1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện càng long, tỉnh trà vinh

76 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 812,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, đề tài: “Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh” cần thiết nhằm đưa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

LÊ TRƯỜNG SƠN

PHÂN TÍCH NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA ĐÓNG GÓP CỦA HỘ GIA ĐÌNH VÀO CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

TP Hồ Chí Minh, năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-

LÊ TRƯỜNG SƠN

PHÂN TÍCH NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA ĐÓNG GÓP CỦA HỘ GIA ĐÌNH VÀO CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Nguyễn Ngọc Vinh

TP Hồ Chí Minh, năm 2017

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN iii

LỜI CAM ĐOAN iv

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vi

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vii

Chương I: GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.4.1 Đối tượng nghiện cứu 5

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

1.5 Phương pháp nghiên cứu 6

1.6 Kết cấu luận văn 6

Chương II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7

2.1 Một số khái niệm liên quan 7

2.1.1 Hộ gia đình 7

2.1.2 Nông thôn và nông thôn mới 7

2.1.2.1 Nông thôn 7

2.1.2.2 Nông thôn mới 12

2.1.3 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 13

2.1.4 Hình thức tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới 14

2.1.5 Sự tham gia của người dân thực tế ứng với các tiêu chí trong XDNTM 21

2.1.6 Vai trò hộ dân và hội đoàn thể cùng các tổ chức, vận động quần chúng tham gia phong trào XDNTM 22

Trang 4

2.2 Các yếu tố tác động lên quyết định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào xây

dựng nông thôn mới 24

2.2.1 Nhóm nhân tố về đặc điểm hộ gia đình 24

2.2.2 Nhóm nhân tố về kinh tế 24

2.2.3 Nhóm nhân tố về xã hội 24

2.2.4 Nhóm nhận thức về chương trình xây dựng nông thôn mới 25

2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu 25

2.4 Khung phân tích đề xuất 26

Chương III: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 28

3.1 Sơ lược về vùng nghiên cứu 28

3.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28

3.1.2 Dữ liệu nghiên cứu 28

3.1.2.1 Cách chọn mẫu 28

3.1.2.2 Thu thập số liệu thứ cấp 28

3.1.2.3 Thu thập số liệu sơ cấp 29

3.2 Xác định sự tham gia của người dân vào CTXDNTM 29

3.3 Phương pháp nghiên cứu 29

3.4 Mô hình nghiên cứu 29

3.4.1 Biến phụ thuộc 30

3.4.2 Biến độc lập 30

Chương IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Thống kê mô tả dữ liệu 34

4.2 Kết quả mô hình ước lượng 44

Chương V: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Hàm ý chính sách 52

5.3 Hạn chế của nghiên cứu 54

5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 54

Trang 5

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Quý lãnh đạo trường Đại học kinh tế TPHCM, Viện Đào tạo sau Đại học, quý Thầy Cô giáo, cùng toàn thể cán bộ nhân viên trong trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh; Ủy ban nhân dân huyện Càng Long; lãnh đạo Phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Càng Long; Ủy ban nhân dân các xã Mỹ Cẩm, Nhị Long Phú, An Trường, Tân Bình, cùng toàn thể cán bộ, hộ gia đình nông dân ở các xã mà tôi đã đến điều tra, phỏng vấn và thu thập số liệu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của người thân, gia đình và đồng nghiệp trong suốt thời gian qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Trường Sơn

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này của tôi là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào

Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Trường Sơn

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Công nghiệp hóa - hiện đại hóa Thủ tướng Chính phủ

Nông thôn mới Quyết định Nghị quyết Theory of Reasoned Action - Thuyết hành động hợp lý

Theory of Planned Behavior - Thuyết hành vi dự định

Sản xuất nông nghiệp

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 4.1 Thống kê về đất của các hộ 36

Bảng 4.2 Thống kê về tham gia hội đoàn thể 37

Bảng 4.3 Thống kê về kênh thống tin 38

Bảng 4.4 Phân tích chéo biến ủng hộ 42

Bảng 4.5 Thống kê lợi ích khi tham gia XDNTM 43

Bảng 4.6 Thống kê hiệu quả kinh tế 44

Bảng 4.7 Kiểm định Omnibus hệ số mô hình 44

Bảng 4.8 Tóm tắt mô hình 45

Bảng 4.9 Bảng dự báo 45

Bảng 5 Kết quả ước lượng mô hình 46

Bảng 5.1 Mô phỏng xác suất đóng góp vào hoạt động nông thôn mới theo tác động biên của từng yếu tố 48

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 2.1 Thuyết hành vi hợp lý TRA 23 Hình 2.2 Thuyết hành vi dự định TPB 24 Hình 2.3 Khung phân tích đề xuất 27

Trang 10

Chương I: GIỚI THIỆU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp xây dựng Nông thôn mới hiện nay, nông dân giữ vị trí

là “chủ thể”, đây là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết, nhằm phát huy nhân tố con người, khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc xây dựng Nông thôn cả về kinh tế, văn hóa và xã hội đồng thời bảo đảm những quyền lợi chính đáng của họ

Sau hơn 20 năm, từ 1990 đến nay một chặng đường dài thăng trầm nhiều biến động, nền nông nghiệp cũ được tái sinh dần qua những lần chuyển biến, tuy đạt được sự thay đổi từ những lần vựt dậy, vượt qua những ngày gian khó từng bước hiện đại hóa, công nghiệp hóa và đi đến gặt hái những thành tựu nhất định Tuy nhiên những thành quả hiện có cũng chưa hoàn toàn được xem

là ổn định, toàn diện và bền vững Nền nông nghiệp hiện hữu vẫn chưa thật sự làm chủ nền kinh tế đất nước một cách trọn vẹn Mặc dù đang sở hữu một nguồn lực tiềm năng lớn chưa được khai thác và sử dụng tương xứng; Người nông dân vẫn chưa nói lên được tiếng nói thật sự của mình, đời sống dân cư nông thôn đó đây vẫn còn nhiều ngày phải "đói no chạy vạy" "khoảng cách" nông thôn và thành thị còn chưa được "rút dần"; cơ sở hạ tầng chưa được đầu

tư thỏa đáng Do đó, việc cải thiện hiện trạng, nâng tầm mức ở những nền tảng thấp đáy, cổ hữu ngày trước thì ngày nay nền nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng đã mới và cần phải đổi mới hơn gấp nhiều lần mới theo kịp

xu thế phát triển của thời đại

Nhằm góp phần cải thiện thực trạng trên, bắt đầu từ Nghị quyết số NĐ/TW ngày 05/08/2008 của Hội nghị lần thứ 7, kế đến cùng với Nghị quyết Đại hội lần thứ 10, sự ra đời của Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính Phủ về CTMTQGXDNTM cho thấy một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là: Xây dựng một nông thôn mới (XDNTM) phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tại của đất nước, đồng thời việc XDNTM cũng là mục tiêu, yêu cầu của phát triển bền vững, và là nhiệm

26-vụ cấp bách, là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng mang tính nhân văn nhân đạo sâu sắc Đồng thời phải khẳng định rằng công cuộc “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quy hoạch sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển ngày càng hiện đại” là việc làm cần thiết trước mắt Cả nước đã bắt tay vào ngay việc dựng xây nông thôn giàu đẹp Cho đến thời điểm hiện nay cũng đã trãi qua một chặng đường

Trang 11

đầu 5 năm tổng kết Bức tranh NTM Việt Nam dần lộ diện hiện có 1298/9071

xã đạt chuẩn NTM (14.5%), số tiêu chí bình quân/xã là 12.9 tiêu chí

438/QĐ.TTg ngày 24/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh đến năm 2020 Toàn dân tỉnh Trà Vinh đã hòa mình một nhịp hưởng ứng tinh thần đổi mới cùng Đất nước, tinh thần chỉ đạo khẳng định rõ việc “Đẩy mạnh phát triển kinh tế -

xã hội, phấn đấu đến 2015 đưa Trà Vinh thoát khỏi tình trạng chậm phát triển đến năm 2020 trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng” cần phải nghiêm túc hưởng ứng và thực hiện quyết liệt Xuất phát từ các báo cáo đánh giá tổng quan sơ bộ của BCĐ Trung ương về kết quả giai đoạn đầu triển khai chương trình thí điểm, vẫn chưa khơi dậy hiệu quả nguồn lực từ cộng đồng, người dân

có tâm lý trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước Vấn đề tồn tại vẫn là một số tiêu chí khó thực hiện do không phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng vùng cụ thể tại Trà Vinh (gồm 2 tiêu chí: Thu nhập và tiêu chí bê tông hóa kênh mương ) Xét thấy thực tiễn trên Quyết định số 342/QĐ -TTg ngày 20/02/2013 về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia ra đời Vấn đề nữa là một bộ phận cán bộ các cấp và người dân cả nước nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng chưa thật sự một lòng chung sức hướng về công tác xây dựng NTM, nhận thức vẫn còn chưa đúng và chưa đầy đủ, mang nặng tâm lý thụ động nên chưa phát huy được vai trò chủ thể của mình, chưa thật

sự tích cực tham gia đóng góp vào các hoạt động xây dựng NTM Nguồn vốn cho xây dựng NTM, chủ yếu từ ngân sách nhà nước và tập trung cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, thiếu sự tham gia ý kiến của cộng đồng, thiếu các hoạt động phát huy vai trò cộng đồng trong tổ chức sản xuất, bảo vệ môi trường, duy trì và phát triển các truyền thống văn hóa tốt đẹp

