Để tìm hiểu thực trạng và các chính sách của địa phương trong việc hỗ trợ cho phụ nữ nhập cư được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, từ đó đưa ra các đề xuất, khuyến nghị nhằm giảm thiểu b
Trang 1-
NGUYỄN THỊ KIM THI
TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CỦA PHỤ
NỮ NHẬP CƯ – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI PHƯỜNG TÂN TẠO A, QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh -Năm 2019
Trang 2-
NGUYỄN THỊ KIM THI
TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ NHẬP
CƯ – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI PHƯỜNG TÂN TẠO A, QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý công (Hệ điều hành cao cấp)
Trang 3Tôi cam đoan đề tài “Tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư –
nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Số liệu thu thập từ bảng hỏi
được tôi và nhóm cộng tác viên của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận Bình Tân trực tiếp tiến hành khảo sát tại địa phương Cá nhân tôi tổng hợp, phân tích theo các tiêu chí của đề tài đặt ra Các số liệu, tài liệu tham khảo, trích dẫn được tôi chỉ rõ nguồn gốc Luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Người thực hiện luận văn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÓM TẮT - ABSTRACT
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 7
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
1.6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 7
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 9
2.1 CÁI KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 9
2.1.1 Nhập cư 9
2.1.2 Dân nhập cư 9
2.1.3 Dịch vụ 10
2.1.4 Chính sách xã hội 11
2.1.5 Dịch vụ xã hội 11
2.1.6 Dịch vụ xã hội cơ bản 12
2.2 TỔNG QUAN CÁC CƠ SỞ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG 14
2.2.1 Lý thuyết xung đột 14
Trang 52.3.1 Một số nghiên cứu nước ngoài 17
2.3.2 Một số nghiên cứu trong nước 17
2.4 KHUNG PHÂN TÍCH ĐỀ XUẤT 20
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 22
3.2 THIẾT KẾ BẢNG HỎI 22
3.3 THU THẬP DỮ LIỆU 23
3.3.1 Quy trình thu thập dữ liệu 24
3.4.2 Phương pháp quan sát 24
3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 25
3.4.1 Phương pháp tổng quan tài liệu 25
3.4.2 Phương pháp thống kê 25
3.4.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 26
3.4.4 Mẫu nghiên cứu 26
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ NHẬP CƯ TẠI PHƯỜNG TÂN TẠO A, QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28
4.1 ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU XÃ HỘI 28
4.1.1 Độ tuổi 28
4.1.2 Học vấn 29
4.1.3 Tình trạng hôn nhân 30
4.1.4 Nghề nghiệp 30
4.2 THỰC TRẠNG VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI 33
4.2.1 Dịch vụ xã hội cơ bản 33
4.2.2 Dịch vụ công 58
Trang 64.3.2 So sánh về dịch vụ công 71
4.4 ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ NHẬP CƯ VÀ VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI 73
4.5 CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 75
4.5.1 Về giáo dục 75
4.5.2 Về y tế 79
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ CÁC ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ 81
5.1 KẾT LUẬN 81
5.2 ĐỀ XUẤT 84
5.2.1 Dịch vụ xã hội cơ bản 84
5.2.2 Dịch vụ công 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Từ viết tắt Tên tiếng Việt
AUSAID Cơ quan phát triển quốc tế Úc
CEDAW Công ƣớc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
UNFPA Quỹ dân số Liên hiệp quốc
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
VGA Đánh giá giới tại Việt Nam
WB Ngân hàng thế giới
Trang 8Bảng 1.2 Dân số quận Bình Tân 2
Bảng 1.3 Dân số phường Tân Tạo A 3
Bảng 4.1 Nhóm tuổi của phụ nữ nhập cư và phụ nữ thường trú 28
Bảng 4.2 Nhóm tình trạng hôn nhân của phụ nữ nhập cư và phụ nữ thường trú 30
Bảng 4.3 Tình trạng giấy chủ quyền nhà ở của phụ nữ nhập cư và thường trú 35
Bảng 4.4 Lý do chưa có giấy chủ quyền nhà đất của phụ nữ nhập cư 35
Bảng 4.5 Người trong độ tuổi lao động có BHYT của phụ nữ nhập cư và thường trú 43
Bảng 4.6 Sử dụng dịch vụ y tế cho người trong độ tuổi lao động của phụ nữ nhập cư và thường trú 44
Bảng 4.7 Lý do không sử dụng BHYT trong 12 tháng qua của phụ nữ nhập cư và thường trú 45
Bảng 4.8 BHYT miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi (gia đình phụ nữ nhập cư và thường trú) 46
Bảng 4.9 Bảo hiểm y tế cho người già (gia đình phụ nữ nhập cư và thường trú) 50
Bảng 4.10 Việc sử dụng bảo hiểm y tế của người già (gia đình phụ nữ nhập cư và thường trú) 51
Bảng 4.11 Việc tuyên truyền về sức khỏe sinh sản 52
Bảng 4.12 Tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em 52
Bảng 4.13 Tuyên truyền các biện pháp phòng chống HIV/AIDS 53
Bảng 4.14 Những khó khăn khi cho trẻ đi học 55
Bảng 4.15 Tham dự các khóa đào tạo – tập huấn của phụ nữ nhập cư và thường trú56 Bảng 4.16 Nguồn trợ giúp khi gặp khó khăn về sức khỏe, y tế 58
Bảng 4.17 Nguồn trợ giúp khi khó khăn về việc học của con em trong gia đình 59
Bảng 4.18 Nguồn trợ giúp khi có khó khăn về thủ tục, giấy tờ 60
Bảng 4.19 Nguồn trợ giúp khi có khó khăn liên quan đến pháp luật 61
Trang 9Bảng 4.22 Có biết hay không các quỹ tín dụng tại địa phương 65
Bảng 4.23 Nguồn trợ giúp khi gặp khó khăn về tài chính 66
Bảng 4.24 So sánh khả năng trang trải cho những nhu cầu cần thiết trước và sau khi nhập cư 67
Bảng 4.25 So sánh điều kiện chỗ ở trước và sau khi nhập cư 68
Bảng 4.26 So sánh điều kiện vệ sinh môi trường trước và sau khi nhập cư 68
Bảng 4.27 So sánh điều kiện nước sạch trước và sau khi nhập cư 69
Bảng 4.28 So sánh điều kiện về điện sinh hoạt trước và sau khi nhập cư 69
Bảng 4.29 So sánh điều kiện khám chữa bệnh trước và sau khi nhập cư 70
Bảng 4.30 So sánh điều kiện học tập và đào tạo nghề trước và sau khi nhập cư 71
Bảng 4.31 So sánh về việc làm trước và sau khi nhập cư 71
Bảng 4.32 So sánh mức thu nhập trước và sau khi nhập cư 72
Bảng 4.33 So sánh về tín dụng trước và sau khi nhập cư 72
Bảng 4.34 Đánh giá mức độ thoải mái hay không khi sinh sống trong khu vực đa số là người dân KT1 hoặc KT3 73
Bảng 4.35 Đánh giá mức độ thoải mái hay không khi giao tiếp với người dân KT1 hoặc KT3 74
Trang 10Biểu đồ 4.1 Nhóm trình độ học vấn của phụ nữ nhập cư và thường trú 30
Biểu đồ 4.2 Nhóm nghề nghiệp của phụ nữ nhập cư 32
Biểu đồ 4.3 Nhóm nghề nghiệp của phụ nữ thường trú 32
Biểu đồ 4.4 Tình trạng nhà ở của phụ nữ nhập cư và thường trú 34
Biểu đồ 4.5 Nguồn điện đang sử dụng của phụ nữ nhập cư và thường trú 36
Biểu đồ 4.6 Giá điện sinh hoạt gia đình chi trả của phụ nữ nhập cư và thường trú 38 Biểu đồ 4.7 Nguồn nước chính gia đình của phụ nữ nhập cư và thường trú đang dùng để nấu ăn, uống 40
Biểu đồ 4.8 Cách xử lý khi trong nhà có người bệnh của phụ nữ nhập cư và thường trú 41
Biểu đồ 4.9 Sử dụng dịch vụ y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi của phụ nữ nhập cư và thường trú 48
Biểu đồ 4.10 BHYT cho trẻ em từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi (gia đình phụ nữ nhập cư và thường trú) 49
Biểu đồ 4.11 Có khó khăn hay không khi cho trẻ đi học (gia đình phụ nữ nhập cư và thường trú) 54
Biểu đồ 4.12 Nguồn trợ giúp khi gặp khó khăn về việc làm 63
Trang 11Hình 1.1 Bản đồ phường Tân Tạo A, quận Bình Tân 4
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 22
Trang 12Dân số của thành phố tăng nhanh trong những năm qua, chủ yếu là tăng cơ học
