệ thống giám sát và hệ thống quản lý riêng biệt, hoạt động độc lập để đưa ra các quyết định, vừa kiểm soát vừa hạn chế lẫn nhau Tương tự Việt Nam, cơ quan quản lý hoạt động mua sắm công tại Trung Quốc là Bộ tài chính ở cấp trung ương và Sở Tài chính tại cấp địa phương, các cơ quan này không được quyền thành lập các đại lý gọi thầu và không tham gia vào bất kỳ giai đoạn nào của quá trình mua sắm Bên cạnh đó hoạt động mua sắm công được đặt trực tiếp dưới sự giám sát, kiểm tra của Kiểm toán nhà nước
Tại Hàn Quốc, MSTT ở Trung ương đối với các hàng hóa có giá trị trên 1.000 USD và các công trình xây dựng trên 3.000 USD do Cơ quan mua sắm công tập trung thuộc Bộ Chiến lược và chính sách tài chính thực hiện từ năm 1999 Đối với các hàng hóa có giá trị dưới 1.000 USD và các công trình xây dựng dưới 3.000 USD các đơn vị tự mua sắm Đối với các Tổng công ty, Tập đoàn và cơ quan chính quyền địa phương có thể tự mua sắm nhưng phải thông qua hệ thống KONEPS (Korea Online E-Procurement System – Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia) Tài sản nhà nước được quản lý theo mô hình tập trung Các tài sản hành chính được giao cho Cục Quản lý tài sản quốc gia quản lý thống nhất từ khâu lập kế hoạch, mua sắm, xây dựng, xử lý tài sản Các tài sản thông thường được giao cho Công ty quốc doanh về tài sản quốc gia (là công ty nhà nước trực thuộc Cục Quản lý tài sản quốc gia) quản lý khai thác, bằng các hình thức như: cho thuê, kinh doanh…15
2.5 Khung phân tích
Khung phân tích ROCCIPI được sử dụng để tìm ra các bất cập trong thiết kế những quy phạm không phù hợp, khó tổ chức thực hiện trên thực tế và bộ tiêu chí OECD để tìm ra sự bất cập của chính sách trong quá trình thực hiện Tuy nhiên thời gian chính sách được áp
15
Nguyễn Quang Hạnh,(2012, tr 40 – 47)
Trang 22dụng chỉ được 08 tháng tính đến cuối năm 2016 theo quyết định của Chính phủ và thực tế
hoạt động MSTT tại Gia Lai chỉ được thực hiện được hai lần với số lượng, giá trị tài sản,
số đơn vị tham gia còn ít so với quy mô thực tế Vì vậy khung phân tích được sử dụng chủ
yếu là ROCCIPI của Ann Seidman, Robert Seidman, Nalin Abeysekere để tìm nguyên
nhân vì sao chính sách khó tổ chức thực hiện trong thực tế:
i) Pháp luật (Rule): pháp luật quy định không rõ ràng, hoặc chồng chéo có thể là nguyên
nhân của việc làm thế nào cũng được hoặc không biết phải làm thế nào
ii) Cơ hội (Opportunity): không có cơ hội để vi phạm thì không thể vi phạm, ngược lại, có
cơ hội để gây khó dễ, một số quan chức sẽ tận dụng để nhũng nhiễu Để điều chỉnh hành vi
của con người, chúng ta có thể tạo điều kiện cho các hành vi liên quan có thể xảy ra hoặc
làm ngược lại để hạn chế chúng
iii) Năng lực (Capacity): không có năng lực thì công việc không thể được giải quyết
iv) Truyền thông (Communication): không biết các quy định của pháp luật thì khó có thể
tuân thủ chúng
v) Lợi ích (Interest): Lợi ích của hoạt động mua sắm nói chung, MSTT nói riêng đều rất đa
dạng và nhiều tác động, vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ để cập đến lợi
ích trực tiếp nhất là tài chính, đối khu vực nhà nước là NS, đối với doanh nghiệp là doanh
thu, lợi nhuận
Trong nghiên cứu Preventing Corruption in Public Procurement năm 2016 của OECD thì
rủi ro gian lận và tham nhũng xảy ra tại mọi giai đoạn của quá trình mua sắm công Tác giả
sử dụng khung dưới đây làm cơ sở xem xét lợi ích tác động đến hành vi của các bên liên
quan (Phụ lục 1)
vi) Quy trình (Process): thiếu một quy trình chuẩn, các quyết định có thể được đưa ra theo