Để khích lệ hơn nữa không khí từng bừng cả nước cùng thi đua Đổi mới, ngày 20/9/2011 Chính phủ ra quyết định số 1620/QĐ-TTg về kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” sau

đó Thật vậy, Chính phủ đã cùng dân trên mọi chặng đường là hết sức cần thiết, đảm bảo CTMTQGXDNTM ở các nơi đều thực hiện theo nguyên tắc chủ đạo là phải phát huy hơn nữa vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng dân cư bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Nguyên tắc này đã xác định xây dựng NTM

là một hoạt động “dựa vào cộng đồng”, phát huy sự tham gia và đóng góp của cộng đồng hết sức quan trọng Một điều tất yếu khác phải nói đến là để triển khai thành công CTMTQGXDNTM giai đoạn 2010 - 2020 cũng như để thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng Bộ tỉnh Trà Vinh

lần thứ IX, nhằm đẩy nhanh tốc độ và sớm hoàn thành tiến độ mục tiêu quốc

gia trong xây dựng chiến lược nông thôn mới ở tỉnh Trà Vinh vào năm 2020,

Trang 12

thì việc khai thác tận dụng tối đa tiềm năng hiện có trong cộng đồng, phát huy toàn thể nội lực hiện hữu của cộng đồng, đề cao vai trò tham gia của cộng đồng, đồng thời khơi dậy viễn cảnh lợi ích của đồng bộ sức dân, dân tự nguyện làm chủ nắm bắt mọi quyền lợi và mọi cơ hội thuộc về dân và chính dân nhận lấy các lợi ích đó là phương cách toàn mỹ hơn hẳn các nỗ lực nào

tài lực) thì yếu tố nhân lực hay nói khác hơn là yếu tố con người có ý nghĩa

triển của nhân loại ứng với sự nghiệp phát triển CNH - HĐH đất nước Điều này khẳng định rằng nguồn nhân lực, yếu tố nội lực, càng phải được ưu tiên phát triển mạnh hơn nữa sao cho mọi động cơ, mọi tiềm năng nội tại còn tiềm

hái được thành công thắng lợi

Càng Long là huyện thuộc tỉnh Trà Vinh nằm dọc Quốc lộ 53 và 60, với tổng chiều dài quốc lộ (53, 60) là 28 km, chiều dài đường tỉnh lộ 17,7 km Diện tích đất tự nhiên là 29.409 ha, tiềm năng đất nông nghiệp 24.808 ha, chiếm 84,36% diện tích Tổng dân số chung là 143.716 người, với hộ 37.807

hộ, trong đó có 8.904 người dân tộc Khmer, chiếm 6,19% so với tổng dân số Toàn huyện có 90% dân số sống ở nông thôn, chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nghiệp; số người trong độ tuổi lao động chiếm trên 65% dân số Cùng với quá trình thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển nông thôn mới theo Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định về bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới; Quyết định

số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ Tướng Chính phủ, nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng nông thôn mới trên cả nước và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của chính quyền địa phương Huyện Càng Long đã tiến hành xây dựng mô hình nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015, với mục tiêu xây dựng khu vực nông thôn có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường trong sạch, nếp sống, đưa mức sống người dân nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần theo xu hướng toàn diện, bền vững Xây dựng nông thôn mới là việc phát huy mọi nguồn lực của từng xã; xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng sâu rộng của cả hệ thống chính trị và của từng người dân Do vậy, xây dựng xã nông thôn mới phải đi lên từ chính nội lực, tiềm năng và lợi thế của dân cư địa phương Huy động nguồn lực phục vụ xây dựng nông thôn mới cần gắn liền với hiểu biết về đặc điểm dân cư tại địa phương để phát huy các thế mạnh hiện có, những thuận lợi để hình thành sức mạnh chung của cộng đồng Xây dựng nông thôn mới đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm chỉ đạo và phát động phong trào thi đua “chung sức cùng cả nước xây dựng nông thôn mới” Lĩnh vực phát triển nông thôn đã được huyện tập trung chỉ đạo và đạt được một số kết quả: Kinh tế nông thôn có bước phát triển; kết cấu

Trang 13

hạ tầng - kinh tế xã hội vùng nông thôn, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ, các thiết chế văn hóa… được đầu tư; nhiều giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt được đưa vào sản xuất; các làng nghề phát triển, đã góp phần phát triển sản xuất, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo; diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Bên cạnh sự phát triển và tiến bộ ở nông thôn trên nhiều lĩnh vực thì trong nông nghiệp, nông thôn cũng còn nhiều bất cập như:

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động còn chậm; nhiều sản phẩm nông nghiệp chất lượng chưa cao, năng lực cạnh tranh thấp Tốc độ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển; chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng sâu vùng xa Về xây dựng quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn còn mang tính phong trào chưa phù hợp với tính chất

và trình độ của lực lượng sản xuất Mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới chưa đủ sức thuyết phục, thu hút nông dân tham gia, dù xu thế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp là một tất yếu khách quan Một số chính sách xã hội được triển khai thực hiện ở nông thôn còn chậm và chưa đồng bộ Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm nhanh nhưng chưa bền vững An ninh nông thôn nhiều nơi còn diễn biến phức tạp Khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa dân cư thành thị với dân cư nông thôn ngày càng lớn

Do đó, đề tài: “Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia

đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh” cần thiết nhằm đưa nông nghiệp, nông

dân, nông thôn lên vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái Góp phần phát triển kinh tế - xã hội nông thôn mang tính bền vững, tăng thu nhập và nâng cao mức sống người dân nông thôn, giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Để từ đó các cấp, các ngành có liên quan nhìn nhận đúng các vấn đề còn tồn tại, vướng mắc Thông qua việc khảo sát, điều tra và đánh giá đúng thực tiễn để có cơ sở khoa học đưa ra các chính sách, quyết định cho phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương để từ đó định hướng thay đổi, đổi mới xây dựng nông thôn mới tiếp tục cho giai đoạn 2016 - 2020

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng mức độ tham gia đóng góp và ra quyết định của

hộ gia đình trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

Trang 14

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến quá trình tham gia đóng góp của hộ gia đình từ đó xác định những nguyên nhân hạn chế

sự tham gia vào tiến trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy tham gia đóng góp, phát huy vai trò chủ thể của hộ gia đình trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Các tổ chức đoàn thể quần chúng, cá thể hộ dân trong huyện Càng Long đã tham gia đóng góp và ra quyết định như thế nào trong các hoạt động liên quan đến chương trình xây dựng NTM?

Câu hỏi 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia đóng góp của

hộ gia đình vào chương trình xây dựng NTM?

Câu hỏi 3: sự tham gia tích cực của hộ đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn tại huyện Càng Long như thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn của các yếu tố tác động đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương xây dựng nông thôn mới (XDNTM)

Đối tượng khảo sát: Các hộ gia đình trên địa bàn huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích thực trạng về sự

tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh Căn cứ vào kết quả nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến quyết định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM tại địa phương và đề xuất gợi ý chính sách tác động nhằm thu hút sự tham gia của người dân vào chương trình XDNTM trong thời gian tới

- Về không gian: Địa bàn được chọn điều tra để thu thập thông tin và

lấy dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được thực hiện tại 4 xã: Nhị Long Phú, Mỹ Cẩm, An Trường, Tân Bình Đây là các xã có số liệu thống kê

về tình hình XDNTM cơ bản đã hoàn chỉnh, thích hợp cho việc phân tích số liệu thứ cấp nhằm đánh giá thực trạng CTXDNTM Đồng thời sự phân bố về dân cư và địa lý tương đối có tính đại diện chung cho huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

- Về thời gian: Số liệu nghiên cứu và phân tích bao gồm số liệu thứ cấp

thu thập từ năm 2011 đến năm 2015 và số liệu sơ cấp tiến hành điều tra từ các

hộ gia đình tại địa phương trong năm 2016; Những gợi ý chính sách được đề xuất nhằm thu hút sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình

Trang 15

XDNTM tại địa phương áp dụng đến năm 2020

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp định lượng: Xây dựng mô hình kinh tế lượng xác định các nhân tố kinh tế, xã hội, đặc điểm hộ chủ yếu tác động đến xác suất tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới

Phương pháp thống kê mô tả kết hợp với so sánh và tổng hợp dữ liệu sơ cấp và thứ cấp

