1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu bằng chứng thực nghiệm tại việt nam

108 128 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN Trình bày kết quả kỳ vọng lý thuyết về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu của các công ty ni

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



LÂM VŨ PHI

ẢNH HƯỞNG CỦA Ý KIẾN KIỂM TOÁN KHÔNG PHẢI DẠNG CHẤP NHẬN TOÀN PHẦN ĐẾN THỊ GIÁ CỔ PHIẾU-BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS TRẦN THỊ GIANG TÂN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 3

Tác giả xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán

không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu– Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tác giả, với sự hỗ trợ từ

người hướng dẫn khoa học là PGS.TS.Trần Thị Giang Tân Nội dung, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và dựa theo số liệu thu thập được Các tài liệu, đoạn trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn

và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tác giả

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lâm Vũ Phi

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BẢNG

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1. Lý do chọn đề tài 1

2.Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.Phương pháp nghiên cứu 3

5.Đóng góp mới của nghiên cứu 3

6.Bố cục của bài nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN TÁC ĐỘNG CỦA Ý KIẾN KTV ĐẾN THỊ GIÁ CỔ PHIẾU 6

1.1. Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tính bền vững của lợi nhuận 6

1.2.Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến việc ra quyết định của nhà đầu tư 7

1.3.Các nghiên cứu về phản ứng của thị trường thông qua thị giá cổ phiếu trước các loại ý kiến kiểm toán 10

1.4.Các nghiên cứu tại Việt Nam 15

1.5.Khoảng trống trong nghiên cứu 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18

2.1.Tổng quan về thị giá cổ phiếu, lợi nhuận bất thường, 18

2.1.1 Thị giá cổ phiếu 18

2.1.2 Lợi nhuận bất thường 18

2.2.Tổng quan về báo cáo kiểm toán và ý kiến của KTV 22

Trang 5

2.3.Lý thuyết nền cho nghiên cứu 29

2.3.1. Lý thuyết Ủy nhiệm 29

2.3.2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng 30

2.3.3. Lý thuyết thị trường tài chính hiệu quả 32

2.4.Mô hình nghiên cứu lựa chọn 34

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

3.1.Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 37

3.1.1. Phương pháp nghiên cứu 37

3.1.2. Quy trình nghiên cứu 38

3.2.Mô hình nghiên cứu 40

3.3.Giả thiết nghiên cứu, lựa chọn mẫu và thu thập dữ liệu nghiên cứu 44

3.3.1. Giả thuyết nghiên cứu 44

3.3.2. Lựa chọn mẫu 44

3.3.3. Thu thập dữ liệu 45

3.4.Phương pháp kiểm định 46

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49

4.1.Khái quát thị trường chứng khoán Việt Nam 49

4.2.Kết quả thống kê mô tả 51

4.3.Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần và thị giá cổ phiếu 58

4.3.1.Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh đối với thị giá cổ phiếu 59

4.3.2. Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán ngoại trừ đối với thị giá cổ phiếu 61

4.3.3.Ảnh hưởng ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu các công ty niêm yết tại Việt Nam 65

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 70

5.1.Kết luận và gợi ý chính sách 70

Trang 6

5.2.Hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 73 5.2.1.Hạn chế của bài nghiên cứu 73 5.2.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

APT Lý thuyết định giá kinh doanh chệnh lệch

AAR Lợi nhuận bất thường trung bình

BCTC Báo cáo tài chính

CAAR Lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế

CAPM Mô hình định giá tài sản vốn

HNX Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội

HOSE Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

ISA Chuẩn mực kiểm toán quốc tế

KTV Kiểm toán viên

OLS Phương pháp bình thương bé nhất

QUA Ý kiến kiểm toán ngoại trừ

TTCK Thị trường chứng khoán

VSA Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

UQM Ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phận với đoạn nhấn mạnh

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Dòng thời gian sự kiện của nghiên cứu 46

Hình 4.1 Biểu đồ AAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến ngoại trừ và chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 63 Hình 4.2 Lợi nhuận bất thường trung bình trong cửa sổ sự kiện 68

Trang 8

Bảng 4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu……… ……… 51 Bảng 4.2 Số lượng ý kiến kiểm toán sử dụng trong nghiên cứu 52 Bảng 4.3 Bảng tổng hợp sự kiện và ngày sự kiện trong giai đoạn nghiên cứu 53 Bảng 4.4 Tổng hợp hệ số alpha, beta của từng cổ phiếu trong giai đoạn nghiên cứu58

Bảng 4.5 Bảng tổng hợp AAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 56 Bảng 4.6 Kết quả T-test cho AAR từng ngày trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 59 Bảng 4.7 CAAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 60 Bảng 4.8 Kết quả T-test cho CAAR của tất cả các công ty trong tổng cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 60 Bảng 4.9 Kết quả T-test cho CAAR từng cặp ngày đối xứng xung quanh ngày sự kiện đối với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 61 Bảng 4.10 Bảng tổng hợp giá trị (AAR) từng ngày trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiêm toán ngoại trừ 62 Bảng 4.11 Kết quả T-test cho AAR từng ngày trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiêm toán ngoại trừ 63 Bảng 4.12 CAAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiêm toán ngoại trừ 64 Bảng 4.13 Kết quả T-test cho CAAR của tất cả các công ty trong tổng cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiêm toán ngoại trừ 64 Bảng 4.14 Kết quả T-test cho CAAR từng cặp ngày đối xứng xung quanh ngày sự kiện đối với ý kiến kiêm toán ngoại trừ 64 Bảng 4.15 Bảng tổng hợp AAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến không phải chấp nhận toàn phần 65 Bảng 4.16 Kết quả T-test cho AAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến không phải chấp nhận toàn phần 66 Bảng 4.17 CAAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến không phải chấp nhận toàn phần 67

Trang 9

Bảng 4.19 Kết quả T-test cho CAAR từng cặp ngày đối xứng xung quanh ngày sự kiện đối với ý kiến không phải chấp nhận toàn phần 67

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với mục tiêu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế với nhiều thành phần kinh tế, cùng với chủ trương đa dạng hóa các hình thức sở hữu Thông tin về tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp được trình bày trên các báo cáo tài chính không chỉ là cơ sở cho cơ quan nhà nước quản lý, đánh giá và kiểm tra mà còn là cơ

sở cho việc ra quyết định kinh tế của các đối tượng liên quan

Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập và trình bày theo chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành, phản ảnh thông tin tài chính, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên trên thực tế, có khoảng cách giữa mong đợi của nhà quản lý doanh nghiệp và những người sử dụng báo cáo tài chính về tính trung thực và độ tin cậy của báo cáo tài chính do luôn có xung đột lợi ích giữa hai đối tượng này Đó chính là lý do ra đời của kiểm toán độc lập nhằm nâng cao độ tin cậy, tính trung thực và hợp lý của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính Kiểm toán trở thành cầu nối giữa các bên, giúp đem lại niềm tin cho người sử dụng báo cáo tài chính, và giúp cho hoạt động kinh tế trở nên minh bạch hơn

Trong nền kinh tế hiện đại, cùng với sự phát triển của thị trường vốn, việc công bố các thông tin tài chính của các công ty niêm yết phải tuân thủ các quy định của luật pháp, điều này là do thông tin chỉ ảnh hưởng đến công ty đó mà còn ảnh hưởng đến các nhà đầu tư, chủ nợ và người sử dụng BCTC khác Chính vì thế, theo quy định hiện hành tại Việt Nam, các công ty niêm yết phải công bố thông tin tình hình tài chính hoạt động của đơn vị theo yêu cầu chuẩn mực, chế độ kế toán và BCTC phải được kiểm toán nhằm nâng cao độ tin cậy, tính trung thực, hợp lý về tình hình tài chính Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu như nghiên cứu của Chow, C.W and Rice (1982), Dodd và cộng sự (1984), Chen và cộng sự (2000) , Ali và

Trang 11

cộng sự (2008), Bahram Soltani (2000), Ittonen (2012), Ianniello & Galloppo (2015)… Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh rằng nếu ý kiến của KTV không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần, thị giá cổ phiếu sẽ bị sụt giảm Điều này, giúp thấy rõ tầm quan trọng của ý kiến KTV nói riêng, thông tin trên báo cáo kiểm toán nói chung và từ đó cũng có thể giúp các nhà phân tích, đầu tư dự báo sự thay đổi thị giá cổ phiếu Đây là một chủ đề có tầm quan trọng trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên cho đến nay, tại Việt Nam, có khá ít nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa ý kiển KTV trên báo cáo kiểm toán với thị giá cổ phiếu Chính vì vậy, việc xem xét tác động, ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu – một trong thước đo để đo lường giá trị doanh nghiệp là vấn đề cần thiết Vì thế, tác giả chọn