có nguồn gốc di dân từ các tỉnh thành khác Quận Bình Tân có tỷ lệ người nhập cư chiếm đến 51,3% dân số toàn quận Dân số tăng đột biến sẽ đặt ra những vấn đề nan giải về giải quyết việc làm, nhà ở, tệ nạn xã hội, các dịch vụ xã hội Quan trọng nhất trong các vấn đề trên là vấn đề phụ nữ nhập cư thiếu sự bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội so với phụ nữ thường trú Để tìm hiểu thực trạng và các chính sách của địa phương trong việc hỗ trợ cho phụ nữ nhập cư được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, từ đó đưa ra các đề xuất, khuyến nghị nhằm giảm thiểu bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư, tác giả chọn đề tài
“Tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư – nghiên cứu trường hợp tại
phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh”.Áp dụng phương
pháp điều tra xã hội học và phân tích thống kê, mô tả Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ nhập cư tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản kém hơn rất nhiều so với phụ nữ thường trú Tình hình này cần được giải quyết nhanh chóng, khẩn thiết để tạo ra sự bình đẳng để ngăn ngừa các bất ổn xã hội tiềm ẩn ở cộng đồng người nhập cư Tác giả đã đề xuất một số giải pháp chính sách công cho Ủy ban nhân dân quận Bình Tân và Sở Lao động – Thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh nhằm góp phần giúp cơ quan chức năng điều chỉnh các chính sách phù hợp với đặc thù từng địa phương nhằm xóa bỏ các bất bình đẳng cũng như thiệt thòi của phụ nữ nhập cư trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội
Từ khóa: Dịch vụ xã hội, Phụ nữ nhập cư, Bình đẳng, Chính sách công
Trang 13The population of the city has increased rapidly in recent years, mainly due to immigrants from other provinces Binh Tan district has a proportion of migrants accounting for 51.3% of the district's population The steady increase in population
is posing problems in employment, housing, social evils and social services for migrant communities One of the worst problems is the lack of equality of migrant women in accessing social services compared to permanent resident women To understand the current situation and elaborate local policies in supporting migrant women in accessing to social services, and to minimize social inequality, the study
"Access to social services of migrant women - case study in Tan Tao A ward,
Binh Tan district, Ho Chi Minh city " was conducted Applying the method of
sociological investigation and statistical descriptive analysis the study found that migrant women have much worse access to basic social services than permanent resident women This situation needs to be resolved quickly and urgently to create equality to prevent potential social unrest in the immigrant community The author has proposed a number of public policy solutions for the People's Committee of Binh Tan District and Ho Chi Minh City Department of Labor, War Invalids and Social Affairs to help authorities regulating appropriate policies that harmonized with local characteristics to eliminate inequalities and disadvantages of migrant women in accessing social services
Keywords: Social services, Immigrant women, Equality, Public policy
Trang 14CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2.056,50 km2 là trung tâm kinh tế văn hóa và khoa học kĩ thuật Thành phố rất đa dạng về văn hóa, có 13 tôn giáo và 54 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn (Tổng cục thống kê, 2009) Thành phố cũng là một trong những những tỉnh thành thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2016) Quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh diễn ra nhanh chóng đã thúc đẩy mức tăng trưởng kinh tế của thành phố Tại thành phố hiện có hàng trăm khu công nghiệp lớn nhỏ đã tạo ra một khối lượng việc làm khổng lồ cho dân cư GDP năm 2015 của thành phố là 503.222 tỷ đồng tăng 10,3%
so với năm 2017 và mức tăng trưởng GDP của thành phố 6 tháng đầu năm 2018 đạt 287.162 tỷ đồng, tăng 8,1% (Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, 2017) Điều này đã đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước Những yếu tố trên là nguyên nhân chính làm cho thành phố Hồ Chí Minh trở thành thị trường lao động hấp dẫn
và thu hút hàng triệu lượt người nhập cư từ các tỉnh thành phố khác trên cả nước đến thành phố Hồ Chí Minh để đến học tập, lao động và sinh sống
Bảng 1.1 Dân số thành phố Hồ Chí Minh
(đơn vị tính: người)
6.291.055 6.778.867 7.000.746 7.201.559 7.396.446
Nguồn: Cục thống kê TP.HCM (2017), Niên giám Thống kê, trang 24
Dân số của thành phố năm 2016 là 7.201.559 người, trong đó nam là 3.454.588 người chiếm 47,97% và nữ là 3.746.972 người chiếm 52,03 % dân số thành phố Dân nhập cư từ các tỉnh chiếm 30,1% dân số, tức khoảng 2.167.669 người trên tổng số dân thành phố (Tổng cục thống kê, 2009) Đến cuối năm 2017, dân số thành phố Hồ Chí Minh đã là 7.396.446 người, trong đó nam là 3.531.557 người chiếm 47,7 % và nữ là 3.864.889 người chiếm 52,3 % dân số toàn thành phố Dân nhập cư từ các tỉnh thành phố khác vào thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng
Trang 15tăng và đã tăng 17,8% so với 2013(Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, 2017) Quận Bình Tân là đô thị mới được thành lập bao gồm 10 phường theo Nghị định 130/NĐ – CP ngày 05/11/2003 của Chính phủ về việc thành lập các quận Bình Tân, Tân Phú và các phường trực thuộc; điều chỉnh địa giới hành chính phường thuộc quận Tân Bình; thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Bình Chánh, Cần Giờ
và Hóc Môn của thành phố Hồ Chí Minh Quận được thành lập từ các xã thị như thị trấn An Lạc, xã Bình Hưng Hòa, xã Bình Trị Đông và xã Tân Tạo của huyện Bình Chánh trước đây
Tính đến cuối năm 2017, quận Bình Tân có dân số hơn 729.366 nhân khẩu, 95.784 hộ gia đình, 130 khu phố và 1.586 tổ dân phố – đây là địa phương cấp quận
có dân số đông nhất trong số 24 quận/huyện của thành phố Hồ Chí Minh (Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, 2010) Theo thống kê trên địa bàn toàn thành phố thì có 9 quận, huyện tập trung hơn 30% người nhập cư đến sinh sống Trong đó, nhiều nhất là quận Bình Tân 371.976 người, chiếm 51,3% dân số toàn quận (Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh khoa xã hội và nhân văn, 2017), không những thế dân nhập cư vào quận Bình Tân có xu hướng tăng trong các năm và có
sự khác biệt về giới tính khi nhập cư đến thành phố, tỉ lệ nữ nhập cư vào quận ngày càng tăng chiếm tỷ lệ 62,1% và tăng cao hơn so với nam giới (Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, 2010, trang 53)
Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Việt Nam, quận Bình Tân là đơn vị cấp huyện có dân số lớn nhất trong số các đơn vị hành chánh cấp huyện của cả nước (Tổng Cục thống kê, 2009) Dân số của quận tăng rất nhanh và tăng liên tục
Nguồn: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, 2017
Dân số quận Bình Tân tăng chủ yếu do dân nhập cư từ các địa phương khác đến sinh sống, học tập và lao động Số dân nhập cư chiếm trên 50% số dân của toàn