ý muốn chủ quan của các quan chức, hậu quả là tham nhũng, tiêu cực xảy ra Áp đặt một
quy trình là tạo hành lang dẫn dắt hành vi của con người
vii) Ý thức hệ (Ideology): niềm tin, các giá trị tổng hợp, quan điểm và thị hiếu của các chủ
thể có thể dẫn dắt hành động của mỗi cá nhân Luận văn không đánh giá tiêu chí này
Trang 23CHƯƠNG 3: PHÁT HIỆN TRỤC TRẶC 3.1 Đánh giá các quy định pháp luật liên quan đến MSTT
Phương thức MSTT nói riêng và mua sắm công Việt Nam nói chung đã có khuôn khổ pháp
lý khá hoàn thiện, tiến bộ16 và cơ bản đáp ứng được các quy định quốc tế về công khai, minh bạch, cạnh tranh17; nhưng số lượng lớn văn bản và liên quan đến nhiều lĩnh vực khiến các cơ quan khó khăn trong công tác đấu thầu, khu vực tư nhân gặp cản trở trong hiểu và tham gia đấu thầu Theo tổng hợp chưa đầy đủ, MSTT cấp địa phương tại tỉnh Gia Lai được điều chỉnh bởi 4 Luật, 3 Nghị định, 13 Thông tư, 6 Quyết định (Phụ lục 5)
3.1.1 Giai đoạn tiền đấu thầu
Giai đoạn tiền đấu thầu gồm 2 bước: lập, phê duyệt dự toán và tổng hợp nhu cầu mua sắm tập trung Lập, phê duyệt dự toán được thực hiện dựa trên nhu cầu do đơn vị sử dụng tài sản duyệt, nhu cầu này được xác định dựa trên nhu cầu thực tế và phù hợp với các quy định của pháp luật Dựa trên dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị sử dụng tài sản thực hiện đăng ký theo quy định và Ban Dân dụng thực hiện tổng hợp nhu cầu trên phạm vi tỉnh Gia Lai
3.1.1.1 Xác định nhu cầu
Nhu cầu sử dụng tài sản MSTT được xác định phụ thuộc vào danh mục tài sản thuộc MSTT và tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản Chính phủ và UBND tỉnh đã ban hành khá hoàn thiện các quy định trên nhưng còn những nội dung chưa rõ ràng và chưa sát với thực tế
i) Danh mục tài sản thuộc MSTT cấp địa phương tại tỉnh Gia Lai: UBND tỉnh đã ban hành
cụ thể trong Quyết định 317/QĐ-UBND ngày 12/5/2016 gồm 18 loại tài sản và được thay thế bởi Quyết định 798/QĐ-UBND gồm 4 loại tài sản Thuật ngữ “thiết bị điện tử tương đương” được đề cập đến trong 2 quyết định này và Quyết định 58/2015/QĐ-TTg18
của Thủ tướng Chính phủ nhưng chưa có định nghĩa, tiêu chuẩn cụ thể nên Ban Dân dụng không có cơ sở để tổng hợp nhu cầu của đơn vị sử dụng tài sản
Trang 24Tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản: một số nội dung chưa sát với thực tế nhưng đã được quy định trong Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008, Quyết định số 58/2015/QĐ-TTg, Thông tư số 19/2016/TT-BTC19
về số lượng tối đa, giá tiền tối đa và
UBND tỉnh quy định cụ thể vế số lượng, chủng loại thiết bị thuộc phạm vi quản lý
Bảng 1: Tổng hợp tiêu chuẩn, định mức phòng làm việc của các cơ quan, tổ chức, đơn
Giá tối đa
SL tối đa
Giá tối đa
(Nguồn: Tổng hợp theo Quyết định 58/2015/QĐ-TTg ngày 17/11/2015)
Hiện nay, bộ máy vi tính để bàn là máy thiết bị thiết yếu nhưng không được đề cập, nếu tính vào “Các thiết bị khác” thì không đủ để phụ vụ công tác khi so với quy mô phòng làm việc hiện nay Ngoài ra khi thực hiện MSTT, tất cả đơn vị sử dụng tài sản nằm trong danh
19
Thông tư số 19/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 01/02/2016 Hướng dẫn nội dung Quyết định 58/2015/QĐ-TTg quy định tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng máy móc, thiết bị của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập
Hộp 1: Ý kiến về Danh mục MSTT
Theo một số cán bộ công tác trong các Sở, đơn vị đã đăng ký mua máy tính bảng thấp hơn mức giá tối đa được quy định nhằm mục đích tiện lợi trong quá trình công tác xa hoặc yêu cầu cấp bách nhưng không được phê duyệt