đề tài: “Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu- bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” nhằm xem

xét giá trị thông tin của báo cáo kiểm toán

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của ý kiến kiểm toán mà cụ thể là ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu, một loại phản ứng liên quan đến việc ra quyết định kinh tế của nhà đầu tư tại Việt Nam Cụ thể, mục tiêu của nghiên cứu là đo lường phản ứng của nhà đầu tư đối với từng loại ý kiến kiểm toán (theo quy định của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành) thông qua thị giá cổ phiếu Mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa bằng các câu hỏi nghiên cứu sau:

Thứ nhất, thị giá cổ phiếu thay đổi như thế nào trước ý kiến không phải dạng chấp nhận toàn phần

Thứ hai, thị giá cổ phiếu thay đổi như thế nào trước ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là thị giá cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và ý kiến của KTV trên báo cáo kiểm toán của các công ty này

Phạm vi nghiên cứu là các công ty niêm yết tại Việt Nam trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2012 -2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, trong đó sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện (event study method) theo mô hình cơ sở thị trường (market based model) nhằm xem xét sự thay đổi thị giá cổ phiếu, thông qua việc đo lường lợi nhuận bất thường của các công ty xung quanh ngày công bố báo cáo tài chính năm được kiểm toán bởi công ty kiểm toán được chấp thuận Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu chủ yếu là dữ liệu sơ cấp, là những thông tin về báo cáo tài chính được kiểm toán của công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Và thị giá cổ phiếu của các công ty được xác định trong một khoản thời gian nhất định xung quanh ngày công bố báo cáo tài chính được kiểm toán Dữ liệu này sẽ được xử lý thủ công thông qua sự trợ giúp của bảng tính excel Sau đó được phân tích và xử lý dưới sự trợ giúp của phần mềm thống kê SPSS Giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm định bằng phương pháp kiểm định tham số T-test

5 Đóng góp mới của nghiên cứu

Về mặt lý luận:

Nghiên cứu góp phần giúp cho người đọc có tổng quan về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu, lợi nhuận bất thường thông qua việc hệ thống hóa và trình bày kết quả nghiên cứu trước đây về giá trị của báo cáo kiểm toán và

Trang 13

mối quan hệ cũng như tác động của ý kiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu, hay phản ứng của thị trường đối với ý kiến kiểm toán

Sử dụng phương pháp nghiên cứu khá phổ biến trong lĩnh vực tài chính, kế toán để xem xét phản ứng của thị trường trước thông tin được công bố rộng rãi - phương pháp nghiên cứu sự kiện, qua đó giới thiệu người đọc về phương pháp này trong nghiên cứu khoa học

Về mặt thực tiễn:

Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của ý kiến KTV đối với thị giá cổ phiếu tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính có nhận thức về giá trị của báo cáo kiểm toán như nguồn thông tin hữu ích trong việc ra quyết định kinh tế của họ, cũng như giúp họ có được ước đoán hợp lý, đáng tin cậy về phản ứng của thị trường dựa trên thông tin trong báo cáo kiểm toán

Ngoài ra, đây cũng là một trong số ít những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam xem xét mối quan hệ giữa các loại ý kiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Việt Nam thông qua đo lường lợi nhuận bất thường dựa trên mô hình nghiên cứu sự kiện trên cơ sở thị trường với việc sử dụng dữ liệu thứ cấp, cập nhật giai đoạn mới nhất 2012-2015 vì vậy kết quả của nghiên cứu phản ánh đúng thực tế theo số liệu của các công ty chứ không dựa trên quan điểm đánh giá của bất kỳ đối tượng nào

6 Bố cục của bài nghiên cứu

Cấu trúc của bài nghiên cứu gồm 5 chương:

PHẦN MỞ ĐẦU

Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Nêu lý do chọn đề tài; mục tiêu

và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa của nghiên cứu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN

Trang 14

Chương này tổng hợp các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của ý kiến trên báo cáo kiểm toán đến phản ứng của thị trường chứng khoán, nghiên cứu về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến quyết định đầu tư; mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán với lợi nhuận bất thường của cổ phiếu

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Trình bày cơ sở lý thuyết về báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính, các dạng

ý kiến kiểm toán, các lý thuyết nền cho nghiên cứu Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn

mô hình nghiên cứu

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu gồm: quy trình nghiên cứu; giả thiết nghiên cứu, điều kiện và quy trình chọn mẫu, cách thu thập nguồn dữ liệu đầu vào, cách xác định giá trị các biến và các phương pháp kiểm định được sử dụng

để phục vụ việc nghiên cứu

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Trình bày kết quả kỳ vọng lý thuyết về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu của các công ty niêm yết, sau đó tiến hành so sánh và thảo luận về kết quả kỳ vọng lý thuyết với kết quả đạt được từ mô hình

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Trình bày tóm tắt các kết quả mà nghiên cứu đạt được cùng với các hạn chế của nghiên cứu và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN TÁC

ĐỘNG CỦA Ý KIẾN KTV ĐẾN THỊ GIÁ CỔ PHIẾU

Báo cáo kiểm toán là nguồn thông tin quan trọng đối với thị trường tài chính, giá trị báo cáo kiểm toán nói chung cũng như ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu nói riêng là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia khác nhau, tại những thời điểm khác nhau còn nhiều sự khác biệt, thậm chí là mâu thuẫn Có hai hướng nghiên cứu chính liên quan đến ảnh hưởng này: một là nghiên cứu theo hướng cơ sở thị trường (market based) và hướng nghiên cứu thực nghiệm (experimental study) (Craswell -1985) Nghiên cứu trên cơ sở thị trường tập trung vào ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu của các công ty khi báo cáo kiểm toán được công bố rộng rãi Trong khi đó, nghiên cứu thực nghiệm quan tâm đến việc xem xét

“ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến các mức độ tín nhiệm và hiệu quả của việc quản lý ” (Hatherly và công sự, 1991) Trong loại nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu sẽ dựa trên xét đoán chủ quan về những tình huống giả định, vì vậy, báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán trong những nghiên cứu này mang tính giả định hơn là thực tiễn Nhiều nhà nghiên cứu như Estes and Reimer (1977, 1979); Estes (1982), Libby (1979a, b), Houghton (1983), Firth (1979, 1980), Gul (1987, 1990), Robertson (1988), Milleret al.(1993), Bessellet al.(2003), Guillamon (2003), Linet al.(2003) and Mong and Roebuck (2005) cũng thực hiện nhiều nghiên cứu dựa trên phương pháp thực nghiệm này Các dòng nghiên cứu liên quan có thể kể ra bao gồm:

1.1 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tính bền vững của lợi

nhuận

Tính bền vững trong lợi nhuận có thể hiểu là khả năng duy trì lợi nhuận trong tương lai của doanh nghiệp, đó chính là khả năng lợi nhuận hiện tại có thể giúp dự đoán lợi nhuận trong năm tiếp theo (Barth và Hutton, 2004; Jonas và Blanchet, 2000)

Trang 16

Nghiên cứu gần đầy nhất về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán trong việc dự đoán, đánh giá tính bền vững trong lợi nhuận của doanh nghiệp là nghiên cứu của Vichitsarawong và Pornupatham (2015) thực hiện tại Italia Mục tiêu của nghiên cứu này xem xét vai trò của ý kiến kiểm toán trong việc truyền tín hiệu về thông tin lợi nhuận của doanh nghiệp (tức có chứa đựng thông tin gắn với chất lượng của lợi nhuận hay không), cụ thể là xem xét liệu ý kiến kiểm toán có mối quan hệ với tính bền vững trong lợi nhuận hay không, nếu có thì mối quan hệ đó như thế nào Với dữ liệu là thông tin về ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Italia từ 2004-2008, bằng phương pháp phân tích hồi quy và thống kê mô tả, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: những công ty nhận ý kiến kiểm toán dạng không phải dạng chấp nhận toàn phần thường có sự bền vững về lợi nhuận thấp hơn các công ty nhận được ý kiến chấp nhận toàn phần Cụ thể, công ty nhận ý kiến ngoại trừ hay ý kiến

từ chối có sự bền vững trong lợi nhuận thấp hơn công ty nhận ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh Tuy nhiên, kết quả không cho thấy sự khác biệt trong mức độ bền vững của lợi nhuận giữa hai loại ý kiến ngoại trừ và từ chối

