LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Ứng dụng mô hình F-SCORE để dự đoán gian lận trên Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 1_
VƯƠNG LÊ SƠN
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH F-SCORE ĐỂ DỰ ĐOÁN GIAN LẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 2_
VƯƠNG LÊ SƠN
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH F-SCORE ĐỂ DỰ ĐOÁN GIAN LẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN KHÁNH LÂM
Tp Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Ứng dụng mô hình F-SCORE để dự đoán
gian lận trên Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của chính tôi với sự
hướng dẫn của TS Trần Khánh Lâm Những dữ liệu nghiên cứu sử dụng trong
luận văn này được lấy từ nguồn đáng tin cậy và được trích dẫn rõ ràng Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đó
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2019
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ vii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Ý nghĩa của đề tài 4
1.7 Điểm mới của đề tài nghiên cứu 5
1.8 Bố cục của đề tài 5
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 7
2.1 Các khái niệm liên quan 7
2.1.1 Khái niệm về sai sót , gian lận 7
2.1.2 Khái niệm về hành vi gian lận trong BCTC 8
2.1.3 Phân loại các hành vi gian lận 11
2.1.4 Các hành vi gian lận phổ biến trên BCTC 13
2.1.5 Các trường hợp chênh lệch giữa BCTC trước và sau kiểm toán trong thời gian gần đây trên thị trường chứng khoán Việt Nam (BCTC năm 2017) 22
2.2 Các lý thuyết giải thích cho hành vi gian lận trên BCTC 27
2.2.1 Các lý thuyết nền tảng 27
2.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu về hành vi gian lận 29
2.3 Các nghiên cứu trước đây về gian lận BCTC 31
2.3.1 Báo cáo về gian lận và lạm quyền cho các quốc gia của ACFE năm 2018 31
Trang 52.3.2 Khảo sát Tội phạm kinh tế và Gian lận Toàn cầu năm 2018 với Góc nhìn
Việt Nam của Công ty TNHH PricewarterhouseCooper (Việt Nam) (PwC) 34
2.3.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật phân tích trong dự đoán rủi ro xảy ra gian lận trên báo cáo tài chính của các học giả nước ngoài 36
2.4 Xác định khoảng trống nghiên cứu 51
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 54
3.1 Mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 54
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 55
3.2.1 Xác định mẫu nghiên cứu 55
3.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu 57
3.2.3 Mô tả mẫu nghiên cứu 58
3.3 Thiết kế dữ liệu nghiên cứu 61
3.4 Các biến nghiên cứu 62
3.4.1 Biến phụ thuộc 62
3.4.2 Các biến độc lập 62
3.5 Quy trình thực hiện nghiên cứu 73
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 76
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 76
4.1.1 Thống kê mô tả 76
4.1.2 Phân tích tương quan 78
4.2 Kiểm định sự khác biệt giữa hai nhóm gian lận và không gian lận 79
4.2.1 Kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình giữa hai nhóm 79
4.2.2 Kiểm định sự khác biệt về phân phối giữa hai nhóm 80
4.3 Kết quả ước lượng mô hình 81
4.4 Bàn luận kết quả nghiên cứu 83
4.5 Xây dựng mô hình dự đoán 84
4.6 Kiểm định kết quả dự đoán 85
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
5.1 Kết luận 89
Trang 65.2 Kiến nghị 90
5.3 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 91
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 98
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ DỰ ĐOÁN NĂM 2017 108
PHỤ LỤC 3: DỮ LIỆU PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU 120
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ACFE Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Mỹ
2 BCTC Báo cáo tài chính
3 CEO Giám đốc tài chính
4 CTNY Công ty niêm yết
5 FBI Cục điều tra Liên Bang Mỹ
6 FEM Fixed effects model (Mô hình tác động cố định)
7 HOSE Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
8 REM Random effects model (Mô hình tác động ngẫu nhiên)
9 SFO Cơ quan chống gian lận Anh
10 VSA Chuẩn mực kiểm toán
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2-1 Top 20 CTNY tăng lãi trên 20% sau kiểm toán năm 2017 23
Bảng 2-2 CTNY có lãi 2017 giảm trên 40% sau kiểm toán 24
Bảng 2-3 CTNY tăng lỗ trên 15% và từ lãi chuyển lỗ sau kiểm toán 26
Bảng 3-1 Bảng thống kê mẫu nghiên cứu 59
Bảng 3-2 Bảng thống kê mẫu quan sát theo ngành 59
Bảng 3-3 Tổng hợp các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu 70
Bảng 4-1 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 76
Bảng 4-2 Ma trận hệ số tương quan 78
Bảng 4-3 Kết quả kiểm định Paired T-test 79
Bảng 4-4 Kết quả kiểm định Wilconxon 80
Bảng 4-5 Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy 82
Bảng 4-6 Kết quả ước lượng mô hình dự đoán 85
Bảng 4-7 Kết quả dự đoán năm 2017 86
Bảng 4-8 Tổng hợp kết quả dự đoán năm 2017 87
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ TÊN ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH F-SCORE ĐỂ DỰ ĐOÁN GIAN LẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm dự đoán gian lận trên báo cáo tài chính của các công
ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh Dựa trên mô hình nghiên cứu của Dechow, Ge, & Sloan (2011), tác giả trả lời câu hỏi: điều gì khiến các nhà quản lý làm sai lệch báo cáo tài chính của họ Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 244 công ty niêm yết trong giai đoạn 2015-2017 với 718 quan sát Kết quả nghiên cứu cho thấy năm nhân tố bao gồm Biến động hàng tồn kho trên tổng tài sản (∆INV), Tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản bình quân trên tổng tài sản (SOFTASSETS), Biến động tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (∆ROA), Biến động số lượng lao động so với tổng tài sản (∆EMP), Tỷ suất sinh lời đã được điều chỉnh loại trừ các ảnh hưởng của thị trường năm nay (RET) đã ảnh hưởng đến khả năng gian lận trên báo cáo tài chính Ứng dụng mô hình này để dự đoán gian lận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong năm
2017, kết quả cho thấy khả năng dự đoán đúng gian lận trên báo cáo tài chính của
mô hình này lên đến 72,32%
Từ khóa: Mô hình F-Score, gian lận, báo cáo tài chính, dự đoán
Trang 10APPLICATION OF F-SCORE IN PREDICTING FRAUD ON THE FINANCIAL STATEMENTS OF LISTED FIRMS AT HO CHI MINH
STOCK EXCHANGE Astract
This study investigated the situation of frauds on the financial statements of listed firms on the Ho Chi Minh Stock Exchange Base on the research model by Dechow, Ge, & Sloan (2011), we address the question: what causes managers to misstate their financial statements The research data included 244 listed firms from
2015 to 2017, with 718 observations The study results showed that five variables including Changes in inventories (∆INV), Assets with average liquidity (SOFTASSETS), Change rate of return on assets (∆ROA), Changes in employees (∆EMP), Market adjusted stock return (RET) have affected to the possibility of fraud on the financial statements The ability to forecast fraud in the financial statements of this model is 72.32%