Trang 16quận (UBND quận Bình Tân, 2017) Nguyên nhân của thực trạng này là do đặc thù trên địa bàn quận Bình Tân hiện nay có hai khu công nghiệp do Ban quản lý các khu công nghiệp thành phố quản lý đó là khu công nghiệp Tân Tạo và khu công nghiệp Vĩnh Lộc Ngoài ra còn có Khu công nghiệp giày da POUYUEN là khu công nghiệp 100% vốn nước ngoài chuyên sản xuất giày da, và còn có 4 cụm công nghiệp do quận Bình Tân quản lý với tổng diện tích là 31,4 ha (UBND quận Bình Tân, 2017)
Phường Tân Tạo A, quận Bình Tân cũng được thành lập từ Nghị định số 130/2003/NĐ – CP Phường có diện tích đất tự nhiên là 1.233,66 ha, gồm 07 khu phố, 60 tổ dân phố Địa giới hành chính của phường Tân Tạo A hướng Đông giáp các phường Bình Trị Đông B, An Lạc; hướng Tây và Nam giáp huyện Bình Chánh; hướng Bắc giáp phường Tân Tạo Trong những năm gần đây tốc độ đô thị hóa diễn
ra khá nhanh, có phường của quận hầu như không còn đất nông nghiệp Trên địa bàn quận hiện có hai khu công nghiệp là khu công nghiệp Tân Tạo và khu công nghiệp Vĩnh Lộc thu hút một số lượng lớn người nhập cư sinh sống trên địa bàn Hiện nay nhiều mặt kinh tế - xã hội của quận phát triển nhanh theo hướng đô thị Năm 2017, quận Bình Tân có dân số hơn 729.366 nhân khẩu Trong đó thường trú là 357.390 nhân khẩu và tạm trú 371.976 nhân khẩu Tổng số dân trên địa bàn phường liên tục tăng trong những năm qua, do đặc điểm trên địa bàn phường Tân Tạo A có khu công nghiệp vì vậy tập trung rất đông dân nhập cư Phường đã có những bước phát triển nhanh về các mặt kinh tế, văn hóa – xã hội Thế mạnh của phường là phát triển khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, thương mại và dịch vụ, đặc biệt có khu công nghiệp Tân Tạo trú đóng trên địa bàn
Bảng 1.3 Dân số phường Tân Tạo A
(đơn vị tính: người)
28.086 34.941 40.014 44.135 48.653 52.598 57.839 60.123
Nguồn: UBND phường Tân Tạo A, 2017
Về đặc điểm kinh tế xã hội của phường Tân Tạo A của quận Bình Tân Trong
Trang 17năm 2017, kinh tế của phường luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp Về văn hóa – xã hội, phường chú trọng nhiều đến việc phát triển văn hóa – xã hội đặc biệt
là an sinh xã hội bằng những hành động cụ thể Nhiều kế hoạch, chương trình đã được thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực (UBND phường Tân Tạo A, 2017)
Hình 1.1 Bản đồ phường Tân Tạo A, quận Bình Tân (Nguồn: https://www.diachi123.com/ban-do/tp-ho-
chiminh.html?dId=48&wId=745) Trước đây, vấn đề rời khỏi gia đình đi làm xa được coi là vấn đề của nam giới, phụ nữ sẽ ở lại nhà chăm sóc cha mẹ, con cái hay người thân, nhưng hiện nay,
tỷ suất di chuyển của dân số nữ đã tăng Dân số quận Bình Tân tăng chủ yếu do dân nhập cư từ các địa phương khác đến sinh sống, học tập và lao động Dân số của quận Bình Tân tăng đột biến với mật độ dân cư dày đặc sẽ gây mất cân đối giữa các quận huyện nói riêng và thành phố nói chung trong cả nước, đồng thời cũng sẽ đặt
ra những vấn đề nan giải về giải quyết việc làm, thất nghiệp tại chỗ, nhà ở, tệ nạn
xã hội và làm cho trật tự xã hội ngày càng thêm phức tạp trong các vấn đề như cơ
sở hạ tầng, các dịch vụ xã hội, nhà ở, chăm sóc y tế, môi trường, giao thông,…
Trang 18quan trọng nhất trong các vấn đề trên là vấn đề người nhập cư nói chung và phụ nữ nhập cư nói riêng hiện nay thiếu sự bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội
so với người dân địa phương Thực trạng này làm nảy sinh nhiều điểm khác nhau
do những khác biệt về giới quy định, đó là những khó khăn không chỉ là việc làm, nơi ăn, nơi ở mà còn có những xung đột về văn hóa, tôn giáo và các vấn đề liên quan đến lao động trong đó có lao động nữ nhập cư Trong bối cảnh đó, dịch vụ xã hội là một trong những yếu tố cần thiết nhằm giúp đỡ, cải thiện cuộc sống của người nhập cư nói chung và phụ nữ nhập cư nói riêng
Một số nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới thì dịch vụ xã hội được hiểu
là “những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao giá trị đạo lý, nhân văn, vì con người” Như vậy, dịch vụ xã hội bao gồm các dịch vụ: giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hoá - thông tin, thể thao, môi trường sống, các dịch vụ cộng đồng và trợ giúp xã hội Dịch vụ xã hội ra đời nhằm phục vụ cho tất
cả các đối tượng trong xã hội vì mục tiêu phát triển xã hội Trong đó đặc biệt là trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội (người già, người khuyết tật, trẻ em, phục nữnhập cư…).Mặt khác, tại bất cứ địa phương hoặc thành phố nào cũng sẽ có những nhóm đối tượng yếu thế Do đó, thành phố Hồ Chí Minh muốn phát triển và phát triền một cách bền vững thì không thể tách rời những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương này ra khỏi quá trình phát triển của thành phố mà phải tạo điều kiện để
họ hòa nhập và phát triển cùng với sự phát triển chung của thành phố
Ở góc độ giới, phụ nữ nhập cư đối mặt với rất nhiều thách thức về công việc, thu nhập, bạo lực, xâm hại tình dục … và tiếp cận các dịch vụ xã hội Họ phải đối mặt với mức sống thấp và khó tiếp cận hoặc bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ xã hội Điều đó được thể hiện qua những đặc điểm sau: Hầu hết phụ nữ nhập cư làm nhiều nghề nặng nhọc, độc hại, trong điều kiện tồi tệ, bằng sức lao động giản đơn, bán hàng rong, giúp việc gia đình, v.v Đa số phải sống trong những khu nhà trọ rẻ tiền, với điều kiện ở tạm bợ và tồi tệ Họ cũng rất ít tham gia vào các tổ chức đoàn thể và các tổ chức xã hội tự nguyện tại nơi đến Vì vậy, khả năng hòa nhập vào
Trang 19cộng đồng dân cư thường rất hạn chế Mặt khác, bản thân cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân đô thị như y tế, giáo dục, nhà ở, vệ sinh môi trường,…cũng đang bị quá tải Các chính sách quản lý lĩnh vực này cũng còn nhiều bất cập Trong bối cảnh đó, thì phụ nữ nhập cư gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, cụ thể là việc làm và các nhu cầu về dịch vụ xã hội cơ bản Do đó, để có số liệu cụ thể và có cơ sở khoa học nhằm đánh giá những khó khăn khi phụ nữ nhập
cư tiếp cận các dịch vụ xã hội, tác giả thực hiện khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư tại quận Bình Tân
Từ những nguyên nhân đã nêu trên, tác giả thấy rằng vấn đề tiếp cận các dịch vụ xã hội của dân nhập cư trên địa bàn quận Bình Tân là một vấn đề quan trọng, trong đó phụ nữ nhập cư là một phần không thể thiếu của vấn đề đó Ngoài
ra, các quy định của pháp luật Việt Nam cũng đang hướng đến sự bình đẳng thực chất giữa nam và nữ, giữa người nhập cư và người dân địa phương,… Trong bối cảnh chung đó, việc nghiên cứu về di dân dưới góc nhìn bình đẳng giới là một nghiên cứu có thể ứng dụng trong thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy, tác
giả chọn đề tài nghiên cứu “Tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư –
nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản của phụ nữ nhập cư so với phụ nữ thường trú – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Tìm hiểu các chính sách hỗ trợ của địa phương vànhững lý do làm hạn chế việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư– nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Đưa ra các đề xuất nhằm giảm thiểu bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch
vụ xã hội của phụ nữ nhập cư – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 201.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Thực trạng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản của phụ nữ nhập cư
so với phụ nữ thường trú – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào?