Phương pháp phân tích tổng hợp nhằm tổng hợp các lý thuyết và những nghiên cứu có liên quan

1.6 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm 5 chương với các chủ đề sau: Chương I - Giới thiệu nghiên cứu - trình bày khái quát về vấn đề nghiên cứu; Chương II - Cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu - trình bày tổng quan về nông thôn mới, sự tham gia đóng góp và các khái niệm liên quan từ đó rút ra khung lý thuyết làm cơ sở xây dựng mô hình tham gia đóng góp của người dân vào Nông thôn mới; Chương III - Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu - chương này mô tả sơ lược

về phương pháp nghiên cứu, mẫu nghiên cứu; Chương IV - Kết quả nghiên cứu

và thảo luận - trình bày kết quả phân tích các nhân tố kinh tế, xã hội, đặc điểm

hộ đến sự tham gia đóng góp vào xây dựng Nông thôn mới; Chương V - Kết luận và kiến nghị - nêu ra những gợi ý giải pháp thúc đẩy sự tham gia của người dân vào xây dựng Nông thôn mới

Tóm tắt chương

Chương I, chủ yếu trình bày tính cấp thiết của vấn đề cần nghiên cứu; Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, những câu hỏi đặt ra và kết cấu của luận văn cần thực hiện

Trang 16

Chương II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm liên quan

những đối tượng được hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình, đó là “Người có

anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ”(Luật sư Trương Thanh Đức, 2012)

Theo Điều 106 Bộ luật Dân sự quy định: “Hộ gia đình mà các thành

viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”

Theo từ điển luật học, thì hộ gia đình là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng” Trên khía cạnh pháp lý, hộ gia đình có các điều kiện sau sẽ có thể là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (vay vốn, mua, bán, thuê, mượn,…) với đặc điểm: các thành viên có tài sản chung; cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định Theo Luật Đất đai 2013, Tại khoản 29 Điều 3 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền

sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”

Vì vậy, căn cứ quy định trên ta khái niệm hộ gia đình là những thành viên trong hộ khẩu

2.1.2 Nông thôn và nông thôn mới

2.1.2.1 Nông thôn

Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân

xã (TT số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của BNN&PTNT)

Theo Phạm Huỳnh Thanh Vân, ( 2007) nông thôn Việt Nam thường mang đậm bản chất nông nghiệp: trồng lúa, cây ăn trái, chăn nuôi là các hoạt động sản xuất chính của dân nông thôn Cuộc sống của người dân nông thôn có vài sự khác biệt với cuộc sống thành thị bởi vì sự hạn chế hoặc không

có các dịch vụ như: trường học, thư viện, hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt Phương tiện đi lại công cộng cũng rất hạn chế, người dân ở vùng nông thôn thường sử dụng các phương tiện tự có để di chuyển như: xe hon da, xe đạp, đi

Trang 17

bộ và thường sử dụng sức kéo của gia súc (bò, trâu, ngựa) để vận chuyển hàng hóa

Mặc dù vùng nông thôn mang đậm bản chất nông nghiệp, nhưng phát triển nông thôn thì không đơn thuần chỉ là phát triển về nông nghiệp Phát triển nông thôn phải đạt được nhiều mục đích như: Tăng về thu nhập cho nông thôn (phát tiển kinh tế, tăng cơ hội việc làm và tăng độ phân bố thu nhập cho một cộng đồng nhất định (phát triển xã hội) trong khi vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên (bảo vệ môi trường)

Một định nghĩa khác mang tính chất chính thống của Chính phủ Việt Nam thì nông thôn được hiểu như sau: “ Vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phường quận thuộc thị xã, thành

phố”(Khoản 1, Điều 3, Chương 1, Nghị định 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng

6 năm 2014 của Chính Phủ Việt Nam )

Theo Trần Tiến Khai, (2015), sự khác biệt ở khía cạnh không gian, lãnh

thổ, điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của vùng nông thôn so với thành thị được thể hiện qua các đặc trưng riêng biệt tổng quát sau:

Dân số: Ở nông thôn có quy mô dân số, mật độ thấp, dân cư sống rãi rác,

thưa thớt

Không gian lãnh thổ: Nông thôn có lãnh thổ rộng lớn, nhiều vùng địa lý

đa dạng

Điều kiện tự nhiên: Nông thôn là vùng không gian mở, đa dạng điều

kiện tự nhiên, đát , nước, rừng, khí hậu, sinh cảnh môi trường Nông thôn là nơi có nguồn tài nguyên tự nhiên sinh học, tính đa dạng sinh học cao, phong phú về sinh thái và cảnh quan thien nhiên đẹp

Hoạt động kinh tế: Ở nông thôn chủ yếu sản xuất nông nghiệp: các hoạt

động sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và gắn với các điều kiện

tự nhiên

Thu nhập nông thôn thấp: Hoạt động kinh tế kém đa dạng, tính rủi ro

cao, lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị chênh lệch khá lớn

Hạ tầng cơ sở kỹ thuật: Nông thôn có hệ thống giao thông, bến cảng,

kho bãi, cơ sở hạ tầng, viễn thông liên lạc còn yếu kém phát triển

Hạ tầng xã hội: Ở nông thôn còn kém phát triển, hệ thống cơ sở dịch vụ

công cho giáo dục, y tế còn hạn chế Mặt bằng dan trí thấp

Văn hóa: Nông thôn mang nét văn hóa truyền thống và bản địa, các

phong tục, tập quán cổ truyền mang tính đặc thù theo từng địa phương

Theo Ellis và Biggs (2001), Nimal (2008) đều cho rằng khái niệm phát triển nông thôn đã có nhiều thay đổi qua các thập kỷ

Quan điểm phát triển nông thôn thay đổi qua nhiều thập kỷ:

Trang 18

Thập niên 50 - 60 mục tiêu chính PTNT chỉ là phát triển SXNN nhằm cải thiện điều kiện sống, tăng thu nhập, phát triển sao cho phù hợp các nguồn lực

Thập niên 1970, giai đoạn này đề cập đến chính sách phát triển chủ yếu tập trung tăng cường phát triển SXNN dưới dạng nông nghiệp quy mô nhỏ

Từ thập niên 1970 trở đi hoạt động phát triển tổng hợp từ nhiều ngành kinh tế như: Nông nghiệp, thương mại, công nghiệp so với trước đó thì phát triển tổng hợp chỉ tập trung vào người nghèo

Thập niên 80 - 90, tiếp cận PTNT từ trên xuống, với đặc trưng công nghệ từ bên ngoài và chính sách ở cấp độ quốc gia thay đổi theo hướng ngược lại từ dưới lên (còn gọi là tiếp cận"quá trình", nhấn mạnh việc trao quyền cho dân)

Từ 2000 đến nay PTNT gắn với mục tiêu giảm nghèo, dựa trên tiếp cận

lý thuyết sinh kế bền vững, việc giảm nghèo là trọng tâm cốt yếu, khuynh hướng tiếp cận từ hướng nghèo đơn chiều sang tiếp cận nghèo đa chiều

Theo Dower (2001) có định nghĩa sau: “ Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững, có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương”

Theo Lazdinis (2006) cho rằng khái niệm phát triển nông thôn đươc cộng đồng châu Âu xem là quan điểm mới thể hiện ở các mục tiêu về cải thiện năng lực cạnh tranh của nông lâm nghiệp bằng cách hỗ trợ việc tái cấu trúc, phát triển và đỏi mới; mục tiêu về cải thiện môi trường và cảnh quan nông thôn qua việc hỗ trợ quản lý đất đai; mục tiêu cải thiện chất lượng đời sống nông thôn, khuyến khích đa dạng hóa sinh kế

Theo USA (2006) định nghĩa phát triển nông thôn là “cải thiện các điều kiện của cộng đồng nông thôn một cách tổng thể, bao gồm kinh tế và chất lượng cuốc sống ở các phương diện khác như môi trường, sức khỏe, cơ sở hạ tầng và nhà ở

IFAD (2009) dựa trên quan điểm lãnh thổ đề xuất khái niệm phát triển nông thôn dựa vào CĐ, đề cao sự tự chủ của CĐ trong tiến trình phát triển nông thôn

Theo Nimal (2008) diễn giải rằng mô hình Phát triển nông thôn dành cho mọi người được bao gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và chính trị tạo

ra năng lực và cơ hội đẻ tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển, tạo ra năng lực và cơ hội để tham gia vào quá trình chính trị, phát triển xã hội toàn diện

Theo tổ chức hợp tác phát triển kinh tế OEDC (2007) thì việc phát triển nông thôn có ba phương diện: Lãnh thổ, chủ đề phát triển & thời gian Phương diện lãnh thổ tương ứng với không gian, phát triển nông thôn là một khái niệm thuộc về không gian, khái niệm đa ngành và có liên quan đến vấn

Trang 19

đề nhân khẩu học, kinh tế, xã hội và môi trường điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của tính tổng hợp theo chiều ngang, phối hợp giữa các ngành các họt động và chính sách Phương diện thời gian thì khái niệm này mang tính động

