1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên các công ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

109 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước nhu cầu cần thiết thực hiên nghiên cứu đánh giá các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính, tác giả lựa chon đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp

Trang 1

NGUYỄN THỊ HUẾ THANH

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH KỊP THỜI CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH BÁN NIÊN CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH-NĂM 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HUẾ THANH

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH KỊP THỜI CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH BÁN NIÊN CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 80340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ THỊ MỸ HẠNH

TP HỒ CHÍ MINH-NĂM 2019

Trang 3

báo cáo tài chính bán niên các công ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập của

cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS.Lê Thị Mỹ Hạnh Tất cả những nội dung kế thừa, tham khảo từ nguồn tài liệu khác đều được tác giả trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn

cụ thể trong danh mục các tài liệu tham khảo

Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2019

Học viên

Nguyễn Thị Huế Thanh

Trang 4

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN

PHẦN MỞ ĐẦU ……… 01

1.Lý do chọn đề tài……… 01

2.Mục tiêu nghiên cứu …… 02

3.Câu hỏi nghiên cứu ……… 02

4.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 02

5.Phương pháp nghiên cứu … 03

6.Đóng góp của đề tài……… 03

7.Kết cấu đề tài ……… 04

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 05

1.1.Các nghiên cứu trên thế giới 05

1.2 Các nghiên cứu liên quan tại Việt nam 12

1.3 Khe hổng nghiên cứu… 17

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH KỊP THỜI CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH ……… 20

2.1 Một số vấn đề chung… 20

2.1.1 Khái niệm báo cáo tài chính 20

2.1.2 Mục đích báo cáo tài chính 21

2.1.3 Vai trò báo cáo tài chính 21

2.1.4 Ý nghĩa của Báo cáo tài chính 21

2.1.5 Các yêu cầu cơ bản của BCTC 22

Trang 5

2.2.3 Các quy định của Việt Nam về tính kịp thời của BCTC bán niên các CTNY 24

2.3 Các lý thuyết nền…… 25

2.3.1 Lý thuyết thông tin hữu ích cho việc ra quyết định 25

2.3.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 26

2.3.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) 27

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 32

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 33

3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 33

3.1.2 Quy trình nghiên cứu 33

3.2 Giả thuyết nghiên cứu và thang đo các biến 34

3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu 34

3.2.2 Các biến độc lập …… 35

3.2.3 Biến phụ thuộc: Tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên các công ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh 40

3.3 Mô hình nghiên cứu … 42

3.4 Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 44

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 45

4.1 Thực trạng về tính kịp thời của BCTC bán niên của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh 45

4.1.1 Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam 45

4.1.2 Sơ lược về sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh 47

4.1.3 Giới thiệu về chỉ số VN100 49

Trang 6

Chí Minh 50

4.2 Kết quả nghiên cứu…… 52

4.2.1.Thống kê mô tả… 52

4.2.2.Phân tích kết quả tương quan 55

4.2.3 Kiểm định về trị trung bình hai tổng thể 57

4.2.4 Kết quả phân tích hồi quy 58

4.3 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 65

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

5.1 Kết luận………… 66

5.2 Kiến nghị……… 66

5.2.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 66

5.2.2 Đối với công ty kiểm toán 67

5.2.3 Đối với nhà đầu tư… 67

5.2.4 Đối với các công ty niêm yết 68

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 68

5.3.1 Hạn chế nghiên cứu… 68

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

BTC Bộ Tài Chính

Trang 8

Bảng 2.1: Bảng phân tích mối liên hệ giữa các nhân tố và lý thuyết nền 30

Bảng 3.1: Bảng mô tả các biến 41

Bảng 4.1: Danh sách 10 công ty đứng đầu theo vốn hóa thị trường 51

Bảng 4.2: Thống kê thời gian công bố BCTC bán niên của 10 công ty đứng đầu thị trường vốn hóa giai đoạn 2015 – 2017 52

Bảng 4.3: Thống kê mô tả thời gian công bố BCTC bán niên trong giai đoạn 2015 – 2017 53

Bảng 4.4: Kết quả phân tích thống kê mô tả cho biến định lượng của mô hình 53

Bảng 4.5: Thống kê theo loại công ty kiểm toán 55

Bảng 4.6: Ma trận hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 55

Bảng 4.7: Bảng mô tả nhân tố công ty kiểm toán 57

Bảng 4.8: Kiểm định Independent Samples Test nhân tố công ty kiểm toán 58

Bảng 4.9: Phân tích phương sai 58

Bảng 4.10: Bảng mức độ giải thích của mô hình 59

Bảng 4.11 : Hệ số hồi quy 60

Bảng 4.12 : Hệ số hồi quy 62

Trang 9

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu luận văn 33

Trang 10

Trên các thị trường nói chung thì thông tin là một trong những yếu tố không thể thiếu trong các quyết định đầu tư và kinh doanh Ở thị trường chứng khoán thì thông tin là yếu tố mang tính nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư Do đó, tính kịp thời của việc công bố thông tin nói chung và thông tin báo cáo tài chính nói riêng là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra không chỉ đối với cơ quan quản lý và các nhà làm chính sách mà còn là vấn đề mang tính sống còn của doanh nghiệp Trước nhu cầu cần thiết thực hiên nghiên cứu đánh giá các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo

cáo tài chính, tác giả lựa chon đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp

thời của báo cáo tài chính bán niên các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện nghiên cứu luận văn thạc sĩ

Dựa vào dữ liệu của 100 công ty niêm yết có công bố báo cáo tài chính trong giai đoạn 2015 - 2017, bằng phương pháp định lượng, tác giả đã đưa đến kết luận rằng: lợi nhuận công ty, độ tuổi và công ty kiểm toán ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên

Kết quả nghiên cứu phục vụ cho nhà quản lý thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp có liên quan đến việc công bố báo cáo tài chính, từ đó có quyết định và điều chỉnh cho phù hợp

Từ khóa: Tính kịp thời, báo cáo tài chính giữa niên độ, báo cáo tài chính bán niên

Trang 11

and business decisions In the stock market, information is a sensitive factor that directly affects investment decisions Therefore, the timeliness of general information disclosure and financial reporting information in particular is an urgent requirement set not only for regulators and policy makers but also on issues In the face of the need to conduct research to assess the factors affecting the timeliness of financial statements, the author selected the research topic: "Factors affecting the timeliness of half- yearly financial reports of listed companies at the Ho Chi Minh City Stock Exchange " to conduct research on master's thesis

This study is conducted to provide an empirical evidence for a relationship between the timeliness of financial reporting and characteristics of 100 companies listed on the Vietnam Stock Exchange in the period 2015 - 2017 The findings show that the profit, age and audit company affect the timeliness of half- yearly financial reporting

Research results serve stock market managers, businesses related to the disclosure

of financial statements, from which to make decisions and adjust accordingly

Keywords: Timeliness, reporting lag, interim financial reports, half-yearly

financial reporting

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế cùng với các hiệp định tự do thương mại song phương, đa phương, và khu vực trong thời gian qua đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ cao và hiệu quả Để đạt được mục tiêu đó, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ Trên các thị trường nói chung thì thông tin là một trong những yếu tố không thể thiếu trong các quyết định đầu tư và kinh doanh Ở TTCK, thông tin là yếu tố mang tính nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư Việc cập nhật thông tin kịp thời về tình hình tài chính giúp các chủ thể trong nền kinh tế nhận định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn của thị trường để giảm thiểu rủi ro có thể gặp phải, đồng thời đưa ra những định hướng phát triển phù hợp Do đó, tính kịp thời (TKT) của việc công bố thông tin nói chung và thông tin báo cáo tài chính nói riêng là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra không chỉ đối với cơ quan quản lý và các nhà làm chính sách mà còn là vấn đề mang tính sống còn của doanh nghiệp Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật hiện đại và hoạt động kinh doanh mang tính toàn cầu, TKT của việc công bố thông tin có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết (Owusu – Ansah and Levevtis, 2006) Vấn đề công bố thông tin tài chính kịp thời ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà lập quy kế toán và các cơ quan quản lý chứng khoán (Abdelsalam and Street, 2007) Hầu hết các cơ quan quản lý chuyên môn của thị trường vốn đã thực hiện các biện pháp nhằm giảm sự trì hoãn phát hành báo cáo tài chính (Owusu – Ansah and Levevtis, 2006) TKT của BCTC phụ thuộc vào thời điểm mà BCTC được công bố rộng rãi đến người sử dụng

Tính đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TKT của BCTC Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả, rất ít nghiên cứu về TKT của BCTC bán niên Theo VSRE 2410 thông tin tài chính giữa niên độ cần được soát xét bởi các kiểm toán viên độc lập Vậy nên, sử dụng báo cáo tài chính được soát xét như thế nào nhiều khi cũng là vấn đề nan giải đối với các nhà đầu tư Thứ

Trang 13

nhất, mặc dù không đi quá sâu vào chi tiết khi soát xét, nhưng kiểm toán cũng sẽ phải rà soát kỹ lưỡng những khoản mục mang tính trọng yếu trên báo cáo tài chính Thứ hai, trong xu hướng minh bạch thông tin của thị trường ngày càng được đẩy mạnh, các công ty niêm yết cũng sẽ ý thức được trách nhiệm của mình trong việc cung cấp báo cáo tài chính một cách trung thực, rõ ràng hơn

Để đảm bảo các quy định về công bố thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK thì BTC có ban hành Thông tư 155/TT-BTC hướng dẫn công

bố thông tin trên TTCK.Thực trạng cho thấy trong thời gian qua các doanh nghiệp vẫn còn vi phạm vấn đề công bố thông tin về BCTC nói chung và BCTC bán niên nói riêng Theo thống kê của UBCKNN cho biết, nếu như giai đoạn 2010 – 2016,

cơ quan này đã ra hơn 1.000 quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên TTCK, thì trong năm 2017, con số này đã tăng mạnh với 214 quyết định xử phạt 80 cá nhân và

134 tổ chức Riêng từ đầu năm đến 16/7/2018, đã có 57 cá nhân và 64 tổ chức bị UBCKNN xử phạt Trong đó, phần lớn lỗi vi phạm liên quan đến công bố thông tin Trước nhu cầu cần thiết thực hiện nghiên cứu đánh giá các nhân tố tác động đến

tính kịp thời của báo cáo tài chính, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Các nhân tố

ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên các công ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện nghiên cứu

Mục tiêu cụ thể:

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên của các công ty niêm yết tại Sàn Giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh

Trang 14

- Đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên của các công ty niêm yết tại Sàn Giao dịch chứng khoán

Tp Hồ Chí Minh

3 Câu hỏi nghiên cứu

Từ những vấn đề trên, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luân văn đặt ra những câu hỏi nghiên cứu sau đây:

(1) Các nhân tố nào ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM?

(2) Mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên các công ty niêm yết tại Sàn Giao dịch chứng TPHCM như thế nào ?

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ BCTC của các công ty niêm yết thuộc nhóm VN100 có công bố báo cáo tài chính bán niên trong giai đoạn 2015 – 2017 trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM

Các công ty có công bố đầy báo cáo tài chính bán niên được kiểm toán

- Đối tượng nghiên cứu: TKT của BCTC bán niên các công ty niêm yết thuộc nhóm VN100 tại Sàn giao dịch chứng khoán TPHCM

5 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp định lượng Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp phân tích tổng hợp: khái quát các lý thuyết liên quan đến đề tài

và các nghiên cứu liên quan, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC bán niên các công ty thuộc nhóm VN100 của các CTNY trên sàn giao dịch TPHCM

Phương pháp định lượng: Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS để tiến hành phân tích dữ liệu nhằm khảo sát thực trạng các nhân tố ảnh hưởng, chiều hướng và

Trang 15

mức độ tác động đến các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC bán niên các công ty thuộc nhóm VN100 của các CTNY trên sàn giao dịch TPHCM

Phương pháp thu thập dữ liệu: dữ liệu được lấy từ BCTC bán niên đã được kiểm toán của các công ty niêm yết thuộc nhóm VN100 tại sàn giao dịch chứng khoán TPHCM được chọn làm mẫu trong giai đoạn 2015 – 2017 Nguồn dữ liệu được lấy từ trang www.cafef.vn, www.hsx.vn

6 Đóng góp của đề tài

- Về mặt khoa học: Phân tích và tổng hợp các kết quả của nghiên cứu trước đây có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu để làm cơ sở đưa ra mô hình phù hợp ở Việt Nam và tham khảo cho các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này ở tương lai

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục kèm theo thì nội dung chính của luận văn nghiên cứu gồm có 5 chương:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan

Chương 1 có nội dung trình bày một cách tóm tắt các nghiên cứu có liên quan đến tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên đã được công bố của các tác giải trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua đó, tác giả chỉ ra khe hỏng nghiên cứu làm cơ sở cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 có nội dung trình bày các khái niệm liên quan; tổng quan cơ sở lý thuyết về tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên của các công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trang 16

Nội dung chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu và cách thức tiến hành nghiên cứu thông qua: phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Nội dung chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận về tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên của các công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong mẫu nghiên cứu, chiều hướng tác động, mức độ tác động của các nhân tố đến tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Nội dung chương 5 trình bày kết luận và các kiến nghị nhằm nâng cao tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra chương này còn đề cập đến những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về tính kịp thời của BCTC nhưng chủ yếu tập trung vào những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán phát triển Mỗi nghiên cứu tập trung vào những khía cạnh khác nhau dẫn đến các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC cũng khác nhau Để hiểu rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, luận văn trình bày tóm tắt các

đề tài nghiên cứu có liên quan ở các nước trên thế giới và tại Việt Nam

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Với mục tiêu nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC

hàng quý sàn giao dịch chứng khoán Kuala Lumpur, tác giả Ku Ismail & Chandler

(2004) với bài báo “The timeliness of quarterly financial reports of companies in

Malaysia” Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về tính kịp thời của báo cáo hàng

quý tại Malaysia của 117 công ty Nghiên cứu về tính kịp thời của báo cáo kiểm toán được xác định là số ngày giữa ngày lập báo cáo tài chính và ngày báo cáo kiểm toán Trung bình, mất khoảng 56 ngày để các công ty phát hành báo cáo, trễ hơn so với các công ty ở một số quốc gia khác Kết quả cho thấy rằng tính kịp thời của báo cáo hàng quý của các công ty bị ảnh hưởng bởi quy mô công ty, lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng và tỷ suất vay vốn theo hướng mong đợi Các công ty lớn hơn, có lợi nhuận, đang phát triển và có tỷ suất vay thấp thường có xu hướng công bố báo cáo nhanh hơn các công ty khác Những phát hiện này phù hợp với những phát hiện được báo cáo trong tài liệu Thứ nhất, phát hiện này ủng hộ lý thuyết cho rằng các công ty lớn báo cáo nhanh hơn vì họ chịu áp lực phải làm như vậy Các công ty lớn thường theo sau bởi các nhà phân tích cần thông tin kịp thời để xác nhận kỳ vọng của họ Thứ hai, lợi nhuận và tăng trưởng có liên quan cho thấy tin xấu sẽ mất nhiều thời gian hơn để tiếp cận công chúng hơn là tin tốt lành Những phát hiện này cũng ủng hộ 'lý thuyết các bên liên quan' mà cho rằng trong trường hợp không có cơ hội

để che giấu tin xấu vì bị tiết lộ bắt buộc, các nhà quản lý có động cơ trì hoãn tin

Trang 18

xấu Thứ ba, phát hiện rằng các doanh nghiệp có đòn bẩy cao báo cáo chậm hơn so với các doanh nghiệp có lợi nhuận thấp là phù hợp với tài liệu cho thấy rằng một công ty có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cao có nhiều khả năng là thất bại, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế kém Như thất bại có nghĩa là tin xấu, và tin xấu liên quan đến sự chậm trễ, một công ty có đòn bẩy cao có khuynh hướng báo cáo chậm hơn

so với một công ty có đòn bẩy thấp Thực tế là một số lượng lớn các công ty có xu hướng thực hiện kéo dài các báo cáo hàng quý, đặc biệt là các báo cáo kỳ ngắn hạn, công bố tin xấu và có đòn bẩy cao, có thể có ý nghĩa đối với các quy định trong tương lai về tính kịp thời của báo cáo hàng quý tại Malaysia