Chính quyền địa phương có biết đến các khó khăn trong việc tiếp cận các dịch
vụ xã hội cơ bản của phụ nữ cư so với phụ nữ thường trú hay không? Có chính sách
hỗ trợ nào? Chính sách có hiệu quả không? Đâu là lý do làm hạn chế việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư?
Làm thế nào để giảm thiểu bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố tác động
Đối tượng khảo sát: Phụ nữ nhập cư và phụ nữ thường trú tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi thời gian: Từ tháng 01 đến tháng 03 năm 2019
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, mô tả cho nghiên cứu luận văn của mình
1.6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn gồm 5 chương: Chương 1 giới thiệu tổng quan về bối cảnh nghiên cứu Chương 2 trình bày về tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước về người nhập cư và đời sống của người nhập cư để làm cơ sở cho các phân tích
Trang 21Chương 3 trình bày về phương pháp nghiên cứu của đề tài Chương 4 trình bày về kết quả nghiên cứu việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh Chương 5 đưa ra kết luận và các đề xuất, khuyến nghị nhằm giúp nhằm giúp các cơ quan quản lý nhà nước, các
tổ chức, doanh nghiệp liên quan hoàn thiện thống chính sách phù hợp để hỗ trợ phụ
nữ nhập cư được tiếp cận các dịch vụ xã hội
Trang 22CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾTVÀ
cư của mình Nhập cư thường nói lên một sự di chuyển qua một khoảng cách khá
xa (khu vực, một vùng hay một quốc gia mới), chứ không phải từ đầu này sang đầu kia của thành phố”
Vì vậy, trong nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng khái niệm nhập cư là hành động rời bỏ nơi cư trú từ tỉnh, thành phố này đến gia nhập vào một tỉnh, thành phố khác trên lãnh thổ Việt Nam
2.1.2 Dân nhập cư
Dân nhập cư là người di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để tạm trú nhằm mục đích học tập, lao động, sinh sống (Tương Lai, 1996) Tuy nhiên, hiện nay còn rất nhiều tranh cãi xung quanh khái niệm thế nào được gọi là người nhập
cư, chưa có một định nghĩa rõ ràng nào cho vấn đề này Ví dụ như hiện tượng các
ca sỹ thuộc các tỉnh phía bắc của Việt Nam đang có xu hướng “nam tiến” vào thành phố Hồ Chí Minh lập nghiệp, họ cũng là dân nhập cư, có thu nhập rất cao, thành danh, nổi tiếng Tuy nhiên, khi nghiên cứu về dân nhập cư, ít có nghiên cứu, khảo sát gọi họ là người nhập cư vì họ chỉ là nhóm thiểu sốvà là những người nổi tiếng Thông thường, các khảo sát nói về dân nhập cư có nghĩa là một nhóm dân nhập cư nào đó yếu thế hơn, nhiều khó khăn hơn và chiếm số đông trong nhóm xã hội đó Ngoài ra, một số thông tin báo chí, đôi khi cũng đã gán nhãn “nhập cư” là nói đến một bộ phận dân cư đến từ tỉnh, thành phố khác để lao động, học tập và sinh sống,
họ thường gặp nhiều khó khăn, thiệt thòi hơn so với những người dân cư ngụ tại địa phương
Trong quản lý hành chính, người nhập cư có 4 nhóm khác nhau đó là nhóm
Trang 23tạm trú KT1, KT2, KT3 và KT4 Trong đó KT1 và KT2 cũng là người nhập cư, họ tạm trú tại địa bàn phường, quận nhưng có hộ khẩu tại chính thành phố đó, họ chỉ là những người di cư cùng thành phố KT3 là người từ tỉnh, thành phố khác đến tạm trú và đã sống lâu dài, ổn định tại địa phương Trong khi đó, diện tạm trú KT4 là người tạm trú ngắn hạn dưới 6 tháng, họ tạm trú có tính chất tạm thời và rất dễ dàng thay đổi chỗ ở
Do tính chất phân loại đa dạng, vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả
sử dụng khái niệm dân nhập cư là người tạm trú KT4 tại thành phố Hồ Chí Minh 2.1.3 Dịch vụ
Theo Philip Kotler (1967): “Dịch vụ (DV) là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào” Hay “Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữu khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu”
Theo Zeithaml & Britner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”
Theo Kotler & Armstrong (2004): “Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích
mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng”
Các Mác (1844) cho rằng: "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển"(Allen Oakley, 1984) Như vậy, với định nghĩa trên, C Mác
đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh
Nhìn chung, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc
Trang 24độ khác nhau nhưng tựu chung thì: “Dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người,
là hoạt động có tính đặc thù riêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm
cụ thể như hàng hóa nhưng phục vụ trực tiếp những nhu cầu nhất định của xã hội” (Báo điện tử Tri thức cộng đồng, 2018)
Trong nghiên cứu này, dịch vụ xã hội được đặt trong mối liên hệ với chức năng bảo đảm an sinh và phát triển xã hội Do đó để hiểu khái niệm dịch vụ xã hội, cần làm rõ mối liên hệ giữa dịch vụ xã hội và chính sách xã hội Vậy chính sách xã hội là gì? Quan hệ của chính sách xã hội với dịch vụ xã hội như thế nào?