Theo Trần Tiến Khai, (2015), nói một cách khác hơn các khái niệm hiện đại về phát triển nông thôn chú trọng gần như bốn vấn đề cốt lõi như sau:

Về kinh tế: Phát triển một nông thôn đa dạng hóa nghề nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội công ăn việc làm, tạo ra giá trị gia tăng cho vùng

Về Văn hóa - xã hội: Gìn giữ lưu truyền, tái hiện, xây dựng nét văn hóa truyền thống đậm chất tôn vinh tinh thần cội nguồn dân tộc dựa trên các nền tảng xã hội

Về chính trị và thế chế: Đảm bảo quyền tự chủ, sở hữu cộng đồng, đảm bảo cơ chế phân quyền và thể chế hóa sự tham gia công chúng, tính trật tự an ninh chính trị, cơ chế gọn nhẹ đáp ứng nguyện vọng mong đợi của công chúng, thúc đẩy được sự tự chủ trong việc năm bắt các cơ hội tiếp cận công bằng các quyền lợi trong hầu hết các dịch vụ

Về Môi trường: Phát triển nông thôn với sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo việc quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên mang tính bền vững nhất định nhằm tạo ra các thỏa ước sử dụng mang tính công cộng

Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lí của xã hội học nông thôn - đô thị Trong đó, những tiêu chí quan trọng giúp cho việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)

Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng,

có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định vì vùng nông thôn thường có số dân và mật

độ dân thấp hơn vùng thành thị Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn

là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của

cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)

Trang 20

Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên Hiệp Quốc đã đề cập đến một khái niệm CONTIUM nông thôn - đô thị Có thể hiểu nông thôn - đô thị là một khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẻ nhau Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn thành thị là các thành phố lớn, vừa, hoặc các khu công nghiệp tập trung (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)

Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới gốc độ quản

lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)

Theo Hoàng Văn Định và Vũ Đình Thắng (2002), nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn

Người nông dân Việt Nam có trình độ dân trí chưa cao, trình độ tiếp cận với công nghệ còn thấp gắn với nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, sản xuất tự cấp tự túc và kỹ thuật canh tác còn nhiều lạc hậu

Về phương diện kinh tế, nông thôn bao gồm cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghệ và hạ tầng cơ sở (Đỗ Kim Chung, 2009)

Nông thôn chủ yếu với kinh tế nông nghiệp và đây là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp

là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản Theo nghĩa rộng, nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản

Theo Đặng Kim Sơn (2008), nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã

Như vậy, nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân với sản xuất nông nghiêp chiếm tỷ trọng lớn Sự khác biệt về công tác quản lý giữa nông thôn và thành thị trên thực tế, nông thôn với cấp quản lý xã, thôn, bản; còn thành thị với cấp quản lý phường, thị trấn

Trang 21

2.1.2.2 Nông thôn mới

Theo nghị quyết số 26-NQ/TW thì nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện đại, có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch

vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội

Theo Hồ Xuân Hùng (2010), Nông thôn mới là nông thôn không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, và có thể khái quát định nghĩa Nông thôn mới theo năm nội dung chính sau:

(1): Làng xã văn minh sạch đẹp

(2): Sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa (3): Đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến

(4): Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy

(5): Xã hội nông thôn an ninh đảm bảo, nông dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với

mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt

Nông thôn mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống Việt Nam (Vũ Trọng Khải và cộng sự, 2003)

Theo Thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: “Vùng/khu vực nông thôn mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là

Ủy ban nhân dân (UBND) xã" Như vậy, nông thôn mới trước hết phải là

Trang 22

nông thôn, chứ không phải là thị tứ, thị trấn Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng nông dân quần tụ trong đơn

vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống vật chất

và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; giá trị văn hoá truyền thống được bảo tồn, phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản

lý dân chủ (Hồ Xuân Hùng, 2010)

Nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được những nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn hoá tinh thần Theo đó, một số tiêu chí của mô hình nông thôn mới là: Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng lên (Hồ Văn Thông, 2005)

Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

2.1.3 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới

Xét trên góc độ pháp lý, có nhiều văn bản đề cập đến vai trò người dân trong xây dựng NTM nhưng chủ yếu được thể hiện trong 4 văn bản: Thứ nhất, Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn quy định về những vấn đề người dân được biết, bàn bạc, ý kiến, thực hiện, kiểm tra là cơ sở để xác định những hoạt động người dân được tham gia trong xây dựng NTM Thứ hai, Nghị quyết 26-NQ/TW đưa ra những quan điểm chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng, phát triển NTM Thứ ba, Quyết định 800/QĐ-TTg, với những quy định về việc lấy ý kiến cộng đồng trong quy hoạch, đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả, xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông, cấp nước sạch, vệ sinh môi trường và mức đóng góp xây dựng NTM, đã cho thấy vai trò của người dân theo quyết định này chỉ ở mức độ là người được tham vấn (ý kiến) Cuối cùng, Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM cấp xã năm 2010 là văn bản thể hiện đầy đủ và chi tiết nhất về

vai trò của người dân trong xây dựng NTM Ở mức độ thấp, người dân tham

gia với vai trò là người đóng góp công sức, tiền của xây dựng các công trình

Trang 23

công cộng, chỉnh trang nơi ở,… Ở các mức độ cao hơn, vai trò của người dân

thay đổi thông qua hoạt động mà họ tham gia, cụ thể:

Khi tham gia ý kiến vào đề án xây dựng NTM và bản đồ quy hoạch NTM cấp xã, người dân đóng vai trò là người được tham vấn;

Khi tham gia lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với kế hoạch khả năng, điều kiện của địa phương; quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của xã, người dân đóng vai trò là người được quyết định

Khi cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã, người dân đóng vai trò là người giám sát;

Khi tham gia tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành, người đóng vai trò là người quản lý

Thông qua phân tích ở trên, ta nhận thấy vai trò của người dân được thể hiện trong các văn bản rất đa dạng, từ vai trò người tham gia thụ động trong tiếp nhận thông tin, đóng góp công sức, tiền của cho đến vai trò là người quản

lý các công trình NTM Khi người dân tham gia xây dựng NTM với tất cả những vai trò đấy, họ thật sự là người giữ vai trò chính trong hoạt động này

2.1.4 Hình thức tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới

- Sự tham gia: Là cùng thực hiện một hoạt động nào đó, sự tham gia là

sự gắn kết một cách lâu dài, chủ động và có vai trò ngày càng cao của cộng đồng vào quá trình phát triển, từ việc xác định vấn đề đến việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạt động nhằm nâng cao đời sống cộng

đồng và bảo đảm sự phân chia công bằng các lợi ích của sự phát triển

Ngoài ra còn có các định nghĩa khác nhau được biết đến như sau:

Sự tham gia của cộng đồng là một tiến trình chủ động qua đó người thụ hưởng hay nhóm thân chủ ảnh hưởng định hướng và sự thực hiện một dự án phát triển với quan điểm nâng cao chất lượng cuộc sống về thu nhập , tăng trưởng cá nhân, tự tin hoặc những giá trị khác mà họ mong ước (Paul, 1987) Tham gia còn được hiểu là sự can dự của người dân trong tiến trình ra quyết định, trong thực hiện chương trình, chia sẽ quyền lợi của các chương trình phát triển cũng như trong đánh giá những chương trình này (Cohen và Uphoff, 1977)

Sự tham gia của người dân chủ yếu là tạo mối quan hệ với kinh tế và chính trị trong diện rộng xã hội; nó không chỉ là sự can dự trong những hoạt động dự án, mà còn hơn nữa là tiến trình trong đó người dân nông thôn có khả năng tự tổ chức, thông qua tổ chức của riêng họ, họ có khả năng xác định nhu cầu của mình, chia sẽ thiết kế, thực hiện và lượng giá hành động cùng tham gia (FAO, 1982)

Trang 24

- Tại sao cần có sự tham gia của người dân?