Key words: F-score, fraud, financial statements, predictability
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán đã tồn tại và phát triển trên dưới 20 năm và vẫn đang tiếp tục phát triển cũng như hoàn thiện mình Thị trường chứng khoán Việt đã và đang là một kênh huy động vốn hấp dẫn và hiệu quả cho các doanh nghiệp Tại Việt Nam cũng xuất hiện nhiều vụ gian lận kế toán liên quan đến các công ty niêm yết (CTNY) trên sàn chứng khoán như Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết, Công ty Cổ phần Dược phẩm Viễn Đông, Công ty Cổ phần thiết bị y tế Việt Nhật và vừa xảy ra trong thời gian qua là Công Ty Cổ phần Tập Đoàn Kỹ Nghệ Gỗ Trường Thành Các gian lận về trình bày báo cáo tài chính (BCTC) làm các nhà đầu tư sử dụng các thông tin tài chính bị thao túng dẫn đến đưa ra các quyết định sai lầm Điều này gây thiệt hại về tài chính đối với nhà đầu tư cũng như làm suy giảm niềm tin của các nhà đầu tư vào thị trường
Với các thủ thuật gian lận ngày càng tinh vi, việc nhận diện hoặc dự đoán nguy cơ có gian lận trong BCTC là một vấn đề vô cùng phức tạp, đòi hỏi nhà đầu tư
và các kiểm toán viên khi phân tích BCTC cần có nhiều kinh nghiệm, kiến thức và
Trang 12kỹ năng Tuy nhiên, việc phát hiện sớm và đầy đủ các gian lận trên BCTC là một thách thức không chỉ đối với nhà đầu tư quan tâm mà còn là trăn trở của các kiểm toán viên Điều này đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này và đưa ra nhiều phương pháp khác nhau cũng như cách tiếp cận khác nhau để dự đoán sớm rủi ro có xảy các gian lận trên BCTC
Trước những vấn đề được đặt ra từ thực tiễn và học thuật, để tài “ỨNG DỤNG MÔ HÌNH F-SCORE ĐỂ DỰ ĐOÁN GIAN LẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu Kết quả nghiên cứu hy vọng sẽ giúp cho các kiểm toán viên có được một phương pháp đơn giản và hữu hiệu để dự đoán sớm các rủi ro để lập kế hoạch kiểm toán tốt
và hoàn thiện cuộc kiểm toán một cách hữu hiệu và hiệu quả Ngoài ra, kết quả của
đề tài nghiên cứu cũng giúp cho các nhà đầu tư có mối quan tâm đến doanh nghiệp
có thể bước đầu tự đánh giá được mức độ gian lận của BCTC
Sự khác biệt lớn nhất của mô hình F-score so với các mô hình dự đoán tài chính khác là tác giả xây dựng 3 mô hình là 3 cấp độ khác nhau Với mô hình 1 chỉ bao gồm các chỉ tiêu tài chính giống các mô hình khác, mô hình 2 tác giả sử dụng thêm các chỉ tiêu ngoài bảng và các chỉ tiêu phi tài chính còn mô hình 3 sẽ kết hợp thêm với các chỉ tiêu thuộc thị trường vốn Do đó người sử dụng sẽ đánh giá chi tiết hơn về khả năng BCTC có tồn tại các gian lận hay không dựa vào các cấp độ khác nhau Với 3 mô hình thì F-score cho phép hướng tới các yếu tố quản trị và các yếu
tố thị trường nhiều hơn
Bài luận văn sẽ sử dụng kết quả từ nghiên cứu trước của tác giả Dechow và các cộng sự vào năm 2011 Bài luận văn sẽ kiểm định lại kết quả của nghiên cứu này thông qua việc sử dụng bộ dữ liệu BCTC cho giai đoạn từ năm 2015 đến 2017 được thu thập từ các CTNY trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) Sau đó sẽ đưa ra các thay đổi cho phù hợp với mô hình để nâng cao tính
dự đoán tại thị trường Việt Nam
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích mối quan hệ mang ý nghĩa thống kê giữa biến phụ thuộc là BCTC
có tồn tại các gian lận hay không với các biến độc lập có liên quan trong mô hình nghiên cứu của Dechow và các cộng sự thực hiện vào năm 2011
Xây dựng mô hình dự đoán tồn tại gian lận trong BCTC cho các CTNY tại HOSE và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao khả năng phát hiện ra các gian lận trên BCTC của mô hình
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu bài luận văn cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Những biến độc lập nào được nêu trong mô hình nghiên cứu của Dechow và các cộng sự thực hiện năm 2011 có mối quan hệ mang ý nghĩa thống kê đối với biến phụ thuộc là biến dự đoán có tồn tại các gian lận trong BCTC dựa vào bộ dữ liệu thu thập được của BCTC các CTNY trên HOSE trong 3 năm, từ năm 2015 đến năm 2017?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Có thể xây dựng được mô hình dự đoán tồn tại các gian lận trên BCTC của các Công ty tại Việt Nam dựa vào kết quả của mô hình nghiên cứu của Dechow và các cộng sự thực hiện năm 2011 hay không?
1.4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi gian lận trên Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài sử dụng dữ liệu được thu thập từ các BCTC trước kiểm toán và sau kiểm toán
đã được các Công ty Cổ phần có niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã công bố rộng rãi ra công chúng trong 3 năm từ năm 2015 đến năm 2017
Đề tài chỉ tập trung đến các BCTC được lập theo Thông tư số BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 (TT 200) và Thông tư số 202/2014/TT-BTC (TT
Trang 14200/2014/TT-202) cùng ngày của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán cho các doanh nghiệp Việt Nam Các Công ty thuộc các lĩnh vực khác như Ngân hàng, Bảo hiểm, Chứng khoán, Quỹ đầu tư sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt thời gian giới hạn trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2017 Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt không gian bao gồm các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sẽ kế thừa toàn bộ các kết quả đã được đưa ra trong các nghiên cứu trước đây để làm cơ sở hình thành nên mô hình nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu của đề tài Phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ được sử dụng để giải quyết các vấn đề mà đề tài đề cập đến bao gồm kiểm tra mối liên hệ giữa biến phụ thuộc là dự đoán tồn tại các gian lận trên BCTC và các biến độc lập có liên quan trong mô hình của Dechow và các cộng sự thực hiện năm 2011 và qua đó xây dựng
mô hình phù hợp cho Việt Nam
Trong phương pháp định lượng, đề tài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy theo các biến đã được trình bày trong mô hình của Dechow và các cộng sự năm
2011, sử dụng một số phương pháp phân tích như phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan, kiểm định Paired t-test, kiểm định Wilcoxon matched-pairs signed-ranks test, kỹ thuật phân tích hồi quy logit theo tác động cố định (FEM) và mô hình hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM)