2.1.4 Chính sách xã hội
Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa, thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, nhà nước, chính quyền địa phương để giải quyết những vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm phù hợp với bản chất chính trị – xã hội Nó phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm
xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội Chính sách xã hội hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân (Bùi Đình Thanh, 2004) Như vậy, mục đích của chính sách xã hội có điểm giống nhau với dịch vụ xã hội là đáp ứng nhu cầu của con người trong các xã hội cụ thể và chính sách xã hội là sự thể chế hoá các đường lối, chủ trương của nhà nước
2.1.5 Dịch vụ xã hội
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Dịch vụ xã hội (DVXH) là các hoạt động cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội” (ILO, 2004) Ngoài ra còn có một
số cách hiểu khác về dịch vụ xã hội nhìn từ vai trò của người cung cấp dịch vụ
và người tiếp nhận dịch vụ Theo cách nhìn này, dịch vụ xã hội là các hoạt động có
Trang 25chủ đích của con người nhằm phòng ngừa hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế Dịch vụ xã hội là các sáng kiến can thiệp nhằm vào các nhu cầu và các vấn đề của các nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm cả việc phòng ngừa bạo lực, tan vỡ gia đình, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ người khuyết tật, trẻ em và người già
Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cho rằng “Dịch vụ xã hội là những dịch
vụ đáp ứng nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo hạnh phúc, phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao tính nhân văn và vì con người Dịch vụ xã hội là hoạt động mang bản chất kinh tế, xã hội do Nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự cung ứng tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay
tư của từng lĩnh vực dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và các trợ giúp xã hội khác” Dịch vụ xã hội có đặc điểm sau:
+Là loại dịch vụ nhằm mục tiêu phát triển xã hội và có tính chất xã hội Dịch vụ xã hội tồn tại nhằm đảm bảo giá trị chuẩn mực xã hội, hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro
+Do cơ quan nhà nước, thị trường hoặc xã hội thực hiện
+Luôn bị điều tiết bởi giá trị đạo đức, giá trị văn hóa, nhân sinh, trách nhiệm xã hội của Nhà nước, doanh nghiệp hoặc tư nhân
+ Mọi người dân đều có quyền hưởng dịch vụ không tính việc đóng thuế bao nhiêu
+ Là dịch vụ thiết yếu với người dân
Hiện nay, dựa vào tính chất dịch vụ và chủ thể cung cấp dịch vụ người ta đưa ra nhiều cách phân loại dịch vụ xã hội như: dịch vụ xã hội cơ bản và dịch vụ công
2.1.6 Dịch vụ xã hội cơ bản
Để hiểu rõ hơn về các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, tác giả đưa ra các quan điểm của các nhà khoa học về nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống
Trang 26- Theo quan niệm của Mác: “Nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi con người trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và phát triển của mình”
- Dịch vụ xã hội được Liên hợp quốc định nghĩa như sau: “Dịch vụ xã hội
cơ bản là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm
đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống” (FCC, 1998)
Như vậy, dịch vụ xã hội cơ bản là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính:
+ Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc, nhà ở, v.v Trong đó các đối tượng yếu thế là trẻ em, người khuyết tật, mất khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực
Theo Từ điển Oxford (2000): “Dịch vụ công: 1 Các dịch vụ như giao thông hoặc chăm sóc sức khỏe do nhà nước hoặc tổ chức chính thức cung cấp cho nhân dân nói chung, đặc biệt là xã hội; 2.Việc làm gì đó được thực hiện nhằm giúp đỡ mọi người hơn là kiếm lợi nhuận; 3 Chính phủ và cơ quan chính phủ”
Trang 27Theo quan niệm và cách tiếp cận của nước ngoài cho thấy DVC có những đặc trưng cơ bản như: (1) Là những hoạt động gắn với chính phủ hoặc hoạt động của tư nhân nhưng được chính phủ ủy quyền, quản lý; (2) Các hoạt động này thường hướng tới lợi ích của cộng đồng; (3) Là loạt động không lấy lợi nhuận làm mục tiêu chủ yếu, mang tính tự nguyện, có tính chất hỗ trợ
Tóm lại, dịch vụ công là dịch vụ do Nhà nước trực tiếp đảm nhận việc cung ứng hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân
Như vậy, dịch vụ công là một bộ phận của khu vực công, liên quan đến các hoạt động mà mục đích là cung cấp cho mọi công dân các loại dịch vụ phù hợp với
lợi ích của cộng đồng và xã hội
2.2 TỔNG QUAN CÁC CƠ SỞ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG
2.2.1 Lý thuyết xung đột
Xung đột là một trong những kiểu tác động xã hội mà chủ thể và người tham gia trong đó là các cá thể đơn lẻ, các tập đoàn, các tổ chức xã hội,… có xung đột với nhau về các yếu tố, các lợi ích của cá nhân hoặc tổ chức, tập đoàn mà bản thân
cá nhân tham gia trong tổ chức là thành viên (Nguyễn Tất Dong, Lê Ngọc Hùng,
1997)
Lý thuyết xung đột có nguồn gốc từ triết học (quy luật mâu thuẫn): Xung đột là hiện tượng khách quan phổ biến trong bất kỳ cơ cấu xã hội nào, nó là điều kiện tất yếu của sự phát triển xã hội vì toàn bộ quá trình phát triển xã hội nằm ở xung đột và thỏa thuận, hòa hợp và đối đầu Xung đột xã hội là sự đối đầu công khai, là mâu thuẫn giữa hai hay nhiều hơn giữa chủ thể và người tham gia tương tác
xã hội mà nguyên nhân là sự bất đồng về nhu cầu, lợi ích, giá trị
Xung đột là hiện tượng phổ biến trong các tổ chức xã hội Nguyên nhân chính của nó nằm trong nhân cách cá nhân và cơ cấu của tổ chức Lý thuyết xung đột sử dụng trong nghiên cứu này nhằm xác định những xung đột là xung đột gì, xung đột như thế nào, xung đột giữa chủ thể và những cá nhân, tổ chức hoặc những
Trang 28nhóm người nào,… nhằm tìm ra hướng giải quyết hậu xung đột Cụ thể, nghiên cứu xem xét xung đột giữa phụ nữ nhập cư và phụ nữ cư trú lâu dài trên địa bàn; xung đột giữa phụ nữ nhập cư và chính quyền địa phương trong việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ xã hội
2.2.2 Lý thuyết hành động xã hội
Theo định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber (1991), đưa ra lý thuyết hành động xã hội: “Nếu một lý thuyết tập trung vào vào cá nhân thì không thể bỏ qua các yếu tố chủ quan của cá nhân như tình cảm, suy nghĩ, tư tưởng, v.v”.Ông nhấn mạnh nếu chỉ coi ứng xử của con người như một phản xạ trả lời một kết thúc thì con người không khác gì con vật Ông đưa ra bốn kiểu hành động xã hội đó là hành động do cảm xúc, hành động mang tính truyền thống, hành động hợp
lý về giá trị và hành động hợp với mục đích Ông đặc biệt quan tâm đến động cơ thúc đẩy trong ý thức của chủ thể, theo Weber đó là nguyên nhân của hành động Hành động xã hội là những hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó Hành động xã hội là những hành động có liên quan đến người khác, được định hướng đến người khác trong quá trình và đường lối của nó(Nguyễn Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, 1997) Như vậy, một hành động được xem là hành động