Tham gia không chỉ là một quyền cơ bản mà nó còn là một nhu cầu không thể thiếu được của con người để đáp ứng được khát vọng nhằm đạt được sự tư do và nhân phẩm lớn nhất có thể có với tư cách là một cá nhân và

là thành viên của xã hội

Sự tham gia của người dân trong các hoạt động phát triển chính là việc người dân tự nguyện đóng góp sức người (công lao động), sức của (tiền, vật tư )và cả trí tuệ (ý kiến, quan điểm)của mình để biến đổi cuộc sống và xã hội Với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chính vì vậy:

Kế hoạch/dự án được xây dựng sẽ sát với nhu cầu, tình hình thực tế của

cơ sở vì vậy có tính khả thi cao

Khơi dậy được tính chủ động sáng tạo của người dân địa phương, qua đó năng lực của họ được nâng lên

Tạo được sự đồng thuận để huy động nguồn lực tại chỗ

Đặt người dân ở địa vị tự chủ, giảm bớt sự lệ thuộc, tư tưởng trông chờ ỷ lại

- Các hình thức tham gia và tiêu chí đánh giá

Sự tham gia của người dân địa phương là một nguyên tắc và là một yếu

tố quyết định tính khả thi của dự án Tuy nhiên thực hiện sự tham gia của dân được vận dụng như thế nà cho đúng nghĩa của sự tham gia đích thực và có hiệu quả trong quá trình xây dựng kế hoạch/dự án phát triển cộng đồng không phải ai cũng nhìn nhận một cách đúng nghĩa của nó: Sự tham gia của người dân địa phương cần được hiểu nó biểu hiện ở 3 hình thái sau:

Tham gia trực tiếp

+ Mỗi người dân được tham gia trực tiếp vào thảo luận đề xuất nguyện vọng nhu cầu của mình cho phát triển của gia đình mình và của cộng đồng

+ Người dân được tham gia vào đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển cho mình và cho cộng đồng

+ Mỗi người dân được tham gia trực tiếp vào quyết định các nội dung phát triển của mình và của cộng đồng

+ Mỗi người dân được tham gia đóng góp một phần tài lực vào sự phát triển của cộng đồng

Tham gia gián tiếp (còn gọi là tham gia đại diện)

Mỗi người dân tham gia vào quá trình phát triển thông qua các đại diện của mình Có 2 hình thức đại diện: Cử đại diện cho mình, thay mặt mình tham gia vào quá trình phát triển; tham gia thông qua các đại diện đoàn thể tổ chức

mà mình là thành viên (nhóm hộ, thôn, các đoàn thể quần chúng, hội tín ngưỡng) đạt hiệu quả còn cần có một hình thái tham gia nữa nằm trong nội dung của “sự tham gia” đó là hình thái tham gia thứ ba

Trang 25

Tham gia nhiều bên

+ Tham gia vào quá trình phát triển của các cấp các ngành chỉ đạo hỗ trợ các cấp trên là cấp huyện, tỉnh để tạo mọi điều kiện thúc đẩy của quá trình phát triển ở cấp xã

+ Sự tham gia của các ngành, các giới các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp trên địa bàn thôn xã để hỗ trợ thiết thực cho quá trình phát triển cộng đồng địa phương

Ba hình thái tham gia trên nếu được vận dụng một cách đúng đắn, đúng nơi, đúng chỗ trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch phát triển cũng thể hiện đầy đủ nguyên tắc: tham gia đích thực của người dân Và rõ ràng nếu thực hiện một cách sáng tạo trong quá trình xây dựng kế hoạch/dự

án phát triển cũng tránh được sự máy móc, giáo điều, giảm bớt áp lực lúc nào,bước nào, nội dung nào, hội nghị nào yêu cầu cũng phải họp dân, phải có

sự trực tiếp tham gia của người dân” Đây là cách làm hình thức mà không hiệu quả

Để tránh được hình thức giáo điều trong vận dụng nguyên tắc có sự tham gia của người dân trong xây dựng kế hoạch/dự án phát triển cộng đồng cần xác định rõ ràng cụ thể:

Bước nào? Hoạt động nào? Khi nào? Nội dung nào? Cần phải có mặt đông đủ và chỉ cần họp bàn bạc với đại diện của người dân, tổ chức, các đoàn thể chức năng thống nhất sau đó thông qua người dân bằng nhiều hình thức cũng sẽ rất khả thi

Cũng để giảm bớt các cuộc họp dân và đạt hiệu quả theo yêu cầu cũng cần cải tiến các nội dung cho phù hợp, thu thập được nhiều ý kiến của người dân mà không tốn nhiều công sức và thời gian của dân

Cohen và Uphoff (1979) cũng cho rằng: “liên quan đến phát triển nông thôn, sự tham gia bao gồm sự liên quan của người dân vào quá trình ra quyết định, vào việc thực hiện các chương trình, sự chia sẽ lợi ích có được từ chương trình phát triển; và các cố gắng để đánh giá những chương trình như vậy”, đồng thời hai tác giả này cũng đã đưa ra khung phân tích để giám sát vai trò của sự tham gia trong các dự án và chương trình phát triển, nghiên cứu

đã khám phá có 4 lĩnh vực tham gia:

 Tham gia ra quyết định

 Tham gia thực hiện

 Tham gia hưởng lợi

 Tham gia đánh giá

Như vậy, có rất nhiều nghiên cứu với những định nghĩa và các nguyên tắc của lý thuyết về phát triển với sự tham gia của cộng đồng, mọi hoạt động chỉ cần có sự liên quan đều được xem như sự tham gia

Trang 26

Theo Pong Quan (1992), trong nghiên cứu về sự tham gia của địa phương về các hoạt động phát triển nông thôn ở Thái Lan cho biết tham gia bao gồm: Đóng góp, hưởng lợi, liên quan đến ra quyết định và đánh giá Tuy nhiên việc tham gia hưởng lợi trong đánh giá dự án thường không đáng kể Khi vận dụng vào thực tế thì sự tham gia luôn linh hoạt ở nhiều dạng khác nhau Sự tham gia là một khái niệm trừu tượng khó đo lường và sự phân biệt các hình thức khác nhau là không dễ dàng Tuy nhiên, trong bản tóm tắt các dự án phát triển của các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ, tác giả Oakley (1987) đã phân loại sự tham gia trong thực tế với 3 hình thức chủ yếu là: Đóng góp, tổ chức, trao quyền

 Tham gia là đóng góp: Hình thức tham gia này nhấn mạnh đến sự tự nguyện với các hình thức khác nhau trong đóng góp của dân để quyết định các chương trình và dự án (ví dụ như dự án y tế, cấp nước, lâm nghiệp, cơ sở

hạ tầng, bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu nhằm vào sự đóng góp của dân được ẩn trong sự tham gia và có thế mới là cơ sở để thành công)

 Tham gia là tổ chức: Theo một số tranh luận về phạm vi của lý thuyết

và thực tế phát triển rằng tổ chức là công cụ cơ bản của sự tham gia Sự phân biệt giữa nguồn gốc các dạng tổ chức mà cũng sẽ được dùng như là phương tiện cho sự tham gia, hoặc các tổ chức được dùng giới thiệu và hình thành ở bên ngoài dưới dạng hợp tác xã , hội nông dân, hội phụ nữ, các ban bệ , hay

là các tổ chức này tự cơ cấu mình như là kết quả của quá trình có sự tham gia

và người dân tự quyết định bản chất và cấu trúc của tổ chức

 Tham gia là trao quyền: Với khái niệm này thì sự tham gia cũng như là

sự áp dụng trao quyền cho người dân đã được ủng hộ rộng rãi gần đây, tuy nhiên khái niệm này có những cách lý giải khác nhau Trao quyền ở đây là sự phát triển các kỹ năng và tạo điều kiện giúp người dân tăng năng lực quản lý tốt hơn, có tiếng nói và đàm phán với hệ thống tổ chức hiện có, ngoài ra lại có những ý kiến khác cho rằng đây là những cái điều kiện cơ bản, cần thiết liên quan đến cho phép người dân quyết định và tự thực hiện những việc họ cho là cần thiết cho sự phát triển của mình

Lý giải cụ thể hình thức tham gia là đóng góp ở Việt Nam thì việc dựa trên cái mà thực tế người dân có thể góp vào có thể được biểu hiện ở 04 hình thức:

Đóng góp lao động: Người dân với tinh tần "tự lực" Các công việc thuộc

về "phần mềm" của dự án thiết kế và lập kế hoạch là công việc của các cơ quan chuyên môn và các nhà các nhà lãnh đạo Một số người tin rằng khi có

sự đóng góp nhân lực, người dân sẽ bảo quản tốt công trình ấy Tuy nhiên trên

Trang 27

thực tế không có cơ hội tham vấn đầy đủ, dự án lại không đáp ứng hay phù hợp với nhu cầu ưu tiên của số đông cộng đồng, cho nên họ sẽ tham gia đóng góp công lao động theo sự ràng buộc nhất định mà không phải là hoàn toàn tự nguyện nên sẽ không thực sự nâng cao năng lực của cộng đồng để giải quyết vấn đề của họ

Đóng góp dưới hình thức chia sẻ chi phí: Việc cắt giảm chi phí dự án sử dụng hiệu quả các nguồn lực để có thu hồi các chi phí được đầu tư luôn là mối quan tâm của người quản lý Đồng thời để đạt được "sự tham gia", thì phải xây dựng một cơ chế để người dân đóng góp Tuy nhiên, một khi các công trình không xuất phát từ lợi ích của cộng đồng sẽ không được sự ủng hộ của dân, họ có khuynh hướng quay về cách giải quyết trước đó của họ