1.2 Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến việc ra quyết định của nhà đầu tư

Firth (1980) sử dụng bảng câu hỏi để xem xét liệu quyết định cho vay của ngân hàng và phản ứng của nhà phân tích tín dụng có bị ảnh hưởng bởi ý kiến kiểm toán dạng không phải là chấp nhận toàn phần hay không Bảng câu hỏi bao gồm báo cáo tài chính của một công ty giả định kèm theo báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần hoặc một trong các dạng ý kiến không phải chấp nhận toàn phần Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, nếu ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần, đặc biệt liên quan đến khả năng hoạt động liên tục (do không chắc chắn trong việc đánh giá tài sản) có ảnh hưởng rõ rệt đến quyết định cho vay của ngân hàng và nhà phân tích tín dụng Ngoài ra, theo Firth, báo cáo kiểm toán cần cung cấp thông tin chi tiết liên quan đến những hạn chế này để người đọc đánh giá được những rủi ro đáng kể khi ra quyết định có liên quan

Trang 17

Với phương pháp, mục đích nghiên cứu tương tự, Robertson (1988) thực hiện nghiên cứu nhằm xác định xem liệu loại ý kiến không chấp nhận toàn phần có ảnh hưởng đến phản ứng của nhà phân tích tài chính hay không Các nhà phân tích tài chính được gửi một bộ báo cáo tài chính của một công ty kèm theo báo cáo kiểm toán dạng không phải chấp nhận toàn phần, và họ được yêu cầu đưa ra ý kiến của họ

về các câu hỏi: (1) Họ có thấy rằng báo cáo kiểm toán gia tăng độ tin cậy của báo cáo tài chính hay không?; (2) Họ có dựa trên những thông tin này khi ra quyết định đầu tư tài chính hay không? (3) Họ có cảm thấy những thông tin này đáp ứng yêu cầu của họ khi thực hiện phân tích hay không? Kết quả chỉ ra rằng, đối với các nhà phân tích tài chính không có sự khác biệt nào giữa các loại ý kiến không phải dạng chấp nhận toàn phần Tuy nhiên Robertson (1988) cũng chỉ ra rằng “ý kiến dạng ngoại trừ được xếp hạng cao nhất về việc mang lại độ tin cậy, thỏa mãn và nó dễ hiểu hơn những ý kiến khác”

Houghton (1983) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để xác định sự ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đối với quá trình ra quyết định, cũng như quyết định cho vay của các ngân hàng ở Úc Mục tiêu nghiên cứu là xem xét liệu có sự khác biệt nào về nội dung thông tin giữa những loại báo cáo kiểm toán khác nhau hay không, chấp nhận toàn phần và không phải dạng chấp nhận toàn phần, có sự khác biệt giữa việc có và không có báo cáo kiểm toán hay không Tác giả thiết kế bộ thông tin bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập, lưu chuyển tiền tệ, bản thuyết minh và bộ hồ sơ xin vay ngân hàng Bảng câu hỏi được gửi cho ba nhóm, nhóm thứ nhất kèm theo báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần, nhóm thứ hai kèm theo báo cáo kiểm toán dạng không phải chấp nhận toàn phần và nhóm thứ

ba không có báo cáo kiểm toán kèm theo Kết quả cho thấy không có ảnh hưởng đáng kể nào của trường hợp này – báo cáo chấp nhận toàn phần, dạng không phải chấp nhận toàn phần và không có báo cáo- đối với quyết định có cho vay hay không cũng như số tiền cho vay là bao nhiêu Ông cho rằng kết quả này là do đối tượng phản hồi không có nhận thức đầy đủ về vai trò của báo cáo kiểm toán, thông tin trong báo cáo kiểm toán không quan trọng đối với ngân hàng, từ ngữ trong báo cáo

Trang 18

bị lạm dụng; những thông tin khác đối với nhóm phản hồi quan trọng hơn báo cáo kiểm toán

Gul (1990) điều tra ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán dạng ý kiến nhận toàn phần và dạng ý kiến ngoại trừ đối với thị giá cổ phiếu ước tính, bằng phương pháp thực nghiệm Ông gửi cho nhân viên tín dụng ngân hàng bộ báo cáo tài chính của công ty kèm theo báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần hoặc bộ báo cáo tài chính kèm theo báo cáo kiểm toán ngoại trừ Đối tượng phản hồi được yêu cầu đưa

ra giá trị thích hợp đối với thị giá cổ phiếu của công ty Tác giả sử dụng phương pháp ANOVA để phân tích dữ liệu và kết quả chỉ ra rằng, báo cáo kiểm toán dạng ngoại trừ có ảnh hưởng tiêu cực đến thị giá cổ phiếu

Bessell et al (2003) thực hiện nghiên cứu thực nghiệm để xem xét ý kiến kiểm toán viên liên quan giả định hoạt động liên tục trong loại báo cáo kiểm toán điều chỉnh (modified audit report) ở Úc Các tác giả tiến hành thu thập ý kiến của

500 đối tượng là thành viên Viện tài chính ngân hàng thông qua bảng câu hỏi kèm theo các dạng báo cáo kiểm toán (chấp nhận toàn phần, không phải chấp nhận toàn phần, chấp nhận toàn phần có đoạn mở rộng) Kết quả nghiên cứu cho thấy “vấn

đề nhấn mạnh” và “ ý kiến ngoại trừ” vẫn chứa đựng các thông tin ngay cả khi công

ty không có khó khăn tài chính Tuy nhiên, nếu một công ty ở trong tình trạng tài chính khó khăn, thì báo cáo kiểm toán dạng không phải chấp nhận toàn phần cũng không làm gia tăng đáng kể nhận thức về rủi ro hoặc việc ra quyết định

Guillamon (2003) cũng tiến hành nghiên cứu thực nghiệm điều tra tầm quan trọng của báo cáo kiểm toán trong việc ra quyết định đầu tư của công ty môi giới và quyết định cho vay của tổ chức tín dụng Hay nói cách khác, mục tiêu nghiên cứu là điều tra ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đối với quyết định đầu tư và tài chính Nhà nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi gởi đến các đối tượng khảo sát để thu thập thông tin về việc khi ra quyết định đầu tư họ sẽ xem xét những nguồn thông tin nào Kết quả chỉ ra rằng báo cáo kiểm toán là nguồn thông tin hữu ích trong việc ra quyết định đầu tư và tài chính

Trang 19

Lin et al.(2003), dùng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm điều tra phản ứng của người sử dụng đối với báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần ở Trung Quốc Nhà đầu tư và nhân viên tín dụng được hỏi liệu quyết định có

bị ảnh hưởng bởi báo cáo tài chính kèm theo báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần và dạng chấp nhận từng phần hay không, Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định của nhà đầu tư và nhân viên tín dụng, và không có sự khác biệt đáng kể nào giữa các loại ý kiến trong nhóm này

1.3 Các nghiên cứu về phản ứng của thị trường thông qua thị giá cổ phiếu trước các loại ý kiến kiểm toán

Baskin (1972) sử dụng mô hình thị trường để khảo sát ý kiến kiểm toán dạng ngoại trừ nhằm tìm hiểu bản chất tác động của dạng ý kiến ngoại trừ đến quyết định của nhà đầu tư Ông kết luận có ít sự ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán ngoại trừ đến quyết định của nhà đầu tư và báo cáo kiểm toán dạng ngoại trừ có giá trị về thông tin thấp

Với mục tiêu và phương pháp nghiên cứu tương tự, Firth (1978) điều tra ảnh hưởng của ý kiến trên báo cáo kiểm toán dạng không phải chấp nhận toàn phần đối với thị giá cổ phiếu (tại ngày phát hành báo cáo) và đối với quyết định đầu tư Mẫu nghiên cứu gồm 247 công ty có báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận toàn phần tại Anh Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy thị giá cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi loại ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần ngay khi chúng được công bố, và báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận toàn phần chứa đựng thông tin quan trọng ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Các nhà đầu tư phản ứng khác nhau đối với mổi loại báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận toàn phần