Đại diện Sở Tài chính và Ban Dân dụng cho rằng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về
“thiết bị điện tử tương đương" và chưa đánh giá được sự cần thiết, hiệu quả sử dụng, sự tương thích với các thiết của máy tính bảng nên tạp thời chưa đưa vào danh sách mua sắm tài sản
(Nguồn: Kết quả phỏng vấn thực tế của tác giả)
Trang 25mục đều được mua, sử dụng cùng một loại tài sản với mức giá ít thay đổi trong khi đó nhu cầu sử dụng và định mức cho phép giữa các cấp có sự chênh lệch Trong khi đó, UBND tỉnh chưa ban hành quy định về số lượng, chủng loại thiết bị thuộc phạm quy quả lý, vì vậy các quy định này vừa thiếu, vừa chưa sát thực tế
Đáng lưu ý trong Quyết định 798/QĐ-UBND đã có điểm bổ sung về mua sắm tài sản thuộc danh mục MSTT trong trường hợp đột xuất, cấp bách phát sinh “được cấp có thẩm quyền chấp nhận cho mua sắm” Nhưng hình thức thực hiện cụ thể là sau khi được phê duyệt thì các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp sử dụng tài sản là đơn vị trực tiếp thực hiện mua sắm hay tập hợp theo các đợt để thực hiện mua sắm tập trung Vì vậy mặc dù đã có quy định nhưng các đơn vị chưa rõ sẽ cách thức thực hện cụ thể
Hộp 2: Trường hợp đột xuất, cấp bách
Vào giữa tháng 9/2016, do ảnh hưởng của Bão số 4 gây mưa lũ kéo dài Các huyện Mang Yang, Đăk Pơ bị thiệt hại về người và của, trong đó có tài sản thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị
Để khắc phục hậu quả và phục vụ công tác, nhưng đã qua đợt 1 MSTT vào tháng 8/2016 nên hai huyện đã trình UBND tỉnh cho phép thực hiện mua sắm tài sản Vào tháng 10/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định 798/QĐ-UBND
Tính đến thời điểm 31/12/2016, hai huyện chưa thực hiện được mua sắm tài sản bổ sung
vì chưa có hướng dẫn cụ thể và các đơn vị thực hiện bổ sung sang nhu cầu năm 2017
(Nguồn: Kết quả phỏng vấn thực tế của tác giả)
Trang 263.1.1.2 Đăng ký và tổng hợp nhu cầu
Để kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng tài sản trong lần đầu thực hiện MSTT, UBND tỉnh yêu cầu thực hiện trong thời gian ngắn gây khó khăn trong cách thức triển khai thực hiện của Ban dân dụng và các đơn vị có nhu cầu mua sắm tài sản
i) Thời gian thực hiện: ngày 10/4/2016 Quyết định số 08/2016/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành; ngày 12/5/2016, UBND tỉnh Gia Lai ban hành quyết định 317/QĐ-UBND công bố danh mục các tài sản MSTT cấp địa phương và đơn vị thực hiện nhiệm vụ MSTT trên địa bàn tỉnh Theo quyết định này, trong 08 ngày các đơn vị sử dụng tài sản thực hiện đăng lý; Ban Dân dụng tổng hợp nhu cầu tối đa trong 10 ngày tiếp theo Với thời gian thực hiện quá ngắn, việc bỏ sót và không đánh giá chính xác nhu cầu là không thể ii)tránh khỏi Trong thực tế, kết quả chỉ có 16 đơn vị thực hiện đăng ký với 7/18 mặt hàng quy định
Nguồn: Tác giả tổng hợp
ii) Cách thức thực hiện không thống nhất khi UBND tỉnh, Sở Tài chính, Ban Dân dụng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên các đơn vị sử dụng tài sản: tất cả đơn vị, tổ chức trực tiếp đăng ký với đơn vị thực hiện MSTT hay đăng ký qua đơn vị chủ quản, sau đó chuyển về đơn vị MSTT 20
20 Địa bàn tỉnh trong lĩnh vực giáo dục có gần 500 trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, các trung tâm đào tạo; lĩnh vực y tế có hơn trung tâm y tế, bệnh viện, các trung tâm chuyên môn khác, chưa kể các đơn vị trực thuộc các sở ngành khác và 222 đơn vị hành chính cấp xã.
Ban hành QĐ317 Kết thúc đăng ký
Hoàn thành tổng hợp
Ký thoả thuận khung
Sơ đồ 2: Thời gian đăng ký và tổng hợp nhu cầu
Trang 273.1.2 Giai đoạn Đấu thầu
Khi thực hiện phương án MSTT thì hình thức lựa chọn nhà thầu luôn luôn là đấu thầu rộng rãi21 và đơn vị mua sắm tập trung thuê tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp thực hiện việc lựa chọn nhà thầu22 Vì vậy đề tài tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật dựa vào phân tích quan điểm của Ban Dân dụng - đơn vị trực tiếp thực hiện đấu thầu và một số đại diện khu vực tư nhân
i) Ban Dân dụng
Theo nhận xét của công chức tại các lĩnh vực hoạt động khác nhau đều cho rằng, quy định về đấu thầu là một trong những hệ thống quy định phức tạp nhất và nếu không nắm rõ sẽ rất dễ mắc phạm.23 Đối với các cán bộ đấu thầu thuộc Ban Dân dụng cho rằng, hiện tại cũng chỉ nắm được những quy định về quy trình thực hiện, những quy định chi tiết cụ thể cần phải liên tục tra cứu văn bản để tránh sai sót Chịu áp lực MSTT trong thời gian ngắn, yêu cầu thực hiện đúng quy định và tâm lý lo ngại vướng mắc quy phạm pháp luật trong khi chưa nắm rõ các quy định, đơn vị thực hiện MSTT có xu hướng chờ đợi hướng dẫn cụ thể, chỉ thị, ý kiến chỉ đạo của cấp trên hoặc làm theo các địa phương khác đã thực hiện trước
Để có sự thay đổi đồng bộ các quy định theo Luật Đấu thầu 2013, Bộ KH-ĐT đã ban hành các thông tư quy định cách thức thực hiện từng bước cụ thể Thông tư 05/2015/TT- BKHĐT thay thế thông tư 05/2010/TT-BKH về chi tiết lập hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa, ban hành thêm chỉ dẫn, thay thế Tiêu chuẩn đánh giá năng lực, kinh nghiệm nhà thầu, thay đổi các biểu mẫu
Tương tự Thông tư 19/2015/TT-BKHĐT thay thế Thông tư 08 và 21/2010/TT-BKH về báo cáo thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu cũng thêm nội dung mới về quy định đánh giá, biểu mẫu báo cáo, chia thành từng bước nhỏ như thẩm định hồ sơ mời quan tâm/hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ yêu cầu, các danh mục tài liệu điều chỉnh
Trang 28Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC thay thế Thông tư 17/2010/TT-BKH và 20/2010/TTLT-BKH-BTC về cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu qua mạng đã đưa ra quy định chặt chẽ, yêu cầu khung thời gian cụ thể đối với tất cả các gói thầu MSTT đảm bảo công khai thông tin chính xác, kịp thời, công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và Báo Đấu thầu, thay vì trước đây chỉ thực hiện thì điểm qua mạng và quy định công khai những thông tin trên thông tin đại chúng đối với hạn mức gói thầu nhất định
ii) Các nhà thầu và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đấu thầu cùng chung ý kiến cho rằng hệ thống quy định đấu thầu phức tạp cũng là một lý do khiến họ từ chối tham gia dự thầu hoặc tranh luận với cơ quan chức năng
Với gói thầu mua sắm hàng hóa, các nhà thầu muốn nâng cao năng lực và khả năng thắng thầu được liên danh với nhà thầu khác; nhưng Thông tư 05/2015/TT-BKHĐT đã thay đổi các quy định, thêm các yêu cầu về thỏa thuận liên danh Đối với các nhà thầu liên danh phải có văn bản thoả thuận giữa các thành viên, ghi rõ trách nhiệm của thành viên đứng đầu liên danh, trách nhiệm chung và trách nhiệm riêng của từng thành viên trong liên danh,
có cơ chế đảm bảo trách nhiệm trong suốt quá trình đấu thầu, tuy nhiên không quy định cụ thể tỷ lệ % của từng thành viên trong liên danh bao gồm có nhà thầu đứng đầu liên danh và các nhà thầu khác trong liên danh Về đánh giá năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu liên danh dựa trên đánh giá tổng năng lực, kinh nghiệm và riêng lẻ đối với các nhà thầu thành viên tương ứng với phần công việc cụ thể
Theo các quy định24, các thành viên trong liên danh đều được xác định là nhà thầu chính và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng phần việc mình chịu trách nhiệm Vì vậy đối với những trường hợp liên doanh giữa doanh nghiệp quy mô vừa và lớn với các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ gặp hạn chế về năng lực thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả xét thầu của toàn bộ liên danh
Đối với doanh nghiệp có hoạt động tư vấn đầu thầu cho rằng những quy định về Chứng chỉ hành nghề đấu thầu chưa được ban hành, thực hiện đầy đủ đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp này Tại Khoản 2 Điều 16 Luật Đấu thầu 2013 quy định cá nhân tham gia trực tiếp vào việc đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất thuộc tổ
24
Khoản 35 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013 và Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 37/20155/NĐ-CP