Đóng góp dưới hình thức chia sẻ trách nhiệm: Không đặt trọng tâm chi phí mà là chú trọng đến trách nhiệm của cộng đồng trong việc duy trì dự án Đóng góp như là chia sẻ quyền quyết định: Được thực hiện trên cơ sở quyết định của cộng đồng nhắm tới các mục tiêu phát triển, sụ cộng tác giữa một bên là các nhà lập chính sách, kế hoạch, các giới chức triển khai thực hiện và bên kia là những người được gọi là nhóm mục tiêu hưởng lợi của một

sự án Trong điều kiện lý tưởng các cộng đồng dân cư thuộc nhóm mục tiêu

sẽ tích cực tham gia trong các giai đoạn khác nhau của dự án với tư cách là chủ thể Các nhà quản lý đóng vai trò xúc tác cho quá trình Thay vì áp đặt từ trên xuống thì người dân được quyền quyết định ở đây đúng phương châm

"lấy dân làm gốc" Đặng KimVui, (2007) và các hình thức khác:

 Tham gia bằng động cơ (thúc đẩy) vật chất hay theo hợp đồng: Người dân tham gia bằng cách đóng góp cac tài nguyên sẵn có để đổi lấy lương thực, tiền mặt hoặc các động cơ vật chất khác Người ngoài sẽ quyết định toàn bộ các vấn đề Người dân chỉ tham gia như những người được hợp đồng để cung cấp lao động, đất đai,

Tham gia theo chức năng (hoạt động): Người dân tham gia bằng cách

hình thành các nhóm để đạt được các mục tiêu đã định trước liên quan đến dự

án Sự tham gia này chủ yếu xuất hiện sau khi đã có các quyết định Các nhóm này có xu hướng phụ thuộc vào sự thúc đẩy từ bên ngoài nhưng cũng

có thể tự lập

 Tham gia theo kiểu tương tác: Người dân tham gia bằng cách cùng phân tích kết quả và dẫn đến kế hoạch hành động

Trang 28

 Tham gia theo kiểu tự huy động: Người dân tự mình xác định được các vấn đề, tự tìm tòi và sáng tạo các giải pháp để giải quyết vấn đề Người ngoài chỉ đóng vai trò xúc tác và tăng cường khả năng của người dân trong các hoạt động này

 Tham gia theo phương châm trong từng nấc bậc "Dân biết, Dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong đó ứng với từng nấc tham gia trong XDNTM như sau:

- Dân biết: Dân được biết rõ về NTM thông qua tuyên truyền, vận động, thông qua họp sinh hoạt CĐ là gì? nội dung với 19 tiêu chí gì? dân sẽ đóng vai trò quan trọng như thế nào? Nhà nước hỗ trợ ra sao? Cách làm cụ thể bắt đầu từ đâu?Ai sẽ hưởng lợi từ chương trình NTM?

- Dân bàn: Dân có cơ hội bàn bạc thứ tự trước sau các công việc cụ thể trong triển khai thực hiện là làm gì cho NTM?bàn về công trình trong tiêu chí nào được thực hiện ưu tiên một mà đa số dân đồng tình?bàn cách làm từng công trình, từng tiêu chí ra sao?CĐ địa phương tự đề ra giải pháp nào là phù hợp sức dân?Dân có vai trò trách nhiệm gì, Nhà nước hỗ trợ phần nào?

- Dân làm: Dân tham gia họp để bàn về ý tưởng, đề xuất các giải pháp, cách thức thực hiện các tiêu chí tùy vào sức dân ra sao?tham gia theo tiến độ nào mà CĐ tự đề xuất?tham gia thực hiện công việc duy tu sữa chữa các công trình mà chính CĐ tham gia làm như thế nào?

- Dân kiểm tra: Dân hiểu ban giám sát kiểm tra ở đây bao gồm đại diện hội đồng nhân dân, người dân, đoàn thể theo dõi tiến độ thi công, thực hiện công trình, giám sát khối lượng và chất lượng công trình, dự toán thực tế, nghiệm thu công trình, đây là bước tham gia cao nhất của CĐ

Tự nguyện: Là tự nguyện hiến đất để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội theo quy hoạch của chương trình XDNTM

Đóng góp: Là hộ gia đình tham gia đóng góp, xây dựng các công trình

công cộng của làng xã như giao thông, kiên cố hóa kênh mương, vệ sinh công cộng…

Nguồn đóng góp của hộ gia đình bao gồm: Đóng góp tiền; công sức; vật chất

Công sức, tiền của đầu tư cải tạo nhà ở, xây mới và nâng cấp các công trình

vệ sinh phù hợp với chuẩn mới; Cải tạo ao, vườn để có cảnh quan đẹp và có thu nhập; Cải tạo cổng ngõ, tường rào phong quang, đẹp đẽ…

Đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình để tăng thu nhập

Trang 29

Đóng góp xây dựng công trình công cộng của làng, xã bằng công lao động, tiền mặt, vật liệu, máy móc thiết bị, hiến đất…( Nếu đóng góp bằng tiền thì cần được cộng đồng bàn bạc quyết định, HĐND xã thông qua)

Ý định: Theo Ajzen, I.(1991, tr 181) ý định được xem là “bao gồm các yếu

tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”

Mức độ tham gia

Theo SherryR.Arnstern (1969,1971), từ góc độ "trao quyền" cho người

dân, các nghiên cứu sớm của ông thì sự tham gia như một cái "thang" với các

"nấc" tăng dần việc trao quyền lực công dân Có tám nấc thang với ba cấp độ tham gia, ba nhóm này bao gồm:

 Không tham gia (nonparticcipation)

 Tham gia hình thức (tokenism)

 Tham gia thực chất (citizen power)

Càng ở cấp độ tham gia cao hơn thì người dân sẽ có “quyền lực”cao hơn Các mức độ tham gia này đi từ cấp độ thấp nhất là chính quyền giáo dục, thuyết phục và đưa ra lời khuyên cho người tham gia chứ không phải người dân tham gia đóng góp ý kiến; đến mức độ cao nhất là ở mức người dân có quyền quyết định quản lý một chương trình, dự án ở mức này họ có đủ khả năng đàm phán với chính quyền để thay đổi điều kiện tùy vào mong đợi của

họ và ra quyết định và cũng chính mức độ tham gia sẽ quyết định rất lớn đến kết quả hoạt động tham gia của dân

Từ góc độ hành động tham gia của người dân theo Brager và Specht, (1973), lại xem mức độ tham gia là một chuỗi hành động của người tham gia

từ thấp đến cao theo hướng tăng mức độ quyền lực tới tới khi người dân có quyền kiểm soát đối với những phát triển liên quan đến bản thân họ

Làm thế nào để thu hút sự tham gia của người dân?

Để tạo cơ hội cho người dân tham gia phải thể chế hóa sự tham gia bằng cách:

Phân cấp trong quản lý: Đó là việc trao quyền cấp cơ sở về:

- Quyền xác định nhu cầu

- Quyền lựa chọn mục tiêu

- Quyền phân bổ nguồn lực đã có để thể hiện các mục tiêu

- Quyền tổ chức thực hiện

- Quyền giám sát kiểm tra

- Quyền sỡ hữu kết quả dự án

Thể chế hóa các quá trình thực hiện dự án để thu hút sự tham gia của người dân, của cộng đồng bằng cách: Tổ chức các cuôc họp dân, thông tin qua loa đài phát thanh của cộng đồng hoặc họp đại diện để công khai cho dân biết, dân bàn lựa chọn mục tiêu; Công khai phân bổ nguồn lực và quyền lợi

Trang 30

của từng đối tượng hưởng thu dự án; Đưa người dân đại diện của dân vào các ban quản lý, ban điều phối và các tổ, ban giám sát, đánh giá dự án; Sự tham gia của người dân một cách đích thực thong qua việc thể chế hóa trong từng giai đoạn của dự án mới dẫn đến dân chủ công băng xã hội và từ đó xã hội mới phát triển bền vững

Theo Đặng Kim Vui, (2007) Tùy đặc điểm của từng nhóm khác nhau bao gồm: Nhóm hộ gia đình có điều kiện kinh tế và kinh nghiệm sản xuất khác nhau (khá, trung bình, nghèo), nhóm người có độ tuổi khác nhau (trẻ em, tuổi lao động, người già), nhóm yếu tố nữ giới hay nam giới, nhóm thành phần dân tộc, khác nhau thì khả năng, hình thức và mức độ tham gia của người dân là khác nhau

2.1.5 Sự tham gia của người dân thực tế ứng với các tiêu chí trong XDNTM

Tiêu chí quy hoạch: Người dân phải tuân thủ tham gia ứng với việc trực tiếp đi vào quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới ngay sau khi được công bố Tiêu chí giao thông: Người dân tham gia cùng Nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp trong các chương trình nhà nước và nhân dân cùng làm như: hưởng ứng việc hiến đất xây đường liên ấp, liên xóm; hiến đất xây trường mẫu giáo,… riêng với người không có đất thì tham gia với hình thức góp công sức lao động, tham gia quản lý, giám sát công trình