1.6 Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu này có những đóng góp nhất định trong vấn đề nghiên cứu xây dựng mô hình dự đoán có tồn tại gian lận trong BCTC ở thị trường Việt Nam Thứ nhất, nghiên cứu này cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình Dechow (2011) và hành vi gian lận trên BCTC Thứ hai, Nghiên cứ này đề xuất được mô hình dự đoán gian lận trên BCTC của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 151.7 Điểm mới của đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện với kỳ vọng khai thác hai điểm mới về đề tài xây dựng mô hình thực nghiệm nhằm dự đoán tồn tại gian lận trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam Thứ nhất, nghiên cứu này bổ sung thêm các biến đa dạng hơn so với chỉ sử dụng các biến liên quan đến bảng cân đối kế toán, kết quả kinh doanh hay báo cáo lưu chuyển tiền tệ Qua đó, giúp người phân tích có cái nhìn rộng hơn và đánh giá rủi ro gian lận báo cáo tài chính qua nhiều khía cạnh khác nhau như từ hoạt động ngoài bảng, hoạt động phi tài chính hoặc các ảnh hưởng từ thị trường vốn Thứ hai, nghiên cứu này áp dụng cho bộ dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2017, là giai đoạn từ lúc
Bộ Tài chính ban hành Thông tư 200 và Thông tư 202 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp để thay thế cho Quyết định số 15 và các thông tư hướng dẫn trước đó cho tới thời điểm hiện tại Thông tư 200 và Thông tư 202 được đánh giá là có những thay đổi tích cực và tiệm cận hơn với các chuẩn mực kế toán quốc tế, cũng đồng nghĩa với việc chất lượng thông tin tài chính được cải thiện và được tiêu chuẩn hoá theo các thông lệ của quốc tế Điều này được kỳ vọng sẽ mang lại kết quả nghiên cứu đáng tin cậy và có tính ứng dụng vào thực tiễn trong những năm sắp tới
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 17CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm về sai sót 1 , gian lận
Định nghĩa về sai sót
Khái niệm sai sót được sử dụng trong luận văn là thuật ngữ được định nghĩa theo Chuẩn mực kiểm toán số 240 (VSA 240) Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC (Ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính) Theo đó “sai sót trong BCTC có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Để phân biệt giữa gian lận
và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong BCTC là cố ý hay không cố ý.” Vậy nếu sai sót xảy ra do hành vi không cố ý thì được gọi là nhầm lẫn
và ngược lại nếu sai sót xảy ra do hành vi cố ý thì sẽ được gọi là gian lận Đối với kiểm toán viên thì hành vi gian lận trên BCTC mang tính chất nghiêm trọng hơn và kiểm toán viên cần phải xây dựng các thủ tục kiểm toán thích hợp để ngăn ngừa và phát hiện gian lận trên BCTC Gian lận cũng sẽ là nội dung được nhấn mạnh trong luận văn vì các tài liệu đều tập trung đánh giá các thủ thuật gian lận và phương pháp phát hiện gian lận
Định nghĩa về nhầm lẫm
Theo VSA 240: Nhầm lẫn là các hành vi không cố ý và gây ảnh hưởng đến thông tin trên BCTC Nhầm lẫn có thể xảy ra trong tất cả các giai đoạn trong quá trình lập BCTC như thu thập, xử lý dữ liệu hoặc trình bày thông tin Một số ví dụ cụ thể như:
Lỗi về ghi chép sai hoặc tính toán số học bị sai
Bỏ sót hoặc hiểu sai dẫn đến làm sai lệch các nghiệp vụ kinh tế và các khoản mục
1 Thuật ngữ được sử dụng trong bài nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (2011) là misstatement, tạm dịch là sai lệch Sai lệch này bao gồm gian lận (fraud) và sai sót (error)
Trang 18 Áp dụng sai các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ, phương pháp kế toán và chính sách tài chính nhưng do không cố ý
Theo Cục điều tra Liên Bang Mỹ (FBI) định nghĩa về gian lận là: những hành vi lừa dối, che giấu hoặc lợi dụng lòng tin, mà động cơ của những hành vi này xuất phát từ tài chính, nhằm thu lợi hoặc tránh mất tiền, tài sản để đảm bảo thu được lợi ích cho cá nhân hay tổ chức
Theo cơ quan chống gian lận của Anh (SFO) định nghĩa gian lận như là một
sự lạm quyền, một sự đại diện bất hợp pháp hoặc hành động làm thiệt hại đến một
ai đó để đạt được lợi ích cá nhân
Khái niệm “gian lận” được định nghĩa trong nhiều từ điển và nhiều tổ chức khác nhau Tuy nhiên, tổng kết lại, có thể định nghĩa gian lận là hành động có chủ
ý, trái với pháp luật nhằm lừa gạt một cá nhân, tổ chức để đạt được một lợi ích nào
đó
2.1.2 Khái niệm về hành vi gian lận trong BCTC
Khái niệm gian lận trong báo cáo tài chính của Ủy ban Chứng khoán
và Thị trường Chứng khoán Mỹ (Securities and Exchange Commission)
Ủy ban Chứng khoán và Thị trường Chứng khoán Mỹ (Securities and Exchange Commission) định nghĩa về gian lận là “việc sử dụng các thủ thuật khác nhau nhằm bóp méo báo cáo tài chính để đạt được mục tiêu kỳ vọng” Hầu hết các
Trang 19gian lận đều có mục đích “Quản trị lợi nhuận”1 cho doanh nghiệp nhưng không phải
kỹ thuật “Quản trị lợi nhuận” nào cũng là gian lận
Các kỹ thuật quản trị lợi nhuận thường vẫn được chấp nhận và thường được
đề cập đến với thuật ngữ “vùng xám” Các kỹ thuật này không vi phạm pháp luật nhưng thường làm mất đi tính khách quan của báo cáo tài chính do ra đời nhằm phục vụ lợi ích của một nhóm người chứ không phải là công chúng và phần lớn người sử dụng báo cáo tài chính Các kỹ thuật quản trị lợi nhuận thường bao gồm:
Thay đổi phương pháp tính khấu hao từ khấu hao nhanh sang khấu hao đường thẳng nhằm giảm chi phí khấu hao và tăng lợi nhuận (hoặc ngược lại cho mục đích tăng khấu hao và giảm lợi nhuận);
Thay đổi thời gian sử dụng hữu ích hoặc giá trị thanh lý ước tính nhằm thay đổi khấu hao từ đó thay đổi lợi nhuận;
Lập dự phòng chưa phù hợp với bản chất về khả năng thu hồi của các khoản phải thu từ đó ảnh hưởng đến chi phí nợ xấu và lợi nhuận;
Thay đổi các phương pháp tính giá của Hàng tồn kho (Nhập trước xuất trước, giá trung bình, giá đích danh) từ đó thay đổi giá vốn hàng bán và ảnh hưởng đến lợi nhuận
Khi người lập báo cáo tài chính lạm dụng quá đà các kỹ thuật quản trị lợi nhuận bằng việc thay đổi các chính sách kế toán mà không giải thích được các kỹ thuật đó giúp cho báo cáo tài chính trung thực và hợp lý hơn thì những hành động này sẽ được coi như một hình thức gian lận trên báo cáo tài chính
Trong thực tế việc xác định được các “kỹ thuật quản trị lợi nhuận” có bị lạm dụng hay không là rất khó khăn do các doanh nghiệp thường viện cớ rằng họ xử
lý theo nhu cầu của thị trường hoặc cổ đông mặc dù việc xử lý này có thể sẽ làm giảm đi tính minh bạch của các thông tin tài chính
1 Quản trị lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị DN nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán
Trang 20 Khái niệm gian lận trong BCTC của Hiệp hội Kiểm toán nội bộ (IIA)
Gian lận là các hành vi bất hợp pháp nhằm lừa gạt, che dấu hoặc lợi dụng
sự tín nhiệm Những hành vi này không phụ thuộc vào việc bị đe doạ hay bị áp lực
về vật chất Gian lận được thực hiện bởi một đối tượng nào đó để thu lợi về tiền, tài sản hay để đảm bảo lợi ích cá nhân hoặc lợi thế kinh doanh
Khái niệm gian lận trong kiểm toán BCTC của chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA)
Theo ISA 240, gian lận liên quan đến BCTC là các hành vi có chủ ý lam thay đổi hoặc giả mạo chứng từ kế toán; ghi chép sai, không trình bày hay cố ý bỏ sót các thông tin quan trọng trên BCTC; cố ý không áp dụng, không tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán, Chuẩn mực kế toán; giấu diếm hay bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc ghi chép các nghiệp vụ không xảy ra
