Do đó, bài nghiên cứu này sẽ kiểm tra tác động của các yếu tố FDI, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở ba quốc gia Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ để xem mức độ tác động đó như thế nào và có
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-o0o -
PHAN KIM PHƯỢNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI, XUẤT KHẨU
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM, TRUNG QUỐC
VÀ ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN 1986 – 2017
Chuyên ngành: Tài chính
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
TP Hồ Chí Minh - năm 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn thạc sĩ “ Mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ giai đoạn 1986 – 2017” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2019
Tác giả
Phan Kim Phượng
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
Đặt vấn đề 1
Mục tiêu nghiên cứu 3
Câu hỏi nghiên cứu 3
Phương pháp nghiên cứu 4
Phạm vi nghiên cứu 4
Ý nghĩa nghiên cứu 4
Bố cục đề tài 4
CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI, XUẤT KHẨU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6
2.1 Cơ sở lý thuyết về FDI, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế 6
2.1.1 Lý thuyết cổ điển 6
2.1.2 Lý thuyết trọng cầu ( mô hình tăng trưởng của trường phái Keynes) 7
2.1.3 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển 9
Trang 42.1.4 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh 11
2.2 Các nghiên cứu trước đây 13
2.2.1 Các nghiên cứu về mối tương quan giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế 13
2.2.2 Các nghiên cứu về mối tương quan giữa xuất khẩu và phát triển kinh tế 20
2.2.3 Các nghiên cứu về mối tương quan giữa xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế 27
CHƯƠNG 3:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Dữ liệu và mô hình nghiên cứu 32
3.2 Phương pháp định lượng 33
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 39
4.2 Kết quả mô hình ARDL 40
4.3 Ước lượng hệ số ngắn hạn và dài hạn 42
4.4 Kiểm định chẩn đoán 46
4.5 Kiểm định nhân quả Granger 48
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5GDP: Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
GDE: Growth-driven Export – Tăng trưởng kinh tế dẫn dắt xuất khẩu
Trang 6Bảng 4.2: Kết quả kiểm định ARDL Bounds
Bảng 4.4: Kết quả ước lượng hệ số ngắn hạn
Bảng 4.5: Kết quả ước lượng hệ số dài hạn
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định chẩn đoán
Bảng 4.7: Kết quả Granger-causality
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 4.1a, b, c: Minh họa lần lượt kết quả độ trễ tối ưu cho mô hình ARDL với chuỗi dữ liệu của Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc
Hình 4.2a, b, c: Kết quả kiểm định tính ổn định của hệ số ước lượng với chuỗi
dữ liệu của Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc
Hình 4.3a, b, c: Biểu diễn kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger của
Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc
Trang 8Đề tài nghiên cứu áp dụng phương pháp mô hình tự hồi qui phân phối trễ (ARDL Bounds) để tìm ra mối tương quan giữa các yếu tố đầu tư trực tiếp nước ngoài, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, phương pháp kiểm định nhân quả Granger được sử dụng trong đề tài để nhằm xác định chiều tác động giữa ba biến được nêu ở trên, đồng thời đề tài sử dụng dữ liệu chuỗi theo thời gian của ba biến FDI, xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ từ năm 1096 đến năm 2017
Kết quả cho thấy, tại cả ba nước nghiên cứu, biến xuất khẩu và biến tăng trưởng kinh tế (biến tăng trưởng kinh tế được đại diện bởi tổng sản phẩm quốc nội) đều có mối quan hệ dài hạn Như vậy có thể nói chính sách hướng ngoại bằng việc đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút mạnh vốn đầu tư FDI đã thúc đẩy nền kinh tế tại Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ có những bước tiến tích cực Tuy nhiên đối với nghiên cứu này, khảo sát ở nước Trung Quốc thì không có dấu hiệu cho thấy FDI tác động đến GDP như tại hai nước còn lại là Việt Nam và Ấn Độ
Trang 9ABSTRACT
The determinants of economic growth have always been an important issue in economic research In that factors, factors of foreign direct investment, export factors also have an impact on economic growth Therefore, this research focuses on studying the impacts of FDI, export and economic growth factors in Vietnam, China and India
The study applied the model ARDL Bounds to find out the correlation between foreign direct investment factors, exports and economic growth
In addition, Granger causality testing method is used in this study to determine the direction of impact between the three variables (direct investment factors, exports and economic growth) were mentioned above In addition, the study also use the time series data from 1986 to 2017 of three variables as FDI, exports and economic growth
in three countries as Vietnam, China and India
The results show that, in the long run export variables has a significant positive impact economic growth on three countries: Viet Nam, China and India (economic growth is represented by gross domestic product) Thus, it can be said that the policy
of extroverting by promoting exports and attracting FDI capital has pushed the economy in Vietnam, China and India to make positive progress However, in China, there is no indication that FDI affects GDP as in the other two countries, Vietnam and India
Trang 10
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đặt vấn đề
Việc nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa yếu tố đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), xuất khẩu (EXP) và tăng trưởng kinh tế luôn là trọng tâm của nhiều bài nghiên cứu học thuật Ba biến được nêu trên là những chỉ số có vai trò quan trọng trong nền kinh tế vì các yếu tố này biểu hiện tình trạng sức khỏe tổng thể của nền kinh tế một quốc gia Nhiều nhà hoạch định chính sách và nhà kinh tế tin rằng FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế trong nền kinh tế tiếp nhận nguồn vốn Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm có vẻ không thuyết phục Và trong nhiều thập kỷ qua, những cuộc tranh luận về đề tài này chủ yếu liên quan đến việc liệu FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế như dự đoán của lý thuyết hay không và tác động này đóng góp như thế nào trong nền kinh tế
Một số nghiên cứu ủng hộ quan điểm FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng (Yao, 2007; Vu và Noy, 2008) thì cho rằng FDI là một nguồn tài chính lớn và có thể tạo điều kiện cho các nước đang phát triển có thể tiếp cận kỹ thuật công nghệ từ các nước phát triển và tiên tiến Đồng thời thông qua kênh này, nước chủ nhà sẽ có cơ hội cạnh tranh trên thị trường quốc tế Hơn nữa, FDI sẽ giúp cải thiện việc làm, kỹ năng công việc, chuyên môn quản lý, thị trường xuất khẩu và doanh thu thuế
Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho rằng ngoài những lợi ích đáng kể đến nền kinh tế, các quốc gia tiếp nhận vốn cũng sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề không mong muốn (Kholdy, 1995; Duasa, 2007; Mutafoglu, 2012) FDI có thể tạo thêm áp lực cạnh tranh cho nhiều doanh nghiệp địa phương tại các thị trường nội địa, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu trường hợp FDI không tập trung vào lĩnh vực xuất khẩu Ngoài ra, việc các doanh nghiệp FDI chuyển lợi nhuận về nước cũng làm suy giảm cán cân thanh toán Một số tác giả thậm chí còn cho rằng FDI có thể có tác động lớn đến việc hạn chế đầu tư trong nước Trong viễn cảnh này, ảnh hưởng của FDI là khá mơ hồ
Trang 11Bên cạnh FDI, xuất khẩu cũng là một yếu tố quyết định đáng kể đến tăng trưởng Dựa trên hai giả thuyết nền tảng là xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng (ELG) và tăng trưởng dẫn dắt xuất khẩu (GDE), nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để có câu trả lời chính xác cho mối tương quan giữa hai biến này Một số nghiên cứu ủng hộ vai trò của xuất khẩu với tăng trưởng (Tyler, 1981; Chow, 1987) Xuất khẩu theo đó được coi là nguồn ngoại hối quan trọng nhất, được các nước đang phát triển chú trọng nhất để giảm bớt vấn đề cán cân thanh toán và giảm thất nghiệp thông qua việc tạo ra cơ hội việc làm Chính sách cải cách mở cửa chú trọng xuất khẩu cũng tạo động lực để thu hút nguồn FDI công nghệ cao, thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước đạt quy mô cao, giúp quốc gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới Kinh nghiệm của nhiều nền kinh tế phát triển, một số nền kinh tế mới nổi và điển hình hơn là những con rồng châu Á như Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc đã đưa ra
ví dụ điển hình về tầm quan trọng của xuất khẩu Bên cạnh các nghiên cứu ủng hộ quan điểm xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng (ELG), vẫn có những nghiên cứu khác ủng
hộ quan điểm tăng trưởng dẫn dắt xuất khẩu (GDE) như Jung và Marshall (1985), Ahmad và Kwan (1991)
Việc nghiên cứu thực hiện dựa trên dữ liệu của ba nước Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc vì các nước này là các nước thuộc khu vực Châu Á Trong những năm gần đây, Châu Á là một trong những khu vực kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, điển hình như Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan Được cho là bốn con
hổ hay 4 con rồng nhỏ Châu Á Một trong những lý do của việc tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở khu vực này là các nước này áp dụng chính sách hướng ngoại bao gồm mở rộng xuất khẩu và mở cửa cho FDI Mặc khác có khá ít tài liệu nghiên cứu
về vấn đề này tập trung vào các nước Châu Á, với những kết quả hỗn hợp không rõ ràng về mối quan hệ của các biến FDI, xuất khẩu và GDP Ngoài ra, cả ba quốc gia Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ đều là những quốc gia chú trọng thúc đấy FDI, xuất khẩu cũng như đều có những cuộc cải cách kinh tế (Việt Nam 1986, Trung Quốc
1978, Ấn Độ 1991) và cũng có sự tương đồng về mô hình tăng trưởng Đồng thời, cũng có nhiều bài nghiên cứu riêng lẻ được thực hiện cho từng quốc gia này trong
Trang 12khuôn khổ mối quan hệ hai biến, tuy nhiên lại có khá ít các nghiên cứu xem xét sự giống và khác nhau trong mối quan hệ nhân quả của cả ba biến FDI, EXP và GDP
Những lý do trên cũng chính là ý tưởng của đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ
giữa FDI, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ giai đoạn 1986 - 2017”
Mục tiêu nghiên cứu
Mặc dù Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ đều là những quốc gia chú trọng FDI, thúc đẩy xuất khẩu cũng như cũng đều có những cuộc cải cách kinh tế và cũng
có sự tương đồng về mô hình tăng trưởng Tuy nhiên ở các nghiên cứu thực tế trước đây, các quốc gia khác nhau thường có kết quả không giống nhau cho dù có sử dụng cùng kỹ thuật trên cơ sở dữ liệu tương tự và trong khoảng thời gian tương tự Vì kết quả nghiên cứu còn phụ thuộc vào các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế Do đó, bài nghiên cứu này sẽ kiểm tra tác động của các yếu tố FDI, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở
ba quốc gia Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ để xem mức độ tác động đó như thế nào
và có mối quan hệ nhân quả giữa các biến này ở tất cả các nước nghiên cứu hay không
Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài nghiên cứu hướng đến trả lời các câu hỏi cụ thể sau:
1 Có tồn tại mối tương quan giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh tế tại các nước Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ trong giai đoạn nghiên cứu 1986-2017 không?
2 Có tồn tại mối tương quan giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại các nước Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ trong giai đoạn nghiên cứu 1986-
2017 không?
3 Có tồn tại mối tương quan giữa dòng vốn FDI, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại các nước Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ trong giai đoạn nghiên cứu 1986-2017 không?
Trang 13Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu lựa chọn phương pháp ARDL theo đề xuất của Pesaran và cộng sự (2001) để chỉ ra rằng: liệu có tồn tại hay không của mối quan hệ dài hạn giữa
ba biến đầu tư trực tiếp, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Đồng thời cũng xem xét sự đóng góp của xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tăng trưởng kinh tế và ngược lại
Ngoài ra, bài viết còn sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả Granger do Toda và Yamamoto (1995) giới thiệu để kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa FDI, EXP, GDP và chiều tác động của chúng
Phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu chọn Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ là những nước đã cho thấy sự phát triển nhanh chóng trong thương mại, FDI và thu nhập khi mở cửa hướng ngoại sau nhiều năm đàn áp kinh tế Đồng thời, bài nghiên cứu cũng chọn giai đoạn phân tích là từ năm 1986 đến năm 2017
Ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu đã góp phần xác định mức độ ảnh hưởng của FDI, xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế và chiều tác động của các nhân tố này ở các quốc gia đang chuyển mình phát triển như Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ Thông qua đó, nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của FDI, xuất khẩu trong tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế cũng như tầm quan trọng của các yếu tố vĩ mô, thể chế chính trị trong việc gia tăng khả năng hấp thụ vốn FDI vào các quốc gia Từ nhận thức đó, sẽ tạo tiền đề cho các nghiên cứu sau này về các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế khi đề cập dến nhiều nhân tố hơn nữa
Bố cục đề tài
Đề tài được chia thành năm phần
Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu, lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
Trang 14Chương 2: Trình bày tổng quan về lý thuyết đồng thời chương này cũng trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế
Chương 3: Mô tả dữ liệu và các phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Trình bày các kết quả chính
Chương 5: Nhấn mạnh những kết luận quan trọng từ đề tài nghiên cứu, đồng thời nêu lên những hạn chế và gơi ý đề tài mở rộng chuyên sâu hơn
Trang 15CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI, XUẤT KHẨU VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Cơ sở lý thuyết
Tăng trưởng kinh tế được diễn đạt thông qua các mô hình tăng trưởng kinh tế tiêu biểu như: Lý thuyết về mô hình tăng trưởng cổ điển, mô hình tăng trưởng của Keynes, mô hình tân cổ điển và mới nhất là mô hình tăng trưởng nội sinh ở cuối thế
kỷ XX
2.1.1 Lý thuyết cổ điển
Đại diện tiêu biểu nhất của lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế chính là lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Các lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của chuyên môn hóa sản xuất, lợi thế
so sánh và hiệu quả sản xuất trong hoạt động thương mại quốc tế
Adam Smith là nhà kinh tế học đầu tiên đưa ra những lập luận và cơ sở giải thích cho sự ra đời của trao đổi và thương mại quốc tế Lý thuyết lợi thế tuyệt đối được Adam Smith khởi xướng trong tác phẩm nổi tiếng “Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations)” được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1776 Theo ông, các nước nên chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối Chuyên môn hóa sẽ giúp tăng năng suất và do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Khi đó, tất cả các quốc gia đều có lợi ích từ trao đổi thương mại quốc tế Lý thuyết lợi thế tuyệt đối không chỉ giúp mô tả hướng chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi giữa các quốc gia, mà còn được coi là các công cụ để các quốc gia tăng phúc lợi Mô hình thương mại này có thể giúp giải thích được một phần của thương mại quốc tế, tuy nhiên vẫn chưa giải thích được lý do tại sao thương mại quốc tế vẫn có thể diễn
ra khi một nước hoàn toàn không có lợi thế tuyệt đối đối với mọi mặt hàng
Năm 1817, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế tương đối giúp củng cố thêm những luận điểm về tác động của thương mại quốc tế, trong đó có xuất khẩu, tới thu nhập của các quốc gia, đồng thời khắc phục một phần hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối Ông cho rằng, một quốc gia thậm chí sản xuất tất cả các sản phẩm
Trang 16đều kém hiệu quả hơn quốc gia kia, họ vẫn có thể thu được lợi ích từ thương mại Mỗi quốc gia sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà mình có lợi thế tương đối Lợi thế tương đối trong sản xuất sản phẩm của một quốc gia thể hiện ở hiệu quả sản xuất cao tương đối hay giá cả sản xuất thấp hơn tương đối so với quốc gia kia Nhờ vậy, lợi thế từ chuyên môn hóa được khai thác triệt để hơn cũng như có thể tạo ra mức sản lượng lớn hơn so với khi chưa có thương mại quốc tế và kết quả
là tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn Mặt khác, tăng trưởng kinh tế sẽ giúp các ngành xuất khẩu khai thác lợi thế kinh tế theo qui mô, tăng năng suất và giảm chi phí, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế của hàng xuất khẩu và qua đó giúp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu
2.1.2 Lý thuyết trọng cầu (mô hình tăng trưởng của trường phái Keynes)
Lý thuyết kinh tế của Keynes được coi là lý thuyết trọng cầu vì ông đánh giá cao vai trò của tiêu dùng và trao đổi, coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà nhà kinh tế học phải giải quyết Theo ông, nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp và trì trệ trong nền kinh tế là do cầu tiêu dùng giảm, do đó cầu có hiệu quả giảm (tiêu dùng tăng chậm hơn mức tăng thu nhập do khuynh hướng tiết kiệm, ưa chuộng tiền mặt,… vì thế cầu tiêu dùng giảm và do đó cầu có hiệu quả giảm) Do đó, cần nâng cầu tiêu dùng, kích thích cầu có hiệu quả Theo đó, gia tăng xuất khẩu là một trong những nhân tố có thể thúc đẩy tăng tổng cầu và vì vậy sẽ chắc chắn dẫn đến tăng sản lượng Trong mô hình này, tổng cầu dịch chuyển theo những thay đổi của xuất khẩu sẽ có ảnh hưởng khuếch đại đến sản lượng qua hiệu ứng số nhân, tương
tự như tác động của đầu tư tới tăng trưởng sản lượng
Quan điểm này tiếp tục được phát triển thành những mô hình lý thuyết mới nhằm phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Thirlwall (1979) xây dựng mô hình tăng trưởng ràng buộc bởi cán cân thanh toán (Balance of Payments Constrained Growth Model) dựa trên lập luận rằng: ràng buộc chủ yếu của tổng cầu
ở các nền kinh tế mở là cán cân thanh toán Nếu cán cân thanh toán của một quốc gia
ở trong tình trạng xấu thì tổng cầu sẽ bị cắt giảm, khi đó nguồn cung không được sử
Trang 17dụng một cách đầy đủ, không thu hút được đầu tư, công nghệ chậm phát triển, hàng hóa sản xuất trong nước sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn so với hàng hóa nước ngoài, do
đó, tiếp tục làm cán cân thanh toán trở nên xấu hơn Cứ như vậy, quá trình này lại tái diễn thành một vòng luẩn quẩn Ngược lại, khi cán cân thanh toán được cải thiện sẽ giúp mở rộng tổng cầu, theo đó sẽ kích thích đầu tư, tăng vốn và thúc đẩy tiến bộ công nghệ, tạo thêm nhiều việc làm, các yếu tố sản xuất sẽ dịch chuyển từ khu vực kém hiệu quả sang khu vực hiệu quả hơn…, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Từ lập luận đó, Thirlwall chỉ ra rằng không có quốc gia nào tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng khi ở trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán Điều này ngụ ý rằng tăng trưởng kinh tế bị ràng buộc bởi trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán Khi xuất khẩu tăng trưởng hoặc hệ số co giãn của nhập khẩu theo thu nhập giảm thì nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn trong dài hạn
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán theo Thirlwall được thể hiện bởi phương trình sau:
g = x/π
Trong đó:
g: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán x: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
π: Hệ số co giãn của nhập khẩu theo thu nhập
Tăng cường xuất khẩu cũng có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ phía cầu theo một số kênh dẫn khác Chẳng hạn, Awokuse (2003) khẳng định, mở rộng xuất khẩu có thể là một nhân tố kích thích tăng trưởng sản lượng một cách trực tiếp với vai trò là một bộ phận cấu thành của tổng cầu, cũng như gián tiếp thông qua phân bổ nguồn lực hiệu quả, khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô và kích thích cải tiến kỹ thuật do sự cạnh tranh trên thị trường nước ngoài Tăng cường xuất khẩu có thể cung cấp ngoại hối tài trợ cho nhập khẩu hàng hóa trung gian và hàng hóa vốn, mà đến lượt nó, làm tăng sự hình thành vốn, góp phần tích cực đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất nội địa và thúc đẩy tăng trưởng McKinnon (1964), Balassa (1978), Esfahani (1991), Buffie (1992) cũng có cách nhìn tương tự về vấn đề này
Trang 182.1.3 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển
Robert Solow sinh năm 1987, ông là giáo sư được tặng giải Nobel kinh tế về những nghiên cứ thực nghiệp có đóng góp xuất sắc trong lý thuyết tăng trưởng Điều đặc biệt là ông đã đưa ra cách lý giải về nguồn gốc của tăng trưởng Trong mô hình đầu tiên (mô hình gốc), Solow phân tích mô hình cơ bản dựa vào mô hình Cobb - Doulas với hai yếu tố lao động và đầu tư, tiết kiệm, sau đó ông mới trình bày mô hình tổng quát với yếu tố công nghệ tác động tới tăng trưởng như thế nào Mô hình này của ông còn được gọi là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, vì mô hình không đề cập đến các nhân tố bên trong, kết quả của tăng trưởng kinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định, ở đó gọi là trạng thái bền vững Chỉ các yếu tố bên ngoài như công nghệ, tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững Nghiên cứu này của Solow cho đến hiện tại vẫn còn xảy ra nhiều cuộc tranh luận, tuy vậy, mô hình tăng trưởng của Solow vẫn được đánh giá là một trong những mô hình có tác động lớn trong hệ thống lý thuyết tăng trưởng
Mô hình này dựa trên các giả định như là giá cả linh hoạt trong dài hạn Đây
là một quan điềm của kinh tế học tân cổ điển Khi này, lao động L được sử dụng hoàn toàn và nền kinh tế tăng trưởng hết mức tiềm năng Đồng thời toàn bộ tiết kiệm sẽ chuyển hóa thành đầu tư
Mức sản lượng thực tế Y phụ thuộc vào lực lượng L, lượng tư bản K và năng suất lao động A Từ đó, ta có một hàm sản xuất vĩ mô Y =F(A,L,K) Giả thuyết là hàm này có dạng Cobb – Doulas như sau:
Nền kinh tế đóng cửa và không có sự can thiệp của chính phủ, có sự khấu hao
tư bản Khi có đầu tư mới, trữ lượng vốn tăng lên nhưng đồng thời, vốn cũng bị khấu hao theo thời gian Khi đó lượng vốn mới có sẽ bằng lượng vốn mới tạo ra từ đầu tư trừ đi các khoản hao mòn
Tư bản K và lao động L tuân theo quy tắc lợi tức biên giảm dần, có nghĩa là khi tăng K thì ban đầu Y tăng rất nhanh đến một lúc nào đó Y tăng chậm lại
Trang 19Dựa trên các giả định trên, mô hình tăng trưởng của Solow đã chỉ ra trạng thái dừng của nền kinh tế Trạng thái dừng là điểm cân bằng mà tại đó lượng vốn giữ nguyên không đổi, bởi vì lượng đầu tư để tạo ra vốn mới mỗi năm chỉ đủ để bù trừ phần vốn bị hao mòn Khi vốn không tăng thì sản lượng cũng không tăng Vì vậy ở trạng thái dừng, lượng vốn trên một lao động là cố định Vốn và lao động không tăng thì tổng sản lượng vẫn là cố định Đây là hệ quả của hàm sản xuất có hiệu suất biên giảm dần Nếu vốn tiếp tục tăng, sản lượng sẽ tăng nhưng với tốc độ giảm dần Do vậy, thu nhập dành cho tiết kiệm cũng tăng với tốc độ giảm dần Vì vậy luôn luôn tồn tại một “trạng thái dừng” của nền kinh tế, nơi mà mọi biến số đều hội tụ về một giá trị cố định Như vậy, mô hình Solow dự đoán rằng những nước có tăng trưởng dân số cao hơn sẽ có mức vốn và thu nhập trên lao động thấp hơn trong dài hạn Đồng thời,
mô hình cũng giải thích được sự tăng trưởng đều đặn của một số nước là do tốc độ tăng trưởng về công nghệ
Tư tưởng tân cổ điển đã trở thành nền tảng cơ sở cho các nghiên cứu tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm sau đó Đặc biệt nó đã thúc đẩy các nghiên cứu về tác động của thương mại quốc tế (trong đó có xuất khẩu) đến tăng trưởng kinh tế thông qua việc mở rộng mô hình tân cổ điển bằng cách nới lỏng các giả thiết của mô hình Trong các nghiên cứu thực nghiệm theo mô hình tân cổ điển mở rộng, xuất khẩu đã được đưa vào hàm sản xuất thông qua năng suất nhân tố tổng hợp Họ cho rằng, xuất khẩu tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua tăng năng suất
Theo Feder (1983), xuất khẩu tăng trưởng có thể ảnh hưởng đến năng suất nhân tố tổng hợp thông qua ảnh hưởng lên phần còn lại của nền kinh tế Trong nghiên cứu của mình, Feder chia nền kinh tế làm hai khu vực, đó là khu vực xuất khẩu (X)
và khu vực phi xuất khẩu (N) Khi đó, hàm sản xuất có dạng:
Trang 20Giả sử có sự khác biệt về năng suất nhân tố biên giữa hai khu vực, ký hiệu là
δ, khi đó: δ = (GK/FK) -1 = (GL/FL) – 1
Trong đó: GK và GL là năng suất cận biên của vốn và lao động ở khu vực xuất khẩu, FK và FL là năng suất cận biên của vốn và lao động ở khu vực phi xuất khẩu Nếu δ= 0, năng suất cận biên là cân bằng giữa hai khu vực Nếu δ> 0, năng suất cận biên trong khu vực xuất khẩu là cao hơn khu vực phi xuất khẩu
Hàm sản xuất tân cổ điển theo cách tiếp cận của Feder được xác định như sau: dY/Y = a.(I/Y) + b.(dL/L) + [δ/(1+δ) + Fx].(dX/X).(X/Y) (1.5)
Trong đó:
dY/Y: Tốc độ tăng GDP
I/Y: Tỷ lệ giữa đầu tư với GDP dL/L: Tốc độ tăng lực lượng lao động
Fx: Ảnh hưởng cận biên của xuất khẩu đối với sản lượng của khu vực phi xuất khẩu X/Y: Tỷ lệ giữa xuất khẩu với GDP dX/X: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
Ở đây, trong mô hình theo cách tiếp cận tổng cung, tăng trưởng GDP sẽ phụ thuộc vào sự phân bổ tích lũy các yếu tố lao động, vốn và xuất khẩu Ngoài ra, sẽ có
sự dịch chuyển các yếu tố từ khu vực phi xuất khẩu có năng suất thấp sang khu vực xuất khẩu có năng suất cao
Tóm lại, bên cạnh những hạn chế do mô hình được đặt trong khá nhiều giả định, lý thuyết tăng trưởng của Solow vẫn đóng một vai trò quan trọng trong các học thuyết về tăng trưởng và mở ra nhiều vận dụng cho những nghiên cứu trong tương lai Trong đó, một số luận điểm đã được chú ý và tiếp tục được khai thác trong những nghiên cứu về sau
2.1.4 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Ở giai đoạn sau của lý thuyết tân cổ điển, những đại diện cho lý thuyết tăng trưởng mới như Romer (1986), Rebelo (1991) và Lucas (1988) đã giả định rằng tiến
bộ công nghệ là nội sinh, trái với lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển dựa trên giả định tiết kiệm, cải tiến công nghệ, tăng trưởng dân số là ngoại sinh Ngoài ra, lý thuyết này còn cho rằng sản phẩm biên của vốn là không đổi trái với lý thuyết tân cổ điển giả định vốn có năng suất biên giảm dần
Trang 21Các mô hình tăng trưởng nội sinh ra đời đã giúp khắc phục hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển khi giải thích được quá trình thay đổi về công nghệ/năng suất bằng chính các tham số trong mô hình Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế cũng được làm rõ trong các lý thuyết này
Theo đó, xuất khẩu tác động tới năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) thông qua tích lũy kiến thức, các ý tưởng, các cải tiến, tích lũy vốn con người và những ảnh hưởng ngoại ứng khác- những yếu tố nội sinh duy trì tăng trưởng dài hạn Hoạt động xuất khẩu, theo một cách đặc biệt đã tạo ra những ngoại ứng công nghệ tích cực đối với toàn bộ nền kinh tế Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng, trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng, các nền kinh tế đang phát triển có tốc độ tăng trưởng cao đều được hưởng lợi từ việc chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển Nhờ những tác động lan tỏa, xuất khẩu giúp các nền kinh tế mở tiếp cận rộng rãi hơn với kiến thức công nghệ, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu phát triển, làm tăng năng suất lao động và dẫn đến tăng trưởng kinh tế
Đồng thời, tăng trưởng kinh tế cũng có thể tác động đến xuất khẩu thông qua tăng năng suất nhờ khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô và thúc đẩy tiến bộ công nghệ Năm 1949, nhà kinh tế học người Hà Lan Petrus Johannes Verdoorn đã công
bố kết quả nghiên cứu của mình về năng suất và tăng trưởng sản lượng trong một bài viết có tựa đề tiếng Anh là “On the Factors Determining the Growth of Labor
Productivity” trên tạp chí kinh tế L’Industria của Italia Nghiên cứu của Verdoorn đề
cập đến mối quan hệ thống kê giữa tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động mà sau này được nhắc đến là Luật Verdoorn (Verdoorn’s Law) Luật Verdoorn cho rằng tồn tại mối quan hệ tích cực giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động, đặc biệt là đối với khu vực sản xuất Mối quan hệ này có thể được thể hiện như sau:
P = α + βQ + ε (β>0) (1.6)
Trong đó, P và Q lần lượt là năng suất lao động và sản lượng của khu vực sản xuất; β là hệ số Verdoorn, giá trị dương của hệ số này cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa năng suất lao động và sản lượng; ε là phần dư
Trang 22Luật Verdoorn là cơ sở cho hầu hết các nghiên cứu về tác động của tăng trưởng kinh tế đến xuất khẩu Theo đó, sự tăng trưởng sản lượng nhanh hơn sẽ làm tăng năng suất do hiệu quả kinh tế theo qui mô Do đó, một nền kinh tế tăng trưởng nhanh cũng
sẽ trải qua quá trình tăng năng suất Nếu tiền lương không tăng tương xứng với mức tăng năng suất thì giá cả sẽ giảm, làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và do đó có tác dụng khuyến khích xuất khẩu
2.2 Các nghiên cứu trước đây
2.2.1 Các nghiên cứu về mối tương quan giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế
2.2.1.1 Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm đầu tư có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm chứng minh liệu FDI có tác động đến tăng trưởng hay không, và nếu có thì có ở mức độ nào Một trong những bài nghiên cứu được biết đến rộng rãi về đề tài này là nghiên cứu của De Mello (1997) xác nhận FDI có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế vì nó góp phần tích lũy vốn
và chuyển giao công nghệ mới cho nước tiếp nhận Ngoài ra, FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế một cách gián tiếp thông qua đào tạo lao động, tiếp thu kỹ năng đáp ứng tiêu chuẩn công nghệ mới, nâng cao khả năng sắp xếp tổ chức, quản lí Tuy nhiên, các lý thuyết tăng trưởng kinh tế thông thường đang được xem xét bằng cách thảo luận trong bối cảnh của một nền kinh tế đóng chứ không phải là nền kinh tế mở như
mô hình các quốc gia gần đây Theo các mô hình tân cổ điển, FDI chỉ có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng trong ngắn hạn vì lợi nhuận vốn giảm dần trong dài hạn Sự thiếu thực tế này trong các mô hình tân cổ điển đã kích thích sự phát triển của mô hình tăng trưởng nội sinh, mà nhiều người coi là một mô hình phù hợp hơn với việc nhấn mạnh vai trò của thay đổi công nghệ
Mô hình tăng trưởng nội sinh đã được phát triển bởi Lucas (1988), Rebelo (1991) và Romer (1986) Mô hình này tạo ra vốn dưới dạng tích lũy vốn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, nêu bật các yếu tố bên ngoài phát sinh FDI tạo cơ hội kết
Trang 23hợp các yếu tố đầu vào và công nghệ mới trong hệ thống sản xuất của nước tiếp nhận
Vì vậy FDI được xem là yếu tố cốt lõi cho sự phát triển của một nền kinh tế
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu thường chỉ ra rằng tác động của FDI đối với tăng trưởng phụ thuộc vào các yếu tố khác của từng quốc gia Buckley (2002) lập luận rằng mức độ đóng góp của FDI phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và xã hội ở nước tiếp nhận Các quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao, chế độ thương mại mở và trình độ công nghệ cao sẽ được hưởng lợi từ việc tăng vốn FDI cho nền kinh tế của họ
Tương tự, kết quả nghiên cứu của Borensztein (1998) cho thấy rằng FDI là nguồn chính yếu của hầu hết các quốc gia trong việc tiếp thu công nghệ mới hiện đại,
từ đó đóng góp tích cực làm tăng GDP khi lấy mẫu 69 nước đang phát triển với chuỗi thời gian từ 1970 - 1989 Tác giả còn nhấn mạnh nguồn nhân lực của đất nước càng đảm bảo thì tác động của nó lên tăng trưởng kinh tế càng lớn Li và Liu (2005) sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng để tìm hiểu mối quan tâm của mình trong
dữ liệu của 84 quốc gia lấy mẫu ngẫu nhiên trong giai đoạn từ năm 1970 - 1999 cho thấy rằng FDI ảnh hưởng trực tiếp đến GDP và cũng gián tiếp thông qua tương tác với vốn nhân lực bằng cách sử dụng cả phương trình đơn và kỹ thuật phương trình đồng thời
Trong hầu hết các bài nghiên cứu, Bengoa (2003) thấy rằng để nhận được lợi ích từ dòng vốn vào FDI, nước tiếp nhận đòi hỏi phải có một mức độ phù hợp ổn định kinh tế, và thị trường vốn tự do hóa, cũng như vốn nhân lực Quốc gia có thị trường tài chính phát triển tốt không chỉ có thể thu hút được dòng vốn FDI cao hơn mà còn cho phép các nước tiếp nhận có được lợi nhuận lớn hơn
Baharom Shah và Thanoon (2006) sử dụng mô hình bảng động để kiểm tra mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng ở các nền kinh tế Đông Á Các tác giả đã xác nhận rằng FDI thúc đẩy tăng trưởng và tác động của nó được thể hiện cả trong ngắn hạn và dài hạn Nghiên cứu này chỉ ra rằng các nước có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng gấp 3 lần các nước hạn chế dòng đầu tư Tuy nhiên cường độ của tác động còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố vĩ mô khác như nguồn nhân
Trang 24lực có sẵn tại quốc gia tiếp nhận, chính sách ổn định vĩ mô, tỉ trọng xuất khẩu, các chỉ số tài chính quan trọng và các yếu tô mang tính quyết định khác
Trong trường hợp của Việt Nam, Anwar và Nguyen (2010) trong nghiên cứu của họ cho 61 tỉnh của Việt Nam trong giai đoạn 1996 đến 2005 cho thấy rằng thành tựu trong sự phát triển của kinh tế nước nhà phụ thuộc vào đóng góp của khu vực FDI Vu (2006) nghiên cứu dòng vốn FDI đặc thù của ngành cho Việt Nam trong giai đoạn 1990 - 2002 Sử dụng phương pháp hồi quy, tác giả kết luận rằng FDI có tác động tích cực và trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế cũng như tác động gián tiếp thông qua việc gia tăng năng suất lao động
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu ủng hộ quan điểm đầu tư có tác động tích
cực đến tăng trưởng kinh tế
1 De Mello 1997 FDI có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế vì nó góp phần tích lũy vốn
và chuyển giao công nghệ mới cho nước tiếp nhận
2 Buckley 2002 Mức độ đóng góp của FDI phụ thuộc vào
điều kiện kinh tế và xã hội ở nước tiếp nhận Các quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao, chế độ thương mại mở và trình độ công nghệ cao sẽ được hưởng lợi từ việc tăng vốn FDI cho nền kinh tế của họ
3 Borensztein 1998 Quốc gia có thị trường tài chính phát triển
tốt không chỉ có thể thu hút được dòng vốn
Trang 25FDI cao hơn mà còn cho phép các nước tiếp nhận có được lợi nhuận lớn hơn
4 Bengoa 2003 Quốc gia có thị trường tài chính phát triển
tốt không chỉ có thể thu hút được dòng vốn FDI cao hơn mà còn cho phép các nước tiếp nhận có được lợi nhuận lớn hơn
5 Baharom Shah
và Thanoon
2006 FDI thúc đẩy tăng trưởng và tác động của
nó được thể hiện cả trong ngắn hạn và dài hạn
6 Anwar và
Nguyen
2010 Thành tựu trong sự phát triển của kinh tế
Việt Nam phụ thuộc vào đóng góp của khu vực FDI
tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng như tác động gián tiếp thông qua việc gia tăng năng suất lao động
2.2.1.2 Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm đầu tư không có tác động đến tăng trưởng kinh tế
Mặt khác, một số tác giả cho rằng FDI có thể không ảnh hưởng đến tăng trưởng, mối quan hệ nhân quả giữa hai biến không tồn tại, hỗ trợ cho giả thuyết trung lập của Hồi giáo Chowdhury và Mavrotas (2003) đã kiểm tra mối quan hệ ngẫu nhiên giữa FDI và tăng trưởng kinh tế đối với Chile, Malaysia và Thái Lan trong giai đoạn
1969 đến 2000 và kết quả nghiên cứu thực nghiệm của họ chỉ ra rằng trong khi đối với cả Malaysia và Thái Lan, có một bằng chứng mạnh mẽ về mối tương quan hai chiều giữa hai biến thì trong trường hợp của Chile, tác giả không tìm thấy bất cứ mối
Trang 26quan hệ nào Hanson (2001) cũng lập luận rằng bằng chứng cho thấy FDI tạo ra sự lan tỏa tích cực đối với nước tiếp nhận khá yếu
Chakraborty và Basu (2002) ước tính mô hình VECM cho dữ liệu từ 1074 –
1996 cho Ấn Độ nhận thấy dường như FDI không có tác động đáng kể trong quá trình điều chỉnh ngắn hạn của GDP Hermes và Lensink (2003) sử dụng số liệu của 67 nước công nghiệp từ năm 1970 - 1995 và mô hình hồi quy để cho ra cùng một kết quả
Tương tự, Sarkar (2007) phân tích nhóm 16 quốc gia có GDP bình quân đầu người trung bình và phụ thuộc thương mại cao Trong phần lớn các trường hợp, tác giả quan sát không có mối quan hệ lâu dài giữa FDI và GDP bất kể các quốc gia này đóng cửa hay mở (được đo bằng tỷ lệ thương mại trong GDP của họ) và nghèo hay giàu (được đo bằng GDP trên mỗi đầu người)
Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu ủng hộ quan điểm đầu tư không có tác động
đến tăng trưởng kinh tế
1 Chowdhury và
Mavrotas
2003 Nghiên cứu tại Chile, Malaysia và Thái Lan
trong giai đoạn 1969 đến 2000
Kết quả khẳng định mối tương quan hai chiều giữa hai biến ở Malaysia và Thái Lan Đối với trường hợp của Chile, tác giả không tìm thấy bất cứ mối quan hệ nào
2 Hanson 2001 FDI tạo ra sự lan tỏa tích cực đối với nước
tiếp nhận khá yếu
Trang 273 Chakraborty và
Basu
2002 Nghiên cứu tại Ấn Độ với dữ liệu từ 1074 –
1996 cho thấy dường như FDI không có tác động đáng kể trong quá trình điều chỉnh ngắn hạn của GDP
Lensink
2003 Nghiên cứu tại 67 nước công nghiệp từ năm
1970 - 1995 và kết quả cho thấy dường như FDI không có tác động đáng kể trong quá trình điều chỉnh ngắn hạn của GDP
5 Sarkar 2007 Nghiên cứu 16 quốc gia có GDP bình quân
đầu người trung bình và phụ thuộc thương mại cao Kết quả không có mối quan hệ lâu dài giữa FDI và GDP bất kể các quốc gia này đóng cửa hay mở (được đo bằng tỷ lệ thương mại trong GDP của họ) và nghèo hay giàu (được đo bằng GDP trên mỗi đầu người)
2.2.1.3 Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm đầu tư có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Một số tác giả thảo luận rằng FDI có thể có tác động bất lợi đến GDP do các
cơ chế can thiệp tùy thuộc từng quốc gia Trong nghiên cứu đã đề cập trước đó của Sarkar (2007), tác giả cho thấy 4 trong 16 quốc gia lấy mẫu cho bằng chứng về tác động tiêu cực đến từ FDI Các nghiên cứu thực nghiệm của Alschuler (1976) và Bornschier (1978) thấy rằng FDI, viện trợ nước ngoài và thương mại quốc tế có tác
Trang 28động lâu dài là làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và gia tăng bất bình đẳng, xảy ra hiệu ứng lấn át
Nghiên cứu về đầu tư trong nước và nước ngoài, Kentor (1998) đã tính toán
sự phụ thuộc của nước tiếp nhận vào vốn nước ngoài và cho thấy các nước có sự phụ thuộc tương đối cao vào vốn nước ngoài sẽ tăng trưởng chậm hơn so với các nước ít phụ thuộc hơn, nghiên cứu từ năm 1940 đến 1990, cũng hỗ trợ những phát hiện trước
đó của Dixon và Boswell (1996) Tác giả lập luận rằng đầu tư nước ngoài có tác động tích cực ban đầu đến tăng trưởng, nhưng về lâu dài sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài tác động tiêu cực đến tăng trưởng, bởi vì các tác động tiêu cực như thất nghiệp,
đô thị hóa quá mức và bất bình đẳng thu nhập kéo theo
Khaliq (2007) nghiên cứu sâu hơn cho nền kinh tế Indonesia trong các lĩnh vực khác nhau, sử dụng dữ liệu dòng vốn FDI trong giai đoạn 1997 - 2006 Điều thú
vị là, FDI trong lĩnh vực khai thác có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Vu (2006) đã đưa ra kết luận tương tự trong bài nghiên cứu và đặt ra nghi ngờ về lợi ích chung của dòng vốn FDI
Bảng 2.3 Tóm tắt các nghiên cứu ủng hộ quan điểm đầu tư có tác động tiêu
cực đến tăng trưởng kinh tế
1 Sarkar 2007 Kết quả cho thấy 4 trong 16 quốc gia lấy
mẫu nghiên cứu cho bằng chứng về tác động tiêu cực đến từ FDI đến tăng trưởng kinh tế
2 Alschuler
(1976)
1976 và 1978 FDI, viện trợ nước ngoài và thương mại
quốc tế có tác động lâu dài là làm giảm tốc
Trang 29Bornschier
(1978)
độ tăng trưởng kinh tế và gia tăng bất bình đẳng, xảy ra hiệu ứng lấn át
3 Kentor 1998 Các nước có sự phụ thuộc tương đối cao vào
vốn nước ngoài sẽ tăng trưởng chậm hơn so với các nước ít phụ thuộc hơn
4 Khaliq 2007 Nghiên cứu ở Indonesia trong giai đoạn
1997 – 2006 với kết quả FDI trong lĩnh vực khai thác có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
5 Vu 2006 Nghi ngờ về lợi ích chung của dòng vốn
FDI đến tăng trưởng kinh tế
2.2.2 Các nghiên cứu về mối tương quan giữa xuất khẩu và phát triển kinh tế
Mối quan hệ giữa hai yếu tố xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế đã được nhiều nhà nghiên cứu rất nhiều trong những bài nghiên cứu thực nghiệm Tuy nhiên bằng chứng lại cho thấy mối quan hệ này khá đa dạng Có những nghiên cứu cho thấy sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, cũng có những nghiên cứu cho rằng giữa hai nhân tố này không tồn tại bất kỳ mối quan hệ nào
2.2.2.1 Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm tăng trưởng kinh tế không dựa vào xuất khẩu
Các nhà nghiên cứu thực nghiệm cho rằng, đẩy mạnh xuất khẩu chưa chắc dẫn đến kết quả tốc độ tăng trưởng GDP đạt được sẽ cao hơn khi các điều kiện khác không đổi, hoặc một số điều kiện khác không được thỏa mãn Có nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra vai trò mờ nhạt của xuất khẩu đối với tăng trưởng GDP ở một số quốc gia nghiên cứu Và Trên thực tế chưa có nghiên cứu nào chỉ ra được tác động tiêu cực giữa xuất
Trang 30khẩu và tăng trưởng, chỉ có một số ít nghiên cứu chỉ ra rằng không tồn tại mối quan
hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế
Tác giả Richards (2001) đã nghiên cứu tại quốc gia Paraguay- một quốc gia
có tốc độ tăng trưởng chậm trong những năm 1990, mặc dù giai đoạn trước đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao giai đoạn 1970-1980 Ông cho rằng tốc độ gia tăng xuất khẩu của Paraguay không được ổn định như tốc độ tăng trưởng kinh tế vì các lý do liên quan đến chính trị và kinh tế Tác động của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế ở Paraguay còn rất hạn chế Mặc dù gần đây mới có sự góp mặt của xuất khẩu và sản xuất có liên quan tới xuất khẩu ở Paraguay trong các hoạt động phát triển kinh tế, vẫn không thể khẳng định rằng xuất khẩu “đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn như được hiểu trong giả định tăng trưởng kinh
tế nhờ xuất khẩu”
Các tác giả Jung và Marshall (1985) với quan điểm chưa thật sự tin vào việc xuất khẩu thúc đẩy phát triển kinh tế với bằng chứng nghiên cứu từ 36 nước, hầu hết
ở Nam Mỹ và một số nước ở châu Á, châu Phi và châu Âu Họ phát hiện ra rằng chỉ
có bốn nước (Indonesia, Ai Cập, Costa Rica và Ecuador) có nền kinh tế phát triển nhờ xuất khẩu tăng trưởng Theo họ, “bằng chứng về tăng trưởng xuất khẩu dẫn đến tăng trưởng kinh tế không thuyết phục bằng những nghiên cứu thống kê trước đó” Tuy nhiên, họ cũng khuyến nghị độc giả không nên đi quá xa với những kết quả nghiên cứu này
Nhiều tác giả cũng nghiên cứu ở thị trường Việt Nam như tác giả Phan Minh Ngọc và các cộng sự (2003) đã có nghiên cứu “Export and LongRun Growth in Vietnam, 1975-2001” (Xuất khẩu và tăng trưởng trong dài hạn ở Việt Nam: 1975-2001) Nhóm tác giả đã sử dụng các mô hình kinh tế lượng tiêu biểu khác nhau với các kỹ thuật chuỗi thời gian hiện đại để đo lường trực tiếp đóng góp của xuất khẩu vào tăng trưởng GDP trong suốt thời kỳ nghiên cứu Các tác giả tách bạch xuất khẩu khỏi ảnh hưởng của các nhân tố khác như đầu tư và lao động Nghiên cứu đã kết luận rằng chính cải cách và hội nhập là nhân tố tạo ra sự bùng nổ của xuất khẩu, hay nói cách khác chưa có bằng chứng rõ ràng trong phân tích định lượng về việc tăng cường
Trang 31xuất khẩu đã kích thích sự phát triển của các khu vực khác trong nền kinh tế Việt Nam Khái quát đơn giản hơn, là tăng trưởng khu vực sản xuất hướng xuất khẩu rất
có thể chỉ làm giảm tăng trưởng của khu vực sản xuất phi xuất khẩu (hướng thị trường nội địa), bởi các nguồn lực khan hiếm đã bị hút mạnh về khu vực xuất khẩu, dẫn đến tăng trưởng GDP của toàn nền kinh tế không thay đổi
Bảng 2.4 Tóm tắt các nghiên cứu ủng hộ quan điểm tăng trưởng kinh tế không
dựa vào xuất khẩu
nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
1 Richards 2001 Nghiên cứu ở Paraguay- một quốc gia có tốc
độ tăng trưởng chậm trong những năm 1990 với kết luận tác động của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế ở Paraguay còn rất hạn chế
2 Jung và Marshall 1985 Nghiên cứu ở 36 nước, hầu hết ở Nam Mỹ
và một số nước ở châu Á, châu Phi và châu
Âu Họ phát hiện ra rằng chỉ có bốn nước (Indonesia, Ai Cập, Costa Rica và Ecuador)
có nền kinh tế phát triển nhờ xuất khẩu tăng trưởng
3 Phan Minh Ngọc và
các cộng sự
2003 Nghiên cứu tại Việt Nam từ năm 1975-2001
với kết luận chưa có bằng chứng rõ ràng trong phân tích định lượng về việc tăng cường xuất khẩu đã kích thích sự phát triển của các khu vực khác trong nền kinh tế Việt Nam
Trang 322.2.2.2 Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm xuất khẩu có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Các nhà kinh tế học tiền bối như Adam Smith và David Ricardo, và được nối tiếp gần đây nhất bởi một loạt công trình lý thuyết của các nhà kinh tế học nổi danh khác như Romer, Grossman, Helpman, Baldwin, Feder và Forslid, là những công trình lý thuyết mở đường cho việc hiểu và phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học Xuất phát từ đó đã có nhiều nghiên cứu thực chứng này có xu hướng khẳng định rằng xuất khẩu có mối liên hệ tích cực với tăng trưởng kinh tế
Gylfason (1999) khẳng định xuất khẩu có thể được coi là động lực chính thúc đẩy kinh tế phát triển kể cả trực tiếp và gián tiếp vì một mặt chúng là một phần của sản xuất, mặt khác chúng thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và vốn, do đó cũng
du nhập những ý tưởng và tri thức mới
Sharma và Panagiotidis (2005) tin rằng xuất khẩu là một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế Khẳng định này càng được thể hiện rõ khi không tính đến những yếu tố tích cực bên ngoài như các yếu tố phi xuất khẩu, việc áp dụng các hình thức quản lý hiệu quả hơn, việc cải tiến kỹ thuật sản xuất, tăng tính kinh tế theo quy mô và khả năng tạo lợi thế so sánh rõ rệt Các tác giả cũng nhất trí rằng “việc mở rộng xuất khẩu, dù không tính đến các yếu tố khác” sẽ có tác động tích cực lên toàn
bộ nền kinh tế
Feder (2002) có quan điểm tương đồng với hai quan điểm nêu trên Ông công nhận rằng xuất khẩu giúp kinh tế tăng trưởng theo nhiều cách: “năng lực được sử dụng lớn hơn, tính kinh tế theo quy mô lớn hơn, động cơ phát triển công nghệ lớn hơn và áp lực cạnh tranh quốc tế lớn hơn, từ đó dẫn tới quản lý hiệu quả hơn” Những yếu tố này cũng đem lại lợi ích cho khu vực không xuất khẩu
Đối với các nước thuộc OPEC, xuất khẩu dầu mỏ là động cơ chính thúc đẩy phát triển kinh tế Al-Yousif (1997) đã xem xét mối quan hệ giữa xuất khẩu và dầu
mỏ ở bốn nước thuộc khu vực Vịnh Arab, đó là Arab Saudi, Kuwait, các Tiểu Vương
Trang 33quốc Arab Thống nhất (UAE) và Oman trong khoản thời gian 1973-1993 Bốn quốc gia này xuất khẩu phần lớn các sản phẩm dầu mỏ và sử dụng giá trị thu được vào mua các mặt hàng tiêu dùng, thuê nhân công, với tỷ lệ xuất khẩu/GDP của bốn quốc gia khá cao và có giá trị lần lượt là 42%, 53%, 70% và 47% Kết quả thực nghiệm cho thấy “xuất khẩu có một vai trò tích cực và quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của bốn nước thuộc khu vực Vịnh Arab.”
Nhiều nước khác thuộc khu vực châu Á cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế học, trong đó có vấn đề phát triển kinh tế liên quan tới xuất khẩu Trước tiên phải kể tới nghiên cứu của Rahman và Mustafa (1997) về 13 nước thuộc khu vực châu Á (Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Nepal, Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Philippines và Malaysia) Ekanayake (1999) cũng nghiên cứu 8 quốc gia đang phát triển ở châu Á, gồm Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Pakistan, Philippines, Sri Lanka và Thái Lan Hai nghiên cứu này không những chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh
tế mà còn thấy rằng xuất khẩu phát triển thì kinh tế mới tăng trưởng Những kết luận này có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách Rahman và Mustafa đề xuất là các quốc gia nên có những chu kỳ ngắn hạn và dài hạn trong đó nhấn mạnh tới chính sách phát triển kinh tế nhanh hơn và xuất khẩu nhiều hơn Nhìn chung, điều đó có nghĩa là tùy vào mối quan hệ nhân quả giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, mỗi nước sẽ cần đưa ra những chính sách phù hợp
Ibrahim (2002) đã nghiên cứu 6 quốc gia và vùng lãnh thổ: Hồng Kông, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và “tính toán cho thấy những khác biệt ở 6 nền kinh tế này khi sản lượng xuất khẩu tăng lên” Hơn nữa, nghiên cứu cũng đưa ra đề xuất về mối quan hệ giữa tăng giá trị xuất khẩu và quy mô định hướng thương mại của một quốc gia, cũng như mức độ sản xuất Một điều quan trọng là, hướng phát triển ra phạm vi ngoài quốc gia ở mức độ lớn hoặc trung bình, cơ cấu xuất khẩu đa dạng và sản phẩm xuất khẩu có chất lượng cao rõ ràng đồng nghĩa với việc tạo ra những tác động tích cực từ bên ngoài đối với khu vực không xuất khẩu Những kết quả này cũng được khẳng định trong Sharma và Panagiotidis (2005) đối
Trang 34với trường hợp Ấn Độ Hầu hết các nước châu Á nêu trên đều là các nước đang phát triển hoặc kém phát triển, đó cũng là trọng tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới các nước kém phát triển
Tóm lại, có thể khẳng định hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng tăng xuất khẩu là một trong những yếu tố chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế (tức là giả thiết tăng trưởng dựa vào xuất khẩu) Lý thuyết này dựa vào tiền đề cho rằng tăng xuất khẩu có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế thông quan một số kênh Thứ nhất, ngành xuất khẩu có thể ảnh hưởng tới các ngành phi xuất khẩu thông qua tác động bên ngoài tích cực Hơn nữa, mở rộng xuất khẩu sẽ tăng tính hiệu quả của nền kinh tế dựa vào quy mô Ngoài ra, xuất khẩu có thể làm giảm khó khăn về ngoại tệ
và do đó có thể giúp các nước tiếp cận với thị trường toàn cầu dễ dàng hơn Cuối cùng, những lập luận này gần đây đã được hỗ trợ nhờ cơ sở lý luận về thuyết tăng trưởng “nội sinh”, trong đó nhấn mạnh rằng xuất khẩu có thể thúc đẩy tăng trưởng dài hạn vì sẽ thúc đẩy phát triển công nghệ và học hỏi kinh nghiệm từ các nước khác
Bảng 2.5 Tóm tắt các nghiên cứu ủng hộ quan điểm tăng trưởng kinh tế không
dựa vào xuất khẩu
nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
1 Gylfason (1999) 2001 Xuất khẩu có thể được coi là động lực chính
thúc đẩy kinh tế phát triển kể cả trực tiếp và gián tiếp vì một mặt chúng là một phần của sản xuất, mặt khác chúng thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và vốn, do đó cũng du nhập những ý tưởng và tri thức mới
2 Sharma và
Panagiotidis
2005 Xuất khẩu là một trong những yếu tố quyết
định tăng trưởng kinh tế
Trang 353 Feder 2002 Xuất khẩu là một trong những yếu tố quyết
định tăng trưởng kinh tế
4 Al-Yousif 1997 Nghiên cứu tại bốn nước thuộc khu vực Vịnh
Arab, đó là Arab Saudi, Kuwait, các Tiểu Vương quốc Arab Thống nhất (UAE) và Oman trong khoản thời gian 1973-1993 Kết quả “xuất khẩu có một vai trò tích cực và quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của bốn nước thuộc khu vực Vịnh Arab.”
Mustafa
1997 Nghiên cứu tại 13 nước thuộc khu vực châu
Á (Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Nepal, Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Philippines
và Malaysia) Kết quả không những chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế mà còn thấy rằng xuất khẩu phát triển thì kinh tế mới tăng trưởng
6 Ekanayake 1999 Nghiên cứu 8 quốc gia đang phát triển ở châu
Á, gồm Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Pakistan, Philippines, Sri Lanka
và Thái Lan Kết quả không những chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế mà còn thấy rằng xuất khẩu phát triển thì kinh tế mới tăng trưởng
7 Ibrahim 2002 Nghiên cứu 6 quốc gia và vùng lãnh thổ:
Hồng Kông, Hàn Quốc, Malaysia,
Trang 36Philippines, Singapore, Thái Lan và “tính toán cho thấy những khác biệt ở 6 nền kinh
tế này khi sản lượng xuất khẩu tăng lên”
Panagiotidis
2005 Nghiên cứu tại Ấn Độ với kết quả khẳng
định tầm quan trọng của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế
2.2.3 Các nghiên cứu về mối tương quan giữa xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế
Có một loạt các nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra tác động của FDI, xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa các biến này, được kiểm tra bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau Kết quả của các nghiên cứu riêng lẻ khác nhau, phụ thuộc vào khoảng thời gian được chọn, dữ liệu được xử lý, các biến khác có trong mô hình hoặc nó phụ thuộc vào các phương pháp kinh tế lượng
Nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy rằng FDI và thương mại quốc tế đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế Arellano và Bond (1998) xây dựng và ước tính ba phương trình liên quan đến GDP, EXP và FDI để xác định các yếu tố quyết định của biến tương ứng Tác giả xác nhận tăng trưởng kinh tế Trung Quốc có đóng góp không nhỏ từ EXP và FDI Đầu tiên, chính sách của Trung Quốc chuyển từ tự lực hoặc thay thế nhập khẩu sang đẩy mạnh xuất khẩu hoặc mở cửa vì cải cách kinh tế đã đóng một vai trò quan trọng trong thành công kinh tế Thứ hai, FDI rất quan trọng trong phát triển kinh tế, không chỉ vì nó tạo ra khoảng cách đầu tư vào các nền kinh tế tiếp nhận,
mà quan trọng hơn là vì nó mang theo công nghệ mới và thông lệ kinh doanh quốc tế cho các nước đang phát triển
Bằng phương pháp tiếp cận đồng liên kết Johansen và kiểm định Granger, Fabry (2001) đã sử dụng mẫu các quốc gia từ Trung và Đông Âu để nghiên cứu Tác động của FDI đến GDP đã được chứng minh ở Albania và Nga Ngược lại, tác động
Trang 37của GDP đối với FDI đã được chứng minh trong trường hợp Hungary, Ba Lan và Romania Tác giả tuyên bố vào cuối nghiên cứu rằng EXP có tác động mạnh mẽ hơn đến GDP so với FDI ở Trung, Đông Âu và ngược lại
Pelinescu và Radulescu (2009) làm rõ tác động của FDI đến GDP ở Romania Tác giả sử dụng dữ liệu theo quý bằng logarit tự nhiên và chúng được điều chỉnh theo mùa, trong giai đoạn từ 2001 đến 2009 Nghiên cứu kết luận FDI có ảnh hưởng nhẹ, tuy nhiên tích cực đến cả GDP và EXP Hơn nữa, họ tuyên bố rằng để có tác động FDI tích cực mạnh mẽ hơn cần theo dõi trong khoảng thời gian dài Tương tự, Mehrara và cộng sự (2014) đã kết luận nghiên cứu về các quốc gia đang phát triển trong những năm từ 1980 đến năm 2008 thành ba phần Đầu tiên, FDI tác động đến GDP và nền kinh tế cũng có tác động thu hút FDI Thứ hai, xác nhận sự hiện diện của nhân quả một chiều theo hướng từ xuất khẩu sang GDP Thứ ba, không có bất kỳ quan hệ nhân quả nào chạy từ FDI hoặc GDP sang xuất khẩu trong ngắn hạn hay thậm chí là dài hạn
Nghiên cứu gần đây nhất, Kankou Hadia Fofana (2018) xem xét mối quan hệ nhân quả năng động giữa chuỗi GDP, FDI, tỷ giá hối đoái, vốn, lao động và xuất khẩu bằng cách sử dụng dữ liệu của 16 quốc gia Tây Phi từ 1980 - 2014 Kết quả cho thấy
có mối liên kết giữa các biến được chỉ định trong mô hình khi GDP thực tế bình quân đầu người là biến phụ thuộc FDI và xuất khẩu là hai yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả của kinh tế ở Tây Phi Kết quả quan hệ nhân quả Granger - VECM cho thấy không thể tìm thấy mối quan hệ nhân quả đáng kể giữa FDI và xuất khẩu sang tăng trưởng kinh tế hoặc ngược lại trong ngắn hạn
Các tài liệu có sẵn trong lĩnh vực này ở Việt Nam cũng bao gồm các kết quả
ở nhiều hướng khác nhau Seng (2016) sử dụng dữ liệu bảng điều khiển cho 21 quốc gia châu Á và nhận thấy rằng mức tăng 1% trong FDI và EXP đã dẫn đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam lần lượt là 0,336% và 1,438% Tương tự, sử dụng dữ liệu chuỗi hàng năm từ 1990 - 2013 cho phân tích đồng liên kết, Trinh và Nguyen (2015) nhận thấy rằng mức tăng 1% của FDI có liên quan đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam tăng
Trang 380,24% trong dài hạn Trong khi Seng (2016) nhận thấy rằng kết quả xuất khẩu tăng 1% trong tăng trưởng dài hạn 1,438%, thì mô hình 2-VAR của Phạm (2008) chỉ ra rằng tác động của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam dường như là rất nhỏ
Nghiên cứu của Nhung (2017) nhằm mục đích nghiên cứu tác động ngắn hạn
và dài hạn của đầu tư và xuất khẩu trực tiếp nước ngoài đến GDP của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 2015 Về lâu dài, FDI có tác động tích cực đáng kể đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong khi hiệu ứng xuất khẩu là tiêu cực Tác động ngắn hạn được kiểm tra bằng cách triển khai mô hình sửa lỗi ARDL, sau đó cho thấy rằng FDI
và xuất khẩu không thể hiện bất kỳ tác động nào đến GDP của Việt Nam trong ngắn hạn Điều này ngụ ý rằng có thể mất nhiều thời gian để FDI và EXP ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Nói chung, các tài liệu thực nghiệm cho thấy rằng mối quan hệ nhân quả phụ thuộc vào các phương pháp kinh tế lượng và thời gian nghiên cứu được thực hiện Các kết quả có thể là quan hệ nhân quả đơn hướng, quan hệ nhân quả hai chiều hoặc không
có quan hệ nhân quả Trong mọi trường hợp, kết quả dường như cho thấy mối quan
hệ tích cực giữa xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế và FDI
Bảng 2.6 Tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ tương quan giữa FDI, xuất
khẩu và tăng trưởng kinh tế
nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
1 Arellano và Bond 1998 Tác giả xác nhận tăng trưởng kinh tế Trung
Quốc có đóng góp không nhỏ từ EXP và FDI
2 Fabry 2001 Nghiên cứu tại các quốc gia từ Trung và
Đông Âu với kết luận FDI tác động đến GDP
Trang 39ở Albania và Nga GDP tác động đối với FDI
ở Hungary, Ba Lan và Romania EXP có tác động mạnh mẽ hơn đến GDP so với FDI ở Trung, Đông Âu và ngược lại
3 Pelinescu và
Radulescu
2009 Nghiên cứu tác động của FDI đến GDP ở
Romania trong giai đoạn từ 2001 đến 2009 Nghiên cứu kết luận FDI có ảnh hưởng nhẹ, tuy nhiên tích cực đến cả GDP và EXP
4 Mehrara và cộng
sự
2014 Nghiên cứu về các quốc gia đang phát triển
trong những năm từ 1980 đến năm 2008 thành ba phần Đầu tiên, FDI tác động đến GDP và nền kinh tế cũng có tác động thu hút FDI Thứ hai, xác nhận sự hiện diện của nhân quả một chiều theo hướng từ xuất khẩu sang GDP Thứ ba, không có bất kỳ quan hệ nhân quả nào chạy từ FDI hoặc GDP sang xuất khẩu trong ngắn hạn hay thậm chí là dài hạn
Fofana
2018 Nghiên cứu tại 16 quốc gia Tây Phi từ 1980
- 2014 Kết quả cho thấy không thể tìm thấy mối quan hệ nhân quả đáng kể giữa FDI và xuất khẩu sang tăng trưởng kinh tế hoặc ngược lại trong ngắn hạn
Trang 406 Seng 2016 Nghiên cứu tại 21 quốc gia châu Á và nhận
thấy rằng mức tăng 1% trong FDI và EXP đã dẫn đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam lần lượt là 0,336% và 1,438%
7 Trinh và Nguyen 2015 Nghiên cứu tại Việt Nam từ 1990 - 2013
nhận thấy rằng mức tăng 1% của FDI có liên quan đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam tăng 0,24% trong dài hạn
trong tăng trưởng dài hạn 1,438
9 Nhung 2017 Nghiên cứu tại Việt Nam trong giai đoạn
1986 - 2015 Về lâu dài, FDI có tác động tích cực đáng kể đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong khi hiệu ứng xuất khẩu là tiêu cực FDI và xuất khẩu không thể hiện bất kỳ tác động nào đến GDP của Việt Nam trong ngắn hạn