Tiêu chí thủy lợi: Các công trình thủy lợi cần phải có phân cấp quản lý

cụ thể cho từng công trình, người dân với vai trò tham gia bao gồm: trong quản lý, vận hành và khai thác công trình thủy lợi

Tiêu chí môi trường: Các hoạt động người dân phối hợp tham gia: Tổng

vệ sinh theo phát động của cơ quan, đoàn thể; Sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh, rác thải sinh hoạt phải được thu gom hoặc đốt; Hưởng ứng chủ trương gia đình có thân nhân qua đời thực hiện chôn cất ở nghĩa trang nhân dân thay cho chôn cất tại vườn; Chăm sóc sức khỏe ban đầu và sức khỏe sinh sản, giảm

tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng tuân thủ các quy định về môi trường (đối với các

cơ sở sản xuất kinh doanh); Sử dụng điện an toàn, tham gia bảo vệ hành lang

an toàn lưới điện; không tự ý câu nối điện bên ngoài đồng hồ điện; Đưa trẻ đến các trường học mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học tham gia cùng với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục con em mình

Tiêu chí Văn hó - xã hội: Dân tham gia các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Tiêu chí phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội: Tham gia xây dựng nhà ở có diện tích, kết cấu phù hợp với quy định của Bộ Xây dựng có các công trình phục vụ nhu cầu tối thiểu như: bếp, nhà vệ sinh,…Tham gia các lớp đào tạo nghề để tiếp thu và áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, liên kết sản xuất nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ

Trang 31

Tiêu chí An ninh trật tự, chính trị: Tham gia cùng chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật để xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp (Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, 2012)

2.1.6 Vai trò hộ nông dân và hội đoàn thể cùng các tổ chức, vận động quần chúng tham gia phong trào XDNTM

Theo Nguyễn Ngọc Đệ và cộng sự, (2015) thì "Hộ nông dân là hình thức

tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông, lâm, ngư nghiệp, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết tộc, quan hệ hôn nhân sống chung trong một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập, tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp là chính, với mục đích chủ yếu phục

vụ cho nhu cầu của các thành viên trong hộ." Với vai trò ở đây được xem là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định Vai trò của một cá nhân như một vai diễn hoặc nhiều chức năng mà cá nhân ấy phải đảm trách trước xã hội Vì vậy thì sự nghiệp xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí sẽ không thực hiện được nếu không có sự tham gia đóng góp của nông dân, do đó vai trò hộ nông dân được xem là lực lượng nòng cốt năm giữ vai trò nhất định: Nông dân là nguồn nhân lực quan trọng, người trực tiếp xây dựng, trực tiếp đóng góp giữ gìn và bảo vệ kết cấu hạ tầng nông thôn, trực tiếp tham gia đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội và đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới đi vào cuộc sống, đồng thời họ cũng là chủ thể xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở các vùng nông thôn và là chủ thể giữ gìn an ninh, trật tự ở các vùng nông thôn Công cuộc phát triển nông thôn thành công phần lớn phụ thuộc vào sự đóng góp tích cực của đông đảo dân chúng bao gồm (hộ nông dân và các tổ chức khác nhau trong các khu vực công cộng, tư nhân và tình nguyện) Các loại tổ chức quan trọng đối với Chính Phủ cụ thể như: Chính quyền tỉnh, huyện và địa phương, họ có thể đóng vai trò ngày càng tăng không chỉ trong việc cung cấp và bảo dưỡng các cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội mà còn trong việc quản lý các chương trình phát triển; Các tổ chức quần chúng, bao gồm những tổ chức đại diện cho nông dân, phụ nữ, thanh niên và cựu chiến binh:

Họ có thể giúp huy động công sức và tiền tiết kiệm của các thành viên trong

tổ chức của họ và có thể cung cấp các dịch vụ mở rộng, đào tạo và tín dụng Theo Mai Thanh Cúc và CTV (2005), vai trò của một số tổ chức trong phát triển nông thôn được thể hiện cụ thể như sau:

+ Chính quyền tỉnh, huyện và cơ sở: Là cơ quan trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của địa phương, ngoài ra còn xây dựng và triển khai các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương

Trang 32

kể cả xây dựng cơ sở hạ tầng, công tác quy hoạch, phân bổ và sử dụng ngân sách, tín dụng, nguồn nhân lực, quản lý các hệ thống dịch vụ nhà nước (giao thông, giáo dục, y tế, xã hội), hỗ trợ đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến, quản

lý công tác xuất nhập khẩu…

+ Các tổ chức xã hội: Là tổ chức hoạt động theo một hệ thống nhất định

từ trung ương đến địa phương Các tổ chức này là những thành phần hoạt động chính trong tiến độ phát triển của cộng đồng, có thể là các doanh nghiệp

tư nhân, các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực công cộng và các tổ chức phi chính phủ

+ Các đoàn thể quần chúng: Như Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ

nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh,…được lập ra bởi nhu cầu khác nhau của xã hội, kinh tế, tín dụng, nghề nghiệp, được gắn kết các thành viên với nhau và hoạt động theo pháp luật và những quy định của tổ chức, đoàn thể Điểm chung của các tổ chức, đoàn thể là được lập ra do nhu cầu cần thiết của các thành viên, người lãnh đạo và các thành viên đều tự nguyện hào hứng tham gia các hoạt động vì lợi ích chung

Theo Michael Dower (2004), vai trò của Chính phủ trong phát triển nông thôn là: Vai trò lãnh đạo, nhưng không phải chỉ là vai trò diễn xuất Chính phủ tổ chức, chỉ đạo và phối hợp hành động của hàng loạt các cơ quan, tổ chức và các lợi ích, những người đóng góp cho quá trình phát triển nông thôn

to lớn này

Hình 2.1 Thuyết hành vi hợp lý - TRA

Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989, trích trong Chutter M.Y., 2009, tr.3

Niềm tin đối với những

thuộc tính của chương trình

Xu hướng hành vi

Hành

vi thực

sự

Trang 33

Hình 2.2 Thuyết hành vi dự định - TPB

Nguồn: Ajzen, I., The theory of planned behaviour, 1991, tr.182

2.2 Các yếu tố tác động lên quyết định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào xây dựng nông thôn mới

2.2.1 Nhóm nhân tố về đặc điểm hộ gia đình

- Giới tính chủ hộ: Là tính tổng số nam và số nữ trong một hộ gia đình

được biết thông qua quá trình đi khảo sát

- Tuổi của chủ hộ: Tính trên năm sinh do chủ hộ cung cấp trong quá trình

khảo sát

- Trình độ học vấn: Được tính bằng số năm đến trường của chủ hộ

- Nhân khẩu hộ: Được xác định bằng số thành viên cùng sinh sống chung

Quyết định hành vi

Trang 34

2.2.3 Nhóm nhân tố về xã hội

- Người thân tham gia đóng góp: Đây cũng là biến phụ thuộc, biến chính

Là bao gồm những người thân trong hộ gia đình có tham gia đóng góp tiền, công sức cho chương trình xây dựng nông thôn mới và nhân tố có khả năng quyết định đóng góp hay không đóng góp của hộ gia đình

- Tham gia hội, đoàn thể: Là hộ gia đình có người trong hộ là thành viên của Hội phụ nữ, Đoàn TNCS HCM, Hội cựu chiến binh, thành viên Mặt trận

Tổ quốc Việc tham gia các tổ chức hội, đoàn để giúp các hộ gia đình tiếp cận

và cập nhật thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, có cơ hội giao lưu, chia sẻ, học tập kinh nghiệm lẫn nhau

2.2.4 Nhóm nhận thức về chương trình xây dựng nông thôn mới

Nhóm nhân tố nhận thức về chương trình xây dựng nông thôn mới bao gồm nhân tố lợi ích khi tham gia; lòng tin của hộ với lãnh đạo; thông tin minh bạch là nhóm mà chính quyền địa phương phải có những hành động, việc làm thiết thực minh bạch có mang lại lợi ích cho người dân mà họ cảm nhận được bằng trí giác, cảm giác, biểu tượng để tạo niềm tin cho người dân cũng như hộ gia đình ở nông thôn

2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Để thực hiện nghiên cứu này tác giả đã tham khảo một số đề tài nghiên cứu

có liên quan sau:

Nugussie,W.Z (2010) nghiên cứu lý do tại sao một số người dân nông thôn

ở Tigray (Ethiopia) trở thành thành viên của hợp tác xã trong khi những người khác thì không Tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, phỏng vấn cung cấp thông tin, khảo sát hộ gia đình và mô hình probit Loại trừ sở trích cá nhân, kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố có tác động mạnh mẽ đến quyết định tham gia vào mô hình HTX của người dân như: Chủ hộ nam trong gia đình, thành viên trong hiệp hội nông thôn, tần số tham gia các cuộc họp công cộng, làm việc trong các tổ chức Nhà nước, tiếp cận với các tổ chức tín dụng và đào tạo, số người bình quân của hộ, số lượng thành viên được học trung học và khả năng tiếp cận thông tin qua truyền hình, đài phát thanh

Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự ( 2012) nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh

hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh

An Giang” đã sử dụng phương pháp thu thập số từ 135 hộ gia đình tại hai xã Mỹ

Hòa Hưng, huyện Chợ Mới và xã Châu Giang, Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang Kết quả chạy mô hình hồi quy cho thấy 5 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân là trình độ học vấn của chủ

hộ, quy mô gia đình, thu nhập gia đình, vốn xã hội và nghề truyền thống Trong

đó, nhân tố qui mô gia đình tác động mạnh nhất đến quyết định tham gia phát triển du lịch của người dân

Trang 35

Lê Văn Tuyển ( 2015) nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham

gia của người dân vào hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới” đã chọn

phương pháp khảo sát, phỏng vấn hộ gia đình và sử dụng mô hình hồi quy probit

để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia của họ như: trình

độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, quy mô gia đình hay nhân khẩu, tham gia hội đoàn thể, đất sản xuất, nhu cầu vay và thu nhập

Hạ Chí Điền (2015) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng

nước sạch của người dân nông thôn trong tỉnh Bến Tre” đưa ra 3 nhân tố ảnh

hưởng đến ý định đó là sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế, nhận thức về vệ sinh môi trường và về nhân khẩu học (giới tính, tuổi, học vấn, nghề nghiệp, thu nhập)

Phạm Minh Phương (2014) “Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới ở thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình” cho rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng Trong đó, các yếu tố từ phía người dân như: trình độ học vấn, nhận thức, lợi ích, điều kiện kinh tế, và các yếu tố từ phía nhà nước như: tổ chức cộng đồng, chính sách khuyến khích, thông tin tuyên truyền

Tóm lại, dựa trên các nghiên cứu có liên quan và tình hình thực tế tại địa

phương đang thực hiện chương trình XDNTM, tác giả lựa chọn phương pháp khảo sát, phỏng vấn hộ gia đình và sử dụng mô hình hồi quy probit để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM thông qua 11 biến: Giới tính chủ hộ, độ tuổi chủ hộ, trình

độ học vấn, nhân khẩu, diện tích đất, thu nhập của hộ, người thân tham gia đóng góp, tham gia hội đoàn thể, lợi ích khi tham gia, lòng tin của hộ với lãnh đạo, thông tin minh bạch

2.4 Khung phân tích đề xuất

Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn đã phân tích, với các phương pháp tiếp cận đã lựa chọn, tác giả xây dựng khung nghiên cứu phân tích các nhân tố tác động đến quyết định đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

Trang 36

Hình 2.3 Khung phân tích đề xuất

Nguồn: Theo đề xuất của tác giả 2017

Tóm tắt chương

Trong chương II, trình bày về các khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu như: Nông thôn mới, hộ gia đình, đóng góp, vai trò của nông thôn mới và các hình thức đóng góp vào chương trình nông thôn mới Lý thuyết về hành vi hợp lý, hành vi dự định kết hợp với việc tổng hợp các nghiên cứu có liên quan nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng khung phân tích dành cho nghiên cứu Những vấn đề trình bày trong chương II là cơ sở cho việc tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và phân tích số liệu để đạt được các mục tiêu

nghiên cứu đã đề ra

Nghề nghiệp chủ Thu nhập bình

Ủng hộ Tham gia hội, đoàn

Vai trò

Minh bạch

Quyết định đóng góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM

Trang 37

Chương III: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1 Sơ lược về vùng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Huyện Càng Long nằm ở phía Bắc của tỉnh Trà Vinh

- Phía Đông giáp thành phố Trà Vinh, giáp tỉnh Bến Tre qua ranh giới là sông Cổ Chiên ở phía Đông Bắc và giáp huyện Châu Thành ở phía Đông Nam

- Phía Tây giáp huyện Cầu Kè (Tây Nam) và tỉnh Vĩnh Long (Tây Bắc)

- Phía Nam giáp huyện Tiểu Cần

- Phía Bắc giáp huyện Vũng Liêm

Trung tâm huyện nằm ven Quốc lộ 53, nối liền hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long, cách thành phố Trà Vinh 21 km và Vĩnh Long 43 km

Huyện được xem là cửa ngõ giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh Trà Vinh với các tỉnh khác trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long Ngoài ra, do nằm xa biển nên ít bị ảnh hưởng mặn Đây là điểm thuận lợi

để bố trí sản xuất đa dạng cây trồng vật nuôi và phát triển kinh tế xã hội của huyện

Huyện Càng Long có 14 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: thị trấn Càng Long, Mỹ Cẩm, An Trường A, An Trường, Tân Bình, Tân An, Huyền Hội, Phương Thạnh, Bình Phú, Nhị Long, Nhị Long Phú, Đại Phúc, Đại Phước và Đức Mỹ Đến cuối năm 2016, trên địa bàn huyện có 04/13 xã đạt 19/19 tiêu chí (gồm: Xã An Trường, Mỹ Cẩm, Tân Bình, Nhị Long Phú); 9/13 xã đạt từ 11 - 17 tiêu chí (gồm: Xã Huyền Hội, Phương Thạnh, Đại Phúc, Nhị Long, An Trường A, Tân An, Bình Phú, Đức Mỹ, Đại Phước)

3.1.2 Dữ liệu nghiên cứu

3.1.2.1 Cách chọn mẫu

Theo Vũ Thị Thanh Lộc và cộng sự (2015) trong điều tra chọn mẫu có nhiều phương pháp khác nhau, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp điều tra phi ngẫu nhiên Cỡ mẫu được xác định theo công thức (n  50 + 8m; m là số biến độc lập có trong mô hình nghiên cứu) Theo cách tính này, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được là 188 mẫu Để đảm bảo số mẫu thu thập được mang tính đại diện cao và phù hợp với mục tiêu cần nghiên cứu, tác giả chọn mẫu thuận tiện với quy mô mẫu 200, mỗi xã chọn 50 mẫu đại diện cho toàn vùng nghiên cứu

3.1.2.2 Thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ nhiều

nguồn khác nhau như: Các báo cáo tổng kết của Ban chỉ đạo CTNNM, UBND huyện Càng Long, Phòng NN&PTNT huyện, phòng Công thương, UBND các xã có thực hiện chương trình XDNTM, và các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu đã được công bố

Trang 38

3.1.2.3 Thu thập số liệu sơ cấp

- Số liệu sơ cấp có được thông qua điều tra 200 hộ gia đình ở 4 xã: Mỹ

Cẩm, Nhị Long Phú, An Trường, Tân Bình trên địa bàn huyện Càng Long

- Hình thức thu thập dữ liệu bằng cách trả lời trực tiếp vào bảng câu hỏi của phiếu điều tra

- Nội dung phiếu điều tra được thiết kế dựa trên cơ sở tổng hợp ý kiến các nhà khoa học, các chuyên gia thuộc lĩnh vực nghiên cứu, bao gồm những thông tin chung về hộ, đặc điểm kinh tế - xã hội, nhận thức về chương trình XDNTM của các hộ gia đình

3.2 Xác định sự tham gia của người dân vào xây dựng chương trình Nông thôn mới

Trong nghiên cứu này, tác giả xác định việc tham gia đóng góp của hộ gia đình vào xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn là những hộ tham gia ít nhất vào 1 trong 19 tiêu chí với các hình: Công sức, tiền, vật tư, kiến trúc, sửa chữa nhà ở, phát triển kinh tế hộ theo yêu cầu của xây dựng Nông thôn mới

3.3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê mô tả: Sau khi điều tra thực tế, số liệu và các thông tin thu thập được mã hóa, xử lý kết hợp với phân tích nhằm đưa ra những đánh giá định tính về mức độ, xu hướng, tính chất và mối quan hệ tương quan giữa các vấn đề cần nghiên cứu

- Phương pháp phân tích hồi quy: Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy xác suất logit gọi tắt là mô hình Logit để phân tích tác động của các yếu tố lên quyết định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình XDNTM tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

3.4 Mô hình nghiên cứu

Mô hình logit phân tích những nhân tố tác động đến khả năng đóng góp của người dân vào xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện

Tình trạng đóng góp xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau Điều

đó nghĩa là xác xuất để đóng góp của hộ sẽ là một hàm số phụ thuộc vào những nhân tố ảnh hưởng đến nó Do đó, để định lượng ảnh hưởng của mộ số biến kinh tế, xã hội lên xác suất đóng góp của hộ, đề tài thiết lập một mô hình hồi quy logistic mà biến phụ thuộc có giá trị bằng 1 nếu hộ có đóng góp và bằng 0 nếu hộ không đóng góp

Mô hình logit xác định nhân tố tác động đến xác suất đóng góp vào xây dựng Nông thôn mới của hộ gia đình: DG=f(gioitinh, hocvan, laodong, thunhap_TV, nghenghiep, dacdiemho, hoatdongxahoi, thongtin, ungho, minhbach, vaitro)

Ngày đăng: 28/10/2019, 00:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm