1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của chính sách hỗ trợ tài chính đến tăng trưởng của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP hồ chí minh

83 149 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn các nghiên cứu trong nước tập trung nghiên cứu vai trò và giải pháp để thúc đẩy việc hỗ trợ tài chính cho DNNVV, chưa có nhiều nghiên cứu định lượng đánh giá tác động của chính sách

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI

TP Hồ Chí Minh, năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI CHÍNH ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA DOANH

Chuyên ngành: KINH T Ế PHÁT TRIỂN

Trang 3

Tôi cam đoan luận văn "Tác động của Chính sách hỗ trợ tài chính đến tăng trưởng của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP Hồ Chí Minh" là công trình

nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Phạm Khánh Nam, không sao chép từ các công trình nghiên cứu của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn từ các nghiên cứu khác đều có nguồn gốc rõ ràng và chính xác trong phạm vi hiểu biết của tôi Nghiên cứu của tôi dựa vào tài liệu chính "Cẩm nang Đánh giá Tác động: các phương pháp định lượng

và thực hành" do Khandker, Koolwal và Samad viết năm 2010 Các dữ liệu sử dụng trong luận văn là hoàn toàn đúng như thực tế đã thu thập được từ cuộc Điều tra Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng khoa học nếu có sự tranh chấp hay bị phát hiện có hành vi không trung thực liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu này

Người thực hiện

VÕ THANH HẢI

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT - ABSTRACT

CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU 1

1.1 – Đặt vấn đề 1

1.2 – Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 – Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 – Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5

2.1 – Lược khảo lý thuyết 5

2.2 – Nguyên lý đánh giá tác động của Chính sách công 8

2.2.1 – Đánh giá tác động của chính sách 8

2.2.2 – Phương pháp Kết nối điểm xu hướng PSM 10

2.2.3 – Phương pháp Sai biệt kép DID 11

2.3 – Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm liên quan 12

CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 – Khung phân tích chung: 15

3.2 – Mô hình phân tích 15

3.3 – Khung đo lường tác động 16

3.3.1 – Phương pháp Kết nối điểm xu hướng PSM 16

3.3.2 – Phương pháp Sai biệt kép DID 19

3.3.3 – Phương pháp Sai biệt kép kết hợp So sánh điểm xu hướng DID-PSM 20

3.3.4 – Các biến phụ thuộc và biến kiểm soát 21

3.4 – Dữ liệu 28

Trang 5

4.1.1 – Tổng quan về chính sách hỗ trợ tài chính 30

4.1.2 – Đối tượng đánh giá tác động 31

4.2 – Tác động của chính sách đến tăng trưởng 36

4.2.1 – Tác động đến tăng trưởng doanh thu 36

4.2.2 – Tác động đến tăng trưởng năng suất 36

4.3 – Kiểm định độ tin cậy của các kết quả 37

4.3.1 – Xác định vùng hỗ trợ chung và kiểm tra điều kiện cân bằng 37

4.3.2 – Kiểm tra tác động của chính sách với các kỹ thuật và dữ liệu 38

4.3.3 – Kiểm tra độ tin cậy của hiệu quả can thiệp bình quân 40

4.4 – Phân tích ảnh hưởng của các biến kiểm soát 43

4.4.1 – Biến kiểm soát dùng trong phương pháp PSM 43

4.4.2 – Biến kiểm soát dùng trong phương pháp DID 45

4.4.3 – Biến kiểm soát dùng trong phương pháp DID-PSM 47

CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 50

5.1 – Kết luận 50

5.2 – Hàm ý chính sách 51

5.3 – Hạn chế nghiên cứu 51

5.4 – Hướng nghiên cứu tiếp theo 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Từ viết tắt Ý nghĩa tiếng Việt – tiếng Anh

ATT Hiệu quả can thiệp trung bình trên đối tượng can thiệp

Average Treatment Effect on the Treated CIEM Viện Quản lý Kinh tế Trung ương

Central Institute for Economic Management DID Phương pháp Sai biệt kép (hay Khác biệt trong khác biệt)

Difference in Difference methodology

Small and Medium Enterprise ISIC Phân loại ngành công nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế

International Standard Industrial Classification GSO Tổng cục Thống kê

General Statistic Office OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất

Ordinary Least Squares methodology PSM Phương pháp Kết nối điểm xu hướng

Propensity Score Matching methodology SME Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Small and Medium Enterprise SMEs Điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa

Small and Medium Enterprise survey SXKD Sản xuất kinh doanh

Manufacturing Business TOT Hiệu quả can thiệp trên đối tượng can thiệp

Treatment Effect on the Treated TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Ho Chi Minh City VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

the Chamber of Commerce and Industry of Vietnam WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

World Trade Organization

Trang 7

Bảng 3.2: Phân loại quy mô doanh nghiệp dựa trên số lao động và vốn 26

Bảng 3.3: Mô tả các biến độc lập trong mô hình 27

Bảng 4.1: Số lượng doanh nghiệp điều tra theo loại hình doanh nghiệp 32

Bảng 4.2: Số lượng doanh nghiệp điều tra theo lĩnh vực hoạt động 33

Bảng 4.3: Số lượng doanh nghiệp điều tra theo quy mô doanh nghiệp 34

Bảng 4.4: Số lượng doanh nghiệp điều tra theo tình trạng sở hữu 34

Bảng 4.5: Số lượng doanh nghiệp điều tra theo tình trạng đa dạng sản phẩm 35

Bảng 4.6: Số lượng doanh nghiệp điều tra theo tình trạng xuất khẩu 35

Bảng 4.7: Tác động của chính sách đến tăng trưởng doanh thu 36

Bảng 4.8: Tác động của chính sách đến tăng trưởng năng suất 37

Bảng 4.9: Kiểm tra tác động của chính sách với các kỹ thuật và dữ liệu 39

Bảng 4.11: Biến kiểm soát trong hồi quy Probit – dữ liệu năm 2015 43

Bảng 4.12: Biến kiểm soát trong hồi quy Probit – dữ liệu năm 2013-2015 44

Bảng 4.13: Biến kiểm soát trong phương pháp DID – ước lượng tăng trưởng doanh thu 45

Bảng 4.14: Biến kiểm soát trong phương pháp DID – ước lượng tăng trưởng năng suất 46

Bảng 4.15: Biến kiểm soát trong phương pháp DID-PSM – ước lượng tăng trưởng doanh thu 47

Bảng 4.16: Biến kiểm soát trong phương pháp DID-PSM – ước lượng tăng trưởng năng suất 48

Trang 8

Hình 3.1: Mô hình phân tích tác động của chính sách hỗ trợ tài chính 15 Hình 4.1: Phân bố điểm xu hướng phương pháp PSM – dữ liệu năm 2015 37 Hình 4.2: Phân bố điểm xu hướng phương pháp PSM – dữ liệu năm 2013-2015 38

Trang 9

đã được Nhà nước triển khai các chính sách trợ giúp trong các lĩnh vực tài chính, mặt bằng sản xuất, đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật, xúc tiến mở rộng thị trường… tạo điều kiện cho DNNVV tồn tại và phát triển Trong

đó, chính sách hỗ trợ tài chính có ý nghĩa thực tiễn đối với DNNVV

Đã có một số nghiên cứu về tác động chính sách đến DNNVV ở trong và ngoài nước trong đó đề cập đến chính sách hỗ trợ tài chính,… thể hiện các góc độ

và quan điểm khác nhau Các nghiên cứu nước ngoài thực hiện với những điều kiện rất khác biệt so với Việt Nam Còn các nghiên cứu trong nước tập trung nghiên cứu vai trò và giải pháp để thúc đẩy việc hỗ trợ tài chính cho DNNVV, chưa có nhiều nghiên cứu định lượng đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ tài chính đến chỉ số tăng trưởng của DNNVV

Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật Kết nối điểm xu hướng PSM, Sai biệt kép DID và Sai biệt kép DID kết hợp với Kết nối điểm xu hướng PSM để đo lường tác động của chính sách hỗ trợ tài chính đến tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng năng suất của DNNVV Sử dụng bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm 457 doanh nghiệp tham gia năm 2015 và 356 doanh nghiệp tham gia cả 2 năm 2013 và

2015, nghiên cứu chưa tìm thấy tác động tích cực của chính sách đến chỉ số tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng năng suất của doanh nghiệp

Abstract

As an important component of the national economy, SMEs have been supported by the State by various policies in the fields of finance, production ground, innovation, improve technology capacity, technical level, or market promotion that potentially facilitates the existence and development of SMEs In particular, financial support has been considered one of the important policies for SMEs

Trang 10

other countries based on different contexts compared to Vietnam While studies in Vietnam focused on the role and solutions to promote financial support for SMEs, there are few quantitative studies assessing the impact of financial support policies

on the growth of SME

This study uses Propensity Score Matching (PSM), Difference in Difference (DID), and a combination of PSM and DID to measure the impact of financial support policy on SME revenue growth and productivity growth Using the survey data of 457 SME enterprises participated in the 2015 survey and 356 enterprises participating in both 2013 and 2015 surveys, the study has not found a positive impact of the policy on revenue growth and productivity growth index of businesses

Trang 11

CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU

1.1 – Đặt vấn đề

Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Cụ thể, về lao động, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP…

Số tiền thuế và phí mà các DNNVV đã nộp cho Nhà nước đã tăng gần 20 lần sau 17 năm kể từ năm 2001 Sự đóng góp này đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác Do vậy, đã tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư, để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh

Có thể thấy rằng, cộng đồng DNNVV trong thời gian vừa qua đã đạt được những kết quả vô cùng quan trọng, nhưng cũng phải đối mặt với những khó khăn thách thức đã và đang nảy sinh trong tình hình mới Quá trình tăng trưởng của DNNVV lại đang diễn ra trong điều kiện môi trường hạn chế nên thường dẫn đến việc sử dụng nguồn lực không hiệu quả Trong khi một số DNNVV gặp phải những khó khăn về tín dụng và tài chính thì một số doanh nghiệp khác lại gặp những thách thức từ sự thiếu linh hoạt của môi trường pháp lý

Nhận định vai trò đóng góp của DNNVV đối với sự phát triển kinh tế và hiểu được môi trường DNNVV đang hoạt động cũng như những trở ngại mà DNNVV đang đối mặt và cơ hội mà họ đang có là rất quan trọng để đưa ra được các chính sách có lợi cho một sự tăng trưởng ổn định Chính phủ đã ban hành các chính sách định hướng, phát triển DNNVV được xem là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu nhằm thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Trang 12

Trong các chính sách điều tiết nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của DNNVV thì chính sách tài chính là một trong những công cụ quan trọng thường được Chính phủ sử dụng Bản chất của các chính sách này là việc Chính phủ

sử dụng các công cụ tài chính để khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư từ các tổ chức,

cá nhân nhằm thúc đẩy xã hội phát triển Cụ thể, thông qua 2 công cụ chủ yếu thường được sử dụng là thuế và tín dụng, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước

Một trong những văn bản quan trọng thể hiện sự khuyến khích phát triển DNNVV là Nghị định 90/2001/NĐ-CP ban hành ngày 23/11/2001 Nghị định này là văn bản chính thức của nhà nước khẳng định vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế và các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV Đây cũng được coi là bước đột phá nhằm phát huy mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước, tăng cường hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

và nền kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất Việt Nam về dân số và kinh

tế, đứng thứ hai về diện tích, đồng thời là một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của cả nước, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía nam, có vị trí chính trị - kinh tế - xã hội quan trọng của cả nước Quy mô kinh tế, tiềm lực và sự đóng góp cho cả nước ngày càng lớn Ðến nay, thành phố đã đóng góp khoảng 1/3 giá trị sản xuất công nghiệp, 1/5 kim ngạch xuất khẩu và 1/5 quy mô kinh tế của cả nước; đóng góp 30% trong tổng thu ngân sách quốc gia Trong đó, DNNVV tại Tp Hồ Chí Minh chiếm 96% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn và giữ vai trò, đóng góp lớn đối với kinh tế thành phố

Các chính phủ, nhà tài trợ và những thành phần khác trong cộng đồng phát triển mong muốn xây dựng hiệu quả những chương trình có mục tiêu sâu rộng như tăng trưởng, giảm đói nghèo hay tăng việc làm Những yêu cầu về chính sách này

Trang 13

thường chỉ có thể đạt được thông qua đánh giá tác động dựa trên bằng chứng xác thực từ dữ liệu khảo sát hay thông qua các phương thức định lượng liên quan

Vì vậy, để đánh giá hiệu quả của chính sách hỗ trợ tài chính, nghiên cứu sẽ phân tích tác động của chính sách hỗ trợ tài chính đối với tăng trưởng của DNNVV tại Tp Hồ Chí Minh

1.2 – Mục tiêu nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu: Chính sách hỗ trợ tài chính có tác động tích cực đến tăng

trưởng của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tp Hồ Chí Minh hay không?

Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chung của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của chính sách hỗ trợ tài chính đến hoạt động của DNNVV tại TP.HCM cũng như đề xuất những giải pháp để thực hiện đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ đối với tăng trưởng của DNNVV

Trong nghiên cứu này sẽ thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:

- Phân tích tác động của chính sách hỗ trợ tài chính đến tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng năng suất của DNNVV tại TP.HCM bằng cách so sánh chỉ số tăng trưởng của nhóm doanh nghiệp nhận được hỗ trợ và nhóm không nhận được hỗ trợ của chính sách

- Đề xuất những giải pháp để thực hiện đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ đối với tăng trưởng của DNNVV tại địa phương nói riêng và DNNVV cả nước nói chung

1.3 – Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp năm 2015 gồm 467 DNNVV trong đó có

17 DNNVV tham gia chính sách hỗ trợ tài chính và dữ liệu thứ cấp năm 2013-2015 gồm 356 DNNVV được khảo sát liên tục qua 2 năm 2013 và 2015 trong đó có là 13 DNNVV tham gia chính sách hỗ trợ tài chính

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp PSM, phương pháp DID và phương pháp kết hợp giữa PSM và DID để đánh giá tác động can thiệp của chính sách đến tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng năng suất của DNNVV Cả ba phương pháp này

Trang 14

đều xây dựng tình huống phản thực từ dữ liệu thống kê, giúp chọn lọc các DNNVV

có những đặc điểm tương đồng nhau trước khi có can thiệp của chính sách, từ đó giúp cho việc so sánh các chỉ tiêu tăng trưởng của DN trước và sau khi có can thiệp

1.4 – Cấu trúc luận văn

Đề tài trình bày các vấn đề theo cấu trúc 5 chương với các nội dung như sau: Chương 1 – Giới thiệu: cung cấp thông tin ngắn gọn về vấn đề cần nghiên cứu, trình bày mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 – Tổng quan lý thuyết: trình bày cơ sở lý thuyết về chính sách hỗ trợ tài chính, phương pháp đánh giá tác động của chính sách, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan để từ đó xây dựng giả thuyết nghiên cứu

Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: trình bày về khung đo lường tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng năng suất và đánh giá tác động chính sách, phương pháp đánh giá bằng PSM và DID, DID kết hợp PSM và dữ liệu sử dụng cho đề tài này Chương 4 – Kết quả nghiên cứu: trình bày kết quả và bàn luận về các phát hiện liên quan đến kết quả chính

Chương 5 – Kết luận và hàm ý chính sách: trình bày những kết luận, các hàm ý chính sách liên quan đến nghiên cứu, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Phần cuối cùng là các phụ lục đính kèm

Trang 15

CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1 – Lược khảo lý thuyết

DNNVV tại Việt Nam

Khái niệm DNNVV: DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về mặt vốn,

lao động hay doanh thu Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động

từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có

từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình Ở Việt Nam, theo Điều 6,

Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, quy định:

1 Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng

Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng

2 Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này

Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này

Trang 16

3 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này

Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này

Vai trò của DNNVV: Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp

nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một

số vai trò tương đồng như sau:

- Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các DNNVV thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể

- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, DNNVV được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế

- Làm cho nền kinh tế năng động: vì DNNVV có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động

- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: DNNVV thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh

- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ

sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa

Trang 17

phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương

- Đóng góp giá trị GDP cho quốc gia

Chính sách trợ giúp phát triển DNNVV

Từ cuối năm 2007 cho đến nay, nền kinh tế nước ta chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vẫn tăng: tính hết năm 2009, gần 85.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng gần 30% so với năm 2008 Sự phát triển tích cực của khu vực DNNVV trong những năm qua đã góp phần cơ bản tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định tình hình kinh tế, chính trị, an sinh xã hội Tuy nhiên, các DNNVV vẫn còn có những khó khăn, hạn chế mang tính đặc trưng và lâu dài ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và phát triển như: quy mô doanh nghiệp nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, việc tiếp cận nguồn tín dụng và mặt bằng sản xuất khó, mối liên kết với các doanh nghiệp lớn còn thấp

Nhằm tiếp tục khuyến khích, trợ giúp phát triển DNNVV đáp ứng các yêu cầu mới về hội nhập và phát triển, ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV

Theo nội dung của Nghị định này, Nhà nước có chính sách trợ giúp DNNVV trong các lĩnh vực tài chính; mặt bằng sản xuất; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến mở rộng thị trường; tạo điều kiện cho DNNVV tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ công; thông tin và tư vấn; trợ giúp phát triển nguồn nhân lực; vườn ươm doanh nghiệp

Chính sách hỗ trợ tài chính

Chính sách hỗ trợ tài chính là một công cụ rất quan trọng, mang tính sống còn của Nhà nước trong việc điều hành và phát triển kinh tế xã hội Trong đó, đặc

Trang 18

biệt là chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách về thị trường chứng khoán, … có tác động đến việc tồn tại và phát triển DNNVV

Dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật tài chính, sự hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước đối với các DNNVV được thực hiện thông qua chính sách tài chính vĩ mô (ngân sách Nhà nước, tín dụng Nhà nước) và qua các thị trường tài chính (thị trường tín dụng ngân hàng, thị trường vốn), ngoài ra còn có một số chính sách khác

Sự hỗ trợ này góp phần giúp cho các DNNVV giải quyết những khó khăn trong quá trình hoạt động, nâng cao hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh và đứng vững trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới Các chính sách nói trên của Nhà nước chủ yếu là hướng vào việc phát triển bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong xu thế hội nhập, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO

2.2 – Nguyên lý đánh giá tác động của Chính sách công

2.2.1 – Đánh giá tác động của chính sách

Đánh giá tác động của một chính sách là tìm hiểu xem những thay đổi trong phúc lợi có thực sự là kết quả của can thiệp chính sách hay không, bằng cách thực hiện so sánh kết quả của những đối tượng tham gia dưới tác động của chính sách với kết quả của chính những đối tượng tham gia này nếu không có chính sách

Khó khăn chính trong đánh giá tác động là xác định xem điều gì sẽ xảy ra đối với đối tượng thụ hưởng nếu không có chương trình Nhưng ta không thể làm được điều này vì tại một thời điểm nào đó, một đối tượng sẽ không thể tồn tại vừa ở nhóm can thiệp và đối chứng cùng lúc Hiệu quả của chính sách không thể tính cho một đối tượng, mà thay vào đó cần phải xây dựng tình huống phản thực để tính toán hiệu quả chính sách trung bình của các đối tượng trong một mẫu khảo sát chọn từ tổng thể Kết quả của tình huống này gọi là tình huống phản thực (counterfactual) trình bày ở Hình 2.1

Trang 19

can thiệp

Sau can thiệp

Hình 2.1: Mô hình phương pháp đánh giá tác động

Nguồn: dựa theo ý tưởng của Khandker và cộng sự (2010)

Tổng quát hóa, tác động trung bình của chính sách sẽ được tính bởi biểu thức:

+ T: biến chính sách, 0 = không tham gia, 1 = có tham gia

+ Yi: biến kết quả chẳng hạn tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng năng suất + Yi | T = 1: biến kết quả của đối tượng thứ i với điều kiện đối tượng i có tham gia

+ Yi | T = 0: biến kết quả của đối tượng thứ i khi đối tượng i không tham gia

Do tình huống phản thực không quan sát được nên không thể ước lượng D một cách chính xác tuyệt đối Để đánh giá tác động chính xác, ta cần phải loại bỏ sai số của việc chọn mẫu hoặc tìm cách để xử lý cho sai số này ở mức tối thiểu Để

giải quyết vấn đề này, có hai hướng tiếp cận: một là "Lựa chọn ngẫu nhiên -

Trang 20

randomization " và hai là "Thí nghiệm tự nhiên - natural experiments" hay "Bán

thực nghiệm - quasi experiments"

Mỗi phương pháp đều có những giả định khác nhau để tính toán mức độ sai số có thể có trong lựa chọn đối tượng tham gia, có thể ảnh hưởng đến cơ cấu của các tác động can thiệp của chương trình Trong đánh giá tác động chính sách, người ta thường quan tâm đến Hiệu quả can thiệp trung bình của nhóm tham gia (ATT) hơn

là Hiệu quả can thiệp trung bình (ATE)

Phương pháp "lựa chọn ngẫu nhiên" được áp dụng để loại bỏ sai số do chọn mẫu bằng cách phân bổ ngẫu nhiên đối tượng vào nhóm can thiệp hoặc đối chứng, lúc này đặc điểm của hai nhóm là hoàn toàn tương đồng nhau ngoại trừ điểm khác biệt duy nhất giữa hai nhóm chính là sự can thiệp của chương trình Vì vậy, tình huống phản thực chính là hiệu quả của nhóm đối chứng, sai số chọn mẫu ε = 0 và khi đó D = ATT Tuy nhiên, phương pháp “lựa chọn ngẫu nhiên” thường không khả thi trong thực tế do những hạn chế về mục đích chính sách, chọn đối tượng tham gia

và đạo đức Phương pháp "thí nghiệm tự nhiên" là dựa vào các thiết kế nghiên cứu,

dữ liệu sẽ được xử lý bằng các kỹ thuật thống kê để tạo thành nhóm can thiệp và nhóm đối chứng có đặc điểm gần giống nhau nhất, sai số chọn mẫu ε ≈ 0 và khi đó

D ≈ ATT Phương pháp Kết nối điểm xu hướng, Sai biệt kép, Biến công cụ, Gián

đoạn hồi quy thuộc nhóm "thí nghiệm tự nhiên" này

2.2.2 – Phương pháp Kết nối điểm xu hướng PSM

Lý thuyết căn bản về PSM được Robin giới thiệu lần đầu năm 1977, sau đó được các nhóm nghiên cứu của Rosembaun và Robin (năm 1983), Heckman, Ichimura và ToDID (năm 1997) và Dehejia và Wahba (năm 1999) tiếp tục bổ sung hoàn thiện thêm Phương pháp PSM sau đó đã được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong các mô hình thực nghiệm về đánh giá tác động

Phương pháp PSM tiếp cận theo hướng dùng kỹ thuật thống kê để xây dựng nhóm đối chứng càng gần giống với nhóm can thiệp càng tốt Dựa trên những đặc tính quan sát được và không chịu ảnh hưởng của chương trình, PSM tính xác suất tham gia can thiệp (tức là điểm xu hướng) của các đối tượng Dựa vào xác suất này,

Trang 21

mỗi đối tượng nhận can thiệp được so khớp với một đối tượng không nhận can thiệp tương ứng Các đối tượng không có đối tượng so khớp sẽ được loại ra Sau đó, hiệu quả can thiệp bình quân của chương trình được tính bằng sai biệt trung vị trong kết quả giữa hai nhóm (Khandker và cộng sự, 2010, p55)

Về lý thuyết, phương pháp PSM là một công cụ đánh giá tác động hoàn thiện (Khandker và cộng sự, 2010, p55) Tính hợp lý của phương pháp Điểm xu hướng PSM phụ thuộc vào hai điều kiện: a) thỏa mãn tính độc lập có điều kiện (tức là các yếu tố không quan sát được không ảnh hưởng đến tình trạng tham gia), b) tồn tại vùng hỗ trợ chung giữa nhóm can thiệp và đối chứng lớn Có nhiều cách để so sánh giữa 2 nhóm can thiệp và đối chứng dựa trên điểm xu hướng gồm các phương pháp

so sánh: cận gần nhất, trong phạm vi bán kính, phân tầng và hạt nhân

2.2.3 – Phương pháp Sai biệt kép DID

Nghiên cứu khoa học đầu tiên sử dụng một cách rõ ràng cách tiếp cận Sai biệt kép DID là của Snow tiến hành năm 1855 Kể từ đó đến nay, lý thuyết của phương pháp DID đã được bổ sung hoàn thiện thêm và được áp dụng trong nhiều

mô hình thực nghiệm bởi các nhà nghiên cứu ở khắp mọi nơi

Phương pháp DID dựa trên dữ liệu so sánh đối tượng tham gia và không tham gia chương trình ở cả giai đoạn trước và sau khi có can thiệp Đầu tiên là phải thực hiện khảo sát đầu kỳ cho cả đối tượng không tham gia và tham gia chương trình, sau đó khi đã có can thiệp của chương trình, sẽ cần phải tiến hành một điều tra tiếp theo cho cả hai nhóm đối tượng này Từ dữ liệu thu được, ta sẽ tính toán được sai biệt trung vị giữa các kết quả của nhóm can thiệp và đối chứng trước và sau can thiệp

Ta có thể tính toán được tác động bằng cách giả định tính không đồng nhất không quan sát được là không đổi theo thời gian và không có liên hệ với can thiệp trong thời kỳ

Phương pháp tính toán DID giải quyết vấn đề thiếu dữ liệu phản thực bằng cách dùng cơ chế song song để tính kết quả của đối tượng tham gia và không tham gia trong thời kỳ trước và sau can thiệp Về cơ bản, phương pháp DID so sánh các

Trang 22

nhóm can thiệp và đối chứng dựa trên những khác biệt trong kết quả sau can thiệp ứng với những kết quả trước can thiệp

2.3 – Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm liên quan

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của hỗ trợ chính phủ Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm ước lượng tác động của các khoản trợ cấp của chính phủ cho các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau (Bergström, 2000, Almus, 2001 Crepon and Duguet, 2003, Girma Görg và Strobl, 2003, Ege, 2009, Sissoko, 2011; Criscuolo, Martin, Overman và Van Reenen, 2012) Bằng chứng của Estonia về các yếu tố quyết định sự tăng trưởng của công ty là rất ít Trong các nghiên cứu thực nghiệm, khái niệm hiệu quả bao gồm nhiều lĩnh vực và cơ hội khác nhau - hiệu quả được xác định thông qua việc sử dụng công nghệ, tăng năng suất hoặc tăng khả năng tồn tại của doanh nghiệp (Masso và Vildo, 2006) Nghiên cứu thực nghiệm Bergström (2000) cho thấy trong trường hợp của Thụy Điển trợ cấp có tương quan dương với tăng trưởng và tăng năng suất của các công ty được trợ cấp dường như tăng lên trong năm đầu tiên sau khi được trợ cấp

Nghiên cứu thực nghiệm phân tích tác động của các khoản tài trợ ban đầu lên hiệu quả của các doanh nghiệp khởi nghiệp Lukason và Masso (2010) đã phân tích hiệu suất của 39 công ty mới thành lập ở Estonia đã nhận được hỗ trợ tài chính từ tiểu bang dưới hình thức trợ cấp khởi động trong giai đoạn 2005-2008 Kết quả cho thấy mặc dù nhiều doanh nghiệp không thể đạt được các mục tiêu đã đề ra (về doanh thu, lợi nhuận và số người làm việc) và hơn một nửa số công ty còn nợ thuế, các khoản thuế lao động ước tính do các công ty trả được cao hơn nhiều với tổng số tiền trợ cấp, do đó chỉ ra tác động tích cực ròng của các khoản tài trợ đối với vị trí tài chính của bang Ngoài ra, Masso và Vildo (2006) nhận thấy rằng các khoản tài trợ ban đầu đã có tác động tích cực lên việc tạo ra việc làm trong năm thứ hai sau khi nhận được khoản trợ cấp, nhưng trong tất cả các năm nhìn lại liên quan đến tăng trưởng doanh thu Đồng thời, họ kết luận rằng các khoản tài trợ khởi đầu không làm tăng cơ hội sống sót của công ty

Trang 23

Nghiên cứu liên quan đến chính sách và môi trường doanh nghiệp Abdullah

(1999) đã phân tích về khả năng tiếp cận của các chương trình hỗ trợ do chính phủ

tài trợ đối với DNNVV ở Penang Hartšenko et al (2013) phân tích vai trò của tiếp cận tài chính cho hoạt động của các DNNVV trong khu vực Muhoza, Rwanda Các nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực nhưng rất nhỏ đối với việc cải thiện môi trường, chính sách đối với hoạt động của doanh nghiệp Từ đó, có thể thấy việc triển khai chính sách nhà nước thường có độ trễ và phải có sự hấp thụ của doanh nghiệp mới đạt được hiệu quả của chính sách đối với nền kinh tế

Nghiên cứu thực nghiệm phân tích tác động của chính sách hỗ trợ tài chính lên DNNVV và sự phát triển của nền kinh tế Hartsenko và Sauga (2013) đã phân tích tác động của chính sách hỗ trợ tài chính đối với DNNVV ở Estonia, dữ liệu phân tích là DNNVV đăng ký kinh doanh tại Estonia trong giai đoạn 2004-2010 Chính sách tài chính hỗ trợ trong nghiên cứu này tập trung vào một số chương trình như tài trợ khởi nghiệp và phát triển, nghiên cứu và phát triển (R&D), phát triển kiến thức và kỹ năng, đầu tư công nghệ và tài trợ xuất khẩu Nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực đối với các chỉ số doanh thu bán hàng và năng suất lao động của các DNNVV được nhận hỗ trợ Ngoài ra, nghiên cứu cũng đánh giá được việc tiếp cận chính sách hỗ trợ tài chính của các DNNVV được cải thiện đã ảnh hưởng đến phát triển kinh tế ở Estonia thông qua năng suất tăng lên

Qua các nghiên cứu thực nghiệm nêu trên có thể thấy có nhiều cách đánh giá tác động của các chính sách hỗ trợ của chính phủ đối với doanh nghiệp đều có tác động tích cực Đặc biệt, nghiên cứu của Hartsenko và Sauga (2013) cho thấy chính sách hỗ trợ tài chính có tác động tích cực đối với chỉ số doanh thu bán hàng và năng suất lao động, bên cạnh đó cũng cho thấy tác động tích cực đối với nền kinh tế thông qua tăng trưởng của DNNVV Với dữ liệu điều tra DNNVV, nghiên cứu này muốn đo lường tác động của chính sách hỗ trợ tài chính của chính phủ đến chỉ số tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng năng suất của DNNVV có tích cực hay không, xác định độ lớn của tác động Trường hợp, nghiên cứu chưa tìm thấy tác

Trang 24

động tích cực và đáng kể đến hai chỉ số tăng trưởng của DNNVV thì nghiên cứu xem tác động của chính sách đến khía cạnh khác của những DNNVV tham gia

Trang 25

CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nội dung chương này nêu ra khung phân tích, phương pháp tính toán các chỉ số tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng năng suất của DNNVV, khung đo lường tác động của chính sách hỗ trợ tài chính đến chỉ số tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng năng suất của DNNVV Ở phần cuối chương trình bày quy trình xử lý, trích lọc dữ liệu từ bộ dữ liệu khảo sát DNNVV ở Tp HCM năm 2013, 2015 và quy trình phân tích dữ liệu

3.1 – Khung phân tích chung:

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu Phân tích tác động của chính sách hỗ trợ tài chính đến tăng trưởng của doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa Tp Hồ Chí Minh, khung phân tích được đưa ra dựa trên ý tưởng về mối liên hệ giữa các đặc điểm của doanh nghiệp với chỉ số tăng trưởng doanh thu và chỉ số tăng trưởng năng suất của doanh nghiệp và mối liên hệ giữa tác động của việc nhận hỗ trợ tài chính đến tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng năng suất của doanh nghiệp, vì vậy mô hình khung phân tích được thể hiện như sau:

NHÓM DOANH NGHIỆP

XỬ LÝ

CHÍNH SÁCH

HỖ TRỢ TÀI CHÍNH

TĂNG TRƯỞNG DOANH THU

TĂNG TRƯỞNG NĂNG SUẤT

Đánh giá tác động Phương pháp sai biệt kép - DD

Đánh giá tác động Phương pháp điểm xu hướng - PSM

Hình 3.1: Mô hình phân tích tác động của chính sách hỗ trợ tài chính

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ lược khảo lý thuyết

3.2 – Mô hình phân tích

Mô hình kinh tế lượng

Cách tiếp cận của phân tích dựa trên mô hình đánh giá tác động của chính sách đối với doanh nghiệp của Bertrand, Duflo và Mullianatathan (2004); Khandker, Samad và Koolwal (2009) Phương trình hồi quy như sau:

Trang 26

𝑌𝑖𝑡 = 𝛽0+ 𝛾𝐻𝑖𝑡 + ∑ 𝛽𝑘 𝑘𝑋𝑖𝑡 + 𝑢𝑖𝑡 (3.1)

trong đó Y it là tăng trưởng doanh thu; tăng trưởng năng suất (trong nghiên cứu tác

giả thay sản lượng bằng tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng năng suất) của

doanh nghiệp i tại thời điểm t, H it là biến giả mô tả doanh nghiệp i tại thời điểm t có

nhận hỗ trợ tài chính hay không, H it nhận giá trị 1 là doanh nghiệp được nhận hỗ trợ

tài chính và 0 là doanh nghiệp không được nhận hỗ trợ tài chính, và X it là tập hợp các biến về đặc điểm của doanh nghiệp i tại thời điểm t

3.3 – Khung đo lường tác động

3.3.1 – Phương pháp Kết nối điểm xu hướng PSM

Lý thuyết về phương pháp PSM được tóm tắt như sau: Bản chất của phương pháp PSM là ước lượng kết quả phản thực bằng các phương pháp thống kê sử dụng

dữ liệu chéo Hai giả định quan trọng cần thoả mãn nếu muốn áp dụng PSM là độc lập có điều kiện và tồn tại vùng hỗ trợ chung đủ lớn, vì vậy nếu càng nhiều quan sát

và nhiều biến kiểm soát càng tốt vì dữ liệu như vậy sẽ dễ đáp ứng hai giả định này

Phương pháp PSM xây dựng nhóm đối chứng bằng mô hình thống kê xác suất tham gia chương trình (còn gọi là điểm xu hướng) dựa trên các đặc tính quan sát được nhưng không chịu ảnh hưởng của chương trình Các đối tượng can thiệp sau đó được so khớp với đối tượng không tham gia dựa trên xác suất này Hiệu quả can thiệp bình quân của chương trình sau đó được tính toán bằng sai biệt trung vị trong các kết quả giữa hai nhóm

Bước 1: Tính toán xác xuất tham gia chương trình

Từ bộ số liệu điều tra DNNVV năm 2013 và 2015, nghiên cứu dùng mô hình Probit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng tham gia chính sách của DN (gọi là phương trình tham gia) Đối với phân tích hồi quy Probit, biến phụ thuộc là biến giả, biến này nhận giá trị 0 nếu doanh nghiệp đối chứng (không tham gia chính sách) hoặc giá trị 1 nếu là doanh nghiệp nhận can thiệp (có tham gia chính sách)

i i

Trang 27

tham gia chính sách cho từng doanh nghiệp i của cả hai nhóm Lưu ý hồi quy Logit/Probit không quan tâm nhiều ảnh hưởng của Xi đối với Yi mà nó xem xét ảnh hưởng của Xi đến xác suất để Yi nhận giá trị bằng 1 Giá trị xác suất dự đoán này chính là "điểm xu hướng - propensity score", nhận giá trị trong khoảng từ 0 đến 1

và được tính bởi biểu thức (3.3):

i i N

i i N

X β β

X i

e

e P

1 0

1 0

 +

+

Để ước lượng được phương trình trên, ta có thể biến đối thành:

i i N

i

i

X P

P

)1

Bước 2: Xác định Vùng hỗ trợ chung và Kiểm định cân bằng

Tiếp theo, ta cần xác định vùng hỗ trợ chung trong đó phân bổ điểm xu hướng của nhóm can thiệp và đối chiếu trùng nhau Theo Khandker và cộng sự (2010), những quan sát có điểm xu hướng khác nhau quá lớn hoặc không nằm trong vùng hỗ trợ chung sẽ bị loại Như vậy cần càng nhiều quan sát trong vùng hỗ trợ chung của cả 2 nhóm càng tốt Tuy vậy, vẫn có thể còn sai số chọn mẫu, nếu các quan sát đối tượng không tham gia bị loại bỏ có sự khác biệt một cách hệ thống trong các đặc tính quan sát được so với mẫu không tham gia còn lại; những khác biệt này cần phải được theo dõi kỹ lưỡng để góp phần diễn giải hiệu quả can thiệp

Cũng có thể thực hiện các kiểm định cân bằng để biết trong từng ngũ phân vị phân bổ điểm xu hướng, điểm xu hướng bình quân và trung vị của X có bằng nhau hay không Để PSM có kết quả, các nhóm can thiệp và đối chiếu phải cân bằng, thể hiện bằng mức điểm xu hướng giống nhau dựa trên tham số X được quan sát tương

tự Tuy nhóm can thiệp và nhóm không can thiệp đối xứng có thể có điểm xu hướng như nhau nhưng không hẳn sẽ là những nhóm tương tự khi quan sát nếu trong phương trình tham gia xác định sai biến số Cân bằng có nghĩa là phân bổ giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chiếu phải giống nhau (Khandker và cộng sự, 2010)

Tóm lại, ta cần kiểm tra phương trình P(X |T = 1) =P(X |T = 0)

Trang 28

Bước 3: So sánh đối tượng tham gia và không tham gia

Có thể sử dụng các tiêu chí so sánh khác nhau để phân nhóm doanh nghiệp tham gia và không tham gia dựa trên điểm xu hướng và tính toán gia quyền của từng cặp tham gia – không tham gia Việc chọn lựa kỹ thuật đối chiếu cụ thể sẽ ảnh hưởng đến ước tính chương trình qua mức gia quyền sử dụng (Khandker và cộng

sự, 2010):

▪ So sánh cận gần nhất (Nearest Neighbor): Đây là kỹ thuật so sánh được sử dụng thường xuyên nhất, trong đó mỗi đơn vị can thiệp được so sánh với một đơn vị đối chiếu có điểm xu hướng gần nhất

▪ So sánh trong phạm vi hay bán kính (Radius): Phương pháp này so sánh các doanh nghiệp có điểm số xu hướng trong một phạm vi nhất định Tuy nhiên, nếu số lượng doanh nghiệp tham gia bị loại trừ cao thì sẽ có khả năng làm tăng sai số chọn mẫu

▪ So sánh phân tầng (Stratification): Quy trình này phân chia hỗ trợ chung thành nhiều tầng (hay khoảng thời gian) khác nhau và tính toán tác động của chính sách trong từng khoảng thời gian

▪ So sánh hạt nhân (Kernel): Tất cả các trường hợp tham gia được so sánh với trọng số trung bình của tất cả nhóm kiểm soát sử dụng trọng số là tỷ lệ nghịch đảo khoảng cách giữa điểm xu hướng của doanh nghiệp tham gia và kiểm soát

Bước 4: Tính toán tác động can thiệp bình quân

Nếu giả định về độc lập có điều kiện và có vùng hỗ trợ chung về điểm xu hướng giữa nhóm tham gia và không tham gia tương ứng đủ lớn thì hiệu quả can thiệp bình quân PSM sẽ bằng với sai biệt trung vị trên kết quả trong vùng hỗ trợ chung (Khandker và cộng sự, 2010)

Tác động trung bình của dự án ATT được ước lượng bằng cách tính sự khác biệt giữa các trung bình các hộ thuộc nhóm xử lý và nhóm kiểm soát Ý tưởng tính toán thể hiện bằng công thức sau:

D = E(Y i |T i = 1) - E(Y i |T i = 0) (3.5)

Trang 29

Ký hiệu:

- i: doanh nghiệp thứ i

- T i : biến can thiệp của chính sách của doanh nghiệp i;

(T i =1 có can thiệp) và (T i =0 không can thiệp)

- Y i : chỉ số tăng trưởng của doanh nghiệp i

- Y i | T i : chỉ số tăng trưởng của doanh nghiệp i với điều kiện T i

Thể hiện ý tưởng trên bằng phương pháp PSM:

)]}

(,0

|[)]

(,1

|[

1

| )

3.3.2 – Phương pháp Sai biệt kép DID

Theo Khandker và cộng sự (2010), "Phương pháp DID đang ngày càng được

sử dụng rộng rộng rãi trong các nghiên cứu phân tích tác động của chương trình hay chính sách" Để đánh giá dự án bằng phương pháp DID cần phải có dữ liệu bảng, tức là dữ liệu vừa theo thời gian vừa theo không gian của tập hợp nhiều quan sát khác nhau Phương pháp DID sẽ chia các đối tượng quan sát thành hai nhóm là nhóm can thiệp và nhóm đối chứng

Sai biệt bình quân trong kết quả của nhóm đối tượng tham gia và không tham gia trong đầu kỳ và cuối kỳ sẽ cho kết quả tác động theo DID Cần chú ý rằng trong phương pháp DID, các đặc điểm không quan sát được làm nảy sinh cách biệt giữa các kết quả đối chứng đo đạc được và kết quả phản thực thực tế được giả định là không đổi theo thời gian, với điều kiện chênh lệch giữa hai xu hướng là như nhau trong thời kỳ

Để đánh giá tác động của dự án cần có dữ liệu bảng Phương pháp này thường được dùng kết hợp với mô hình hồi quy Pool-OLS (Khandker và cộng sự, 2010), mô hình này giúp ta tính được ATTDID bằng bằng cách chạy hồi quy OLS sau đây:

Trang 30

𝑌𝑖𝑡 = 𝛼0 + 𝛾𝐻𝑖𝑡 + 𝛼1 ∗ 𝑡𝑖𝑚𝑒 + 𝛼2∗ (𝐻𝑖𝑡 ∗ 𝑡𝑖𝑚𝑒) + ∑ 𝛽𝑘 𝑘𝑋𝑖𝑡 + 𝑢𝑖𝑡 (3.7)

Trong đó:

• Gọi Y là đầu ra của chính sách đang cần đánh giá tác động, trong nghiên

cứu này là chỉ số tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng năng suất của doanh nghiệp

• H là biến giả về tình trạng tham gia, H=1 là doanh nghiệp thuộc nhóm can thiệp (có tham gia chính sách) và H=0 là doanh nghiệp thuộc nhóm đối

chứng (không tham gia chính sách)

• time là biến giả về thời gian: time = 1 là sau khi có can thiệp và time = 0 là

trước khi có can thiệp của chính sách

• H * time là biến tương tác của hai biến giả H và time

• X là véc-tơ các biến kiểm soát gồm các đặc điểm của doanh nghiệp

Cuối cùng, ta sẽ có ước lượng tác động của can thiệp chính sách đến tăng trưởng của doanh nghiệp theo phương pháp Sai biệt kép Ý tưởng này được thể hiện bằng biểu thức dưới đây:

) 0

| (

) 1

3.3.3 – Phương pháp Sai biệt kép kết hợp So sánh điểm xu hướng DID-PSM

Ta có thể hoàn thiện phương pháp DID theo một số cách Một trong những cách đó là sử dụng so sánh điểm xu hướng PSM với dữ liệu ban đầu để tạo nhóm đối chiếu nhất định tương tự như nhóm can thiệp, sau đó sử dụng các sai biệt kép trong mẫu đối chiếu Như vậy, ta sẽ xử lý được yếu tố không đồng nhất quan sát được trong các điều kiện ban đầu

Phương pháp gồm 2 bước, đầu tiên kết hợp các doanh nghiệp từ cả hai nhóm can thiệp và nhóm đối chứng rồi áp dụng PSM để loại bỏ các sai lệch lựa chọn do

sự khác biệt quan sát được Sau đó áp dụng DID để loại bỏ những sai lệch có thể có

do sự khác biệt trong đặc điểm không quan sát được giữa hai nhóm

Bước 1: Lọc dữ liệu quan sát để loại bỏ sai lệch

Trang 31

Từ bộ số liệu điều tra DNNVV năm 2013 và 2015, áp dụng phương pháp PSM để xác định điểm xu hướng, vùng hỗ trợ chung và thuộc tính cân bằng của PSM với các biến tham gia năm 2015 được tính hồi quy với các biến ngoại sinh tham gia năm 2013

Sau đó, giữ lại những doanh nghiệp có điểm xu hướng phù hợp với năm gốc

và trộn dữ liệu này với dữ liệu tổng quát năm 2013 và 2015 để tách ra những doanh nghiệp tương ứng trong mẫu tổng quát Kết quả sẽ loại bỏ sai lệch do sự khác biệt quan sát thu được dữ liệu phục vụ cho việc tính toán

Bước 2: Tính toán tác động can thiệp bình quân

Sau khi sử dụng điểm xu hướng để so sánh các doanh nghiệp tham gia và đối chứng trong năm gốc, áp dụng phương pháp DID để tính toán tác động can thiệp ở

cả các doanh nghiệp tham gia và đối chứng trong khuôn khổ vùng hỗ trợ chung

Đối với trường hợp hai thời kỳ t={0,1}, kết quả phương pháp DID của khu vực can thiệp i sẽ được tính bằng công thức:

) 0

| (

* ) , ( )

1

|

} 1 , 0 {

i i

Trong đó, (i,j) là trọng số được tính trên khu vực đối chứng thứ j đối chiếu

với khu vực can thiệp i

Trong cơ chế hồi quy Hirano, Imbens và RiDIDer (2003) chứng minh rằng hồi quy bình phương gia quyền nhỏ nhất, khi sử dụng quyền trên các quan sát đối chứng theo điểm xu hướng sẽ cho kết quả với hiệu quả đầy đủ

3.3.4 – Các biến phụ thuộc và biến kiểm soát

Biến phụ thuộc: là chỉ số tăng trưởng doanh thu và chỉ số tăng trưởng năng suất

Cách tính: chỉ số tăng trưởng doanh thu

Là tỷ lệ phần % giữa hiệu doanh thu kỳ sau và doanh thu kỳ trước trên doanh thu kỳ trước

𝑇ă𝑛𝑔 𝑡𝑟ưở𝑛𝑔 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 2013 =𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 2013 − 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 2011

𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 2011 𝑥100% (3.10)

Trang 32

𝑇ă𝑛𝑔 𝑡𝑟ưở𝑛𝑔 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 2015 =𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 2015 − 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 2013

𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 2013 𝑥100% (3.11)

Ý nghĩa: Chỉ số phản ánh mức độ tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp kỳ sau tăng/giảm bao nhiêu phần trăm so với doanh thu của doanh nghiệp kỳ trước Chỉ số càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp SXKD càng hiệu quả và ngược lại

Cách tính: chỉ số tăng trưởng năng suất

Là tỷ lệ phần % giữa hiệu của năng suất kỳ sau và năng suất kỳ trước chia cho năng suất kỳ trước

𝑇ă𝑛𝑔 𝑡𝑟ưỏ𝑛𝑔 𝑛ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 2013 =𝑁ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 2013 − 𝑁ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 2011

lý sản xuất Tangen (2005), đã tổng kết định nghĩa năng suất của nhiều nhà nghiên cứu và kết luận: năng suất là một thuật ngữ có nghĩa rộng, ý nghĩa của nó có thể thay đổi tuỳ thuộc vào phạm vi sử dụng

Trong bài viết này, tôi sử dụng định nghĩa năng suất được nhiều người thừa nhận và sử dụng rộng rãi nhất: năng suất là tỷ số giữa đầu ra và đầu vào Năng suất phản ánh khả năng sản xuất của một doanh nghiệp

Áp dụng cho cách tính, năng suất là tỷ lệ giữa tổng doanh thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinh trong năm của doanh nghiệp chia (:) cho tổng lao động làm toàn thời gian, tính bằng

% Chỉ tiêu phản ánh mức doanh thu do doanh nghiệp tạo ra trong một năm gấp bao

Trang 33

nhiêu lần so với số lao động mà doanh nghiệp hiện đang có Hiệu suất (số lần) càng cao, doanh nghiệp sử dụng lao động càng hiệu quả

Ngoài dữ liệu năm 2013 và 2015, nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 2 chỉ số là Doanh thu và Tổng số lao động năm 2011 để tính chỉ số đầu kỳ là Năng suất 2011

Bảng 3.1: Mô tả biến phụ thuộc trong mô hình

Nguồn: Lựa chọn của tác giả

Các biến kiểm soát: việc lựa chọn biến kiểm soát rất quan trọng trong phương

pháp hồi quy DID và PSM, đặc biệt PSM sẽ cho sai số nếu các biến đồng thời quyết định tình trạng tham gia không được đưa vào phương trình tham gia vì dữ liệu chất lượng thấp hay thiếu đối với nơi chương trình được triển khai Do chưa có hướng dẫn về cách chọn các biến số kiểm soát bằng kiểm định thống kê nên các đặc tính quan sát được có vai trò quyết định tình trạng tham gia thường được xác định dựa trên dữ liệu và tùy thuộc vào hoàn cảnh (Khandker và cộng sự, 2010)

Dựa vào các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm liên quan, nghiên cứu này

sẽ chọn các biến kiểm soát là những đặc điểm quan sát được của các doanh nghiệp

để đưa vào mô hình phân tích mức độ ảnh hưởng của chính sách hỗ trợ tài chính đối với doanh nghiệp Các biến kiểm soát gồm 8 biến đặc điểm của doanh nghiệp được

mô tả dưới đây:

Trang 34

1 Loại hình doanh nghiệp:

Biến này là biến phân loại theo hình thức sở hữu của doanh nghiệp tương tự như Tổng cục Thống kê (2014; 2015b) Trong bộ dữ liệu điều tra DNNVV tập trung vào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, những doanh nghiệp không có vốn của nhà nước, cả cấp Trung ương hoặc địa phương Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là những doanh nghiệp được thành lập từ nguồn vốn tư nhân trong nước, nguồn vốn

đó có thể được sở hữu bởi một cá nhân hay một nhóm người Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực chính thức được tập trung trong nghiên cứu này gồm: doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần không

có vốn của Nhà nước Dữ liệu cũng bao gồm cả đối tượng là các hộ kinh doanh, những cơ sở kinh doanh được định nghĩa là tổ chức kinh tế do tư nhân sở hữu và không đăng ký và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh tại một địa chỉ xác định và có ít nhất một lao động làm việc toàn thời gian (GSO 2015b)

2 Lĩnh vực hoạt động:

Biến này là biến định tính nhằm phân loại nhóm ngành của doanh nghiệp căn

cứ vào ngành sản xuất kinh doanh chính của mỗi doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp chỉ được phân vào một ngành kinh tế duy nhất - là ngành sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp Ngành sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất về giá trị sản xuất trong doanh nghiệp, hoặc là ngành sản xuất kinh doanh theo thiết kế khi xây dựng doanh nghiệp, là ngành quyết định phương hướng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Mã ngành được xác định dựa trên mã phân ngành quốc tế (ISIC)

3 Vốn của doanh nghiệp:

Biến này là số nguyên không âm cho biết toàn bộ số vốn của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn khác nhau: Nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp Nguồn vốn gồm:

+ Nguồn vốn chủ sở hữu: Là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty

cổ phần, kinh phí quản lý do các đơn vị trực thuộc nộp lên

Trang 35

+ Nợ phải trả: Là tổng các khoản nợ phát sinh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm nợ tiền vay (vay ngắn hạn, vay dài hạn, vay trong nước, vaynước ngoài), các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, các khoản phải trả cho công nhân viên (tiền lương, tiền phụ cấp ) và các khoản phải trả khác

Nghiên cứu này dự kiến vốn của doanh nghiệp càng lớn thì tác động của chính sách đến tăng trưởng của doanh nghiệp càng cao

Trong mô hình hồi quy, biến vốn được logarithm và được đo lường bằng đơn

vị điểm % vốn, chỉ số này có giá trị lớn thì kỳ vọng tác động của chính sách đến tăng trưởng của doanh nghiệp càng cao

4 Số lao động của doanh nghiệp:

Biến này là số nguyên không âm cho biết toàn bộ số lao động làm việc toàn thời gian do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả lương, trả công

Với các doanh nghiệp tư nhân thì những người là thành viên trong gia đình

có tham gia quản lý sản xuất hoặc trực tiếp sản xuất, nhưng không nhận tiền lương, tiền công - thu nhập của họ là thu nhập hỗn hợp, bao gồm cả lãi kinh doanh - cũng

được tính là lao động của doanh nghiệp

Nghiên cứu này dự kiến doanh nghiệp sử dụng số lao động càng lớn thì tác động của chính sách đến tăng trưởng của doanh nghiệp càng cao

Trong mô hình hồi quy, biến vốn được logarithm và được đo lường bằng đơn

vị điểm % vốn, chỉ số này có giá trị lớn thì kỳ vọng tác động của chính sách đến tăng trưởng của doanh nghiệp càng cao

5 Quy mô của doanh nghiệp:

Biến này là biến phân loại quy mô của doanh nghiệp dựa trên Tiêu chí xếp

loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số: 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009

Trang 36

không quá 10 lao động, các doanh nghiệp có từ trên 10 đến 50 lao động và các doanh nghiệp quy mô vừa với từ trên 50 đến 300 lao động, trong khi đó doanh nghiệp có trên 300 lao động thuộc nhóm có quy mô lớn Phân nhóm quy mô dựa trên số lao động toàn thời gian, lao động bán thời gian và lao động thời vụ Định nghĩa này được Chính phủ Việt Nam thừa nhận và sử dụng bắt đầu từ khi ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về “Trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa” và sau đó là Nghị định số 56/2009/NĐ-CP cũng nêu rõ: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Bảng 3.2: Phân loại quy mô doanh nghiệp dựa trên số lao động và vốn

Số lao động Tổng nguồn

vốn

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và

thủy sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người III Thương

mại và dịch

vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng

từ trên 50 người đến

100 người

Nguồn: phân loại theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP

Nghiên cứu này dự kiến quy mô của doanh nghiệp càng lớn thì tác động của chính sách đến tăng trưởng của doanh nghiệp càng cao

Trang 37

Biến nhị phân với giá trị 0 là doanh nghiệp SXKD 1 loại sản phẩm, 1 là doanh nghiệp SXKD từ 2 sản phẩm trở lên Một doanh nghiệp được xác định là đa dạng hóa nếu doanh nghiệp đó sản xuất từ 2 loại sản phẩm trở lên phân theo ngành cấp 4 (4 digit ISIC) Đa dạng hóa trong sản xuất có thể giúp doanh nghiệp hạn chế tổn thương từ các cú sốc, và vì vậy tăng khả năng sống sót của mình

Nghiên cứu này muốn tìm hiểu xem liệu doanh nghiệp có nhiều sản phẩm có tác động như thế nào đến tăng trưởng khi nhận hỗ trợ từ chính sách

Bảng 3.3: Mô tả các biến độc lập trong mô hình

1 H Biến giả về tình trạng

tham gia chính sách

= 0 là DN không nhận hỗ trợ tài chính (không tham gia chính sách)

= 1 là DN có nhận hỗ trợ tài chính (tham gia chính sách)

trước khi có can thiệp

= 1: nếu là năm 2015 – sau khi có can thiệp

3 H*time Biến tương tác giữa

tham gia chính sách của

DN và thời gian, hệ số ước lượng của biến này trong phương pháp DID chính là tác động của việc nhận hỗ trợ tài chính đối với chỉ số tăng trưởng

Điểm % +

4 F_Legal Loại hình doanh

nghiệp

5 F_Sector Nhóm ngành SXKD

của doanh nghiệp

6 F_lnCapital Logarithm của biến Điểm % Vốn +

Trang 38

Vốn (đơn vị Triệu VNĐ)

7 F_lnLabour Logatithm của biến Lao

+/-

10 F_Diver Tình trạng đa dạng sản

phẩm của doanh nghiệp

= 0: là DN SXKD 1 loại sản phẩm

= 1: là DN SXKD từ 2 loại sản phẩm trở lên

= 1: là DN xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài

2005 cho đến nay Tất cả đều được tổng hợp dưới định dạng Stata Đây sẽ là tài nguyên hữu ích để tìm hiểu và đánh giá về thành phần kinh tế năng động nhất trong phát triển kinh tế ở Việt Nam

Dự án điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thực hiện khảo sát 2.500 doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhỏ và vừa (DNNVV) hoạt động trong lĩnh vực sản xuất của 10 tỉnh thành ở Việt Nam gồm: Hà Nội (bao gồm Hà Tây), Hải Phòng, Tp

Hồ Chí Minh, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Long

An Các thành phần chính của bộ dữ liệu này bao gồm ba phần: (i) một bảng câu hỏi dành cho doanh nghiệp; (ii) một bảng câu hỏi dành cho nhân viên; và (iii) một bảng hỏi về tài khoản kinh tế

Trang 39

Dữ liệu thu thập được dựa trên các cuộc phỏng vấn trực tiếp với chủ sở hữu/ quản lý và nhân viên công ty và thường được thu thập trong các tháng 6, 7, 8 Các doanh nghiệp được khảo sát được phân phối trên khoảng 18 ngành như: chế biến thực phẩm, sản phẩm kim loại giả, và sản xuất sản phẩm gỗ Các doanh nghiệp nhỏ được phân loại theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới hiện nay, với các doanh nghiệp nhỏ có tối đa 10 nhân viên, doanh nghiệp quy mô nhỏ có tới 50 nhân viên, doanh nghiệp nhỏ và vừa lên tới 300 người, và các doanh nghiệp lớn có hơn 300 nhân viên

Các điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đã được tiến hành 7 lần, gần đây nhất là các năm 2011, 2013 và 2015 Cuộc khảo sát đã được tiến hành dưới sự hợp tác giữa ba đối tác: Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Bộ Kế hoạch và đầu tư của Việt Nam (Bộ KH & ĐT); Viện Khoa học Lao động và Xã hội giao (ILSSA) thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam (MOLISA); và Phát triển Kinh tế Research Group (DERG) của Đại học Copenhagen Các cuộc khảo sát

đã được tài trợ bởi Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam trong Chương trình Hỗ trợ Phát triển Doanh nghiệp (BSPS) Các vấn đề liên quan đến phát triển DNNVV vẫn

ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế ở Việt Nam và thách thức mới đang nổi lên liên tục có nhu cầu phân tích

Tóm tắt chương 3

Chương 3 đã vận dụng lý thuyết về đánh giá tác động dự án theo phương pháp "thí nghiệm tự nhiên" và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan ở chương 2 để xây dựng khung phân tích đánh giá tác động chính sách dựa vào chỉ số tăng trưởng doanh thu

và tăng trưởng năng suất của doanh nghiệp và áp dụng theo phương pháp PSM, DID và DID-PSM Phần cuối của chương 3 mô tả sơ lược về bộ dữ liệu điều tra DNNVV Khung phân tích đánh giá tác động chính sách và dữ liệu điều tra DNNVV này sẽ làm cơ sở để hiện thực hóa khung phân tích được trình bày ở Chương 4 bằng phần mềm Stata để tính toán tác động chính sách và kết quả nhận được

Trang 40

CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 4 trình bày các kết quả của nghiên cứu gồm: tác động của chính sách hỗ trợ tài chính đến tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng năng suất của DNNVV tại Tp HCM; kiểm tra sự tin cậy của kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp thống kê

mô tả, so sánh điểm xu hướng (PSM), khác biệt kép (DID) và khác biệt kép kết hợp

so sánh điểm xu hướng (DID-PSM) Ở cuối mỗi phần trình bày về kết quả tính toán, nghiên cứu có thêm những nhận xét, bình luận và lý giải những số liệu nhận được

4.1 – Tổng quan vấn đề nghiên cứu

4.1.1 – Tổng quan về chính sách hỗ trợ tài chính

Theo số liệu thống kê, tính đến thời điểm 31/12/2015, khoảng 97% trong tổng số trên 800.000 doanh nghiệp trên cả nước là DNNVV, riêng TP Hồ Chí Minh

có gần 152.000 doanh nghiệp chiếm gần 20%

Các DN này không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước mà còn tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm đặc biệt là nguồn lao động chưa qua đào tạo; góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội…

Tuy có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của cả nước nhưng hầu hết các DNNVV đang rất khó khăn về tài chính, công nghệ hạn chế, thiếu các thông tin

về thị trường Các DNNVV thiếu vốn sản xuất - kinh doanh, chủ yếu dựa vào vốn

tự có Tín dụng cho các DNNVV tăng trưởng rất chậm, chỉ có khoảng 30% DNNVV có thể tiếp cận vốn vay từ ngân hàng thương mại

Để giải quyết khó khăn cho các DN, trong thời gian qua, TP HCM đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ: tiếp cận các nguồn lực (tài chính, công nghệ, khởi nghiệp…) theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV Ngoài

ra, TP HCM còn có chương trình kích cầu hỗ trợ lãi vay cho những DN hoạt động trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, xử lý môi trường ví dụ như Chương trình kích cầu theo Quyết định 33 và Quyết định 38 của UBND TP HCM

Hơn 80% các chính sách, chương trình hỗ trợ DNNVV không có kết quả để đánh giá hiệu quả, thậm chí có chương trình không thể đánh giá được mức độ tham gia của các DN

Ngày đăng: 28/10/2019, 00:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w