Dodd et al (1984) điều tra liệu báo cáo kiểm toán dạng tùy thuộc vào (subject to) và từ chối đưa ra ý kiến có ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu hay không Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhiều công ty có lợi nhuận bất thường (abnormal returns)

âm thường sẽ có ý kiến kiểm toán dạng không phải chấp nhận toàn phần, mức độ lợi nhuận bất thường khác nhau đối với từng loại ý kiến không phải dạng chấp nhận

Trang 20

toàn phần Kết quả cung cấp ít bằng chứng về việc thị giá cổ phiếu bị ảnh hưởng nếu báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận toàn phần được công bố ra công chúng Nói cách khác, báo cáo kiểm toán dạng tùy thuôc vào và từ chối đưa ra ý kiến ảnh hưởng thị giá cổ phiếu lá khá ít Kết quả nghiên cứu này không có nghĩa là báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phận không có ý nghĩa hay không cần ý kiến của kiểm toán

Ameen et al (1994) dùng phương pháp nghiên cứu sự kiện để điều tra liệu

ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần có ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu của các công ty quy mô nhỏ thuộc thị trường chứng khoán phi tập trung ở

Mỹ Nghiên cứu sử dụng 177 báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần được phát hành trong giai đoạn 1974-1988 Ameen sử dụng mô hình thị trường để tính toán lợi nhuận bất thường, sau đó tính lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế Kết quả nghiên cứu cho thấy thị trường phản ứng tiêu cực trong thời gian trước ngày công bố báo cáo không phải dạng chấp nhận toàn phần, nhưng thị trường không phản ứng trong cửa sổ sự kiện

Chen et al (2000) tiến hành nghiên cứu phản ứng của thị trường đối với ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần (modified audit opinion) tại thị trường chứng khoán Thượng Hải Mục tiêu nghiên cứu là điều tra ảnh hưởng của ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải chấp nhận toàn phần đối với thị giá

cổ phiếu trong giai đoạn 1995-1997 Mẫu nghiên cứu gồm 844 quan sát (748 ý kiến chấp nhận toàn phần và 96 là ý kiến ngược lại) Kết quả nghiên cứu chỉ ra phản ứng của thị trường là tiêu cực, thị giá chứng khoán của những công ty nhận ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toán phần thường bị giảm Kết quả cũng chỉ rằng không

có sự khác biệt đáng kể của phản ứng thị trường đối với ý kiến chấp nhận toàn phần

và ý kiển kiểm soát có đoạn giải thích mở rộng (đoạn nhấn mạnh)

Với mục tiêu nghiên cứu tương tự, xem xét mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thị giá cổ phiếu của các công ty niêm yết tại thị trường Pháp, Soltani (2000)

đã thực hiện nghiên cứu sự kiện với mẫu gồm 543 công ty trong giai đoạn từ năm 1986-1995, thông qua đo lường lợi nhuận bất thường với cửa sổ sự kiện là 15 ngày

Trang 21

trước và sau khi công bố báo cáo kiểm toán Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có lợi nhuận bất thường âm đáng kể đối với những công ty nhận báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần và báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toàn phận có đoạn nhấn mạnh, điều này cũng cho thấy rằng báo cáo kiểm toán có giá trị thông tin đối với nhà đầu tư

Martinez et al.(2004) nghiên cứu phản ứng của thị trường vốn Tây Ban Nha đối với báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần, thông qua phương pháp nghiên cứu sự kiện họ xem xét mối quan hệ giữa ý kiến không phải dạng chấp nhận toàn phần với thị giá cổ phiếu trong giai đoạn 1992-1995 Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ nào giữa thị giá cổ phiếu và ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần

Al-Fayoumi (2007) tiến hành nghiên cứu điều tra phản ứng của thị trường đối với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần ở thị trường Jordan

Cụ thể là thay đổi thị giá cổ phiếu và lợi nhuận của những 92 công ty nhận ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại Jordan giai đoạn 2000-2005 Bằng nghiên cứu sự kiện, Al-Fayoumi đo lường phản ứng của thị trường thông qua việc tính toán lợi nhuận bất thường, lợi nhuận bất thường trung bình và lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế với cửa sổ sự kiện

là khoản thời gian 7 ngày trước và sau khi công bố báo cáo tài chính trên Sở giao dịch chứng khoán Và giai đoạn 100 ngày trước khi bắt đầu ngày của cửa sổ sự kiện được xác định là cửa sổ ước lượng để tính lợi nhuận kỳ vọng Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần không có ảnh hưởng đáng kể, và có ảnh hưởng không rõ ràng đối với thị giá cổ phiếu và lợi nhuận tại ngày công bố báo cáo tài chính và trong suốt giai đoạn sự kiện Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy người sử dụng báo cáo kiểm toán không hiểu hết ý nghĩa và giá trị của báo cáo kiểm toán

Czernkowski và cộng sự (2010) cũng kiểm định phản ứng của thị trường trước những ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thượng Hải, sau khi Trung Quốc đưa ra những thay đổi

Trang 22

quan trọng mang tính pháp lý nhằm củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào chức năng của kiểm toán Mẫu nghiên cứu gồm 3,218 quan sát từ năm 1999 đến năm 2003 Nghiên cứu sử dụng và điều chỉnh mô hình phản ứng thị trường được dùng trong nghiên cứu trước đó của Chen và cộng sự (2000) bằng cách thêm các biến giải thích cho đặc thù tổ chức ở Trung Quốc và kiểm soát thông tin gây nhiễu đến thị trường Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng chứng minh ý kiến kiểm toán có giá trị thông tin ở Trung Quốc vì không thấy được bức tranh tổng thể về phản ứng thị trường trước ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần

Giuseppe Ianniello Giuseppe Galloppo (2015) điều tra phản ứng của nhà đầu tư ở Italia đối với loại ý kiến kiểm tóan dạng không phải chấp nhận toàn phần

và ý kiến dạng chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh liên quan đến khả năng hoạt động liên tục và tình hình tài chính kém lành mạnh Galloppo (2015) sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện, tập trung vào cửa sổ sự kiện ngắn (1 ngày trước

và sau sự kiện, 3, 5 ngày sau sự kiện), để xác định xem thị trường chứng khoán có phản ứng ngay khi báo cáo kiểm toán được công bố hay không thông qua việc tính toán lợi nhuận bất thường của cổ phiếu Nghiên cứu này dựa trên giả định về thị trường hiệu quả của Fama (1996) với ngày sự kiện là ngày mà kiểm toán viên ký báo cáo kiểm toán, cửa sổ sự kiện là 20 ngày trước và sau ngày sự kiện, cửa sổ ước lượng là 252 ngày Với mẫu quan sát là 97 công ty từ mẫu quan sát ban đầu gồm 1,125 công ty Galloppo (2015) thu thập dữ liệu về ý kiến kiểm toán và thị giá cổ phiếu của 97 công ty này từ năm 2007-2010 tính toán lợi nhuận bất thường, lợi nhuận bất thường trung bình của mẫu quan sát, và dùng kiểm định Z để kiểm định giả thuyết Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, báo cáo kiểm toán chứa đựng thông tin có giá trị cho nhà đầu tư Cụ thể, ý kiến kiểm dạng không phải chấp nhận toàn phần có tác động tiêu cực đến thị giá cổ phiếu, ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh có ảnh hưởng tích cực đến thị giá cổ phiếu

Với mục tiêu nghiên cứu tượng tự là xem xét tác động của ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu, nghiên cứu của Anulasiri và cộng sự (2015) thực hiện tại thị trường Colombo, SriLanka Bằng

Trang 23

phương pháp nghiên cứu sự kiện trên cơ sở thị trường với cửa sổ sự kiện là 4 ngày trước và sau khi công bố báo cáo kiểm toán, với mẫu cuối cùng là 26 quan sát từ 87 báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần ban đầu trong giai đoạn từ năm 2010-2014, kết quả T-test cho thấy rằng báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần có tác động tiêu cực đến thị giá cổ phiếu, tuy nhiên ảnh hưởng này là không đáng kể Vì vậy cũng có thể kết luận rằng báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần không mang giá trị thông tin