xã hội khi nó liên quan đến người khác
Trong nghiên cứu này, lý thuyết hành động xã hội tác giả áp dụng để xem xét các loại hành động xã hội mà phụ nữ nhập cư sử dụng để ứng phó với những xung đột trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội với các nhóm đối tượng khác 2.2.3 Lý thuyết về vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công (DVC) Nhà nước giữ một vai trò hết sức quan trọng trong cung ứng DVC, từ trước đến nay không ai phủ nhận vai trò này của Nhà nước, so với mỗi giai đoạn vai trò này lại có những sự nhận thức khác nhau Mặc dù có những quan điểm, tranh cãi khác nhau về vai trò của Nhà nước trong cung ứng DVC, song không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước
Trước đây, Nhà nước luôn giữ một vị trí trung tâm, thậm chí là độc tôn trong cung ứng DVC, ngay cả những nước tư bản phát triển như Anh thì đến cuối thế kỷ
Trang 29XIX công dân cũng chỉ biết đến DVCcơ bản mà Nhà nước cung ứng là y tế và giáo dục Trước những năm 1930, các nhà chính trị và kinh tế đều cho rằng ở đâu cũng thề thôi, nhà nước chỉ có vai trò thu thuế và cung ứng dịch vụ
Vào những năm 1970, 1980 các nhà chính trị, các nhà kinh tế cho rằng nhà nước không cần thiết phải nắm độc quyền trong cung ứng DVC Nhà nước không nên trực tiếp tiến hành quá nhiều hoạt động cung ứng DVC mà cần phải chuyển giao nó ở một mức độ để cho xã hội và thị trưởng đảm nhiệm Các nhà hoạch định
và thực thi chính sách cho rằng cần phải có sự thay đổi vai trò của Nhà nước, mục tiêu đặt ra là làm cho Nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong cung ứng DVC nhưng không nhất thiết phải là người trực tiếp cung ứng các DVC đó
Nhà nước đẩy mạnh việc xã hội cung ứng DVC, những DVC mà tư nhân có khả năng làm tốt sẽ được Nhà nước chuyển giao Nhà nước lúc này giữ vai trò là người cầm lái và thực hiện chức năng cầm lái là chủ yếu chứ không còn là người bơi chèo nữa Với quan niệm trên thì việc bơi chèo đó đòi hỏi phải chú ý tập trung vào một nhiệm vụ và thực hiện tốt nhiệm vụ đó (Osborne và Gaebler, 1992)
Xuất phát từ yêu cầu cung ứng DVC nhằm góp phần đảm bảo tính thống nhất, ổn định và công bằng xã hội Hoạt động cung ứng DVC của nhà nước là cần thiết, nếu để cho tư nhân cung ứng thì sẽ dẫn đến sự độc quyền, bất bình đẳng trong
xã hội Nhà nước là người sỡ hữu và có khả năng huy động một nguồn lực lớn vào cung ứng DVC mà không phải tư nhân nào cũng làm được
Tóm lại, trong mọi tình huống Nhà nước giữ một vị trí quan trọng trong việc cung ứng DVC Mặc dù một số DVC nhà nước không đứng ra cung ứng một cách trực tiếp, nhưng vai trò của Nhà nước không vì thề mà bị lu mờ, nó vẫn được thể hiện dưới dạng là người hoạch định chính sách, thực hiện việc kiểm tra, ban hành tiêu chuẩn chất lượng
2.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Việc tiếp cận và hội nhập của người nhập cư vào các đô thị là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu đặt ra khi nghiên cứu về người nhập cư Hiện nay, ở Việt
Trang 30Nam và trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về người nhập cư, trong
đó có nhiều nghiên cứu quan tâm đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của người nhập cư Đặc biệt, yếu tố giới được chú trọng xem xét và đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của người nhập cư Qua tổng quan các
tài liệu, tác giả đã tiếp cận một số tài liệu nghiên cứu của một số tác giả sau:
2.3.1 Một số nghiên cứu nước ngoài
Harris- Todaro (1970) nghiên cứu di dân từ nông thôn ra thành thị Nghiên cứu này tập trung vào các nước đang phát triển, nơi diễn ra quá trình đô thị hoá nhanh và dòng di dân từ nông thôn ra thành thị rất mạnh do chênh lệch tiền lương
và cơ hội việc làm ngày càng lớn Những vùng đô thị thiếu lao động có mức lương cao sẽ thu hút dòng di dân từ các vùng nông thôn có thu nhập thấp Harris và Todaro cho rằng quyết định di chuyển kết hợp những kỳ vọng của những người di
cư tiềm năng về khả năng thu nhập cho phép họ có thu nhập cao hơn và cuộc sống khá hơn Hai tác giả cũng cho rằng những người di cư mong chờ có thể nhận được việc làm tốt và có thu nhập cao nên họ chấp nhận thất nghiệp
J.H.Rieger và J.A.Beegle (2003) khi nghiên cứu di dân từ nông thôn đến thành thịở các quốc gia phát triển cho rằng sự thích nghi với cuộc sống đô thị, thái
độ củachính quyền và cộng đồng nơi đến đã làm hạn chế việc tiếp cận các dịch vụ
xã hội của người nhập cư Cả hai tác giả này đều sử dụng những khía cạnh khác nhau đểnghiên cứu vấn đề hội nhập của người nhập cư Trong khi đó, Dorothy J.Solinger (2004) đã dùng chỉ báo đặc điểm của người nhập cư và cộng đồng nơi đến của người nhập cư để phân tích vấn đề hội nhập của nhóm người nhập cư
Cả ba tác giả nêu trên đã sử dụng những hướng tiếp cận khác nhau về vấn
đề hội nhập của người nhập cư nhưng tất cả có điểm chung là phác họa được bức tranh vấn đề hội nhập và tiếp cận những nguồn lực tại nơi đến trong quá trình di
cư, trong đó nhóm nữ nhập cư sẽ gặp nhiều khó khăn và rào cản hơn so với các nhóm xã hội khác
2.3.2 Một số nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu các đề tài về người nhập cư đặc
Trang 31biệt là phụ nữ nhập cư Trong hạn chế của nguồn tài liệu tiếp cận, tác giả tổng quan một số đề tài của các tác giả đi trước đã nghiên cứu về người nhập cư tại thành phố
Hồ Chí Minh
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Liêm (2000) đã nghiên cứu hành trình hội nhập về việc làm, chỗ ở, mạng lưới xã hội, tâm lí – đời sống của dân nhập cư tự do vào thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể nghiên cứu như sau: nghiên cứu
số lần di chuyển, tình trạng sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh (việc làm, nhà ở, y tế,…), nghiên cứu mạng lưới xã hội, tâm lí, lối sống, ảnh hưởng của chính sách đến đối tượng di dân tự do Nhưng trong kết quả nghiên cứu này tác giả không đề cập đến yếu tố giới
Theo kết quả nghiên cứu của Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc (2000) thì các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu những
gì có ý nghĩa đằng sau sự di cư tự do của nữ, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Phần nội dung nghiên cứu, các tác giả tìm hiểu những thông tin cơ bản của bản thân
và gia đình người nữ nhập cư liên quan đến lịch sử sự chuyển cư, những thông tin
về kinh tế, điều kiện sống và làm việc, tác động của việc làm với sức khỏe phụ nữ, các áp lực xã hội, những vấn đề xã hội nảy sinh từ việc di cư tự do, những tâm tư nguyện vọng và ý kiến của người lao động
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hờ Rin (2006) thì tập trung vào xác định cơ sở kinh tế, xã hội của quá trình di dân và lao động nhập cư, nhấn mạnh quan điểm của chủ nghĩa Mác về vai trò quyết định của tồn tại xã hội, dân số với ý thức xã hội, thực trạng của lao động nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh, giải pháp quản lí lao động nhập cư Kết quả nghiên cứu cung cấp cái nhìn mang tính lí luận chính trị về vấn đề nhập cư Phương pháp nghiên cứu, tác giả đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê (tổng hợp tư liệu sẵn có) Phương pháp này đa số chỉ sử dụng cho những đề tài thuần về lí thuyết, ở đây kết quả nghiên cứu của tác giả có đề cập đến thực trạng tức là có liên quan đến những số liệu thực, nhưng tác giả lại chỉ dừng lại ở việc giải thích chủ yếu từ góc độ triết học
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Hải (2007) thì nội dung của
Trang 32nghiên cứu quan tâm đến đặc điểm nhân khẩu của người nhập cư, những khó khăn vướng mắc khi tiếp cận các dịch vụ cơ bản (việc làm, giáo dục, y tế, điện nước – dịch vụ khác, sở hữu tài sản) Tuy nhiên tác giả đề tài phân tích nhóm dân nhập cư nói chung, chưa phân tích sâu đến yếu tố phụ nữ nhập cư trong nghiên cứu của mình
Cả bốn kết quả nghiên cứu được tổng quan trên đây đều quan tâm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các nhóm người nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh, vai trò của lao động nhập cư đối với sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố cũng như quá trình hội nhập của cư dân nhập cư với cuộc sống mới Các tác giả gần như chưa quan tâm đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của nhóm dân nhập cư, trong đó đặc biệt là phụ nữ nhập cư, nếu có phân tích các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ điểm qua mà chưa đi sâu và phân tích cụ thể các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư và các nghiên cứu trước chủ yếu nghiên cứu định tính chưa có nghiên cứu nào về định lượng
Trên đây là nhóm các nghiên cứu về thực trạng nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh nói chung Ngoài ra, tác giả cũng đã tổng quan một số đề tài nghiên cứu khác có liên quan như sau:
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Minh Thảo (2007) thì mục tiêu nghiên cứu nhằm phác họa thực trạng khác nhau về vấn đề lao động việc làm, thu nhập, phương thức chi tiêu tiết kiệm và dự định cư trú lâu dài ở khía cạnh giới trong quá trình hội nhập Nghiên cứu dựa trên những số liệu sẵn có của dự án “Tác động của chính sách đăng kí cư trú hiện nay đến việc giảm nghèo đô thị 2005” của Trung tâm Xã hội học thuộc Viện Khoa học xã hội vùng Đông Nam Bộ và Tổ chức phi chính phủ VET Mẫu nghiên cứu mà đề tài chọn là nhân khẩu và hộ gia đình, có
độ bao phủ cao Thông qua những số liệu sẵn có phần nào tác giả cũng đã nêu lên được sự khác biệt giữa nam và nữ di cư trong vấn đề hội nhập với môi trường mới Qua các kết quả nghiên cứu đã phân tích ở trên cho thấy vấn đề di dân luôn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy một vài nghiên cứu chỉ tập trung xoay quanh các nội dung chủ yếu như: đặc điểm nhân khẩu, kinh tế – xã hội của những
Trang 33người nhập cư đến thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu khả năng hội nhập của người nhập cư, tác động của nhân khẩu học, kinh tế – xã hội đến bản thân người nhập cư; nghiên cứu vai trò của người nhập cư đối với quê hương thông qua sự chuyển tiền, hàng hóa, hành trình hội nhập về việc làm, chỗ ở, mạng lưới xã hội, tâm lí – đời sống của di dân tự do vào thành phố Hồ Chí Minh, xác định cơ sở kinh
tế xã hội của quá trình di dân và lao động nhập cư, nhấn mạnh quan điểm của chủ nghĩa Mác và những khó khăn vướng mắc về tiếp cận các dịch vụ cơ bản,… Do đó, nội dung đề tài của tác giả nghiên cứu là vấn đề không hoàn toàn mới trong bối cảnh nghiên cứu hiện nay
Theo tổng quan nghiên cứu tài liệu của tác giả thì hiện nay chưa có nhiều
đề tài nghiên cứu về thực trạng việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, đặc biệt là quan tâm nghiên cứu đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư
Vì vậy, để tiếp tục phát triển những nền tảng kiến thức củanhững người đi trước, tác giả sẽ nghiên cứu về người nhập cư từ góc nhìn vềgiới Trong nghiên cứu khảo sát việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhậpcư, tác giả mong muốn xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập
cư trong giai đoạn hiện nay như thế nào nhằm đưa ra các khuyến nghị và đề xuất góp phần làm giảm thiểu bất bình đẳng giới đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
2.4 KHUNG PHÂN TÍCH ĐỀ XUẤT
Qua quá trình khảo sát lấy ý kiến của các chuyên gia am hiểu về vấn đề dịch
vụ xã hội và Bình đẳng giới tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm nhóm lãnh đạo của tổ chức UN Women, Phòng Bình đẳng giới Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh và các trưởng phó phòng Lao động – Thương binh và
Xã hội 24 quận huyện cho thấy:
- Các chuyên gia cho rằng phụ nữ nhập cư thuộc tầng lớp người yếu thế, hoàn toàn không có sự lựa chọn gì mang tính thị trường(người tiêu dùng quyết định lựa chọn hàng hóa/ dịch vụ mà họ muốn theo khả năng chi trả và chất lượng của
Trang 34hàng hóa/ dịch vụ đó).Các dịch vụ xã hội là dịch vụ công, do nhà nước cung cấp, cho nên hoàn toàn mang tính độc quyền và người tiêu dùng không có sự lựa chọn nào
- Việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư hiện nay chủ yếu vào nhóm dịch cụ xã hội cơ bản sau:
+ Tiếp cận đến tổ chức mạng lưới xã hội như hội phụ nữ…
+ Việc làm
+ Tín dụng
Trang 35CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu (Nguồn: Tác giả đề xuất) Sau khi đã thu thập các phiếu khảo sát, tác giả tiến hành rà soát, chọn lọc và loại bỏ những phiếu không đạt yêu cầu, sau đó mã hóa, nhập liệu và tác giả sẽ mô
tả lại tình hình thực tế của 2 nhóm đối tượng được khảo sát (phiếu khảo sát và quan sát các nhóm đối tượng) nhằm để chỉ ra những bất bình đẳng trong việc tiếp cận các
dịch vụ xã hội tại địa phương của 2 nhóm đối tượng
Tiếp cận các chính sách hỗ trợ của địa phương nhằm hỗ trợ cho nhóm phụ nữ nhập cư được tiếp cận các dịch vụ xã hội và tìm hiểu xem những chính sách hỗ trợ của địa phương có thật sự hỗ trợ và mang lại lợi ích cho nhóm đối tượng trên hay sẽ làm cản trở họ trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội
Từ tổng quan các số liệu nghiên cứu trên tác giả sẽ đưa ra các khuyến nghị và
đề xuất nhằm giảm thiểu bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
3.2 THIẾT KẾ BẢNG HỎI
Việc thiết kế bảng câu hỏi ảnh hưởng rất lớn đến kết quả nghiên cứu Thiết kế bảng câu hỏi không tốt sẽ dẫn đến kết quả sai lệch, các câu hỏi cần phải rõ ràng, đơn giản, câu hỏi không được thiết kế có tính gợi ý hướng dẫn cho người trả lời mà phải thiết kế sao cho người trả lời nói lên những điều suy nghĩ, những đánh giá thật
Trang 36khách quan, không nên thiết kế bảng câu hỏi quá dài
Trong nghiên cứu này, bảng câu hỏi được thiết kế sau khi rút kinh nghiệm từ bước câu hỏi sơ bộ cùng với sự góp ý của những người trả lời Bảng câu hỏi được thiết kế mạch lạc, rõ ràng hơn, dài 7 trang A4 Với nội dung gồm 2 phần:
+ Phần 1 là các thông tin chung như: Độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, công việc hiện nay;
+ Phần 2 là ý kiến cá nhân về thực trạng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của phụ nữ nhập cư và phụ nữ thường trú, phần này người trả lời cảm thấy được tôn trọng.Việc sắp xếp có thứ tự, ngắn gọn khiến người trả lời cảm thấy thoải mái, không bị phân tâm
Bảng câu hỏi sơ bộ sẽ được tham khảo ý kiến bằng cách phỏng vấn trực tiếp
10 chuyên gia đang làm việc trong lĩnh bình đẳng giới và hỏi ý kiến giáo viên hướng dẫn, sau đó sẽ điều chỉnh bảng câu hỏi
Sau khi điều chỉnh bảng câu hỏi, sẽ tiến hành khảo sát thử với 10 chuyên gia
tư vấn để kiểm tra về nội dung, tính rõ ràng và dễ hiểu của bảng câu hỏi Nếu bảng câu hỏi vẫn chưa rõ ràng, dễ hiểu và có nội dung chưa phù hợp thì tiếp tục chỉnh sửa, tham khảo ý kiến chuyên gia, tiếp tục khảo sát thử nghiệm cho đến khi hoàn thiện Bảng câu hỏi chính thức được hoàn chỉnh và tiến hành thu thập dữ liệu
Trang 37nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề
án “Phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”
Chương trình hành động Số 51 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh – Vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới giai đoạn 2015 –
2020
Dữ liệu sơ cấp
Là nguồn thông tin chính của đề tài, được thu thập thông qua phỏng vấn và phát trực tiếp phiếu khảo sát phụ nữ nhập cư và phụ nữ thường trú – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
3.3.1 Quy trình thu thập dữ liệu
Nhằm đảm bảo tính chính xác của dữ liệu tác giả đồng thời thực hiện việc thu thập thứ cấp và sơ cấp để có được nguồn dữ liệu chính xác, đáng tin cậy và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài Để làm được điều này trước hết tác giả phải xác định cụ thể địa điểm nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và hình thức thu thập từ các đối tượng sao cho phù hợp, được chấp nhận cộng tác và dễ thực hiện
Thu thập thông tin bằng cách lập một bảng hỏi cho nhóm đối tượng trong một khu vực nhất định ở một khoảng không gian và thời gian nhất định
Bảng câu hỏi là một loạt các câu hỏi được viết hay thiết kế bởi nhóm chuyên gia để gửi cho người trả lời phỏng vấn trả lời và gửi lại bảng trả lời câu hỏi Đề tài
sẽ thực hiện phỏng vấn bằng bảng hỏi trực tiếp đối với phụ nữ nhập cư và phụ nữ thường trú trên địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu
3.3.2 Phương pháp quan sát
Là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như: nghe, nhìn, v.v để thu nhận các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài Trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát nhằm mục đích thu thập thêm thông tin khách quan của khách thể nghiên cứu
Trang 38Trong đề tài này, sử dụng phương pháp quan sát hướng việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh Quan sát thái độ, hành vi, mức độ quan tâm của cán bộ địa phương đối với việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập
cư khi họ di cư đến địa phương mình quản lý Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng đã thu thập được
3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
3.4.1 Phương pháp tổng quan tài liệu
Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Tác giả tiến hành thu thập các tài liệu văn bản cần thiết từ các sở, ban, ngành và các nguồn tin cậy phù hợp với đối tượng cũng như vấn đề nghiên cứu, tiến hành xem xét các thông tin có sẵn trong tài liệu để có cái nhìn tổng quan về vấn đề Đồng thời, phục vụ cho mục đích tổng hợp thông tin và đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của
đề tài một cách tốtnhất
Tìm hiểu, đọc và phân tích sách, nghiên cứu, báo cáo và các bài viết trên mạng internet có liên quan đến vấn đề người di cư và các vấn đề liên quan đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư
Phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm khai thác những tài liệu sẵn có trên các bài báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến “di cư”, “nhập cư”, “dịch vụ xã hội”, “phụ nữ nhập cư” v.v Những tài liệu này, sẽ giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quan từ những nghiên cứu đi trước về vấn đề việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư
3.4.2Phương pháp thống kê
Sử dụng phương pháp thông kê toán học để xử lý các số liệu, tài liệu (xử lý các thông tin định lượng được trình bày dưới dạng: con số rời rạc, bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị, xử lý thông tin định tính bằng biểu đồ) đã thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: quan sát, điều tra bảng hỏi… làm cho các kết quả nghiên cứu trở nên chính xác, đảm bảo độ tin cậy
Trang 393.4.3Phương pháp phỏng vấn sâu
Xây dựng bảng câu hỏi phù hợp với điều kiện và thực tế việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ nhập cư và phụ nữ thường trú – nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh để tiến hành khảo sát Dựa trên nghiên cứu trước và kết quả khảo sát chuyên gia lần 1, tác giả xây dựng bảng khảo sát sơ bộ và thực hiện phỏng vấn sâu đối với 10 người, trong đó có
07 người là phụ nữ nhập cư, 03 người là các đối tượng có liên quan đến người nhập
cư như cán bộ chuyên trách dân số - trẻ em phường, đại diện tổ trưởng dân phố và đại diện chủ nhà trọ trên địa bàn khảo sát
Việc phỏng vấn giúp tác giả xác định, kiểm tra tính chính xác, dễ hiểu của các câu hỏi khảo sát, bổ sung những kiến thức còn thiếu và điều chỉnh những nội dung chưa thích hợp
3.4.4Mẫu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phụ nữ nhập cư và phụ nữ thường trú tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh – với mẫu khảo sát
cư và 50 quan sát đối với trường hợp phụ nữ thường trú để làm cơ sở so sánh những thiệt thòi của nhóm phụ nữ nhập cư khi tiếp cận các dịch vụ xã hội so với nhóm phụ
nữ thường trú tại địa phương
Bước tiếp theo tác giả chọn mẫu theo bước nhảy ngẫu nhiên theo danh sách
để đạt dung lượng mẫu có khối lượng n=150 và 50 mẫu dự phòng
Tổng số mẫu định tính là 10 đơn vị mẫu, trong đó có 07 mẫu phỏng vấn sâu
là phụ nữ nhập cư, 03 mẫu phỏng vấn sâu là các đối tượng có liên quan đến người nhập cư như cán bộ chuyên trách dân số - trẻ em phường, đại diện tổ trưởng dân
Trang 40phố và đại diện chủ nhà trọ trên địa bàn khảo sát Mẫu phỏng vấn sâu phụ nữ nhập
cư sẽ được chọn ngẫu nhiên trong tổng thể, mẫu phỏng vấn đại diện chủ nhà trọ cũng được chọn ngẫu nhiên trong quá trình khảo sát Mẫu phỏng vấn sâu đại diện tổ trưởng dân phố và cán bộ dân số – trẻ em được địa phương giới thiệu
Trong quá trình thực địa khảo sát, nếu mẫu đã chọn không thể tham gia khảo sát vì điều kiện chủ quan như mẫu khảo sát vắng nhà, điều tra viên liên hệ nhiều lần nhưng không gặp,… hoặc do điều kiện khách quan như mẫu khảo sát không đồng ý cung cấp thông tin vì một số lý do cá nhân, nhóm khảo sát sẽ sử dụng mẫu dự phòng để đảm bảo đủ khối lượng mẫu khảo sát theo kế hoạch đề ra