Khái niệm gian lận trong kiểm toán BCTC theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA)
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 thì gian lận là các hành vi cố ý gây ra các sai sót mang tính trọng yếu đến BCTC Gian lận là hành vi cố ý do một hoặc nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp Các biểu hiện phổ biến như sau:
Làm giả hoặc sửa đổi hồ sơ, chứng từ, tài liệu kế toán dẫn đến thay đổi nội dung các nghiệp vụ kinh tế phát sinh do đó làm ảnh hưởng đến thông tin trình bày trên BCTC
Cố ý gây ra sai sót hoặc trình bày sai có chủ đích đối với các thông tin, sự kiện, và các giao dịch được trình bày trên BCTC
Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực kế toán có liên quan đến số lượng, phân loại các nội dung trình bày và công bố về các chỉ tiêu và khoản mục trên BCTC
Nhìn chung, gian lận trên BCTC là các hành vi mang tính cố ý tạo ra các sai lệch về thông tin được trình bày trên BCTC Gian lận có thể mang lại lợi ích cho cá
Trang 21nhân hay cho tổ chức Khi cá nhân thực hiện gian lận, lợi ích có thể là trực tiếp (như nhận tiền hay tài sản), hay gián tiếp (có ảnh hưởng nào đó, tăng quyền lực, sự đền ơn, tiền thưởng…) Khi tổ chức (thường là nhân viên hành động trên tư cách tổ chức) thực hiện gian lận thì lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức thu nhập của công ty tăng lên, giảm thuế, đồng nhất báo cáo với dự đoán của các nhà phân tích, đạt được các hợp đồng vay nợ…
2.1.3 Phân loại các hành vi gian lận
2.1.3.1 Phân loại theo quan điểm của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE)
ACFE (Association of Certified Fraud Examiners) là tổ chức chuyên nghiên cứu về gian lận của Mỹ được thành lập năm 1988 Theo quan điểm của tổ chức thì gian lận được phân loại thành 3 loại chính đó là:
Gian lận liên quan đến tài sản: là các hành vi đánh cắp tài sản thường do nhân viên hoặc người quản lý thực hiện ví dụ như: trộm tiền, lấy cắp hàng tồn kho, khai gian về tiền lương
Tham ô: các hành vi chủ yếu do người quản lý hoặc chủ sở hữu công ty thực hiện nhằm mục đích lợi dụng chức vụ, quyền hạn của họ để tư lợi cho cá nhân hoặc bên thứ ba, làm trái với các nghĩa vụ mà họ đã giao kết với đơn vị
Gian lận trên BCTC: Đây là loại gian lận mà các thông tin được trình bày trên BCTC bị thao túng và không phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của đơn vị nhằm lừa gạt người sử dụng thông tin tài chính
2.1.3.2 Phân loại theo quan điểm của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và quốc tế
Trước sức ép về trách nhiệm của kiểm toán viên phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC, Ủy ban chuẩn mực kiểm toán quốc tế (IAASB) đã ban hành ISA
240 (năm 2004) thay thế cho phiên bản năm 1997 Hoa Kỳ cũng đã sửa đổi bốn lần chuẩn mực trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót (SAS 16 năm
1977, SAS 53 năm 1989, SAS 82 năm 1997 và gần đây nhất là SAS 99 ban hành
Trang 22năm 2002 thay thế cho SAS 82) Hiện tại VSA 240 của Việt Nam ban hành năm
2012 đã được cập nhật và phù hợp với quy định của quốc tế
Việc phân loại các hành vi gian lận trong VSA 240 và ISA 240 là tương đồng với nhau Các hành vi gian lận được phân chia thành hai loại:
Gian lận khi lập BCTC
Là các hành vi mang tính cố ý do Ban Giám đốc gây ra với mục tiêu đem lại các khoản lợi ích cho đơn vị Các biểu hiện thường thấy như sau:
Xuyên tạc, làm giả (bao gồm cả việc giả mạo chữ ký), hoặc sửa đổi chứng
từ, sổ kế toán có chứa đựng các nội dung, số liệu được dùng để lập BCTC
Làm sai lệch hoặc cố ý không trình bày trong BCTC các sự kiện, giao dịch hoặc các thông tin quan trọng khác
Cố ý áp dụng sai các nguyên tắc kế toán liên quan đến các số liệu, sự phân loại, cách thức trình bày hoặc thuyết minh
Biển thủ tài sản
Theo quy định trong VSA 240 thì thủ phạm của hành vi biển thủ tài sản dưới hình thức trộm cắp với giá trị tương đối nhỏ và không mang tính trọng yếu thường là nhân viên trong đơn vị Tuy nhiên, hành vi biển thủ tài sản cũng có thể do thành viên Ban Giám đốc thực hiện vì họ có điều kiện dễ dàng hơn, theo những cách thức khó phát hiện được Hành vi biển thủ tài sản có thể được biểu hiện theo nhiều dạng khác nhau, như:
Biển thủ các khoản thu (ví dụ biển thủ các khoản phải thu đã thu được tiền hoặc chuyển các khoản phải thu đã bị xử lý xóa sổ sang tài khoản cá nhân tại ngân hàng)
Lấy cắp tài sản vật chất hoặc tài sản trí tuệ (ví dụ lấy cắp hàng tồn kho, phế liệu, bán các tài liệu kỹ thuật cho đối thủ cạnh tranh)
Làm cho đơn vị phải thanh toán tiền cho hàng hóa và dịch vụ mà đơn vị không nhận được (ví dụ thanh toán cho những người bán không có thực, thanh toán
Trang 23cho người bán với mức cao hơn giá trị thật để cá nhân được hưởng hoa hồng do chênh lệch giá, thanh toán cho các nhân viên không có thực)
Dùng tài sản của đơn vị để đem lại lợi ích cho cá nhân (ví dụ dùng tài sản của đơn vị làm tài sản thế chấp cho khoản vay cá nhân hoặc khoản vay cho một bên liên quan)
2.1.4 Các hành vi gian lận phổ biến trên BCTC
2.1.4.1 Các hành vi gian lận phổ biến
Theo “Popular earnings management techniques In Earnings management:
An executive perspective” (McKee, 2005, trang 13-22)1 Các thủ thuật điều tiết lợi nhuận bị xem là gian lận trên báo cáo tài chính bao gồm:
“Cookie Jar Reserve”: Công ty tạo ra “Cookie Jar” (Lọ kẹo ngọt) nhằm mục tiêu “để dành” lợi nhuận “Cookie Jar” được tạo ra từ các khoản dự phòng, ghi nhận trước chi phí và trì hoãn ghi nhận doanh thu
“Take a Big Bath”: Công ty xoá bỏ những khoản mục “treo” trên bảng cân đối kế toán nhằm “gột rửa” báo cáo tài chính Thường nghiệp vụ “Take a big bath”
sẽ làm cho công ty lỗ lớn, nhưng sẽ mang lại lợi ích cho các kỳ tiếp theo
“Big bet on the Future”: Công ty “đánh cược” vào tương lai” thông qua áp dụng các lỗ hổng trong quy định của chuẩn mực kế toán để ghi toàn bộ lợi nhuận có thể thu được trong tương lai vào năm hiện tại Một số công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã lợi dụng triệt để thủ thuật này
“Flushing the investment portfolio”: Khi công ty đầu tư vào các loại chứng khoán, thì tuỳ vào xác định của Công ty mà số chứng khoán này có thể trình bày là
“chứng khoán kinh doanh” hoặc là “chứng khoán sẵn sàng để bán” Tại thời điểm lập BCTC, Công ty sẽ đánh giá lại giá trị hợp lý của chứng khoán nắm giữ, tuy nhiên nếu phân loại là “chứng khoán kinh doanh” thì sẽ được ghi thẳng vào báo cáo kết quả kinh doanh còn đối với “chứng khoán sẵn sàng để bán” thì sẽ ghi vào “thu
1 Retrieved from http://www.swlearning.com/pdfs/chapter/0324223250_2.PDF
Trang 24nhập khác” Do đó tuỳ thuộc vào giá trị hợp lý của chứng khoán tại thời điểm lập báo cáo mà đơn vị sẽ có những điều tiết thích hợp để làm đẹp kết quả kinh doanh
“Throw out the Problem Child”: Công ty loại bỏ những phần xấu nhất trên báo cáo tài chính thông qua các giao dịch tài chính với bên thứ ba Đây là thủ thuật phổ biến nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam
“Change GAAP”: Công ty sử dụng thủ thuật thay đổi chính sách kế toán nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận mong muốn Chính sách kế toán được “lợi dụng” nhiều nhất là chính sách ghi nhận doanh thu Rất nhiều công ty đã thay đổi chính sách ghi nhận doanh thu để đạt được lợi nhuận mong muốn
“Sales and Lease Back” Thủ thuật “Bán tái mua/tái thuê” là thủ thuật được Lehman Brothers áp dụng trước khi bị “lộ” và phải bảo hộ phá sản Năm 2016, Eximbank cũng bị đưa ra công chúng vì đã lợi dụng kỹ thuật này Kỹ thuật này sẽ tạo ra một khoản thu nhập được ghi trong năm hiện tại tuy nhiên đó là thu nhập đánh đổi từ việc chịu thêm nhiều chi phí trong tương lai và thủ thuật giúp che dấu các khoản nợ thuê tài chính
“Use of SPEs”: Công ty sử dụng các “đơn vị có mục đích đặc biệt – SPEs” nhằm tạo doanh thu ảo, giấu nợ TTF là trường hợp điển hình nhất sử dụng thủ thuật này
“Above the Line, Below the Line”: thủ thuật phổ biến trên thế giới “Line”
ở đây là dòng lợi nhuận gộp, phía trên “line” là doanh thu và giá vốn, còn phía dưới
là các chi phí hoạt động, lãi vay và thuế Họ có thể cố tình phân loại sai khoản mục
để làm lãi gộp biến động theo hướng có lợi hơn Trên thị trường Việt Nam, cổ phiếu được giới đầu tư gọi là “con tàu ma” đã áp dụng thủ thuật này, nhằm đánh lạc hướng nhà đầu tư về lợi nhuận
“Cherry Picking”: một thủ thuật thông dụng, khi các công ty “chọn lọc” khéo léo hàng để bán, chứng khoán đầu tư nhằm tăng lợi nhuận bán hàng Công ty
sẽ lựa chọn các loại hàng hoá, tài sản có giá trị thị trường tốt nhất của mình để bán
và để lại các hàng hoá, tài sản giá trị thấp là tăng lợi nhuận cho năm hiện hành Các hãng bán lẻ như Tesco đã áp dụng thủ thuật này
Trang 25 “Holding gain”: Hàng tồn kho tăng liên tục qua các năm là dấu hiệu thủ thuật “holding gain” đã được sử dụng để “cook” lợi nhuận Vấn đề hàng tồn kho đang là vấn đề nóng nhất trên thị trường trong các năm gần đây và các năm tới
“Cross Trade”: giao dịch chéo mua đi bán lại liên tục với các bên liên quan nhằm tăng doanh thu Giao dịch dạng này được TTF sử dụng rất nhiều
Ngoài ra còn rất nhiều thủ thuật khác như Shrink the Ship, Early Retirement
of Debts, … đã và đang được sử dụng trên thị trường
2.1.4.2 Ảnh hưởng của gian lận đến BCTC
Ảnh hưởng đến Bảng cân đối kế toán
Trì hoãn việc ghi giảm tài sản ngắn hạn hoặc dài hạn
Không ghi nhận hoặc ghi nhận thấp hơn giá trị các khoản dự phòng
Ghi nhận nợ phải thu (và doanh thu) quá mức
Ghi nhận thấp hơn giá trị hao mòn/phân bổ tài sản dài hạn
Vốn hóa chi phí hoạt động thông thường làm tăng giá trị tài sản
Ghi nhận doanh thu nhận trước vào doanh thu làm giảm nợ phải trả
Chuyển ngoại bảng các khoản nợ phải thu đã bán cho các tổ chức tài chính, không ghi nhận nợ phải trả
Phân loại và hạch toán sai nợ phải trả sang vốn chủ sở hữu
Trì hoãn các khoản công nợ phải trả của kỳ này sang kỳ sau
Chuyển công nợ phải trả sang các bên liên quan (công ty liên kết, đơn vị phục vụ mục đích đặc biệt)
Chuyển nợ phải trả (thuê tài chính) ra ngoại bảng
Ảnh hưởng đến Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
(1) Ghi nhận doanh thu sớm (khi chưa đủ tiêu chuẩn ghi nhận doanh thu)
Ghi nhận doanh thu khi chưa hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng
Ghi nhận doanh thu vượt mức giá trị hoàn thành theo hợp đồng
Trang 26 Ghi nhận doanh thu khi khách hàng chưa chính thức chấp nhận sản phẩm (chưa giao hàng cho khách hoặc giao hàng cho đại lý
Ghi nhận doanh thu khi chưa chắc chắn về việc thanh toán của khách hàng
(2) Ghi nhận doanh thu giả mạo, không đúng bản chất kinh tế
Ghi nhận doanh thu không đúng bản chất kinh tế (bán hàng rồi mua lại với mức giá cao hơn)
Ghi nhận doanh thu bán hàng cho các bên liên quan không dựa trên giá thị trường
Ghi nhận doanh thu đối với các khoản tiền thu được không mang tính chất doanh thu (thu từ khoản vay cầm cố bằng hàng tồn kho, thu tiền ứng trước, tiền nhận từ nhà cung cấp đối với hàng mua trả lại)
Ghi nhận doanh thu cao hơn giá trị thực (doanh thu của đại lý bán hàng bao gồm cả hoa hồng bán hàng và giá trị hàng bán)
(3) Ghi tăng doanh thu m ột lần (bán bộ phận kinh doanh) hoặc
từ các hoạt động bất thường (bán bộ phận kinh doanh thua lỗ)
(4) Chuyển chi phí kỳ này sang kỳ sau
Vốn hóa chi phí hoạt động
Kéo dài thời gian tính khấu hao hoặc phân bổ tài sản
Không ghi nhận giảm giá TSCĐ
Không trích lập hoặc trích lập dự phòng chưa đầy đủ đối với nơ phải thu khó đòi và các khoản đầu tư bị giảm giá
(5) Che giấu chi phí và các khoản lỗ
Trì hoãn việc ghi nhận chi phí đã phát sinh
Không ghi nhận chi phí phải trả (thực tế đã phát sinh nhưng chưa nhận được hóa đơn)
Điều chỉnh giảm các khoản trích lập dự phòng để ghi giảm chi phí
Trang 27(6) Chuyển thu nhập của kỳ này sang kỳ sau
(7) Ghi nhận trước chi phí của kỳ sau sang kỳ này
Ảnh hưởng đến Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
(1) Chuyển dòng tiền thu vào từ hoạt động tài chính sang hoạt động kinh doanh
Ghi nhận tiền vay ngân hàng cầm cố hàng tồn kho vào dòng tiền hoạt động kinh doanh
Sử dụng công cụ ngoại bảng để ghi tăng dòng tiền hoạt động kinh doanh (thành lập đơn vị phục vụ mục đích đặc biệt SPV, SPV vay tiền ngân hàng, sử dụng tiền vay để mua hàng của doanh nghiệp)
Bán các khoản nợ phải thu cho các tổ chức tài chính
(2) Chuyển dòng tiền chi ra từ hoạt động kinh doanh sang hoạt động đầu tư
Sử dụng nghiệp vụ bán đi mua lại (lúc bán ghi nhận dòng tiền thu vào từ hoạt động kinh doanh, lúc mua lại ghi nhận dòng tiền chi ra từ hoạt động đầu tư)
Phân loại tiền chi trả chi phí hoạt động thành mua sắm thiết bị
Phân loại tiền mua hàng thành dòng tiền hoạt động đầu tư
(3) Ghi tăng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh thông qua việc mua lại hoặc thanh lý doanh nghiệp
(4) Ghi tăng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đối với các hoạt động không thường xuyên
Trì hoãn việc thanh toán cho nhà cung cấp sang kỳ sau
Thúc giục khách hàng thanh toán sớm trước hạn
Giảm khối lượng hàng tồn kho được mua trong kỳ
Ảnh hưởng đến Thuyết minh BCTC
Không công bố các thay đổi trong chính sách và ước tính kế toán
Trang 28 Không công bố đầy đủ các sự kiện quan trọng phát sinh sau ngày khóa sổ
kế toán
Không công bố các khoản nợ tiềm tàng (liên quan đến vụ kiện chưa có phán quyết)
Không công bố đầy đủ giao dịch với các bên liên quan
2.1.4.3 Ảnh hưởng của gian lận đến các khoản mục trên BCTC
Gian lận với doanh thu
Gian lận với doanh thu được đánh giá là loại gian lận phổ biến nhất trên BCTC Gian lận khi ghi nhận doanh thu thường gồm 2 dạng: ghi nhận khi chưa đủ điều kiện ghi nhận doanh thu theo hướng dẫn của Chuẩn mực hoặc ghi khống doanh thu Theo 1 thống kê của www.citizenworks.org, “hơn 40% những vụ gian lận lớn nhất xảy ra trong khoảng thời gian từ 1997 – 2002 đều liên quan tới gian lận trong việc ghi nhận doanh thu.”