Kế đến là Owusu-Ansah và Stergios Leventis (2006) với nghiên cứu

“Timeliness of Corporate Annual Financial Reporting in Greece” đăng trên tạp

chí European Accounting Review, Vol 15, No 2, pp 273 – 287, 2006 Nghiên cứu nhằm báo cáo kết quả của một nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính hàng năm của 95 công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Athens Trong nghiên cứu này, tác giả điều

tra tác động đặc điểm của công ty và các yếu tố kiểm toán liên quan đến môi trường kinh tế xã hội Hy Lạp Các yếu tố cụ thể của công ty là: Quy mô công ty (SIZE), đòn bẩy tài chính (GEAR), cổ phần nắm giữ bên trong công ty (EQOS) và lĩnh vực hoạt động (INDT) Các yếu tố kiểm toán bao gồm: ý kiến của kiểm toán viên (RMAK) và loại công ty kiểm toán (AUDT) Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty Kết quả thống kê mô tả chỉ ra rằng 92% các công ty được báo cáo sớm (so với thời hạn quy định 161 ngày), 3% báo cáo vào ngày thứ 161 và 5% báo cáo trễ Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy rằng các công ty lớn, các công ty dịch vụ và các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán Big 5 (Arthur Andersen, KPMG Peat Marwick, Ernst & Young, Pricewaterhouse Coopers, Deloitte & Touche) có thời gian báo cáo cuối cùng ngắn hơn Nghiên cứu nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ cho thấy rằng các công ty có tỷ lệ vốn cổ phần do người nội bộ nắm giữ trực tiếp hay gián tiếp nhiều hơn thường không kịp thời công bố báo cáo tài chính đã được kiểm toán ra

Trang 19

công chúng sau năm tài chính kết thúc Ngoài ra, tác giả không tìm thấy bằng chứng

thực nghiệm cho thấy sự ảnh hưởng của chi phí giám sát đến tính kịp thời của BCTC

Tiếp đến là nghiên cứu của J Efrim Boritz (2006) với bài báo

“Determinants of the Timeliness of Quarterly Reporting: Evidence from Canadian Firms” Nghiên cứu này xem xét các yếu tố ảnh hưởng về tính kịp thời

của báo cáo hàng quý tại Canada Dựa trên nghiên cứu trước đây, tác giả đưa ra giả thuyết rằng báo cáo tài chính giữa niên độ được công bố nhanh hơn bởi các công ty

có tính minh bạch cao về môi trường thông tin so với các doanh nghiệp có tính minh bạch thấp về môi trường thông tin Tác giả cũng đưa ra giả thuyết rằng các doanh nghiệp có nhiều vấn đề trọng yếu có nhiều khả năng trì hoãn việc công bố báo cáo tài chính giữa niên độ của họ hơn các doanh nghiệp có ít vấn đề trọng yếu hơn Tác giả đã cung cấp bằng chứng cho thấy môi trường thông tin của doanh nghiệp và các vấn đề trọng yếu có liên quan đến tính kịp thời của báo cáo hàng quý Các công ty không có báo cáo tài chính giữa niên độ được kiểm toán có khuynh hướng công bố báo cáo tài chính chậm trễ hơn các doanh nghiệp có báo cáo tài chính giữa niên độ được xét duyệt Nghiên cứu cho thấy ý kiến kiểm toán, thu nhập của công ty, môi trường thông tin và các chi phí hoa hồng đại lý của công ty có thể ảnh hưởng đến tính kịp thời của các báo cáo tài chính giữa niên độ

Tiếp theo là nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời kiểm toán ở hai nước đang phát triển là UAE và Bahrain Đó là nghiên cứu của

Khasharmeh va Aljifri (2010) với bài báo “The timeliness of annual reports in

Bahrain and the United Arab Emirates: An empirical comparative study” trên tạp

chí The International Journal of Business and Finance Research, Volume 4, Number

1 nhằm kiểm tra thực nghiệm các yếu tố quyết định sự chậm trễ kiểm toán ở hai nước đang phát triển: các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE) và Bahrain Nghiên cứu này sử dụng một mẫu gồm 83 công ty niêm yết trong năm 2004 Các

mẫu đều được lấy từ dữ liệu thị trường chứng khoán UAE hoặc Bahrain Phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết của nghiên cứu Tác giả xây dựng

Trang 20

mô hình về tính kịp thời của báo cáo kiểm toán được phát triển dựa trên mô hình trước đó của Ashton và cộng sự (1989); Carslaw và Kaplan (1991) Mô hình gồm các biến: Tỷ số nợ; Loại công ty kiểm toán; Lĩnh vực hoạt động (bao gồm công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, dịch vụ, sản xuất công nghiệp); Quy mô công ty; Hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu (P/E); Khả năng sinh lời; Tỷ lệ chi trả cổ tức Kết quả của nghiên cứu này cho thấy bốn biến : tỷ suất lợi nhuận, tỷ số nợ, lĩnh vực hoạt động và tỷ lệ chi trả cổ tức có ảnh hưởng mạnh tính kịp thời của báo cáo hàng năm Tuy nhiên, ba biến khác gồm loại công ty kiểm toán, quy mô doanh nghiệp và tỷ số P/E được tìm thấy có tác động yếu đến tính kịp thời Tại UAE, nghiên cứu kết luận rằng hai biến số: tỷ lệ nợ và loại công ty kiểm toán có ảnh hưởng mạnh đến tính kịp thời, trong khi các biến khác được tìm thấy không có ảnh hưởng đáng kể

Với mục tiêu đo lường tính kịp thời của báo cáo tài chính, tác giả Asli Turel

(2010) với nghiên cứu “Timeliness of financial reporting in emerging capital

markets:Evidence from Turkey” (Tính kịp thời của BCTC tại các nền kinh tế phát

triển: Bằng chứng từ Thổ Nhĩ Kỳ) đăng trên tạp chí Istanbul University Journal of

the School of Business Administration Vol:39, No:2, 227 – 240 ISSN: 1303 - 1732

Báo cáo khảo sát thực nghiệm mối quan hệ giữa TKT và các yếu tố liên quan đến báo cáo kiểm toán của CTNY tại một nước đang phát triển Thổ Nhĩ Kỳ Mẫu nghiên cứu gồm các báo cáo tài chính của 211 công ty phi tài chính được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Istanbul Phân tích mô tả cho thấy 59% các công ty chuẩn bị báo cáo tài chính riêng và 66% công ty chuẩn bị báo cáo tài chính hợp nhất phát hành báo cáo tài chính ít hơn thời gian tối đa cho phép sau năm tài chính 28% các công ty chuẩn bị báo cáo tài chính riêng và 16% các công ty chuẩn bị báo cáo tài chính hợp nhất vượt quá thời hạn quy định Tác giả nhận xét rằng hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào BCTC của các CTNY ở các nước phát triển,

Do đó, tác giả tiến hành khảo sát tác động các nhân tố ảnh hưởng đến BCTC của các CTNY ở những nền kinh tế mới phát triển Nghiên cứu tiến hành khảo sát các nhân tố: quy mô công ty, thu nhập ròng, ý kiến kiểm toán, công ty kiểm toán, lĩnh

Trang 21

vực hoạt động đến TKT đến BCTC của các CTNY trên sàn giao dịch chứng khoán Istanbul Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thu nhập ròng, ý kiến kiểm toán, công ty kiểm toán và lĩnh vực hoạt động có ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC Trong khi đó yếu tố quy mô công ty không có ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC

Tác giả Khalid Alkhatib và Qais Marji (2012), với nghiên cứu “Audit

reports timeliness: Empirical evidence from Jordan” trên tạp chí Procedia - Social

and Behavioral Sciences 62, pp 1342 – 1349 Mục đích của nghiên cứu là báo cáo kết quả của một điều tra thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo kiểm toán ở Jordan Mẫu nghiên cứu bao gồm 137 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Jordan (bao gồm 74 công ty ngành công nghiệp và 63 công

ty dịch vụ) tại thời điểm cuối năm tài chính vào ngày 31 tháng 12 năm 2010 Kết quả cho thấy trên lĩnh vực dịch vụ gồm các biến: tỷ lệ sinh lời, loại công ty kiểm

toán và quy mô công ty không ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán, trong kh đó đòn

bẩy là biến duy nhất có mối tương quan đáng kể So sánh kết quả trên lĩnh vực công nghiệp thì tỷ suất sinh lời, loại công ty kiểm toán, quy mô công ty và đòn bẩy đều không có ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo kiểm toán

Nghiên cứu của Ziyad Mustafa M, AL- Shwiyat (2013), “Affecting Factors

On The Timing Of The Issuance Of Annual Financial Reports: Empirical Study

On The Jordanian Public Shareholding Companies” trên tạp chí European

Scientific Journal nhằm mục đích kiểm tra tác động của một số nhân tố: Quy mô của công ty (được thể hiện bằng tổng tài sản), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), cổ tức trên

mỗi cổ phiếu (DPS), tuổi thọ của công ty, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, đòn bẩy tài chính đến tính kịp thời trong việc công bố thông tin báo cáo tài chính hàng năm Mẫu nghiên cứu bao gồm 120 công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Jordan vào năm 2012 Kết quả cho thấy rằng các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp cần nhiều thời gian hơn để công bố BCTC (thời hạn quy định là

111 ngày) so với các công ty hoạt động trong lĩnh vực khác Kết quả phân tích hồi quy cho thấy sự tác động cùng chiều giữa quy mô công ty, tuổi thọ công ty, đòn bẩy

Trang 22

tài chính và tính kịp thời của báo cáo tài chính hàng năm các công ty Trong khi đó, thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) có tác động nghịch chiều đến tính kịp thời công bố thông tin báo cáo tài chính hàng năm Đồng thời không có mối liên hệ giữa lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên tổng tài sản, dòng tiền hoạt động và cổ tức trên mỗi cổ phiếu với tính kịp thời công bố thông tin báo cáo tài chính hàng

năm

Tiếp theo là nghiên cứu của Khaldoon Ahmad Al Daoud , Ku Nor Izah Ku

Ismail & Nor Asma Lode (2014), “The Timeliness of Financial Reporting among

Jordanian Companies: Do Company and Board Characteristics, and Audit Opinion Matter?” Nghiên cứu này điều tra ảnh hưởng về tính độc lập của hội đồng

quản trị, quy mô hội đồng quản trị, ý kiến của kiểm toán viên, lợi nhuận và lĩnh vực hoạt động đến TKT của các BCTC năm của các công ty Jordan Mẫu nghiên cứu bao gồm 114 BCTC của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman trong năm 2012 Thời gian trung bình để các công ty để hoàn thành việc kiểm toán báo cáo tài chính là 2 tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố: lợi nhuận kinh doanh, ý kiến kiểm toán, quy mô hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến TKT của BCTC năm Các nhân tố: tính độc lập của các giám đốc và lĩnh vực hoạt động không có ảnh hưởng đến TKT của BCTC năm Nghiên cứu này phục vụ cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý trong việc xây dựng các chính

sách và chiến lược liên quan đến tính kịp thời của các báo cáo tài chính Nghiên cứu

này bị giới hạn vì chỉ xem xét một số yếu tố quyết định cụ thể về tính kịp thời Các nghiên cứu trong tương lai có thể xem xét các cơ chế quản trị doanh nghiệp khác có thể ảnh hưởng đến tính kịp thời của các báo cáo tài chính, chẳng hạn như chất lượng

ủy ban kiểm toán, cơ cấu sở hữu và các cuộc họp hội đồng quản trị

Tiếp theo phải nhắc đến nghiên cứu của Saqer Sulaiman Yousef AL-Tahat

(2015) với bài báo “Company Attributes and the Timeliness of Interim Financial

Reporting In Jordan” Nghiên cứu này xem xét tính kịp thời của các báo cáo tài

chính bán niên được công bố bởi các công ty niêm yết trên thị trường Chứng khoán Amman (ASEM) Ngoài ra, nghiên cứu này xác định mối quan hệ giữa tính kịp thời

Trang 23

và các thuộc tính của các công ty (cụ thể là quy mô, lợi nhuận, tăng trưởng, tuổi, đòn bẩy, quy mô công ty kiểm toán, và tình trạng niêm yết thị trường) Một phân tích của 193 báo cáo tài chính bán niên kết thúc vào ngày 30 tháng 6 năm 2013 cho thấy tất cả, ngoại trừ bảy công ty báo cáo trong một báo cáo cho phép tụt hậu một tháng Tuy nhiên, một số lượng lớn các công ty đã dành hầu hết thời gian cho việc thông báo các báo cáo nửa năm của họ Nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng cho thấy có sự liên quan giữa lợi nhuận, tăng trưởng, tuổi tác, tình trạng niêm yết thị trường và tính kịp thời Không có mối liên hệ nào đáng kể giữa kích cỡ, đòn bẩy và quy mô công ty kiểm toán và tính kịp thời Những lời giải thích được thừa nhận cho những phát hiện này được cung cấp Những phát hiện có thể cung cấp một số ý nghĩa cho nghiên cứu liên quan đến tính kịp thời của báo cáo tài chính ở Jordan Trong nghiên cứu này, tính kịp thời của báo cáo tài chính được đo bằng khoảng thời gian giữa kỳ báo cáo và ngày phát hành báo cáo tài chính Báo cáo tài chính cho phép tối đa cho các công ty ở Jordan là một tháng Trong số 193 công ty, 20 công ty (10,4%) báo cáo sau ngày đáo hạn Điều này có nghĩa là tỷ lệ tuân thủ cao, trong đó 89,6% các công ty tuân thủ quy định Các báo cáo tài chính bị chậm lại của các công ty trong nghiên cứu này là từ 17 đến 120 ngày với trung bình và trung vị là 30,95 ngày và 29 ngày Điều này ngụ ý rằng đối với các công ty trung bình báo cáo một ngày trước ngày đáo hạn Mặc dù hầu hết các công ty được báo cáo vào thời điểm đáo hạn, một số lượng khá lớn các công ty đã tốn khoảng thời gian là họ được phép nộp báo cáo Cho dù các công ty này có thể đã công bố các báo cáo trước đó nhưng có xu hướng trì hoãn họ, hoặc họ thực sự cần khoảng thời gian để phát hành báo cáo là không biết Phần lớn các công ty (87%) báo cáo trong vòng mười ngày cuối cùng kể từ ngày đáo hạn Phù hợp với các tài liệu, dựa trên các kết quả phân tích hồi quy bình phương nhỏ nhất, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho thấy lợi nhuận của công ty, sự tăng trưởng của công ty, độ tuổi của công ty và tình trạng niêm yết của công ty ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính giữa kỳ Các công ty có khả năng sinh lời của công ty cao hơn và các công ty thị trường đầu tiên

có thời gian ngắn hơn để xuất bản báo cáo tài chính nửa năm Các công ty có sự

Trang 24

tăng trưởng của công ty cao hơn và các công ty lớn tuổi phải mất nhiều thời gian để công bố báo cáo tài chính nửa năm Tuy nhiên, có vẻ như không có bằng chứng nào cho thấy tính kịp thời chịu ảnh hưởng bởi quy mô của công ty, mức độ đòn bẩy của công ty và quy mô công ty kiểm toán

Với mục tiêu đánh giá ảnh hưởng đến tính kịp thời của một báo cáo kiểm

toán ở Nigeria, Amos O Arowoshegbe (2017) đã công bố nghiên cứu “Factors

Affecting Timeliness of an Audit Report in Nigeria” Mẫu nghiên cứu là 42 công

ty được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Nigeria (NSE) trong giai đoạn 2012-2015 Tác giả sử dụng phương pháp đo lường thực nghiệm và phương pháp hồi quy bình thường bé nhất (OLS) để phân tích dữ liệu Kết quả của nghiên cứu cho thấy loại hình doanh nghiệp, quy mô công ty và tuổi của công ty là yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo kiểm toán ở Nigeria Nghiên cứu cho thấy rằng trong khi loại công ty kiểm toán có tác động đáng kể đến tính kịp thời của báo cáo kiểm toán thì độ tuổi và quy mô của công ty có ảnh hưởng đáng kể đến tính kịp thời của báo cáo kiểm toán Công ty kiểm toán chuyển đổi đã được phát hiện để không

có sự quan trọng về tính kịp thời của một báo cáo kiểm toán Đó là khuyến cáo rằng các công ty nên đảm bảo rằng các cơ chế nội bộ được đưa ra để thúc đẩy quá trình báo cáo kiểm toán ở Nigeria Cơ quan quản lý nên tăng cường việc theo đuổi kịp thời báo cáo kiểm toán giữa các công ty ở Nigeria

1.2 Các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chủ đề liên quan đến TKT của BCTC của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán cũng được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các công trình nghiên cứu cụ thể như sau:

Với mục tiêu nghiên cứu các nhân tố tác động đến hoạt động kiểm toán độc lập

và mức độ phức tạp của việc lập BCTC ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC của các CTNY, tác giả Đặng Đình Tân đã tiến hành nghiên cứu vào năm 2013 với bài

viết “Một số nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC của các công ty

niêm yết tại Việt Nam” Bài viết được đăng trên tạp chí Công nghệ ngân hàng số 84

tháng 3 năm 2013, trang 47 – 52 Mẫu nghiên cứu được thực hiện trên 120 CTNY

Trang 25

qua hai năm 2010, 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có sự khác biệt về TKT giữa loại BCTC cần lập, điều đó có thể do quy định hiện hành cũng như các nhân tố khác như tính phức tạp của việc lập và kiểm toán BCTC hợp nhất Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, không có sự liên hệ giữa TKT của BCTC các CTNY với loại KTV, trái ngược với một số nghiên cứu trước đây cho rằng các công ty kiểm toán thuộc Big 4 có xu hướng cần thực hiện kiểm toán trong thời gian dài hơn và do đó chất lượng kiểm toán cao hơn

Vào cùng năm 2013, luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn An Nhiên đã tiến hành đánh giá các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính các công ty

niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam với đề tài “Các nhân tố tác động đến tính

kịp thời của BCTC các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam” Tác

giả thu thập báo cáo tài chính của 173 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán

Hà Nội và TPHCM năm 2012 Luận văn kế thừa nghiên cứu của Owusu – Ansah và Leventis (2010) về những tác động đến TKT của BCTC các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens TKT trong nghiên cứu đó được đo lường bằng số ngày từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán và tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu bao gồm 5 yếu tố như sau: Quy mô công ty, Loại công ty kiểm toán, loại BCTC (riêng lẻ hay hợp nhất), lợi nhuận kinh doanh (được đo bằng tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu), loại ý kiến kiểm toán (Ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến kiểm toán không phải là là loại ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần) Mẫu được chọn ngẫu nhiên trên trang web

http://www.random.org Các báo cáo tài chính được lấy từ trang web http://cafef.vn Phương pháp phân tích chủ yếu sử dụng thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan

và phân tích phương sai ANOVA để kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính Kết quả phân tích tương quan đơn biến

và ANOVA cho thấy:

- Việc công bố thông tin của các công ty phải hợp nhất tiến hành chậm hơn so với các công ty khác

Trang 26

- Doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt thường công bố thông tin sớm hơn trên thị trường chứng khoán

- Báo cáo tài chính được kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần thường được công bố sớm hơn các báo cáo kiểm toán không được chấp nhận toàn phần

- Quy mô công ty và loại công ty kiểm toán không có ảnh hưởng đến TKT của BCTC

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng tính kịp thời của báo cáo tài chính

Kế đến là nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga và cộng sự (2015)

về nội dung các yếu tố tác động đến tính kịp thời của ngân hàng thương mại Việt Nam Tác giả đo lường qua 184 quan sát được thu thập từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2014 Đồng thời để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê

mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy Giả thuyết được đặt ra bao gồm các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam là: quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, công ty kiểm toán, sự thay đổi công ty kiểm toán, sự thay đổi lợi nhuận, ngân hàng

có báo cáo tài chính hợp nhất, loại ý kiến kiểm toán và tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu tác động thuận chiều đến thời hạn công bố báo cáo tài chính, tức là quy mô ngân hàng tăng lên hay tỷ lệ nợ xấu tăng lên sẽ làm cho thời hạn công bố báo cáo tài chính tăng lên Các nhân tố tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, sự thay đổi lợi nhuận, loại công ty kiểm toán và loại ý kiến kiểm toán có ảnh hưởng ngược chiều đến thời hạn công bố báo cáo tài chính Khi tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tăng thể hiện các ngân hàng đã sử dụng vốn có hiệu quả và mang lại lợi nhuận Yếu tố lợi nhuận năm nay tăng so với năm trước hay ý kiến kiếm toán được chấp nhận toàn phần đều là thông tin tốt là có tác động rút ngắn thời hạn công bố báo cáo tài chính Đồng thời hiệu quả của công ty kiểm toán có ảnh hưởng đến thời hạn công bố báo cáo tài chính của ngân hàng, thông qua yếu tố báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Big 4

Trang 27

sẽ được công bố sớm hơn bởi các công ty kiểm toán khác Yếu tố loại báo cáo tài chính và sự thay đổi công ty kiểm toán mang dấu kỳ vọng nhưng không có ý nghĩa thống kê

Vào năm 2016, tác giả Phạm Ngọc Toàn với bài báo “Các nhân tố ảnh

hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính các công ty niêm yết Sở giao dịch chứng khoán TPHCM” đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế số 27(10), trang 76 –

93 Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến TKT của BCTC và phân tích tầm quan trọng về TKT của BCTC đối với nhà đầu tư Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến TKT của BCTC, mẫu nghiên cứu gồm 77 CTNY trên sàn chứng khoán TPHCM Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố: Loại BCTC, lợi nhuận kinh doanh, loại công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính có tác động thuận chiều đến TKT của BCTC Trong khi đó quy mô công ty, ngành nghề kinh doanh có tác động nghịch chiều đến TKT của BCTC của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM

Cùng năm, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Xuân Vy được thực hiện với đề

tài: “Mối quan hệ giữa đặc trưng của doanh nghiệp và tính kịp thời của việc

công bố thông tin báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam” Tác giả nghiên cứu dựa trên số mẫu là 100 công ty niêm yết có

báo cáo tài chính trong giai đoạn 2012 – 2014 trên hai sàn giao dịch chứng khoán

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Mẫu đã loại ra các công ty tài chính, ngân hàng

và chứng khoán Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là thống kê mô tả, phân tích tương quan, hồi quy tuyết tính nhằm định lượng và xem xét mối quan hệ giữa đặc trưng về cấu trúc, tài chính và kiểm toán độc lập về tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tác giả xác định được 5 nhân tố ảnh hưởng để đưa vào mô hình nghiên cứu là số lượng công ty con, tính phức tạp trong hoạt động, thu nhập trên cổ phiếu, biến đổi trong khả năng sinh lời và ý kiến kiểm toán Công cụ được dùng trong phân tích là Stata để phân tích tương quan, hồi quy giữa biến Time và các biến độc lập Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng công ty con và tính đa dạng trong lĩnh vực hoạt động có mối quan

Trang 28

hệ thuận chiều với tính kịp thời của thông tin trên báo cáo tài chính Nhân tố biến đổi trong khả năng sinh lời hằng năm và ý kiến kiểm toán có tác động nghịch chiều với tính kịp thời của thông tin trên báo cáo tài chính

Với mục tiêu nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán và mức

độ thay đổi ý kiến kiểm toán đến thời gian công bố thông tin trên BCTC, tác giả Lê

Phương Thảo với bài luận văn thạc sĩ: “Ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm

toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” Nghiên cứu cung cấp bằng chứng

thực nghiệm về ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TPHCM giai đoạn 2013- 2016 Tác giả thu thập dữ liệu của 252 công ty Các thông tin được thu thập là: loại ý kiến kiểm toán, ngày ký báo cáo kiểm toán, thu nhập thuần trong năm trên BCTC đã kiểm toán, tổng tài sản và tổng nguồn vốn tại thời điểm cuối năm trên BCTC đã kiểm toán, công ty kiểm toán độc lập, thông tin về CEO/Tổng giám đốc/Giám đốc và Chủ tịch hội đồng quản trị của công ty xem có sự kiêm nhiệm nào không Tác giả sử dụng SPSS phân tích hồi quy, kiểm định tác động của các biến Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự cải thiện ý kiến kiểm toán và tính kịp thời của BCTC có quan hệ cùng chiều với nhau Mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán cũng có ảnh hưởng cùng chiều đến tính kịp thời của việc công bố BCTC Có nghĩa là mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán càng lớn (thông tin tốt) thì số ngày công

bố BCTC sẽ càng giảm và ngược lại Kết quả nghiên cứu củng cố cho nhận định doanh nghiệp có xu hướng công bố thông tin tốt kịp thời hơn thông tin xấu Từ đó tác giả đề xuất một số kiến nghị đến nhà quản lý, công ty kiểm toán và doanh nghiệp niêm yết nhằm nâng cao TKT của BCTC

Năm 2018 tác giả Đoàn Thị Cẩm Thu đã thực hiện bài nghiên cứu: “Các

nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính –Bằng chứng từ các công ty niêm yết ở Việt Nam” Bài báo được đăng trên tạp chí Công nghệ ngân

hàng (Số 145 T4/2018 trang 32 đến 48) Mục tiêu chính của nghiên cứu này là nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TKT của BCTC và đề xuất một số gợi ý

Trang 29

nhằm cải thiện tính kịp thời của BCTC tại các công ty niêm yết tại Việt Nam Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với 825 quan sát được thu thập từ BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn

2011 – 2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy: nhân tố tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ

sở hữu, sự thay đổ lợi nhuận và loại ý kiến kiểm toán có tác động cùng chiều đến tính kịp thời của BCTC Trong khi đó các nhân tố loại BCTC và loại công ty kiểm toán có tác động nghịch chiều đến tính kịp thời của BCTC Từ đó tác giả gợi ý một

số chính sách nhằm cải thiện tính kịp thời của BCTC các công ty niêm yết Việt Nam

1.3 Khe hổng nghiên cứu

Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tính kịp thời của BCTC các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu được xây dựng ở những đất nước khác nhau, những nền kinh tế - xã hội khác nhau và trong mỗi nghiên cứu này có nhân tố giống nhau, có nhân tố được bổ sung thêm so các nghiên cứu khác Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào thị trường chứng khoán của những quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, hoặc có là thị trường chứng khoán tập trung được thiết lập khá lâu so với Việt Nam như Thổ Nhĩ Kỳ, Maylaysia, Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về BCTC chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra, phân tích báo cáo tài chính của các công ty niêm yết; hoàn thiện thông tin kế toán được công bố của các công ty niêm yết; nâng cao tính minh bạch BCTC các công ty niêm yết Bên cạnh đó cũng có các nghiên về tính kịp thời của báo cáo tài chính trên các sàn giao dịch chứng khoán như: sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM, sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội, sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam Theo tìm hiểu của tác giả, rất hiếm nghiên cứu đề cập đến đề về tính kịp thời của BCTC bán niên các công ty niêm yết thuộc trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM Câu hỏi đặt ra là “Thực tế tính kịp thời của báo cáo tài chính bán niên các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM như thế nào? Và những nhân tố nào tác động đến tính kịp thời của BCTC bán niên này?”

Trang 30

Từ những vấn đề trên, luận văn tập trung xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC bán niên của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, đặc biệt là kết quả và mô hình nghiên cứu Saqer Sulaiman Yousef AL-Tahat (2015) Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề

về lý luận và thực tiễn liên quan đến tính kịp thời và các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC bán niên các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM Từ đó, luận văn đề ra các giải pháp tăng cường tính kịp thời của BCTC bán niên các công ty niêm yết, góp phần tạo nên thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả

Trang 31

Nội dung chính của chương này nhằm đánh giá tổng quan về bức tranh tổng thể các nghiên cứu khác nhau ở trong nước và ngoài nước có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến nội dung của luận văn mà tác giả thực hiện Các kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố tác động đến tính kịp thời của BCTC được thực nghiệm ở các thị trường chứng khoán khác nhau trên thế giới và các nhân tố tác động khác nhau Tuy nhiên các nghiên cứu này tập trung chủ yếu ở thị trường chứng khoán các nước phát triển Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến vấn đề này, song chưa đi sâu nghiên cứu vào tính kịp thời của BCTC bán niên Từ đó giúp tác giả nhận thấy khe hổng cần nghiên cứu và làm nền tảng để thực hiện các bước tiếp theo Điều này tạo động lực để đề tài được phát triển hướng nghiên cứu đồng thời bổ sung bằng chứng thực nghiệm ảnh hưởng của các nhân tố đến tính kịp thời của BCTC bán niên trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM, làm cơ sở đề xuất các kiến nghị nhằm cải thiện tính kịp thời của BCTC

Trang 32

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH KỊP THỜI

CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Chương này sẽ trình bày một số vấn đề về báo cáo tài chính, tính kịp thời của báo cáo tài chính và phân tích các lý thuyết nền tảng liên quan làm cơ sở nghiên cứu đồng thời kết hợp với nội dung chương 1 đề xuất mô hình nghiên cứu

2.1 Một số vấn đề chung

2.1.1 Khái niệm báo cáo tài chính

BCTC là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và

nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của DN Nói cách khác, báo cáo kế toán tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của DN cho những người quan tâm (chủ DN nhà đầu tư, nhà cho vay,

cơ quan thuế và các cơ quan chức năng,…)

Theo luật kế toán (2015): Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài

chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán

và chế độ kế toán Điều 29: Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị kế toán Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán gồm:

a) Báo cáo tình hình tài chính;

b) Báo cáo kết quả hoạt động;

c) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;

d) Thuyết minh báo cáo tài chính;

đ) Báo cáo khác theo quy định của pháp luật

Theo chuẩn mực số 21 về Trình bày báo cáo tài chính thì Báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp theo một cấu trúc chặt chẽ Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh

Trang 33

chi phí, lãi và lỗ; Các luồng tiền

Các thông tin này cùng với các thông tin được trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền

2.1.2 Mục đích báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế (Theo VAS 21)

2.1.3 Vai trò báo cáo tài chính

Đối với doanh nghiệp: BCTC có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của

doanh nghiệp Dựa vào số liệu được cung cấp trên BCTC giúp nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp đưa ra những quyết định kinh doanh kịp thời và chính xác trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo ra cơ hội đầu tư cho DN Các cổ đông sử dụng BCTC để theo dõi tình hình sử dụng vốn của

DN Đồng thời BCTC còn là công cụ hỗ trợ DN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế

Đối với nhà đầu tư: BCTC giúp nhà đầu tư nắm rõ tình hình hoạt động củaDN,

đánh giá thực trạng của DN hoạt động có hiệu quả không, từ đó có quyết địnhvề nguồn vốn đầu tư đối với DN Người cho vay vốn và cung ứng vật liệu xem BCTC với mục đích xác định khả năng thanh toán của DN

2.1.4 Ý nghĩa của Báo cáo tài chính

Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập với ý nghĩa sau:

- Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế toán và cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp BCTC có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng Mỗi đối tượng quan tâm đến BCTC

Trang 34

trên một góc độ khác nhau, song nhìn chung đều nhằm có được những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định phù hợp với mục tiêu của mình

- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp, BCTC cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản cũng như tình hình và kết quả kinh doanh sau một kỳ hoạt động, trên cơ sở đó các nhà quản lý sẽ phân tích đánh giá và đề ra các giải pháp, quyết định quản lý kịp thời, phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai

- Đối với cơ quan hữu quan của nhà nước như tài chính, ngân hàng, kiểm toán, thuế… BCTC là tài liệu quan trọng trong việc kiểm tra giám sát, hướng dẫn, tư vấn cho các doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ kinh tế tài chính của doanh nghiệp

- Đối với nhà đầu tư, các nhà cho vay: BCTC giúp họ nhận biết khả năng về tài chính, tình hình sử dụng các loại tài sản, nguồn vốn, khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, mức độ rủi ro…để họ cân nhắc, lựa chọn và đưa ra quyết định phù hợp

- Đối với khách hàng: BCTC giúp họ có thông tin về năng lực sản xuất, mức độ tiêu thụ sản phẩm, khả năng sinh lời, mức độ uy tín, chính sách đãi ngộ khách hàng…

để họ có quyết định đúng đắn trong việc mua hàng của doanh nghiệp

2.1.5 Các yêu cầu cơ bản của BCTC:

- BCTC phải được lập chính xác, trung thực, đúng biểu mẫu quy định, có đầy đủ chữ ký xét duyệt của những người có liên quan, phải có dấu xác nhận của đơn vị để đảm bảo tính pháp lý của báo cáo

- BCTC phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung, trình tự và phương pháp lập theo quyết định của Nhà nước, từ đó người sử dụng có thể so sánh, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua các thời kỳ

- Số liệu được phản ánh trong báo cáo phải rõ ràng, đủ độ tin cậy và dễ hiểu, đảm bảo thuận tiện cho người sử dụng

- BCTC phải được lập và gửi đúng hạn quy định, tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán được thừa nhận và ban hành Có như vậy hệ thống BCTC mới thực

sự hữu ích, mới đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng để ra các quyết định phù hợp

Trang 35

2.2.1 Khái niệm

Tính kịp thời là một trong những đặc điểm chất lượng thiết yếu của BCTC, được trình bày rõ trong các quy định kế toán và các nghiên cứu kinh tế đáng tin cậy Theo IASB (2010), mục tiêu của việc lập BCTC của đơn vị kế toán là nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, bên cho vay, hoặc các bên cấp tín dụng khác, hiện tại hoặc tiềm năng, trong việc đưa ra các quyết định cung cấp nguồn lực cho đơn

vị kế toán Điều 101 Thông tư 200 quy định về yêu cầu đối với thông tin trình bày trong BCTC là thông tin phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu

Cụ thể, thông tin tài chính được coi là hữu ích khi có một trong hai đặc trưng chất lượng cơ bản, trong đó “tính kịp thời” có nghĩa là thông tin sẵn có cho những người ra quyết định vào thời điểm có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của họ Như vậy, thông tin càng cũ sẽ càng kém hữu ích và càng không hiệu quả trong quá trình đưa ra quyết định của các nhà đầu tư

Theo Aktas và Kargın (2011), “tính kịp thời” được định nghĩa như là số ngày tính từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến ngày mà công ty niêm yết phải công bố BCTC theo quy định của pháp luật

Theo Karim và Ahmed (2005), “tính kịp thời” của việc lập BCTC coi như một hàm số của các biến liên quan đến kiểm toán viên và đơn vị lập BCTC được kiểm toán bao gồm: (i) Thời gian cần để hoàn thành kiểm toán BCTC; (ii) Quyết định của Ban giám đốc về việc công bố BCTC; (iii) Yêu cầu pháp lý về số ngày tối thiểu giữa ngày

tổ chức đại hội cổ đông thường niên và ngày thông báo về thời điểm tổ chức đại hội thường niên; (iv) Các yếu tố hỗ trợ khác như tính sẵn sàng của thời điểm hay địa điểm

tổ chức đại hội thường niên

Theo nghiên cứu Joshi (2005), Karim và cộng sự (2006), “tính kịp thời” của việc lập BCTC chịu ảnh hưởng của 2 nhóm nhân tố bên ngoài (quy định pháp lý, đối thủ cạnh tranh) và nhân tố bên trong (như các đặc điểm của công ty) và bao gồm 3 loại: Tính kịp thời của hoạt động kiểm toán; Tính kịp thời của việc công bố báo cáo; tính kịp thời chung Trong nghiên cứu này, “tính kịp thời” được hiểu như là tính kịp thời của hoạt động kiểm toán độc lập BCTC và được đo lường bằng số ngày kể từ

Trang 36

ngày kết thúc niên độ tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán đến ngày ký báo cáo kiểm toán

2.2.2 Vai trò của báo cáo tài chính kịp thời

BCTC với mục đích cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và các dòng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin BCTC Tuy nhiên, BCTC kịp thời có nghĩa quan trọng không chỉ đối với người sử dụng thông tin BCTC mà còn đối với các chính sách của các chủ thể báo cáo và sự phát triển của thị trường vốn Báo cáo tài chính, đặc biệt là BCTC đã kiểm toán là nguồn cung cấp thông tin chính thống và đáng tin cậy cho người sử dụng thông tin BCTC càng kịp thời thì càng gia tăng tính hữu ích của thông tin, giúp các nhà đầu tư

ra quyết định một cách chính xác, nắm bắt được thời cơ kinh doanh Theo Owusu – Ansah và Leventis (2006), BCTC kịp thời làm giảm sự rò rỉ thông tin và các tin đồn trên thị trường chứng khoán, góp phần giảm sự bất cân xứng thông tin, tăng cường tính minh bạch và hiệu quả của thị trường vốn

2.2.3 Các quy định của Việt Nam về tính kịp thời của BCTC bán niên các CTNY

Theo TT 155/2015/TT-BTC về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn phải công bố báo cáo tài chính bán niên đã được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán Báo cáo tài chính bán niên phải là báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ theo Chuẩn mực kế toán “Báo cáo tài chính giữa niên độ”, trình bày số liệu tài chính trong 06 tháng đầu năm tài chính của công ty, được lập theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Thông tư này Báo cáo tài chính bán niên phải được soát xét theo Chuẩn mực về công tác soát xét báo cáo tài chính Toàn văn báo cáo tài chính bán niên phải được công bố đầy đủ, kèm theo ý kiến kiểm toán và văn bản giải trình của công ty trong trường hợp báo cáo tài chính bán niên được soát xét có kết luận của kiểm toán viên là không đạt yêu cầu;

Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn phải công bố báo cáo tài chính bán niên đã được soát xét trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo soát xét nhưng không được vượt quá 45 ngày, kể từ ngày kết thúc 06 tháng đầu năm tài chính

Trang 37

thành việc công bố báo cáo tài chính bán niên trong thời hạn nêu trên do phải lập báo cáo tài chính bán niên hợp nhất hoặc báo cáo tài chính bán niên tổng hợp; hoặc do các công ty con, công ty liên kết của tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn cũng phải lập báo cáo tài chính bán niên đã được soát xét, báo cáo tài chính bán niên hợp nhất, báo cáo tài chính bán niên tổng hợp thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xem xét gia hạn thời gian công bố báo cáo tài chính bán niên khi có yêu cầu bằng văn bản của công ty, nhưng tối đa không quá 60 ngày, kể từ ngày kết thúc 06 tháng đầu năm tài chính bảo đảm phù hợp với quy định pháp luật liên quan

2.3 Các lý thuyết nền

2.3.1 Lý thuyết thông tin hữu ích cho việc ra quyết định

Xuất phát từ dòng nghiên cứu chuẩn tắc về kế toán từ những năm 1950-1970, các khuôn mẫu lý thuyết kế toán đã được xây dựng và ban hành từ các tổ chức lập quy

về kế toán và trở thành nền tảng của hệ thống kế toán tài chính hiện nay trên thế giới

Lý thuyết thông tin hữu ích cho việc ra quyết định xuất phát từ mục tiêu của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng để đưa ra quyết định kinh tế (Staubus, 2000) Trên cơ sở đó, các đặc điểm chất lượng của BCTC được xác định Trước hết, BCTC cần bao gồm các thông tin thích hợp, nghĩa là các thông tin có thể giúp người

sử dụng đánh giá được quá khứ và dự đoán tương lai của DN Không những vậy, các thông tin này cần thể hiện trung thực tình hình DN, nghĩa là đúng bản chất của các hiện tượng kinh tế Theo lý thuyết thông tin hữu ích, thông tin tài chính được thiết lập dựa trên các giả thiết là: Luôn tồn tại sự mất cân đối về mặt thông tin giữa người lập BCTC và người sử dụng thông tin; Nhu cầu người sử dụng thông tin kế toán là không được xác định trước và cần được xác định thông qua các dẫn chứng thực tế; Việc đáp ứng thông tin của người sử dụng được thực hiện thông qua những bên có lợi ích liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Và tính hữu ích của thông tin cần được đánh giá trong mối tương quan lợi ích – chi phí khi thực hiện công việc kế toán