Cũng bằng phương pháp nghiên cứu sự kiện với cửa sổ sự kiện là 5 ngày trước và sau khi công bố báo cáo kiểm toán, Moradi và công sự (2011) thực hiện nghiên cứu điều tra tác động của ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu tại Iran với mẫu quan sát là 103 báo cáo kiểm toán trong giai đoạn từ 2005-2009 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần không có ảnh hưởng đáng kể đến thị giá cổ phiếu Hay nói cách khác, không có giá trị thông tin trong báo cáo kiểm toán không chấp nhận toàn phần tại Iran, người sử dụng báo cáo kiểm toán không hiểu hết giá trị và ý nghĩa của báo cáo kiểm toán

Từ các kết quả của những nghiên cứu trên cho thấy, có sự khác biệt về ảnh hưởng ý kiến kiểm toán đến các quyết định kinh tế thông qua sự thay đổi của thị giá

cổ phiếu Một số nghiên cứu đưa ra kết quả là ý kiến kiểm toán không ảnh hưởng đến quyết định của các nhóm lợi ích, trong khi đó rất nhiều nghiên cứu khác chứng minh rằng ý kiến của kiểm toán ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu, từ đó tác động đến quyết định của nhà đầu tư, một số nghiên cứu còn chỉ ra sự khác biệt trong nhận thức của người sử dụng và mức độ tin tưởng của họ đối với báo cáo kiểm toán

Nguyên nhân của vấn đề này được cho là do: (i) một số nghiên cứu thực nghiệm không xuất phát từ thực tiễn mà chủ yếu dựa trên lý thuyết, hoặc bỏ qua các yếu tố như thời gian, hoàn cảnh cụ thể và những tác động khác đến nhận thức của người sử dụng BCTC; (ii) đối với các nghiên cứu dựa trên cơ sở thị trường thì không thể tách biệt được thông tin về yếu tố không chắc chắn trong báo cáo tài chính so với thông tin tương tự trong báo cáo kiểm toán Ngoài ra còn có nguyên

Trang 24

nhân là những tác động gây nhiễu của các thông tin khác được công bố cùng thời điểm với báo cáo kiểm toán và do sự khó khăn trong việc xác định thời điểm mà thị trường nhận được báo cáo kiểm toán

Tuy nhiên, theo Firth (1978) , việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trên cơ

sở thị trường trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến phản ứng của thị trường chứng khoán là hữu ích, ông cho rằng lợi nhuận và cổ tức được công

bố trước khi phát hành báo cáo thường niên vài tuần, vì vậy những thông tin này đã tác động đến thị giá cổ phiếu trước giai đoạn thực hiện nghiên cứu

Có thể nói rằng, đóng góp cơ bản của nghiên cứu này là việc áp dụng mô hình nghiên cứu sự kiện xem xét tác động của ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu tại thị trường Việt Nam Cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về giá trị của báo cáo kiểm toán từ một nước đang phát triển ở Châu Á-Việt Nam

1.4 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các chủ đề liên quan đến vai trò, giá trị thông tin của báo cáo kiểm toán đối với người sử dụng báo cáo tài chính cũng được một số nhà nghiên cứu quan tâm, một số công trình nghiên cứu có thể kể đến như sau:

Nguyễn Văn Hương (2010), Trần Khánh Lâm (2011), Nguyễn Thiên Tú (2012), Hà Xuân Thạch (2013), Tạ Duy Khánh (2015), Dương Quốc Quang (2015), Huỳnh Thị Thiên Thảo (2015)

Các nhà nghiên cứu tại Việt Nam bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu các chủ đề liên quan đến báo cáo kiểm toán nói chung nhằm tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng của báo cáo kiểm toán (Nguyễn Văn Hương (2010), Trần Khánh Lâm (2011)); nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo kiểm toán (Hà Xuân Thạch (2013), Dương Quốc Quang (2015)) Xem xét mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tình bền vững của thu nhập (Huỳnh Thị Thiên Thảo, 2015)

Trang 25

1.5 Khoảng trống trong nghiên cứu

Thông qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới, có thể thấy rằng, giá trị thông tin trên báo cáo kiểm toán thông qua việc xem xét mối quan

hệ giữa ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần và thị giá cố phiếu là một trong những chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Vì vậy, có khá nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này, trong đó phương pháp nghiên cứu sự kiện là một trong cách thức tiếp cận được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu trước

Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm

và có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến báo cáo kiểm toán Kết quả nghiên cứu cho thấy tính hữu ích của báo cáo kiểm toán, các nhân tố nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán nói chung, chất lượng thông tin trên báo cáo kiểm toán nói riêng Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tính bền vững của thu nhập Tuy nhiên, chủ đề liên quan đến mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu- chủ đề

mà từ lâu đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện trên thế giới như tác giả đã trình bày trên, chưa có một công trình nghiên cứu trước đây được thực hiện tại Việt Nam

Chính vì vậy, tác giả nhận thấy cần có một nghiên cứu về mối quan hệ giữa

ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phận và thị giá cổ phiếu thông qua việc đo lường lợi nhuận bất thường của cổ phiếu của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay Nghiên cứu này góp phần kiểm định vai trò, giá trị của báo cáo kiểm toán tại Việt Nam, nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính trong việc dự đoán về thị giá cổ phiếu

Kết luận chương 1

Các nghiên cứu về vai trò của báo cáo kiểm toán trên thới giới được chia làm hai hướng Nghiên cứu thực nghiệm thông qua kiểm tra vai trò của ý kiến kiểm toán như nguồn thông tin trong quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính Và hướng nghiên cứu thị trường thông qua việc xem xét mối quan hệ

Trang 26

giữa ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần và thị giá cổ phiếu thông qua đo lường lợi nhuận bất thường và đây là mục tiêu nghiên cứu mà tác giả hướng đến Kết quả nghiên cứu có nhiều khác biệt, đa số nghiên cứu cho thấy báo cáo kiểm toán có giá trị thông tin, một số ít nghiên cứu chỉ ra báo cáo kiểm toán không có giá trị thông tin vì nhà đầu tư chưa quan tâm và chưa hiểu hết giá trị của

nó Thông qua việc trình bày tổng quan về các nghiên cứu có liên quan trên thế giới

và tại Việt Nam, phân tích những mặt đạt được và những hạn chế của những nghiên cứu này, tác giả thấy cần có nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phận và thị giá cổ phiếu thông qua việc đo lường lợi nhuận bất thường của cổ phiếu của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay

Trang 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Tổng quan về thị giá cổ phiếu, lợi nhuận bất thường,

2.1.1 Thị giá cổ phiếu

Thị giá cổ phiếu hay còn gọi là giá trị thị trường của cổ phiếu được hiểu là mức giá mà người mua và người bán xác lập khi thực hiện giao dịch cổ phiếu đó Thị giá cổ phiếu cũng chính là thước đo giá trị thị trường của doanh nghiệp Thông thường giá trị thị trường của một doanh nghiệp được quyết định bởi sự kỳ vọng của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp đó Về nguyên tắc, nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, và tiềm năng tăng trưởng cao thì giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ tăng, tức giá trị thị trường của doanh nghiệp tăng và ngược lại Vì vậy, thị giá cổ phiếu là một trong những thước đo giá trị doanh nghiệp

Giá trị thị trường của doanh nghiệp bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó

có sự ảnh hưởng của những thông tin mà doanh nghiệp công bố ra ngoài thị trường

Để có thể lượng hóa ảnh hưởng của những thông tin này đến giá trị doanh nghiệp đã

có nhiều nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện như nghiên cứu về ảnh hưởng của thông tin trả cổ tức đến giá chứng khoán của James Dolly (1993), thông tin thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệp đến giá chứng khoán của Có thể thấy rằng, việc đo lường ảnh hưởng của một thông tin công bố đến giá trị doanh nghiệp được đo lường thông qua thị giá cổ phiếu Để đánh giá phản ứng của thị giá cổ phiếu đối với những thông tin này, các yếu tố có liên quan đến thị giá cổ phiếu sẽ được tính toán và đo lường Đó là những vấn đề liên quan đến thị giá cổ phiếu như sau:

2.1.2 Lợi nhuận bất thường

Đối với dạng nghiên cứu sự kiện nói chung, nghiên cứu này nói riêng, xem xét ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đối với thị giá cổ phiếu, cần phải tính được lợi nhuận bất thường