Các dạng gian lận doanh thu thường gặp
Ký thêm phụ lục hợp đồng (Side agreement) với các điều khoản có lợi cho khách hàng và bất lợi cho công ty như cam kết cho đổi trả hàng vô điều kiện, kéo dài thời hạn chi trả… nhằm mục đích đẩy mạnh doanh số Hoặc dùng hình thức đẩy hàng qua kênh phân phối (Channel stuffing) là việc đưa ra các khoản chiết khấu cao cho các đại lý để các đại lý lấy hàng nhiều nhằm hưởng chiết khấu cao cho dù chưa tiêu thụ được hàng hoá
Giao hàng sớm (Early delivery) là dạng ghi nhận doanh thu sớm hơn so với thời điểm quy định của Chuẩn mực như bàn giao hàng hoá cho khách hàng khi khách hàng chưa sẵn sàng nhận, ghi nhận toàn bộ doanh thu trong khi chưa thực hiện hết nghĩa vụ hợp đồng, ghi doanh thu từ khoản ứng trước của khách hàng…
Tạo ra doanh thu ảo (Fictitious sales) là hình thức thổi phồng doanh thu bằng các giao dịch không có thật và làm giả hồ sơ, chứng từ để chứng minh cho giao dịch Đặc biệt thường sẽ nguy tạo doanh thu thông qua các bên liên quan và ghi nhận doanh thu lòng vòng trong các bên liên quan với nhau Đây là trường hợp
Trang 29của Công ty Cổ phần Mỏ và Xuất nhập khẩu Khoáng sản Miền trung (MTM) và Công ty Cổ phần Kỹ nghệ gỗ Trường Thành (TTF) đã thực hiện trên thị trường
Gian lận với hàng tồn kho
Gian lận về định giá tài sản chiếm gần một nửa số trường hợp gian lận BCTC Trong đó phần lớn các gian lận xảy ra ở hàng tồn kho1 Ghi khống giá trị hàng tồn kho làm tăng tổng giá trị của tài sản và nguồn vốn Giúp doanh nghiệp có tài sản để thế chấp qua đó dễ dàng vay nợ nhiều hơn Ngoài ra hàng tồn kho có liên quan mật thiết đến chỉ tiêu giá vốn trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Do
đó gian lận ở hàng tồn kho sẽ làm ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán trong kỳ, từ đó ảnh hưởng đến lãi gộp
Một số hình thức gian lận phổ biến như sau:
Khống số lượng hàng tồn kho (Inflating Inventory Quantity) bằng cách ghi nhận sai, làm giả hồ sơ nhập hàng, khai khống số lượng trên biên bản kiểm kê
Khống giá trị hàng tồn kho (Inflating Inventory Value) được thực hiện bằng cách giao dịch nhập kho không có thật, tính toán sai giá thành hoặc trì hoãn ghi nhận hàng tồn kho chậm luân chuyển, lỗi thời Ngoài ra việc lập dự phòng không đầy đủ sẽ làm ảnh hưởng đến chi phí giá vốn trong kỳ làm ảnh hưởng đến Kết quả kinh doanh
Vốn hoá các chi phí không phù hợp vào hàng tồn kho (Improper Inventory Capitalization) là trường hợp Công ty cố ý phân loại các loại chi phí hoạt động khác như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp vào giá gốc của hàng tồn kho Các loại chi phí này thay vì ghi nhận vào kết quả hoạt động kinh doanh thì bị treo lại trên bảng cân đối kế toán
Gian lận với tài sản cố định
Gian lận liên quan đến tài sản có các hình thức như sau:
1 http://www.arxisfinancial.com/images/pdfs/Inventory_Fraud.pdf
Trang 30 Biển thủ tài sản, sử dụng tài sản của Công ty cho các mục đích cá nhân, lấy cắp hoặc sử dụng trái phép các bản quyền, bằng sáng chế sản phẩm
Làm giả hồ sơ liên quan đến tài sản cố định như hồ sơ nhập mua tài sản cố định, làm giả biên bản kiểm kê tài sản cố định
Tính khấu hao không phù hợp như tự ý kéo dài thời gian khấu hao, vốn hoá chi phí khấu hao vào hàng tồn kho…
Gian lận với các khoản đầu tƣ
Các khoản đầu tư là hoạt động mà doanh nghiệp mang nguồn lực của mình đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết hoặc các sản phẩm tài chính, được trình bày trên các khoản mục “Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn”, “Bất động sản đầu tư”, “Đầu tư vào công ty con”, “Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết”, hay “Đầu
tư khác” Gian lận trong các khoản đầu tư hiện tại đang sử dụng rất nhiều trên thị trường, các công ty sau khi gọi vốn thường đem toàn bộ tiền đi góp vốn vào 1 một công ty khác (công ty có liên quan với các thành viên chủ chốt) để thông qua đó rút tiền của công ty cho mục đích cá nhân Các dạng phổ biến của gian lận này như sau:
Làm giả các khoản đầu tư và làm giả các chứng từ có liên quan: các khoản đầu tư giả mạo được lập ra nhằm thu lợi từ nguồn tài sản mà doanh nghiệp đã phải
Vốn hoá các chi phí không liên quan đến hoạt động đầu tư như chi phí nhân viên, chi phí hoạt động khác vào giá gốc khoản đầu tư nằm mục đích che giấu chi phí
Trang 31 Gian lận trong vấn đề vốn hoá chi phí
Là một trong các loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính với mục tiêu treo lại các khoản chi phí đáng lẽ phải ghi nhận vào kết quả kinh doanh trong kỳ, làm kết quả kinh doanh trong kỳ đẹp hơn Các loại chi phí thường bị vốn hoá là chi phí liên quan đến tài sản vô hình như chi phí nghiên cứu, phát triển, chi phí sửa chữa, bảo dưỡng, chi phí phát triển phần mềm… và chi phí lãi vay
Gian lận liên quan đến các khoản nợ phải trả
“Giấu nợ” là một trong các thủ thuật thường dùng để làm đẹp báo cáo tài chính khi che giấu đi rất nhiều các khoản nợ mang tính trọng yếu và ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của Công ty Khi che dấu nợ có thể sẽ kèm theo sự biến mất của một khoản chi phí tương ứng là ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ kế toán Các dạng che dấu nợ thường gặp trên thị trường bao gồm:
Giấu các khoản nợ tiềm tàng (provision liabilities concealment): theo quy định của các chuẩn mực hiện hành thì các khoản nợ tiềm tàng phải được ghi nhận khi có cơ sở chắc chắn sẽ phát sinh các khoản nợ và phải được đo lường một cách đáng tin cậy Doanh nghiệp sẽ lợi dụng các quyết định mang tính xét đoán cao này nằm tránh ghi nhận các khoản nợ phải trả và chi phí tương ứng
Giấu các khoản doanh thu chưa thực hiện (Deferred revenue concealment): trong trường hợp này thay vì phải ghi nhận một khoản doanh thu chưa thực hiện công ty ghi nhận luôn vào doanh thu và tính kết quả kinh doanh cho kỳ kế toán
Giấu các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp (Account payable concealment): Công ty cố ý giấu các hợp đồng quan trọng để che giấu các nghĩa vụ
nợ nằm hoãn lại, chưa ghi chi phí trong kỳ
Lập công ty con để giấu nợ (Special purpose entity) đây là một trong những thủ đoạn tinh vi, các công ty lập ra các đơn vị có mục đích đặc biệt để giấu nợ, giấu chi phí, tạo doanh thu ảo… với mục tiêu rất rõ ràng là làm đẹp báo cáo tài chính Trường hợp nổi tiếng nhất sử dụng phương pháp này đó là Công ty năng lượng Enron
Trang 32 Biển thủ tài sản
Có nhiều loại biển thủ tài sản khác nhau Một số dạng thường gặp là:
Biển thủ doanh thu (revenue embezzlement): Bỏ ngoài sổ khoản doanh thu hoặc phải thu khách hàng, “lapping” (kỹ thuật dựa trên nguyên tắc thế chỗ, lấy khoản tiền nọ bù đắp cho khoản tiền kia để chiếm dụng một khoản tiền)
Gian lận chi phí (improper expenditure): Giả mạo các khoản chi phí, các khoản thanh toán bằng cách giả mạo nhà cung cấp; giả mạo bảng lương, ghi khống
số lượng nhân viên, ghi sai số giờ làm
Biển thủ hàng tồn kho: đặt hàng khống, xoá sổ sai hàng tồn kho hoặc nguy tạo doanh thu giả
2.1.5 Các trường hợp chênh lệch giữa BCTC trước và sau kiểm toán trong thời gian gần đây trên thị trường chứng khoán Việt Nam (BCTC năm 2017)
Theo thống kê của Vietstock.vn tính đến ngày 16/04/2018, trong tổng số