Áp dụng vào vấn đề công bố BCTC: Lý thuyết này yêu cầu BCTC phải cung cấp các thông tin cần thiết và kịp thời cho việc ra quyết định của người sử dụng, trong

đó bao gồm hai đối tượng chính là nhà đầu tư và chủ nợ

Trang 38

Theo lý thuyết thông tin hữu ích, thông tin BCTC được xem là quá trình cung cấp thông tin thích hợp cho các đối tượng sử dụng Vì vậy tính hữu ích của thông tin được đánh giá qua khả năng đáp ứng cho các đối tượng sử dụng trong quá trình ra quyết định Lý thuyết thông tin hữu ích có vai trò quan trọng trong đánh giá chất lượng thông tin cần thiết và kịp thời mà các công ty niêm yết công bố Theo lý thuyết thôn tin hữu ích, các công ty niêm yết được thành lập lâu, có bề dày kinh nghiệm, có đội ngũ kế toán chuyên nghiệp sẽ công bố thông tin về BCTC nhanh hơn các công ty niêm yết mới thành lập Bên cạnh đó, việc sử dụng dịch vụ kiểm toán bởi các công ty kiểm toán danh tiếng (thuộc nhóm Big4) sẽ làm cho nhà đầu tư, chủ nợ tin tưởng hơn

về tính minh bạch, tính hữu ích của thông tin được công bố Lý thuyết này góp phần giải thích ảnh hưởng của các nhân tố tuổi công ty niêm yết, loại công ty kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC bán niên của các công ty niêm yết trong các giả thuyết ở phần sau

2.3.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory)

Lý thuyết đại diện được công nhận bởi Jensen và Meckling (1976) và sau đó là Fama và Jensen (1983) Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm, trong đó bên được ủy nhiệm thay mặt bên ủy nhiệm để quản lý

DN, thực hiện các công việc được ủy nhiệm Theo Letza và cộng sự (2008), các nhà quản lý chỉ hành động vì mục tiêu tối đa hóa giá trị của cổ đông nếu nó không mâu thuẫn với lợi ích cá nhân của họ Trong khi nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích của cổ đông mà quan tâm đến lợi ích của mình Việc không đồng nhất lợi ích giữa chủ sở hữu và người đại diện làm phát sinh một số chi phí gọi là chi phí đại diện (agent costs) Đây là chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả (ví dụ khoản tiền thưởng dùng để khuyến khách nhà quản trị làm việc vì lợi ích của cổ đông)

Theo Healy và Palepu (2001) hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị, giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị doanh nghiệp (và chủ doanh nghiệp) với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài Những hợp đồng này thường yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống kế toán quản trị như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực để nhà đầu tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp

Trang 39

với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài

Theo lí thuyết người đại diện, trong phần lớn các DN hoạt động có quy mô lớn, các mâu thuẫn giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm là rất đáng kể vì người điều hành doanh nghiệp thường chỉ sở hữu một phần nhỏ cổ phần Do đó, để hạn chế chi phí ủy nhiệm, người điều hành cần phải công bố thông tin nhiều hơn và kịp thời hơn đến các cổ đông Như vậy, lí thuyết người đại diện đã góp phần giải thích ảnh hưởng của nhân tố quy mô đến tính kịp thời của BCTC Ngoài ra, lí thuyết người đại điện cũng góp phần làm rõ ảnh hưởng của nhân tố lợi nhuận kinh doanh đến tính kịp thời của BCTC, vì đối với những công ty có lợi nhuận cao, nhà quản lí muốn công bố thông tin nhiều hơn để thể hiện khả năng quản lí của mình

Lý thuyết đại diện được sử dụng để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố quy

mô công ty, lợi nhuận kinh doanh, đòn bẩy tài chính đến tính kịp thời của BCTC bán niên của các công ty niêm yết trong các giả thuyết ở phần sau

2.3.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information)

Bất cân xứng thông tin lần đầu xuất hiện vào những năm 1970 và đến năm 2001, các nhà khoa học đã nghiên cứu lý thuyết này và đồng thời nhận được giải Nobel kinh tế là George Akerlof, Michael Spence và Jose Stiglitz Vấn đề bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên dẫn tới trả giá thấp hơn giá trị thực của hàng hóa Hậu quả là người bán không còn động lực để sản xuất hàng hóa có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm trung bình trên thị trường Sau cùng, bất cân xứng thông tin thậm chí còn có thể dẫn đến tình trạng trên thị trường chỉ còn lại những sản phẩm có chất lượng kém, hàng hóa tốt bị loại bỏ dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch (adverse selection) cho cả hai bên Bất cân xứng thông tin còn gây ra rủi ro đạo đức (moral hazard) và độc quyền về thông tin (information monopoly)

Trong hoạt động của TTCK, thông tin bất cân xứng thông tin xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy các thông tin bất lợi, phóng đại những thông tin tốt hoặc cung cấp thông tin một cách không công bằng với các nhà đầu tư khác Ngoài ra,

có rất nhiều những biểu hiện về sự bất cân xứng thông tin trên TTCK như doanh nghiệp sau khi phát hành cổ phiếu không chú trọng vào đầu tư sản xuất kinh doanh mà

Trang 40

chỉ chú trọng vào việc đẩy giá cổ phiếu lên cao trên TTCK; có sự rò rỉ thông tin nội gián; tạo cung cầu ảo trên thị trường, tung tin đồn thất thiệt về doanh nghiệp, cung cấp thông tin sai… Như đã nói ở trên, bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến hai hệ quả phổ biến nhất, đó là sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Điều này sẽ làm bóp méo quyết định tham gia thị trường của các chủ thể kinh tế, thậm chí có thể dẫn đến thất bại thị trường

Bất cân xứng thông tin luôn xảy ra đối với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, trong

đó có chứng khoán và đều gây ra những hệ quả không tích cực, ảnh hưởng tới nhiều thành viên tham gia thị trường bao gồm cả nhà đầu tư, tổ chức phát hành chứng khoán

và tác động chung tới toàn bộ thị trường

Tác động của thông tin không cân xứng tới nhà đầu tư và các doanh nghiệp tham gia TTCK cũng là tác động chung tới TTCK Việc nhà đầu tư cũng như doanh nghiệp không còn “mặn mà” với TTCK sẽ ngăn cản sự phát triển của TTCK nói riêng và toàn

bộ nền kinh tế nói chung Ngoài ra, việc lợi dụng thông tin nội gián để giao dịch chứng khoán, tạo cung cầu ảo trong một thời gian dài với nhiều loại cổ phiếu có thể khiến thị trường tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ

Trên TTCK, hiện tượng bất cân xứng thông tin xảy ra khi: DN công bố thông tin, BCTC không hữu ích đối với người sử dụng thông tin như: DN che giấu các thông tin bất lợi khi kinh doanh đầu tư bị thua lỗ, bị thiệt hại tài sản do các nguyên nhân chủ quan, khách quan và thổi phồng thông tin có lợi DN cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư, thông tin không chính xác làm chất lượng thông tin kế toán trên BCTC giảm đi, nhà đầu tư do là người bị động trong việc thu thập thông tin, các thông tin chủ yếu được thu thập từ thông tin công bố của DN, từ BCTC của DN, việc xác minh độ tin cậy của thông tin chủ yếu dựa vào báo cáo kiểm toán của công ty kiểm toán Hàng hóa trên TTCK rất đặc biệt, không phải hàng hóa cụ thể mắt người

có thể nhìn thấy, kiểm tra chất lượng được mà hàng hóa TTCK là cổ phiếu trái phiếu, chứng chỉ đầu tư của các DN niêm yết… là hàng hóa vô hình dựa trên sự tồn tại và uy tín của DN Vì vậy thông tin kế toán hữu ích là yếu tố hàng đầu giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định sáng suốt và hiệu quả, giảm được bất cân xứng thông tin so với các CTNY công bố nhiều thông tin hơn ra thị trường, nâng cao chất lượng TTKT sẽ làm tăng niềm tin cho nhà đầu tư và giúp TTCK ngày càng phát triển Từ những nội dung trên,

Ngày đăng: 28/10/2019, 00:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w