Theo Fama và cộng sự (1970), lợi nhuận bất thường (Abnormal return) là

sự chênh lệch của thị giá cổ phiếu so với mức giá thông thường do ảnh hưởng bởi

Trang 28

những thông tin trên BCTC và thông tin không được công bố Nói cách khác, lợi nhuận bất thường là sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng Có nhiều kỹ thuật tính lợi nhuận bất thường do sự đa dạng trong việc sử dụng các mô hình để dự báo khoản lợi nhuận thông thường quanh ngày xảy ra sự kiện Lợi nhuận bất thường có thể được ước tính dựa trên: Mô hình lợi nhuận bình quân (Mean return model), mô hình lợi nhuận điều chỉnh theo thị trường (Market return adjusted model), mô hình định giá tài sản (CAPM), mô hình thị trường (Market model) Trong đó mô hình thị trường được sử dụng phổ biến để ước tính lợi nhuận bất thường, được xây dựng dựa trên lợi nhuận thực tế của các chỉ số thị trường và sự tương quan giữa chỉ số thị giá cổ phiếu với chỉ số thị trường Công thức tính lợi nhuận bất thường của một cổ phiếu là:

Lợi nhuận bất thường = Lợi nhuận thực tế - Lợi nhuận kỳ vọng

𝐴𝑅𝑖,𝑡 = 𝑅𝑖,𝑡 − 𝐸𝑅𝑖,𝑡

Lợi nhuận thực tế (Actual return):

Lợi nhuận thực tế của một loại cổ phiếu chính là số tiền lãi hoặc lổ mà nhà đầu tư sẽ nhận được so với giá trị đầu tư ban đầu mà họ bỏ ra, khi họ bán cổ phiếu đang nắm giữ Lợi nhuận thực tế được tính bằng công thức:

𝑹𝒊,𝒕 =𝑷𝒊,𝒕+ 𝑫𝒊,𝒕 − 𝑷𝒊,𝒕−𝟏

𝑷𝒊,𝒕−𝟏 = 𝐥𝐧 (

𝑷𝒊,𝒕

𝑷𝒊,𝒕−𝟏 ) Trong đó: 𝑅𝑖,𝑡 lợi nhuận thực tế cổ phiếu i vào ngày t, 𝑃𝑖,𝑡 – giá đóng cửa cổ phiếu I vào ngày t, 𝐷𝑖,𝑡 – cổ tức cổ phiếu I vào ngày t, 𝑃𝑖,𝑡−1 – giá đóng cửa cổ phiếu I và ngày t-1 Tuy nhiên do sự khác nhau về thời gian công bố cổ tức, nên cổ tức giả định bằng không khi tính lợi nhuận thực tế của cổ phiếu

Lợi nhuận kỳ vọng (Expected return):

Lợi nhuận kỳ vọng được định nghĩa là lợi nhuận mà nhà đầu tư ước tính nhận được trong điều kiện không có sự kiện nào xảy ra (MacKinlay, 1997), trong nghiên cứu này lợi nhuận kỳ vọng được hiểu là trong điều kiện chưa công bố báo cáo tài chính được kiểm toán

Trang 29

Theo MacKinlay (1997), có rất nhiều hướng tiếp cận để tính lợi nhuận kỳ vọng của từng loại chứng khoán Các phương pháp này có thể phân loại đơn giản thành hai nhóm: thống kê và kinh tế Các mô hình tính lợi nhuận kỳ vọng thuộc nhóm thống kê xuất phát từ giả định thống kê liên quan đến sự thay đổi của suất sinh lợi tài sản không phụ thuộc vào bất kỳ lý luận kinh tế nào Ngược lại, các mô hình tính lợi nhuận kỳ vọng thuộc nhóm kinh tế dựa trên giả định liên quan đến hành vi của nhà đầu tư và không dựa trên giả định thống kê Tuy nhiên, việc sử dụng mô hình kinh tế trong thực tế phải gắn liền với giả định về thống kê Lợi ích tiềm tàng của mô hình kinh tế không phải là không cần giả thuyết thống kê, mà là việc tính toán chính xác hơn suất sinh lợi của tài sản Đối với những mô hình thuộc nhóm thống kê học, giả thuyết đưa ra là suất sinh lợi tài sản có phân phối chuẩn, độc lập và xác định được theo thời gian

Có hai mô hình xác định suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản trên cơ sở giả định thống kê (Mackinlay, 1997) Thứ nhất: mô hình suất sinh lợi trung bình hằng

số - mô hình được xem là đơn giản nhất, Brown and Warner (1980, 1985) chỉ ra rằng mô hình này cho kết quả tương tự với nhưng mô hình phức tạp hơn Giống như tên gọi của nó, mô hình suất sinh lợi trung bình hằng số với giả định là suất sinh lợi trung bình của các loại cổ phiếu là không thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này trong kiểm định thống kê là nó làm cho phương sai của suất sinh lợi cao hơn ảnh hưởng đến việc đưa ra kết luận Mô hình thứ hai xác định suất sinh lợi kỳ vọng đó là mô hình thị trường, đây là mô hình thống kê về mối tương quan giữa suất sinh lợi của bất kỳ chứng khoán nào với danh mục đầu tư thị trường

Mô hình này cải thiện được hạn chế của mô hình suất sinh lợi trung bình hằng số bằng cách lọai bỏ phần suất sinh lợi liên quan đến sự thay đổi của suất sinh lợi thị trường từ đó phương sai của lợi nhuận bất thường giảm xuống Lợi ích của mô hình thị trường phụ thuộc vào R2 hồi quy mô hình thị trường, R2 càng lớn phương sai lợi nhuận bất thường càng giảm

Với mô hình thị trường, định lợi nhuận kỳ vọng của từng loại cổ phiếu được

xác định bằng công thức sau:

Trang 30

𝑬𝑹𝒊,𝒕 = 𝜶𝒊+ 𝜷𝒊 (𝑹𝒎,𝒕)

Trong đó: 𝐸𝑅𝑖,𝑡 – Lợi nhuận kỳ vọng cổ phiếu i tại ngày t; 𝛼𝑖 và 𝛽𝑖 là các

hệ số ước lượng bằng phương pháp hồi quy OLS với khoản thời gian 3 tháng (100 ngày giao dịch) với lợi nhuận tính hàng ngày theo khung thời gian ước tính (cửa sổ ước tính – estimation window); 𝑅𝑚,𝑡 – lợi nhuận của thị trường vào ngày t được tính bằng cách lấy logarit tự nhiện của chỉ số VNINDEX hoặc HNXINDEX ngày t chia cho ngày t-1 Hay được tính bằng công thức sau:

𝑹𝒎,𝒕 =𝑴𝑷𝒊,𝒕− 𝑴𝑷𝒊,𝒕−𝟏

𝑴𝑷𝒊,𝒕−𝟏 Trong đó: 𝑀𝑃𝑖,𝑡 – Chỉ số giá thị trường VNINDEX hoặc HNXINDEX của

cổ phiếu i vào ngày t, 𝑀𝑃𝑖,𝑡−1 - chỉ số giá thị trường VNINDEX hoặc HNXINDEX của cổ phiếu i vào ngày t-1

Lợi nhuận bất thường trung bình (Average abnormal return):

Lợi nhuận bất thường trung bình được tính nhằm loại bỏ ảnh hưởng của các yếu tố gây nhiễu ảnh hưởng đến sự thay đổi thị giá cổ phiếu ngoài ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán Và được tính như sau:

Trang 31

Lợi nhuận bất thường trung bình tích lũy (The cumulative average abnormal return):

Theo Dissabandara (2010), lợi nhuận bất thường xảy ra khi có tình trạng thông tin bị rỏ rỉ, đó là việc một số ít đối tượng trên thị trường biết trước thông tin

mà trước khi thông tin này được công bố rộng rãi một cách chính thức Nếu trường hợp này xảy ra đối với việc công bố báo cáo kiểm toán thì chỉ số lợi nhuận bất thường sẽ kém thuyết phục hơn trong đo lường tác động của ý kiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu Vì vậy, lợi nhuận trung bình bất thường tích lũy (CAAR) sẽ là chỉ tiêu đáng tin cậy CAAR nó sẽ phản ánh toàn bộ thay đổi trong thị giá cổ phiếu của tất cả các công ty trong cửa sổ sự kiện và được dùng để xác định ảnh hưởng tổng thể của ý kiến kiểm toán đối với thị giá cổ phiếu trong suốt cửa sổ sự kiện, và được tính như sau:

kỳ vọng và lợi nhuận bất thường của cổ phiếu

2.2 Tổng quan về báo cáo kiểm toán và ý kiến của KTV

2.2.1 Khái niệm và vai trò của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), “Kiểm toán là việc kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các báo cáo tài chính”

Trang 32

“Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng về một thông tin nhằm xác định và báo cáo về sự phù hợp của thông tin này với các tiêu chuẩn được thiết lập Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập.” (Arens & cộng sự, 2013)

Như vậy có thể thấy rằng, kết thúc quá trình kiểm toán là việc kiểm toán viên phải trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính được kiểm toán cũng như báo cáo về những việc mà kiểm toán viên đã thực hiện và những vấn đề này cần được trình bày trên một văn bản để cho các đối tượng có liên quan sử dụng Nó dùng để xác nhận liệu báo cáo tài chính có được lập dựa trên khuôn khổ, chuẩn mực được thiết lập hay không

Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán (Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

Mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính là làm tăng độ tin cậy của báo cáo tài chính cho người sử dụng báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không Đối với hầu hết các khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được

lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với

khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không Một cuộc kiểm toán được thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan sẽ giúp kiểm toán viên hình thành ý kiến kiểm toán đó

Ý kiến kiểm toán đó của kiểm toán viên sẽ được thể hiện trên một văn bản được gọi là báo cáo kiểm toán “Báo cáo kiểm toán là văn bản do kiểm toán viên lập

Trang 33

và công bố để thể hiện ý kiến chính thức của mình về báo cáo tài chính của một đơn

vị đã được kiểm toán” Như vậy, báo cáo kiểm toán là sản phẩm của một cuộc kiểm toán, là tài liệu trình bày các kết luận sau cùng về báo cáo tài chính được kiểm toán, nên nó phải đúc kết toàn bộ công việc mà họ tiến hành Hơn nữa, báo cáo kiểm toán còn được cung cấp do xã hội và những đối tượng có liên quan, nó là nguồn thông tin đáng tin cậy cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính trong việc đưa ra các quyết định kinh tế

Ngoài ra, báo cáo kiểm toán là bộ báo cáo không thể thiếu kèm theo báo cáo tài chính năm đối với các công ty niêm yết khi công bố thông tin tài chính lên

Sở Giao dịch chứng khoán

2.2.2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán

Với mục tiêu hợp tác và hội nhập quốc tế, việc giao thương quốc tế làm đa dạng hoạt động kinh tế tài chính ở nước ta, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO và các tổ chức khác trên thế giới và khu vực Chúng ta tiếp thu chọn lọc và học hỏi kinh nghiệm từ quốc tế trên nhiều lĩnh vực, trong đó có kiểm toán và kế toán Hướng đến mục tiêu hòa hợp và hội tụ với quốc tế trong lĩnh vực này, Bộ tài chính ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam dựa trên chuẩn mực kiểm toán quốc tế vào ngày 06/12/2012 có hiệu lực ngày 01/01/2014 Vì vậy, tác giả sẽ trình bày các loại ý kiến của báo cáo kiểm toán theo hai giai đoạn của sự thay đổi hệ thống chuẩn mực kiểm toán:

Theo hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành theo Quyết định

số 120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 9 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính (hết liệu lực từ ngày 01/01/2014):

Theo đoạn 34 VSA 700 trước đây, căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến về báo cáo tài chính, như sau:

- Ý kiến chấp nhận toàn phần;

- Ý kiến chấp nhận từng phần;

- Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến);

Trang 34

- Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược);

Theo đó, ý kiến chấp nhận toàn phần được đưa ra khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành (hoặc được chấp nhận) Ý kiến chấp nhận toàn phần cũng có hàm ý rằng tất cả các thay đổi về nguyên tắc kế toán

và các tác động của chúng đã được xem xét, đánh giá một cách đầy đủ và đã được đơn vị nêu rõ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính

Trường hợp kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chính chỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị, nếu không bị ảnh hưởng bởi yếu tố tuỳ thuộc (hoặc ngoại trừ) mà kiểm toán viên đã nêu ra trong báo cáo kiểm toán Và trong trường hợp kiểm toán viên cho rằng không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần, và những phần không chấp nhận do không đồng ý với Giám đốc hay do công việc kiểm toán bị giới hạn, là quan trọng nhưng không liên quan tới một số lượng lớn các khoản mục tới mức có

thể dẫn đến “ý kiến từ chối, hoặc ý kiến không chấp nhận” Ý kiến chấp nhận

từng phần còn được thể hiện bởi thuật ngữ “ngoại trừ” ảnh hưởng của các vấn đề không được chấp nhận Ngoài ra trường hợp phát sinh yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn, như các vấn đề liên quan đến tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc một khoản doanh thu có thể không được công nhận làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty, và những sự kiện này ảnh hưởng trọng

yếu đến báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần

dạng tùy thuộc vào

Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến) được đưa ra trong trường hợp hậu quả của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục tới mức mà kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán để có thể cho ý kiến về báo cáo tài chính

Trang 35

Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược) được đưa ra trong trường hợp các vấn đề không thống nhất với Giám đốc là quan trọng hoặc liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục đến mức độ mà kiểm toán viên cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính

Như vậy, có thể thấy rằng kiểm toán viên không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần trong trường hợp có thể xảy ra một trong các tình huống có thể trọng yếu đế báo cáo tài chính như:

Phạm vi công việc kiểm toán bị hạn chế;

Không nhất trí với đơn vị được kiểm toán về việc lựa chọn và

áp dụng chuẩn mực và chế độ kế toán, hoặc sự không phù hợp của các thông tin ghi trong báo cáo tài chính và thuyết minh báo cáo tài chính

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành (Ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014)

Theo hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành, quy định về ý kiến của báo cáo kiểm toán được trình bày trong 3 chuẩn mực, đó là:

- VSA 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

- VSA 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần

- VSA 706: Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Đoạn 17 chuẩn mực VSA 700, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần khi kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phụ hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng

Kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705 trong các trường hợp:

Trang 36

- Dựa trên bằng chứng kiểm toán thu thập được, kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, vẫn còn sai sót trọng yếu; hoặc

- Kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp

để đưa ra kết luận rằng báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, không còn sai sót trọng yếu

Cụ thể:

Trường hợp, dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ thích hợp đã thu thập được, kiểm toán viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại có ảnh hưởng trọng yếu nhưng:

- Không lan tỏa đối với báo cáo tài chính thì kiểm toán viên trình bày ý kiến

kiểm toán ngoại trừ;

- Lan tỏa đối với báo cáo tài chính thì kiểm toán viên trình bày ý kiến kiểm

toán trái ngược;

Kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng:

- Không lan tỏa đối với báo cáo tài chính thì kiểm toán viên trình bày ý kiến

kiểm toán ngoại trừ;

- Lan tỏa đối với báo cáo tài chính thì kiểm toán viên từ chối đưa ra ý kiến;

Trong một số rất ít trường hợp liên quan đến nhiều yếu tố không chắc chắn, kiểm toán viên phải từ chối đưa ra ý kiến khi mặc dù đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến từng yếu tố không chắc chắn riêng biệt nhưng kiểm toán viên vẫn kết luận rằng không thể đưa ra ý kiến kiểm toán về báo

Trang 37

cáo tài chính do những ảnh hưởng tương tác có thể có của những yếu tố không chắc chắn và những ảnh hưởng lũy kế của những yếu tố này đến báo cáo tài chính

Ngoài ra, theo VSA 706, nếu kiểm toán viên thấy cần phải thu hút sự chú ý của người sử dụng đối với một vấn đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong báo cáo tài chính, mà theo xét đoán của kiểm toán viên, vấn đề đó là đặc biệt quan trọng

để người sử dụng hiểu được báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải trình bày thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” trong báo cáo kiểm toán, để thể hiện là kiểm toán viên đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp cho thấy vấn đề đó không bị sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính Vấn đề nhấn mạnh này không làm thay đổi ý kiến kiểm toán và nó có thể có trong tất cả các loại ý kiến kiểm toán Những vấn đề này có thể là:

- Sự không chắc chắn liên quan tới kết quả trong tương lai của các vụ kiện tụng hoặc các quyết định của cơ quan quản lý;

- Việc áp dụng một chuẩn mực kế toán mới trước ngày có hiệu lực (nếu được

phép) mà việc áp dụng đó có ảnh hưởng lan tỏa đối với báo cáo tài chính;

- Một biến cố lớn đã ảnh hưởng hoặc tiếp tục có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của đơn vị

Nếu kiểm toán viên thấy cần phải trao đổi về một vấn đề khác ngoài các vấn đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong báo cáo tài chính, mà theo xét đoán của kiểm toán viên, vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn

về cuộc kiểm toán, về trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc về báo cáo kiểm toán, đồng thời pháp luật và các quy định cũng không cấm việc này thì kiểm toán viên phải trình bày về vấn đề đó trong báo cáo kiểm toán, với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc “Các vấn đề khác” Cụ thể:

- Có điểm không nhất quán trọng yếu giữa các thông tin khác trong tài liệu có báo cáo tài chính được kiểm toán, khi việc sửa đổi thông tin khác là cần thiết nhưng Ban giám đốc không đồng ý sửa đổi

Trang 38

- Báo cáo tài chính có thông tin so sánh là dữ liệu tương ứng hoặc báo cáo tài chính so sánh và kiểm toám viên muốn tham chiếu đén ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên tiền nhiệm

- Những thủ tục của kiểm toán viên đối với sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc

kỳ kế toán chỉ giới hạn trong phần sửa đổi của báo cáo tài chính như mô tả trong thuyết minh báo cáo tài chính có liên quan

2.3 Lý thuyết nền cho nghiên cứu

2.3.1 Lý thuyết Ủy nhiệm

Lý thuyết ủy nhiệm nghiên cứu về mối quan hệ giữa các chủ sở hữu và nhà quản lý do Jensen và Meckling (1976); Jensen (1986) khởi xướng Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng khi lợi ích của nhà quản lý và chủ sở hữu công ty là khác nhau, các nhà quản lý có thể vì mục tiêu lợi ích của mình mà đưa ra các quyết định có lợi cho bản thân họ chứ không phải vì lợi ích của công ty, chủ sở hữu

Lý thuyết ủy nhiệm quan tâm giải quyết hai vấn đề chính có thể phát sinh trong mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người đại diện Vấn đề thứ nhất là sự mâu thuẫn về mục tiêu của chủ sở hữu và người đại diện và chủ sở hữu gặp khó khăn hay phải tốn kém trong việc kiểm tra giám sát hành động của người đại diện Vấn

đề ở đây là chủ sở hữu không thể biết được những hành vi của người đại diện có phù hợp hay không Vấn đề thứ hai là việc chia sẽ rủi ro khi chử sở hữu và người đại diện có quan điểm khác nhàu về rủi ro Và vì vậy, họ sẽ có những ứng xử và hành động khác nhau đối với rủi ro đó

Do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, nên về mặt lý thuyết

và thực tiễn xuất hiện vấn đề khi một người hoạt động vì lợi ích của người khác, thì

về bản chất người đại diện luôn có xu hướng tư lợi hơn là hành động vì lợi ích của người chủ sở hữu và cổ đông,

Nguyên nhân chính của vấn đề trên là do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và điều hành tạo ra thông tin bất cân xứng, người đại diện có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin nên dễ dàng thực hiện hành vi tư lợi, hơn nữa, việc giám sát hành động

Trang 39

của người đại diện sẽ tốn kém, khó khăn và phức tạp Vì vậy, để hạn chế vấn đề này, phát sinh một khoản chi phí đại diện để giám sát, hướng người đại diện hành động theo những nhiệm vụ được giao, vì lợi ích của chủ sở hữu và cổ đông như động lực về vật chất tinh thần Đặt biệt, giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề này chính là thuê bên thứ ba độc lập giám sát và đánh giá hoạt động của người đại diện,

đó là sử dụng kết quả của kiểm toán độc lập

Chính vì vậy, kiểm toán nói chung, báo cáo kiểm toán nói riêng không chỉ

là nguồn thông tin quan trọng đối với thị trường tài chính, nó còn có ý nghĩa trong hoạt động quản lý, giám sát; cũng như giảm chi phí đại diện và cung cấp thông tin tài chính cho các nhà đầu tư, người dùng với sự đảm bảo không có sai sót nào liên quan đến những thông tin đó (Wallace, 2004)

Đối với những công ty niêm yết, vấn đề giữa người sở hữu-các cổ đông và người đại diện càng thể hiện rõ nét hơn Chính vì vậy, báo cáo tài chính của công ty niêm yết bắt buộc phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập được chấp thuận trước khi công bố và trình lên Sở giao dịch chứng khoán Vì thế, báo cáo kiểm toán trở thành một phần không thể thiếu kèm theo báo cáo tài chính khi công

bố cho cổ đông, nhà đầu tư và các bên có liên quan

2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng xuất hiện lần đầu tiên trong nghiên cứu của Akerlof (1970) Theo đó, vấn đề bất cân xứng thông tin sẽ phát sinh khi các đối tượng trong thị trường nắm giữ lượng thông tin khác nhau Điều này sẽ dẫn đến một

số đối tượng tham gia giao dịch sẽ có lợi thế hơn nếu nắm giữ nhiều thông tin

Theo các nhà kinh tế học, bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên dẫn tới trả giá thấp hơn giá trị thực của hàng hóa Hậu quả là người bán không còn động lực để sản xuất hàng hóa có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm trung bình trên thị trường Sau cùng, bất cân xứng thông tin thậm chí còn có thể dẫn đến tình trạng trên thị trường chỉ còn lại những

Trang 40

sản phẩm có chất lượng kém, hàng hóa tốt bị loại bỏ dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch (adverse selection) cho cả hai bên Bất cân xứng thông tin còn gây ra rủi ro đạo đức (moral hazard) và độc quyền về thông tin (information monopoly)

Thông tin luôn được coi là một loại “tài sản” rất có giá trị đối với tất cả các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK) Sở hữu thông tin nhanh, chính xác

sẽ là một lợi thế rất lớn khi tham gia đầu tư trên thị trường Tuy nhiên, không phải

ai tham gia TTCK cũng có cơ hội được sở hữu một lượng thông tin như nhau cả về

số lượng hay chất lượng Điều này xuất phát chủ yếu từ việc các doanh nghiệp không minh bạch trong công bố thông tin (CBTT), dẫn đến một nhóm người được tiếp cận thông tin nhanh hơn, chính xác hơn và tất nhiên sẽ thu được nhiều lợi ích hơn so với những nhà đầu tư thông thường trong giao dịch chứng khoán Đây được gọi là hiện tượng bất cân xứng thông tin trên TTCK

Bất cân xứng thông tin trên TTCK vẫn luôn tồn tại, nguyên nhân có thể đến

từ nhiều phía như: doanh nghiệp không chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời; có hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặc không được phép công khai (thường phổ biến trong các phiên đấu giá cổ phiếu hoặc các đợt phát hành thêm cổ phiếu); doanh nghiệp cung cấp thông tin không đồng nhất với các đối tượng nhà đầu tư khác nhau (ví dụ như ưu tiên cho các nhà đầu tư chiến lược); tin đồn thất thiệt liên quan tới doanh nghiệp ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp; việc đưa tin của các phương tiện truyền thông không đầy đủ, chính xác…

Để hạn chế bất cân xứng thông tin trên TTCK, nhiều nghiên cứu trước đây

đã chỉ ra hai giải pháp chính là Phát tín hiệu (Signaling) và Sàng lọc (Screening) Trên TTCK, phát tín hiệu là giải pháp yêu cầu các công ty niêm yết cần phải thể hiện cho nhà đầu tư thấy được giá trị thương hiệu, hiệu quả hoạt động và tiềm năng phát triển Đó chính là việc mà các doanh nghiệp phải công bố thông tin về tình hình hoạt động và tài chính cho công chúng theo quy định, trong đó có báo cáo tài chính được kiểm toán bởi công ty kiểm toán được chấp thuận Chính vì vậy có thể thấy rằng báo cáo kiểm toán là một trong những nguồn thông tin tham khảo quan trọng cho nhà đầu tư

Ngày đăng: 28/10/2019, 00:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w