709 CTNY đã công bố BCTC kiểm toán năm 2017 có 540 CTNY có lợi nhuận sau thuế đã được kiểm toán có chênh lệch so với báo cáo tự lập Trong đó, có 5 doanh nghiệp chuyển từ lãi thành lỗ và không có doanh nghiệp nào từ lỗ sang lãi sau kiểm toán Nhiều CTNY có chênh lệch giữa BCTC trước và sau kiểm toán năm 2017 tương đối lớn và bằng nhiều hình thức khác nhau
Tăng lợi nhuận sau kiểm toán
Xét về giá trị tuyệt đối, sau kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của Tổng CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng (HOSE: DIG) tăng lên thành 202 tỷ đồng, gấp đôi so với trước kiểm toán Theo giải trình của công ty thì do khoản doanh thu chưa thực hiện được ghi nhận thêm trong năm 2017 làm doanh thu hoạt động kinh doanh tăng 135,912 tỷ và doanh thu khác tăng 13,377 tỷ; ngoài ra các khoản làm giảm lợi nhuận bao gồm giảm doanh thu nội bộ 5,922 tỷ và lỗ trong công ty liên kết tăng 21,234 tỷ Tại báo cáo riêng cũng có những khoản chênh lệch chủ yếu là hạch toán
bổ sung hàng bán trả lại thuộc dự án Nam Vĩnh Yên với số tiền là 5,6 tỷ đồng kèm
Trang 33với số giá vốn Ngoài ra công ty còn bổ sung doanh thu nhận cổ tức từ công ty con
và thu nhập khác do không còn nghĩa vụ phải trả nhà cung cấp
Bảng 2-1 Top 20 CTNY tăng lãi trên 20% sau kiểm toán năm 2017
(ĐVT: tỷ VND)
(Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của Vietstock.vn)
CTCP Hóa chất Đức Giang - Lào Cai (HNX: DGL) cũng có lãi ròng năm
2017 sau kiểm toán tăng hơn 100 tỷ đồng so với báo cáo tự lập trước đó, đạt gần
330 tỷ đồng Đây cũng là con số lãi cao kỷ lục mà DGL đạt được từ khi thành lập Lãi này chủ yếu đến từ việc hợp nhất bổ sung đối với 2 công ty con là Công ty cổ phần hoá chất và phân bón Lào Cai và Công ty cổ phần hoá chất Bảo Thắng
Trường hợp khác cũng tăng lãi gấp đôi sau kiểm toán là Tổng CTCP Khoan
và Dịch vụ Khoan dầu khí (PVD) khi nâng lãi từ 11.7 tỷ đồng lên 35.6 tỷ đồng Nguyên nhân theo giải trình của công ty là do công ty giảm các khoản dự phòng hàng tồn kho
Trang 34 Giảm lợi nhuận sau kiểm toán
Bảng 2-2 CTNY có lãi 2017 giảm trên 40% sau kiểm toán
(ĐVT: tỷ VND)
(Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của Vietstock.vn)
Chênh lệch làm giảm lợi nhuận sau kiểm toán với số tuyệt đối lớn nhất thuộc về hai công ty hiện đang có tình hình tài chính không được tốt và đang rất được thị trường quan tâm đó là Công ty Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành (TTF)
và bộ đôi cổ phiếu Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAG) và Công ty Cổ phần Nông nghiệp quốc tế Hoàng Anh Gia Lai (HNG)
Đối với Công ty Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành lợi nhuận sau kiểm toán mất 24 tỷ đồng tương đương với 91% lợi nhuận Nguyên nhân theo giải trình của TTF là do tăng giá vốn từ việc điều chỉnh bổ sung giá vốn từ hàng dở dang đang thi công tại các công trình 9,6 tỷ đồng, trích lập bổ sung dự phòng giảm giá hàng tồn kho 4,9 tỷ và phân loại lại chi phí chuyển sang chi phí khác 1,2 tỷ Về chi phí tài chính, công ty phải điều chỉnh chi phí lãi vay do trích thừa 7,2 tỷ và giảm
Trang 35khoản chênh lệch tỷ giá 1,2 tỷ do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 2,7 tỷ do trích lập bổ sung khoản dự phòng phải thu khó đòi và trích bổ sung tiền lương tháng 13 là 1,2 tỷ đồng Chi phí khác tăng 1,2 tỷ do phần phân loại lại từ giá vốn và ghi nhận chi phí sửa chữa kho vào chi phí trong năm do không tiếp tục hợp đồng là 1,6 tỷ Qua giải trình của TTF rõ ràng chi phí trong năm của TTF hiện đang bị che dấu bớt để báo lãi cho năm tài chính 2017 Tuy nhiên qua kiểm toán phần lãi này gần như biến mất
Trường hợp của Hoàng Anh Gia Lai, hàng loạt chi phí rất lớn đã bị kiểm toán phát hiện là công ty ghi thiếu Cụ thể, tăng chi phí tài chính 130 tỷ đồng do chênh lệch lãi suất đi vay và cho vay lại của các công ty con; tăng chi phí quản lý doanh nghiệp 60,5 tỷ đồng do tăng chi phí phải trả; tăng chi phí khác 134 tỷ đồng chủ yếu do dự phòng thanh lý Công ty TNHH Điện Nậm Kông 3; tăng 50 tỷ đồng chi phí chuyển đổi vườn cây cọ dầu sang trồng cây ăn trái của các công ty con bên Lào; tăng gần 91 tỷ đồng chi phí chăm sóc vườn cây cao su, cây ăn trái; tăng 9,8 tỷ đồng chi phí thanh lý tài sản… Điều này là cho lợi nhuận sau thuế của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã giảm từ 1.032 tỷ đồng trước kiểm toán xuống chỉ còn 371 tỷ đồng sau kiểm toán, nghĩa là giảm tới hơn 660 tỷ đồng, tương đương mức giảm 64% Đáng lo ngại hơn kiểm toán viên đưa ra ý kiến ngoại trừ đối với việc đánh giá khả năng thu hồi của tổng các khoản phải thu từ các bên liên quan với số tiền 4,023
tỷ đồng Đây là một khoản phải thu rất lớn thuộc về bên liên quan tuy nhiên không xác định được khoản này còn khả năng thu hồi hay không Đây là một vấn đề rất quan trọng và có tác động lớn tới tình hình tài chính của Hoàng Anh Gia Lai vốn không được lành mạnh do tài sản ngắn hạn không đủ để trả cho các khoản nợ ngắn hạn của họ theo như đoạn nhấn mạnh của kiểm toán viên
Càng lỗ nhiều hơn hoặc chuyển từ lời sang lỗ
Công ty có lỗ khủng sau kiểm toán là Công ty Cổ phần Hùng Vương, số lỗ tăng lên đến 642,04 tỷ đồng Nguyên nhân theo giải trình của Công ty chủ yếu là do trích lập dự phòng nợ phải thu từ công ty mẹ hơn 162 tỷ, CTCP XNK Thủy sản An Giang (AGF) hơn 80 tỷ đồng, tại CTCP Thức ăn chăn nuôi Việt Thắng hơn 302 tỷ
Trang 36đồng Ngoài ra còn một số khoản điểu chỉnh giảm doanh thu và giá vốn tương ứng làm lợi nhuận gộp giảm 63 tỷ đồng, tăng lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho 11,6
tỷ và chênh lệch ở một số khoản chênh lệch tỷ giá Công ty con của Hùng Vương là CTCP XNK Thủy sản An Giang (AGF) có kết quả sau kiểm toán từ lời sang lỗ Nguyên nhân theo giải trình là do lợi nhuận gộp giảm 109 tỷ đồng do ghi giảm doanh thu bán cá không được ghi nhận đúng niên độ, ngoài ra còn chi phí trích lập
dự phòng nợ phải thu khó đòi bổ sung 81 tỷ
Bảng 2-3 CTNY tăng lỗ trên 15% và từ lãi chuyển lỗ sau kiểm toán
(ĐVT: tỷ VND)
(Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của Vietstock.vn)
Công ty Cổ phần Nhựa Rạng Đông có số lỗ lớn sau kiểm toán làm từ lời
107 tỷ sang lỗ 55 tỷ Nguyên nhân theo giải thích của Công ty là do trích bỜ
Trang 37Tóm lại, trên thị trường trong những năm gần đây có rất nhiều dạng sai sót của các CTNY Số liệu giữa báo cáo tự lập và báo cáo được kiểm toán vẫn có một khoảng cách rất xa làm người sử dụng thông tin có phần lo lắng về chất lượng của các BCTC đã được công bố Như trường hợp của Công ty Gỗ Trường Thành, liên tiếp nhiều năm liền kiểm toán vẫn đưa ra ý kiến trung thực hợp lý trong khi sự thật thì giữa BCTC và tình hình thực tế của doanh nghiệp khác xa rất nhiều Tình trạng gian lận trên BCTC của các CTNY đang làm mất niềm tin của nhà đầu tư, ảnh hưởng rất xấu đến sự minh bạch và lành mạnh của thị trường
2.2 Các lý thuyết giải thích cho hành vi gian lận trên BCTC
2.2.1 Các lý thuyết nền tảng
2.2.1.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Lý thuyết được xây dựng từ những năm 1970 bởi 3 nhà nghiên cứu: George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stigliz Theo lý thuyết này thì thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của thị trường Bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin tuy nhiên người mua sẽ gặp bất lợi do không có thông tin xác thực, đầy đủ
và kịp thời nên dẫn tới trả giá thấp hơn giá trị thực của hàng hóa Hậu quả là người bán không còn động lực để sản xuất hàng hóa có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm trung bình trên thị trường Sau cùng, bất cân xứng thông tin thậm chí còn có thể dẫn đến tình trạng trên thị trường chỉ còn lại những sản phẩm có chất lượng kém, hàng hóa tốt bị loại bỏ dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch (adverse selection) cho cả hai bên Bất cân xứng thông tin còn gây ra rủi ro đạo đức (moral hazard) và độc quyền về thông tin (information monopoly)
Thông tin luôn được coi là một tài sản rất có giá trị trên thị trường chứng khoán Bất cân xứng thông tin diễn ra trên thị trường chứng khoán khi một trong các bên là các thành viên quản lý chủ chốt hoặc một nhóm nhỏ các nhà đầu tư nắm quá nhiều thông tin quan trọng mà phần lớn các nhà đầu tư khác không được biết Khi đó sẽ xảy ra hiện tượng những người nắm giữ thông tin sẽ giấu diếm, che đậy
Trang 38các thông tin bất lợi, thổi phồng các thông tin có lợi hoặc dựa vào các thông tin sẵn
có để giăng bẫy đối với các nhà đầu tư không có khả năng tiếp cận sớm thông tin
Có thể thấy rõ bất cân xứng thông tin là một trong những nguyên nhân khiến cho các thành viên chủ chốt thực hiện gian lận trên BCTC, “chế biến” BCTC theo hướng mong muốn nhằm trục lợi
2.2.1.2 Lý thuyết uỷ nhiệm
Lý thuyết ủy nhiệm được công bố bởi hai nhà kinh tế học Jensen & Meckling (1976) tập trung nghiên cứu về mối quan hệ của bên uỷ nhiệm và bên được uỷ nhiệm Theo đó, thông qua hợp đồng uỷ nhiệm, bên nhận uỷ nhiệm sẽ thay mặt bên uỷ nhiệm thực hiện các công việc được giao Có rất nhiều loại hợp đồng uỷ nhiệm khác nhau tuy nhiên có hai loại hợp đồng uỷ nhiệm được chú trọng hơn đó là hợp đồng giữa cổ đông với nhà quản lý và hợp đồng vay nợ giữa chủ nợ (ngân hàng) với người nhận nợ (doanh nghiệp) Các hợp đồng này sẽ phát sinh các chi phí
uỷ nhiệm (agency costs), đây là khoản chi phí mà bên uỷ nhiệm bị mất đi do sự tách rời lợi ích của họ với bên được uỷ nhiệm
Theo lý thuyết uỷ nhiệm để giảm chi phí uỷ nhiệm giữa cổ đông và nhà quản lý, để khuyến khích nhà quản lý tối đa hoá giá trị thị trường của doanh nghiệp, điều hành doanh nghiệp đạt được mức tăng trưởng và lợi nhuận tối đa thì các cổ đông nên sử dụng các chính sách thưởng Tuy nhiên chính sách khen thưởng hầu hết đến từ những con số trên báo cáo tài chính Điều này làm gia tăng khả năng nhà quản trị có thể tác động lên BCTC nhằm mục đích tối đa hoá khoản thưởng của mình Và thực tế đã chứng minh hàng loạt các lãnh đạo của Lehman Brothers, Bank
of America hay Citigroup đã nhận hàng triệu đô la trước khi đẩy các công ty này tới bên bờ vực phá sản và cũng là nguồn cơn cho cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ năm 2008
Liên quan đến hợp đồng giữa chủ nợ và bên nhận nợ (doanh nghiệp) Lý thuyết cũng cho rằng vì lý do tối đa hoá lợi ích cho doanh nghiệp như hưởng các khoản ưu đãi lãi suất, hoặc được cấp hạn mức tín dụng lớn hơn, nên các doanh
Trang 39nghiệp sẽ cung cấp các BCTC “đẹp đẽ” hơn cho các chủ nợ thông qua việc điều tiết các chỉ tiêu trên BCTC Điều này tạo ra động lực cho nhà quản trị thực hiện các gian lận trên BCTC
2.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu về hành vi gian lận
2.2.2.1 Lý thuyết về tam giác gian lận
Lý thuyết được phát triển bởi Donald R Cressey (1919 – 1987) Ông là nhà nghiên cứu về tội phạm thuộc trường Đại học Indiana của Mỹ Ông cũng là sáng lập viên của ACFE Trong nghiên cứu của mình, ông đã tập trung phân tích về gian lận
và biển thủ thông qua khảo sát khoảng 200 trường hợp phạm tội về kinh tế để giải thích cho nguyên nhân của các hành vi trên Ông đã xây dựng nên lý thuyết về mô hình tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày các nhân tố dẫn đến hành vi gian lận, và hiện tại mô hình này được xem là một trong những mô hình chính thống trong việc phát hiện ra các gian lận đối với kiểm toán viên Theo Cressey (1953) tam giác gian lận gồm 3 nhân tố chính:
Áp lực: Gian lận xảy ra khi cá nhân, tổ chức chịu áp lực cả từ bên ngoài lẫn bên trong Áp lực đó có thể là những nhu cầu cao về tài chính của cá nhân, những
kỳ vọng đặt ra từ cổ đông, chủ nợ, nhà đầu tư…
Cơ hội: Khi bị đặt dưới áp lực cao, nếu có cơ hội cá nhân hoặc tổ chức sẽ thực hiện hành vi gian lận Có 2 yếu tố liên quan đến cơ hội, thứ nhất là có thông tin
và thứ hai là có cách để thực hiện
Thái độ, cá tính: Là yếu tố cuối cùng quyết định cá nhân hoặc tổ chức có thực hiện hành vi gian lận hay không bởi vì không phải bất cứ ai đặt vào hoàn cảnh chịu nhiều áp lực và có nhiều cơ hội là chắc chắn họ sẽ gian lận Điều này sẽ phụ thuộc rất nhiều vào thái độ và cá tính của cá nhân hoặc tổ chức đó
Việc vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu gian lận trên báo cáo tài chính giúp chúng ta dự đoán được các doanh nghiệp có nguy cơ gian lận cao khi nhận ra được các áp lực về tài chính như phải đảm bảo công ty có lợi nhuận nhiều, doanh
Trang 40thu phải tăng trưởng mạnh hoặc nhu cầu kêu gọi vốn của các nhà đầu tư cũng như các chủ nợ…
2.2.2.2 Lý thuyết bàn cân gian lận
Lý thuyết được xây dựng bởi Steve Albrecht và 2 đồng sự Keith Howe và Marshall Rommey Nghiên cứu được thực hiện thông qua phân tích 212 trường hợp gian lận năm 1980 và thực hiện khảo sát thông tin thông qua bảng câu hỏi Người tham gia các nghiên cứu này là KTV nội bộ ở các công ty tại Mỹ
Nghiên cứu đã xây dựng được một số dấu hiệu báo động đỏ (red flags) để chỉ dẫn về gian lận của cá nhân và tổ chức
Đối với cá nhân: Sống dưới mức trung bình, nợ nần quá cao, quá mong muốn mức thu nhập cao, có mối quan hệ thân thiết với khách hàng hoặc nhà cung cấp, cảm giác được trả lương không tương xứng với năng lực, mối quan hệ chủ - nhân viên không được tốt, có mong muốn chứng tỏ là họ có thể vượt qua được sự kiểm soát của tổ chức, có thói quen cờ bạc, chịu áp lực từ gia đình hay phụ thuộc gia đình quá mức, không được ghi nhận thành tích…
Đối với tổ chức: Đặt quá nhiều lòng tin vào nhân viên chủ chốt, thiếu thủ tục phê chuẩn thích hợp, không yêu cầu công bố đầy đủ các khoản thu nhập của cá nhân, không tách biệt chức năng bảo quản tài sản và xét duyệt, thiếu kiểm tra hay soát xét độc lập việc thực hiện, không theo dõi chi tiết các hoạt động, không tách biệt chức năng bảo quản tài sản với chức năng kế toán, không tách biệt một số chức năng kế toán, thiếu chỉ dẫn rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn, thiếu sự giám sát của kiểm toán nội bộ
Lý thuyết tổng kết được mô hình bàn cân gian lận bao gồm ba nhân tố là hoàn cảnh tạo ra áp lực, cơ hội và tính trung thực của cá nhân Khi hoàn cảnh tạo ra
áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính liêm khiết của cá nhân thấp thì khi đó gian lận rất dễ xảy ra và ngược lại khi áp lực nhỏ, cơ hội thực hiện gian lận không có và tính liêm chính cao thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp