1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận làm giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

107 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận làm giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm tại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

VŨ TRUNG ĐỨC

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN LÀM GIẢM CHI PHÍ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN TRỌNG NGUYÊN

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận làm giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, được thực hiện

và hoàn thành với sự góp ý của TS Nguyễn Trọng Nguyên

Các số liệu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực Tác giả xin cam đoan luận văn này chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào

TP Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm…

Học viên

Vũ Trung Đức

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

TÓM TẮT - ABSTRACT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu/Câu hỏi nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 1 6

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6

1.1 Các nghiên cứu trước đây về nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận 6 1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 8

1.2 Các mô hình đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận 10

1.2.1 Mô hình Healy (1985) 10

1.2.2 Mô hình DeAngelo (1986) 11

1.2.3 Mô hình Jones (1991) 12

1.2.4 Mô hình Jones (1995) 13

1.3 Khoảng trống nghiên cứu 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16

CHƯƠNG 2 17

Trang 4

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 17

2.1 Những khái niệm cơ bản 17

2.1.1 Điều chỉnh lợi nhuận 17

2.1.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp 21

2.1.3 Mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuận và thuế thu nhập doanh nghiệp 22

2.2 Lý thuyết nền 22

2.2.1 Lý thuyết kế toán thực chứng 22

2.2.2 Lý thuyết kinh tế học hành vi 24

2.2.3 Lý thuyết đại diện 25

2.2.4 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 26

2.2.5 Lý thuyết các bên liên quan 28

2.2.6 Cơ sở điều chỉnh lợi nhuận 30

2.3 Các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận làm giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 32

2.3.1 Các nhân tố thuộc nhóm đặc điểm doanh nghiệp 32

2.3.2 Các nhân tố thuộc nhóm đặc điểm quản lý - kiểm soát 35

2.3.2 Các nhân tố thuộc nhóm thuế thu nhập doanh nghiệp 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 39

CHƯƠNG 3 40

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

3.1 Thiết kế nghiên cứu 40

3.2 Mô hình nghiên cứu 40

3.3 Mô hình hồi quy 43

3.4 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 46

3.5 Phương pháp nghiên cứu 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 53

CHƯƠNG 4 54

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 54

Trang 5

4.1 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 54

4.2 Phân tích tương quan và hồi quy 57

4.2.1 Phân tích tương quan 57

4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến 58

4.2.3 Kiểm định tự tương quan 59

4.2.4 Mô hình hồi quy 59

4.2.5 Kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số hồi quy 60

4.2.6 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 62

4.2.7 Mức độ dự báo chính xác của mô hình 62

4.3 Kết quả nghiên cứu và so sánh với các nghiên cứu trước đây 63

4.3.1 Kết quả nghiên cứu 63

4.3.2 So sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu trước đây 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 68

CHƯƠNG 5 69

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 69

5.1 Kết luận 69

5.2 Khuyến nghị 69

5.2.1 Khuyến nghị đối với nhà đầu tư 69

5.2.2 Khuyến nghị đối với doanh nghiệp 71

5.2.3 Khuyến nghị đối với kiểm toán viên 71

5.2.4 Khuyến nghị đối với cơ quan thuế 72

5.3 Các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCTC Báo cáo tài chính

BCTN Báo cáo thường niên

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Tổng quan các biến nghiên cứu 39

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 46

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định Wald test 51

Bảng 4.3: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu định lượng 66

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu 34

Hình 4.2: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 58

Hình 4.3: Kết quả kiểm định tự tương quan 59

Hình 4.4: Kết quả hồi quy logit 60

Hình 4.5: Kết quả mức độ dự báo chính xác của mô hình 63

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Hiện nay, tình trạng chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán tại các công ty tại Việt Nam rất phổ biến Điều này có thể bắt nguồn từ các sai sót do việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán, ước tính kế toán của doanh nghiệp hoặc do trình độ của kế toán viên chưa cao Tuy nhiên, những nghi ngại phần lớn được đề cập đến việc các doanh nghiệp cố ý ĐCLN nhằm đạt được các lợi ích riêng và đặc biệt là lợi ích về thuế Điều này gây rất nhiều khó khăn và thông tin gây nhiễu cho các nhà đầu tư, cơ quan thuế, chất lượng thông tin BCTC giảm sút, đặt ra câu hỏi về việc xem xét nghiêm túc vấn đề ĐCLN để giảm thuế trong hiện tại

Các nghiên cứu về ĐCLN tại nước ngoài chưa đề cập đến hành vi ĐCLN làm

giảm thuế TNDN phải nộp Tại Việt Nam, chỉ có nghiên cứu của Bùi Thị Mai Hoài và

cộng sự (2015) đề cập tới hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp nhưng kết quả nghiên cứu chỉ cho ý nghĩa với các biến: Hưởng chính sách ưu đãi thuế; Ghi nhận

doanh thu chưa thực hiện, doanh thu theo tiến độ; Ghi nhận dự phòng và Chi phí thuế

TNDN hoãn lại Hơn nữa, các nghiên cứu về ĐCLN tại Việt Nam chưa sử dụng các biến kiểm soát vĩ mô (lạm phát, tốc độ tăng trưởng) Do đó, chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài nảy nhằm mục tiêu xác định các định các nhân tố tác động đến hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp; đánh giá tác động của các nhân tố này lên hành

vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp và đưa ra các khuyến nghị cho các nhà đầu

tư, doanh nghiệp, kiểm toán viên và cơ quan thuế

Chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ 236 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, là giai đoạn mà nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng và thuế suất thuế TNDN được thay đổi liên tục Chúng tôi thực hiện hồi quy logit Kết quả cho thấy có 8 biến có tác động đến hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp, bao gồm: Hiệu quả tài chính; Ghi nhận các khoản doanh thu nhận trước, doanh thu theo tiến độ hoặc dự phòng; Ghi nhận các khoản dự phòng;

Trang 10

Kiểm toán độc lập; Giới tính CEO; Hưởng chính sách ưu đãi TNDN; Ghi nhận các

khoản thuế TNDN hoãn lại; Thay đổi thuế TNDN Mô hình hồi quy có tỷ lệ dự báo

chính xác 93.56% Dựa trên kết quả nghiên cứu và các thực trạng môi trường đầu tư,

môi trường kinh doanh và môi trường pháp lý tại Việt Nam, chúng tôi đưa ra một số

khuyến nghị đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp, kiểm toán viên và cơ quan thuế

nhằm có các biện pháp gia tăng tính minh bạch thông tin tài chính của doanh nghiệp,

phát triển các biện pháp nghiệp vụ trong đầu tư, đánh giá tính tin cậy của thông tin tài

chính và thanh tra, kiểm tra thuế

Từ khóa: Điều chỉnh lợi nhuận; Thuế Thu nhập doanh nghiệp; Hồi quy logit

Trang 11

ABSTRACT

Currently, there is a difference between the earnings before and after auditing in many companies in Vietnam The reason may be that these companies make mistake in choosing accounting policies, accounting estimates or the accountants of them do not get a high level in work However, we can find a popular reason that they are deliberately trying to manage earnings to achieve their own interests and especially tax benefits This causes a lot of difficulties for investors, tax authorities, making the quality of financial information decrease, hence, we need to consider the matter

“earnings management (EM) for reducing corporate income tax (CIT)” seriously

In foreign researchs about EM, we did not find out the results related to EM for reducing CIT In Vietnam, there was only the research of Bui Thi Mai Hoai et al (2015) mentioned about this But the results only give the meaning to the variables: Preferential Tax; Unrealized turnover; Provisions and Deferred CIT expense Moreover, researches on EM in Vietnam had not used control variables (inflation, growth rate) Therefore, we made this research in order to determine the factors that affect the EM for reducing CIT; assessing the impact of these factors on the EM for reducing CIT and give some recommendations for investors, businesses, auditors and tax authorities

We collected data from 236 non-financial companies listed on the HOSE in the period from 2012 to 2016, the period when the economy recovered after the crisis and the CIT rate was changed several times We did logistic regression analysis The results show that there are 8 variables that affect the EM for reducing CIT, including: Financial efficiency; Unrealized turnover; Provisions; Independent audit; Gender of CEO; Preferential Tax; Deferred CIT expense; CIT rate changing The prediction rate

of regression model is 93.56% Based on the research results and current realities of investment environment, business environment and legal environment in Vietnam, we

Trang 12

provide some recommendations for investors, businesses, auditors and tax authorities, aim to increase the transparency of financial information of enterprises, to develop professional tools in investment, tax inspection and to evaluate the reliability of financial information

Keywords: Earnings management; Corporate income tax; Logistic regresion model

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại Việt Nam, các quy định về chính sách kế toán đưa ra nhiều lựa chọn linh

hoạt cho doanh nghiệp, điều này có thể ảnh hưởng tương đối tới lợi nhuận Thứ nhất,

về phương pháp kế toán, đối với các công ty sản xuất, khi tính giá thành sản phẩm, họ

có thể lựa chọn các phương pháp tính giá hay đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau tùy theo đặc điểm riêng biệt của công ty Việc phân bổ chi phí sản xuất chung cũng không mang tính khuôn mẫu mà có thể áp dụng theo các tiêu thức phân bổ khác nhau tùy vào tình hình đơn vị, miễn là điều này được thực hiện thông suốt và nhất quán qua các kỳ Ngoài ra, doanh nghiệp cũng được chọn một trong các phương pháp tính khấu hao (khấu hao theo đường thẳng, khấu hao theo sản lượng và khấu hao giảm dần) Điều này quyết định tới chi phí của doanh nghiệp và trong nhiều trường hợp đem lại lợi ích

không nhỏ Thứ hai, về các ước tính kế toán, Chuẩn mực kế toán số 29 về Thay đổi

chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót đề cập đến việc nhiều khoản mục báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp không thể xác định được một cách chính xác mà chỉ có thể sử dụng các ước tính kế toán, ví dụ như các khoản phải thu khó đòi; giá trị hàng lỗi thời tồn kho; thời gian sử dụng hữu ích hoặc cách thức sử dụng TSCĐ làm cơ sở tính khấu hao; nghĩa vụ bảo hành Tuy nhiên, các ước tính kế toán thực chất

là các xét đoán và phụ thuộc nhiều vào trình độ, kinh nghiệm của kế toán viên Không thể nói các ước tính kế toán là không đáng tin cậy nhưng rõ ràng các con số ước tính phụ thuộc nhiều vào ý đồ chủ quan của doanh nghiệp Và các nhà quản trị có thể lợi dụng điều này và các lỗ hổng về luật để điều chỉnh lợi nhuận (ĐCLN) nhằm phục vụ cho các mục tiêu khác nhau, trong đó có mục tiêu làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp

Theo các báo cáo hàng năm của Vietstock, tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có lợi nhuận thay đổi sau kiểm toán từ năm 2012 luôn

Trang 14

trên 70% Báo cáo năm 2017 cho thấy có 540 doanh nghiệp trong số 709 doanh nghiệp niêm yết có lợi nhuận sau thuế chênh lệch so với BCTC đã công bố trước kiểm toán Đặc biệt, có những doanh nghiệp chênh lệch lợi nhuận lên tới vài trăm tỉ đồng như: Tổng Công ty Cổ phần (CTCP) Đầu tư Phát triển Xây dựng (lợi nhuận tăng thêm 202

tỷ đồng do điều chỉnh khoản doanh thu nhận trước từ các công ty liên kết, tăng doanh thu từ bất động sản đầu tư); CTCP Hóa chất Đức Giang - Lào Cai (lãi tăng hơn 100 tỷ đồng).v.v Ngoài ra cũng có những doanh nghiệp giảm lợi nhuận mạnh như: CTCP Hoàng Anh Gia Lai (lợi nhuận sau kiểm toán giảm tới 661 tỷ đồng, nguyên nhân chính

là do tăng chi phí tài chính thêm 200 tỷ đồng và ghi nhận thêm khoản dự phòng thanh

lý Công ty TNHH Điện Nậm Kông 3, số tiền 134 tỷ đồng) Một số doanh nghiệp có BCTC từ lãi chuyển sang lỗ như: CTCP Tập đoàn Đại Châu (từ lãi 1,5 tỷ đồng chuyển thành lỗ 2,7 tỷ đồng sau kiểm toán, nguyên nhân chính là do trích lập dự phòng thiếu hàng tồn kho (HTK) và sai sót trong kết chuyển giá thành một số công trình), CTCP Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (từ lãi 4 tỷ đồng chuyển thành lỗ tới 187 tỷ đồng, nguyên nhân chính là do doanh thu ghi nhận không đúng niên độ, số tiền 109 tỷ đồng

và không trích lập khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, số tiền 81 tỷ đồng) Có thể thấy các sai sót trên bắt nguồn chủ yếu từ các ước tính kế toán Nhiều nguyên nhân được các chuyên gia đưa ra, trong đó bao gồm cả việc trình độ của kế toán viên chưa cao Tuy nhiên, những nghi ngại phần lớn được đề cập đến việc các doanh nghiệp cố ý ĐCLN nhằm đạt được các lợi ích riêng và đặc biệt là lợi ích về thuế Điều này gây rất nhiều khó khăn và thông tin gây nhiễu cho các nhà đầu tư, cơ quan thuế, chất lượng thông tin BCTC giảm sút, đặt ra câu hỏi về việc xem xét nghiêm túc vấn đề ĐCLN để giảm thuế trong hiện tại

Từ những thực trạng, yêu cầu khách quan trên, tác giả chọn đề tài “Các nhân tố

tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận làm giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu

Trang 15

2 Mục tiêu nghiên cứu/Câu hỏi nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu bao gồm:

+ Xác định các nhân tố tác động đến hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp

+ Đánh giá tác động của các nhân tố này lên hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp

+ Đưa ra các khuyến nghị cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp, kiểm toán viên và cơ quan thuế

- Câu hỏi nghiên cứu bao gồm:

+ Các nhân tố nào tác động đến hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp?

+ Các nhân tố này tác động như thế nào đến hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp?

+ Khuyến nghị nào cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp, kiểm toán viên và

cơ quan thuế?

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp của các công ty phi tài chính niêm yết trên sàn HOSE

- Phạm vi nghiên cứu: Bài nghiên cứu được thực hiện đối với các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 Lý do nghiên cứu này không lựa chọn các công ty tài chính (các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các công ty, quỹ đầu tư tài chính) bởi vì các công ty này là các công ty đặc thù và chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ của Chính phủ Thời gian nghiên cứu từ năm 2012 đến năm

2016, là khoảng thời gian nền kinh tế dần đi vào phục hồi và ổn định sau khủng hoảng

Trang 16

kinh tế toàn cầu và cũng là khoảng thời gian Việt Nam điều chỉnh thuế suất thuế TNDN liên tục Điều này giúp kết quả nghiên cứu mang nhiều ý nghĩa

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Bài nghiên cứu này hi vọng đánh giá đầy đủ hơn về các nhân tố tác động đến hành vi ĐCLN nhằm làm giảm thuế TNDN phải nộp, bao gồm việc đánh giá qua nhóm biến: Đặc điểm của doanh nghiệp (Quy mô công ty; Hiệu quả tài chính; Ghi nhận doanh thu nhận trước, doanh thu chưa thực hiện, doanh thu dự phòng; Ghi nhận các khoản dự phòng); Đặc điểm quản lý - kiểm soát (Tỷ lệ sở hữu nhà nước; Kiểm toán độc lập; Giới tính CEO); Thuế TNDN (Chi phí thuế TNDN hoãn lại; Ưu đãi thuế TNDN; Thay đổi thuế suất thuế TNDN)

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán như: Các nhà đầu tư - để có những đánh giá xác đáng hơn về sức khỏe tài chính của doanh nghiệp; các doanh nghiệp - để nâng cao tính minh bạch thông tin và thu hút đầu tư; kiểm toán viên trong công tác kiểm toán doanh nghiệp; cơ quan thuế - để có thêm công cụ phân tích rủi ro trong hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Nghiên cứu sử dụng mô hình đo đường biến phụ thuộc của tác giá DeAngelo (1986), phương pháp ước lượng Logit thông qua phần mềm STATA 12 bởi biến phụ thuộc Hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN là biến nhị phân, nhận hai giá trị 0 và 1

Dữ liệu thu thập từ BCTC đã kiểm toán của các công ty phi tài chính niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 Đối với các biến kiểm soát (lạm phát và tốc độ tăng trưởng), đề tài sử dụng dữ liệu do World bank cung cấp

6 Kết cấu đề tài

Bài nghiên cứu có kết cấu bao gồm các chương như sau:

Trang 17

Phần mở đầu

Trong phần này, bài nghiên cứu trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; tính cấp thiết của đề tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; thiết kế nghiên cứu; kết cấu đề tài

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 bao gồm tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về hành vi ĐCLN và thuế TNDN, từ đó rút ra lỗ hổng nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 bao gồm các khái niệm cơ bản về ĐCLN và thuế TNDN; lý thuyết nền; phân tích về các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 bao gồm nội dung phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả và bàn luận

Chương 4 bao gồm thống kê mô tả biến; các kết quả kiểm định mô hình; so sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu trước đây

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương 5 bao gồm kết luận; một số khuyến nghị, đề xuất; hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai của đề tài

Phần kết luận

Phần kết luận tóm tắt lại toàn bộ giá trị khoa học của bài nghiên cứu

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu trước đây về nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Các nghiên cứu ĐCLN đầu tiên tập trung vào hành vi tư lợi của các nhà quản trị Watts và Zimmerman (1978, 1979, 1980) đặt nền móng đầu tiên cho hướng nghiên cứu này thông qua lý thuyết kế toán thực chứng Vận dụng lý thuyết này, các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi ĐCLN được các tác giả nghiên cứu bao gồm: Chế độ lương, thưởng; Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu (VCSH); Chi phí chính trị Các nhân tố này cũng được Rath và Sun (2008) tổng kết lại trong nghiên cứu của mình Trong đó, Chi phí chính trị có thể được hiểu như nỗ lực của doanh nghiệp trong việc đạt được một điều kiện về luật của Chính phủ, ví dụ như điều kiện để được niêm yết trên thị trường chứng khoán; điều kiện để được ưu đãi thuế.v.v Các nhân tố này được các tác giả đặt ra giả thuyết về mối tương quan cùng chiều với việc ĐCLN và kết quả nghiên cứu đã chấp nhận giả thuyết này

Trong giai đoạn kế toán hiện đại, nghiên cứu về ĐCLN không còn chỉ tập trung vào các chính sách kế toán và các nhân tố tác động mang tính chất hoạt động của doanh nghiệp theo lý thuyết kế toán thực chứng Các nghiên cứu gần đây về ĐCLN hầu hết đều đo lường hành vi ĐCLN bằng DA (phần dồn tích bao gồm phần có thể điều chỉnh và phần cố định) (Beneish, 2001; Charfeddine và cộng sự, 2013) và tập trung nghiên cứu về các công ty phi tài chính (ngoại trừ ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư tài chính…) do các công ty tài chính là các công ty đặc thù, có cơ chế riêng biệt chịu sự quản lý chặt chẽ của Chính phủ

Trang 19

John Phillips và cộng sự (2003) nghiên cứu các công ty được thành lập tại Mỹ trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2000 và cho kết luận chi phí thuế TNDN hoãn lại rất hữu ích trong việc phát hiện ĐCLN để đáp ứng các tiêu chuẩn như tránh lỗ Tác giả coi việc tránh lỗ như một cách “làm mềm” lợi nhuận Theo đó, chỉ tiêu chi phí thuế TNDN hoãn lại có thể được xem như là một dấu hiệu của việc ĐCLN Holland và cộng

sự (2003) cũng cho kết quả tương tự với mẫu nghiên cứu là các công ty tại Mỹ trong giai đoạn hưởng ưu đãi thuế

Ajay Adhikari và cộng sự (2005) nghiên cứu các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Kuala Lumpur trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 1997 (giai đoạn khủng hoảng kinh tế châu Á, thuế suất được kỳ vọng cắt giảm và thực tế đã giảm từ 30% xuống 28% vào tháng 10 năm 1997) và cho kết luận trong các giai đoạn thuế suất

có sự thay đổi, các doanh nghiệp đã ĐCLN để tối ưu số thuế phải nộp Điều này được thể hiện qua việc các công ty tìm cách đẩy thu nhập sang năm có thuế suất thấp hơn để giảm thuế bằng các thủ thuật kế toán của mình Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh kết quả nghiên cứu còn phụ thuộc vào từng thị trường nghiên cứu cụ thể

Sahlan (2011) nghiên cứu các doanh nghiệp tại Malaysia từ năm 1994 đến năm

2007 Tác giả không tìm thấy mối liên hệ giữa quy mô công ty và sự kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT với ĐCLN

Bing-Xuan Lin và cộng sự (2011) nghiên cứu các công ty tại Trung Quốc năm

2007 và kết luận có sự ĐCLN của các công ty trong năm 2007 (năm mà Trung Quốc ban hành quy định giảm mức thuế suất từ 33% xuống còn 25%) Tuy nhiên kết quả này không rõ ràng với các công ty cổ phần có tỷ lệ sở hữu nhà nước lớn, các công ty có ủy ban kiểm toán và các công ty công khai báo cáo kiểm soát nội bộ

Fakhfakh và Nasfi (2012) nghiên cứu 87 công ty tại Pháp trong bối cảnh mua lại

và sáp nhập giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2008 Kết quả cho thấy các công ty có hệ

số nợ/VCSH càng lớn thì càng có xu hướng ĐCLN Điều này có thể là do các công ty

Trang 20

ĐCLN để đáp ứng các yêu cầu, điều kiện vay nợ Các doanh nghiệp có quy mô lớn ĐCLN nhiều hơn để gia tăng giá trị công ty khi sáp nhập Các doanh nghiệp được kiểm toán bởi nhóm Big 4 có ít nguy cơ ĐCLN hơn do uy tín và chuyên môn của Big 4

Charfeddine và cộng sự (2013) nghiên cứu 19 doanh nghiệp tại Tunisia trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp

có hệ số nợ/VCSH, quy mô công ty càng lớn càng ĐCLN Ngoài ra, tác giả cũng tìm thấy sự ảnh hưởng của việc kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) đến việc ĐCLN với độ tin cậy 10% Tuy nhiên, tác giả không tìm thấy ảnh hưởng của việc kiểm toán bởi Big 4 lên hành vi ĐCLN

Akram và cộng sự (2015) nghiên cứu ĐCLN của các doanh nghiệp tại Ấn Độ Tác giả sử dụng ROA, ROE để đo lường biến Hiệu quả tài chính và kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty hoạt động tài chính càng hiệu quả càng có nhiều khả năng ĐCLN Nguyên nhân có thể là do các công ty muốn giữ uy tín, tăng giá cổ phiếu và duy trì giá trị công ty

Nhiều nghiên cứu tại Trung Quốc - quốc gia có thể chế tương tự Việt Nam đề cập đến biến Tỷ lệ sở hữu nhà nước khi nghiên cứu về ĐCLN Zhang, Uchida và Bu (2011) cho rằng do sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc, doanh nghiệp nhà nước tiếp tục chiếm tỷ lệ sở hữu đáng kể ở nhiều công ty niêm yết nên tỷ lệ sở hữu nhà nước là một nhân tố cần phải xem xét Nghiên cứu các công ty Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2009, tác giả chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ sở hữu nhà nước và độ lớn của DA

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Nguyễn Hà Linh (2017) nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi ĐCLN tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả tổng kết các nghiên cứu trước đây và chia biến độc lập thành 02 nhóm: Đặc điểm của doanh nghiệp (hệ số nợ, hiệu quả tài chính, quy mô công ty) và Đặc điểm quản lý - kiểm soát

Trang 21

(quy mô HĐQT, số lượng thành viên HĐQT độc lập, sự kiêm nhiệm của CEO và chủ

tịch HĐQT, tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, kiểm toán độc lập) Tác giả

cũng chỉ rõ các chính sách kế toán (dự phòng, ghi nhận các khoản doanh thu nhận trước ) có tác động đến hành vi ĐCLN của doanh nghiệp Tuy nhiên nghiên cứu không xét đến các chi phí chính trị (yếu tố thuế TNDN) và không vận dụng các biến ước tính kế toán vào nghiên cứu của mình

Nghiên cứu của Nguyễn Hà Linh (2017) cho kết quả mối quan hệ cùng chiều với biến ĐCLN của các biến thuộc nhóm Đặc điểm doanh nghiệp, trừ biến Hiệu quả tài chính Trong khi quy mô HĐQT và số lượng thành viên HĐQT có tác động ngược chiều đến hành vi ĐCLN và sự kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT có tác động cùng chiều Nghiên cứu cũng cho thấy tác động cùng chiều của tỷ lệ sở hữu nhà nước lên hành vi ĐCLN Tỷ lệ sở hữu nước ngoài thì có tác động ngược lại Tác giả cũng kết luận việc được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán trong nhóm Big 4 có thể được coi như một dấu hiệu cho việc không can thiệp vào lợi nhuận Có thể nói nghiên cứu của Nguyễn Hà Linh (2017) là nghiên cứu mang tính tổng hợp và đầy đủ về mặt lý thuyết tại Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn có các nghiên cứu khác tại Việt Nam tập trung vào

từng nhóm nhân tố riêng biệt khác mà tác giả chưa xem xét tới

Trần Thị Giang Tân và cộng sự (2017) nghiên cứu về tác động của giới tính ban lãnh đạo doanh nghiệp đến hành vi ĐCLN Tác giả sử dụng các lý thuyết hành vi và ủng hộ giả thuyết CEO nữ ít có xu hướng can thiệp, thay đổi lợi nhuận hơn Kết quả nghiên cứu là có mối tương quan nghịch chiều giữa giới tính nữ của CEO với hành vi ĐCLN Tuy nhiên tác giả cũng trình bày hạn chế về số lượng dữ liệu và các biến được

Trang 22

đến hành vi ĐCLN nhằm làm giảm thuế TNDN Cụ thể, các chính sách ưu đãi thuế cũng như thuế TNDN có tương quan nghịch chiều, thuế TNDN hoãn lại có tương quan thuận chiều với hành vi ĐCLN nhằm làm giảm thuế TNDN Bùi Thị Mai Hoài và cộng

sự (2015) đã sử dụng các biến ước tính kế toán: Ghi nhận các khoản doanh thu nhận trước, doanh thu theo tiến độ hoặc dự phòng; Ghi nhận các khoản dự phòng Các biến này đều có ý nghĩa và có tác động cùng chiều lên biến phụ thuộc Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm ra ý nghĩa với các biến thuộc nhóm Đặc điểm quản lý - kiểm soát (Vốn điều lệ, Lợi nhuận sau thuế; Phát hành chứng khoán) và Đặc điểm doanh nghiệp (Thay đối CEO; Tỷ lệ sở hữu cổ phần của CEO)

1.2 Các mô hình đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận

1.2.1 Mô hình Healy (1985)

Healy (1985) trong nghiên cứu về ĐCLN của mình, lần đầu tiên sử dụng khái niệm phần dồn tích có thể điều chỉnh (DA) để xác định hành vi ĐCLN, đã nghiên cứu

về việc các nhà quản trị can thiệp vào lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu đãi ngộ, chế

độ lương, thưởng cho bản thân Cụ thể, khi một công ty đưa ra hai mức “trần lợi nhuận” và “sàn lợi nhuận”, nhà quản trị sẽ bị cắt thu nhập nếu lợi nhuận của công ty ở mức dưới sàn và ngược lại các nhà quản trị cũng không nhận thêm được một khoản lợi ích nào nếu lợi nhuận của công ty vượt mức trần Do vậy, với cỡ mẫu 239 doanh nghiệp từ năm 1968-1980 tại Mỹ, tác giả chỉ ra kết luận về việc các nhà quản trị ĐCLN tăng lên nếu nó ở dưới mức sàn và ĐCLN ở mức trần để tối đa hóa lợi ích Phần lợi nhuận có thể ở mức vượt trần sẽ được chuyển sang năm sau bằng các thủ thuật kế toán

Healy (1985) đưa ra giả định về NDA là phần dồn tích không thay đổi từ năm này qua năm khác và DA sẽ có tổng bằng 0 trong dài hạn Mô hình tính toán DA cụ thể như sau:

Trang 23

Trong đó:

+ TAit là tổng dồn tích năm t của công ty i

+ DAit là phần dồn tích có thể điều chỉnh năm t của công ty i

+ NDAit là phần dồn tích không thể điều chỉnh năm t của công ty i

+ A là tổng tài sản

1.2.2 Mô hình DeAngelo (1986)

DeAngelo (1986) tiếp tục kế thừa phương pháp sử dụng DA trong nghiên cứu

về hành vi ĐCLN được Healy (1985) sử dụng, mở ra hướng nghiên cứu định lượng mới về lĩnh vực này DeAngelo (1986) nghiên cứu 64 doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ năm 1973-1982 tại Mỹ và đưa ra giả thuyết các nhà quản trị sẽ điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm hạ giá cổ phiếu của công ty khi họ chuẩn bị mua cổ phiếu Tuy nhiên, kết luận của tác giả lại là không chấp nhận giả thuyết đã đưa ra Vậy nhưng mục đích ĐCLN để giảm giá cổ phiếu của các nhà quản trị vẫn được các nhà nghiên cứu sau này tiếp tục xem xét và có những nghiên cứu tại các vùng mẫu khác chấp thuận giả thuyết này

Mô hình tính toán của DeAngelo (1986) về cơ bản tương tự như Healy (1985)

DA được tính toán như sau:

Trang 24

Trong đó:

+ TAit là tổng dồn tích năm t của công ty i

+ DAit là phần dồn tích có thể điều chỉnh năm t của công ty i

+ NDAit là phần dồn tích không thể điều chỉnh năm t của công ty i

+ A là tổng tài sản

Mô hình DeAngelo (1986) và mô hình Healy (1985) có nhược điểm là giả định NDA không đổi theo thời gian và không tính đến sự thay đổi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên hai mô hình này lại có ưu điểm là đơn giản và dễ tính toán

1.2.3 Mô hình Jones (1991)

Jones (1991) nghiên cứu các doanh nghiệp Mỹ ĐCLN nhằm tận dụng các ưu đãi, hỗ trợ của Chính phủ Jones (1991) sử dụng DA để đo lường ĐCLN, tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả đã khắc phục các điểm yếu của Healy (1985) và DeAngelo (1986) thông qua việc tính đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và sử dụng doanh thu trong công thức tính DA của mình Kết quả nghiên cứu của Jones (1991) cho thấy các doanh nghiệp Mỹ có xu hướng ĐCLN giảm nhằm đáp ứng đủ điều kiện được viện trợ Mô hình đo lường ĐCLN Jones (1991) được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về ĐCLN sau đó

Công thức tính toán cụ thể như sau:

Trang 25

Trong đó:

+ TAit là tổng dồn tích năm t của công ty i

+ DAit là phần dồn tích có thể điều chỉnh năm t của công ty i

+ NDAit là phần dồn tích không thể điều chỉnh năm t của công ty i

+ A là tổng tài sản

+ là doanh thu năm t trừ doanh thu năm t-1

+ là nguyên giá tài sản cố định cuối năm t

+ a1; a2; a3 là các tham số ước tính được tính toán theo phương pháp OLS

+ là sai số ước tính năm t

1.2.4 Mô hình Jones (1995)

Dechow và cộng sự (1995) đã đưa ra mô hình Jones (1995) nhằm khắc phục các hạn chế của mô hình Jones (1991) Jones (1991) xem doanh thu là phần không thể điều chỉnh, tuy nhiên trên thực tế đây là điều bất hợp lý bởi các nhà quản trị có thể chuyển doanh thu từ kỳ này sang kỳ khác Jones (1995) bổ sung thêm phần phải thu của khác hàng vào công thức tính toán DA và đưa ra khái niệm biến động doanh thu bằng tiền Jones (1995) hay còn gọi là mô hình Jones mở rộng được nhiều tác giả đánh giá cao hơn Jones (1991) Nghiên cứu của Dechow và cộng sự (1995) sử dụng mô hình Jones

mở rộng đã cho kết quả về việc có mối liên hệ giữa các biến hệ số nợ; kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT với hành vi ĐCLN

Mô hình Jones (1995) thay đổi biến động doanh thu bằng biến biến động doanh thu bằng tiền Công thức tính toán cụ thể như sau:

Trang 26

+ TAit là tổng dồn tích năm t của công ty i

+ DAit là phần dồn tích có thể điều chỉnh năm t của công ty i

+ NDAit là phần dồn tích không thể điều chỉnh năm t của công ty i

+ A là tổng tài sản

+ là phải thu khách hàng năm t trừ phải thu khách hàng năm t-1

+ là doanh thu năm t trừ doanh thu năm t-1

+ là nguyên giá tài sản cố định cuối năm t

+ a1; a2; a3 là các tham số ước tính được tính toán theo phương pháp OLS

+ là sai số ước tính năm t

Theo mô hình Jones (1995) thì phần doanh thu chưa thu tiền chính là phần có thể điều chỉnh theo ý muốn của nhà quản trị

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Như vậy, qua xem xét tổng quan các nghiên cứu trước đây về ĐCLN và thuế TNDN, các khoảng trống nghiên cứu được rút ra như sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu về ĐCLN tại nước ngoài chưa đề cập đến hành vi

ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp

Trang 27

Thứ hai, tại Việt Nam, chỉ có nghiên cứu của Bùi Thị Mai Hoài và cộng sự

(2015) đề cập tới hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp nhưng kết quả nghiên cứu chỉ cho ý nghĩa với các biến: Hưởng chính sách ưu đãi thuế; Ghi nhận doanh thu chưa thực hiện, doanh thu theo tiến độ; Ghi nhận dự phòng và Chi phí thuế TNDN hoãn lại

Thứ ba, các nghiên cứu về ĐCLN tại Việt Nam chưa sử dụng các biến kiểm soát

vĩ mô (lạm phát, tốc độ tăng trưởng)

Trang 28

ý nghĩa với 4 trên tổng số 11 biến độc lập Các biến còn lại được chỉ ra là có ý nghĩa đối với các nghiên cứu khác tại nước ngoài Bằng việc áp dụng giai đoạn chọn mẫu khác và cỡ mẫu khác tại Việt Nam, đồng thời sử dụng 2 biến kiểm soát vĩ mô là Lạm phát và Tốc độ tăng trưởng, bài nghiên cứu hi vọng bài nghiên cứu này sẽ có kết quả nghiên cứu tốt hơn

Trang 29

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Những khái niệm cơ bản

2.1.1 Điều chỉnh lợi nhuận

2.1.1.1 Khái niệm

ĐCLN được đề cập đến từ những năm 80 của thế kỷ XX Các nhà nghiên cứu ban đầu tập trung vào hành vi thay đổi lợi nhuận, “làm mượt lợi nhuận” có chủ đích của các nhà quản trị Các nghiên cứu tiến bộ sau này đã làm rõ ĐCLN có thể đi theo hai con đường Một là ĐCLN nhằm gian lận về số liệu BCTC, đem lại lợi ích cho các nhà quản trị, đó có thể là lợi ích cá nhân của bản thân nhà quản trị hoặc lợi ích cho doanh nghiệp, lợi ích đầu tư, lợi ích thuế Hai là ĐCLN nhằm thay đổi báo cáo các con

số tài chính nhưng vẫn đảm bảo đúng quy định của pháp luật về tài chính - kế toán và trong khuôn mẫu cho phép

Davidson và cộng sự (1987) định nghĩa ĐCLN là một quá trình mà ở đó các nhà quản trị thay đổi BCTC theo ý đồ của mình nhằm đạt được mức lợi nhuận mong muốn trong khuôn khổ các nguyên tắc kế toán chung đã được thừa nhận

Schipper (1989) đề cập đến khía cạnh công bố thông tin và lợi ích cá nhân nhà quản trị trong khái niệm ĐCLN của mình Theo đó, ĐCLN là việc nhà quản trị can thiệp vào quá trình công bố thông tin tài chính của doanh nghiệp để mang lại các lợi ích cá nhân cho mình trong chừng mực nhất định

Watts và cộng sự (1990) đã đưa ra một khái niệm về ĐCLN mang tính tổng quát cao Tác giả đề cập đến việc ĐCLN có thể là các điều chỉnh số liệu kế toán trong giới hạn cho phép hoặc cố ý sai phạm ngoài quy định ĐCLN có thể vì mục tiêu gia tăng giá trị doanh nghiệp hoặc cũng có thể vì các mục tiêu tư lợi khác

Trang 30

Từ những năm 2000, khái niệm ĐCLN không có nhiều sự khác biệt mà chỉ hướng tới các mục tiêu riêng biệt cụ thể của việc thay đổi số liệu BCTC Healy và cộng

sự (1999) nhấn mạnh ảnh hưởng của ĐCLN lên quá trình cung cấp thông tin Cụ thể là việc các nhà quản trị can thiệp chủ quan vào BCTC nhằm cung cấp thông tin tài chính không chính xác cho các cổ đông hay nhằm đạt được một điều khoản hợp đồng nào đó (Ví dụ như hợp đồng tín dụng với các ngân hàng, hợp đồng cam kết của nhà quản trị với doanh nghiệp)

Ronen và cộng sự (2007) cho rằng ĐCLN không phải luôn luôn xấu và không

có một ranh giới rạch ròi để dễ dàng phân biệt hành vi ĐCLN gian lận và hành vi ĐCLN ở mức cho phép

Như vậy có thể thấy ĐCLN có thể là một cách thức hợp pháp để các nhà quản trị đưa các con số tài chính về gần hơn với “mức chuẩn” Công cụ được sử dụng bởi các nhà quản trị là các chính sách kế toán và ước tính kế toán Các chính sách kế toán

và ước tính kế toán này nếu nằm trong vùng cho phép thì hoàn toàn có thể chấp nhận được Nhưng chúng cũng có thể bị lợi dụng để trở thành công cụ điều chỉnh bất hợp pháp nếu các điều chỉnh này được thực hiện ở ngoài khuôn khổ cho phép

Bài nghiên cứu này tập chung vào việc ĐCLN để giảm thuế TNDN phải nộp của doanh nghiệp Mục đích này không phải luôn luôn xấu Trong trường hợp thuế TNDN được điều chỉnh đúng theo pháp luật và quy định, nó chắc chắn được chấp nhận

2.1.1.2 Mục đích của hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Các nghiên cứu về ĐCLN từ các giai đoạn trước đến nay đều đưa ra nguyên nhân của việc ĐCLN bắt nguồn từ các nhà quản trị Các nhà quản trị là những người nắm rõ tình hình hoạt động và cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp hơn cả (Nguyễn Hà Linh, 2017) Sự can thiệp của các nhà quản trị bao gồm việc tác động lên BCTC thông

Trang 31

qua các chính sách kế toán, ước tính kế toán của doanh nghiệp nhằm đạt được lợi ích cho bản thân nhà quản trị hoặc nhằm nâng cao giá trị doanh nghiệp

Mục đích tư lợi bản thân của nhà quản trị là chủ đề nghiên cứu xuyên suốt giai đoạn đầu tiên trong những năm 80, 90 của thế kỉ XX (nâng cao lương, thưởng, chế độ đãi ngộ cho nhà quản trị; giảm giá trị cổ phiếu khi nhà quản trị mua lại)

Healy (1985) cho rằng các nhà quản trị sẽ tìm cách ĐCLN để phù hợp với mức thu nhập mà ở đó họ nhận được mức thưởng tối đa

DeAngelo (1986) đưa ra giả thuyết về việc các nhà quản trị ĐCLN để giám giá

cổ phiếu, trước khi họ mua chúng

Các giai đoạn tiếp theo, các nghiên cứu ĐCLN mở rộng phạm vi nghiên cứu sang mục đích của doanh nghiệp, cổ đông (nâng cao giá trị doanh nghiệp, thu hút đầu tư; mục tiêu chính trị; nâng cao uy tín cho doanh nghiệp…)

Gumanti (1996) trong nghiên cứu về hành vi ĐCLN của mình đối với các công

ty niêm yết lần đầu chào bán cổ phiếu (IPO), phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu tại Indonesia đưa ra giả thuyết về việc các công ty tìm cách ĐCLN tăng lên để nâng cao giá trị công ty trong mắt các nhà đầu từ, nhờ vậy giá cổ phiếu chào bán cũng được tăng lên

Giả thuyết này tiếp tục được đề cập trong nghiên cứu của Haw và cộng sự (2005) về các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán của Trung Quốc trong khoảng thời gian từ năm 1994-1998 Mặc dù các quy định bắt buộc đối với một công ty niêm yết lần đầu tại Trung Quốc ngày càng thắt chặt trong giai đoạn 1996-1998 (bắt buộc ROE từ 10% trở lên trong ba năm liên tiếp) nhưng số công ty IPO trong giai đoạn này thậm chí tăng gấp 3 lần so với giai đoạn trước đó từ năm 1994-1995 Tác giả tìm ra kết quả chấp nhận giả thuyết các công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận để đáp ứng các yêu cầu của luật về việc niêm yết

Trang 32

Các doanh nghiệp cũng có thể ĐCLN để theo đuổi mục tiêu tối ưu thuế TNDN, bao gồm việc chuyển thu nhập sang năm có thuế suất thuế TNDN thấp hơn; ĐCLN để đáp ứng các quy định về ưu đãi thuế TNDN

Jones (1991) nghiên cứu hành vi ĐCLN của các công ty tại Mỹ khi có ưu đãi của Chính phủ Cụ thể, các công ty sẽ điều chỉnh giảm lợi nhuận của mình khi Chính phủ có chính sách ưu đãi cho các công ty lỗ

Ajay Adhikari và cộng sự (2005) cũng chỉ ra rằng, đối với các công ty Malaysia, trong các giai đoạn thuế suất thuế TNDN giảm, doanh nghiệp có xu hướng ĐCLN để giảm nghĩa vụ thuế phải nộp

Christaens và cộng sự (2008) trong nghiên cứu tổng kết của mình đã nêu rõ việc các công ty ĐCLN là nhằm tránh thuế và các mục đích chính trị khác

Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã khái quát các mục đích của hành vi ĐCLN thành các nhóm khác nhau Nguyễn Hà Linh (2017) chia các mục đích của việc ĐCLN thành các mục chính:

- ĐCLN nhằm thu hút vốn đầu tư khi doanh nghiệp tiến hành IPO hoặc chào bán cổ phiếu, trái phiếu;

- ĐCLN để nâng cao chế độ lương, thưởng cho cá nhân nhà quản trị;

- ĐCLN để tối ưu thuế TNDN theo ưu đãi hoặc đáp ứng quy định về ưu đãi khi

có quy định mới của Chính phủ;

- Các mục đích khác (giảm giá cổ phiếu khi các nhà quản trị mua cổ phiếu của công ty, trì hoãn thông tin xấu về doanh nghiệp do ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp hay để đáp ứng các điều khoản hợp đồng vay vốn, hợp đồng cam kết của nhà quản trị với doanh nghiệp…)

Trang 33

Tuy nhiên tác giả không đề cập đến một mục đích quan trọng khác là ĐCLN nhằm làm giảm thuế TNDN phải nộp (bao gồm việc tránh thuế, trốn thuế hoặc điều chỉnh giảm theo đúng khuôn khổ pháp luật quy định).

Mục đích giảm thuế TNDN phải nộp của doanh nghiệp nằm trong hướng mục đích vì lợi ích doanh nghiệp Bài nghiên cứu này chỉ xác định việc có hành vi giảm thuế TNDN phải nộp của doanh nghiệp hay không và các nhân tố tác động đến hành vi này mà không đi sâu vào phân tích mục đích cụ thể của việc giảm thuế (đó có thể là mục đích giảm thuế trong khuôn khổ hoặc các mục đích tiêu cực như trốn thuế, tránh thuế)

2.1.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp

2.1.2.1 Khái niệm

Theo Chuẩn mực số 17 về thuế TNDN thì:

“Chi phí thuế TNDN (hoặc thu nhập thuế TNDN): Là tổng chi phí thuế thu nhập hiện hành và chi phí thuế thu nhập hoãn lại (hoặc thu nhập thuế thu nhập hiện hành và thu nhập thuế thu nhập hoãn lại) khi xác định lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ

Thuế thu nhập hiện hành: Là số thuế TNDN phải nộp (hoặc thu hồi được) tính trên thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế TNDN của năm hiện hành

Thuế thu nhập hoãn lại phải trả: Là thuế TNDN sẽ phải nộp trong tương lai tính trên các khoản chênh lệch tạm thời chịu thuế TNDN trong năm hiện hành.”

2.1.2.2 Xác định thu nhập tính thuế

Thu nhập tính thuế theo quan điểm kế toán và thuế có sự khác biệt Trong khi kế toán xác định thu nhập tính thuế dựa theo các chuẩn mực kế toán và sự lựa chọn chính sách kế toán thì theo quan điểm của thuế, thu nhập tính thuế dựa trên các quy định, luật thuế về ghi nhận doanh thu và chi phí hợp lý, hợp lệ Các khoản chênh lệch này có thể

là cơ sở dẫn đến hành vi ĐCLN làm giảm thuế TNDN phải nộp Ví dụ: Doanh nghiệp

Trang 34

có thể ghi nhận các khoản dự phòng lớn hơn so với căn cứ của thuế để gia tăng chi phí, giảm thu nhập và số thuế TNDN phải nộp Trong thời gian doanh nghiệp được hưởng

ưu đãi thuế, doanh nghiệp cũng có thể ghi nhận các khoản dự phòng nhỏ hơn hoặc kéo dài thời gian khấu hao tài sản để tận dụng tối đa chi phí thuế được giảm

2.1.3 Mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuận và thuế thu nhập doanh nghiệp

Doanh nghiệp thực hiện hành vi ĐCLN nhằm các mục tiêu thay đổi số thuế TNDN phải nộp như sau:

- Ổn định lợi nhuận, giảm thiểu biến động lợi nhuận so với cùng kỳ năm trước hoặc so với kế hoạch đã đặt ra thông qua chi phí thuế TNDN hoãn lại (Holland và cộng

ra lý do tại sao, động lực nào cần thiết phải thực hiện các thủ tục đó Thời kỳ kế toán chuẩn tắc, các nhà nghiên cứu thiết lập những tiêu chuẩn cho việc thực hành kế toán

Họ ít quan tâm đến những gì xảy ra trong thực tiễn mà quan tâm nhiều đến phát triển lý thuyết và quy định điều gì sẽ xảy ra (Jayne Godfrey và cộng sự, 2010)

Trang 35

Lý thuyết kế toán thực chứng được bắt đầu đưa ra thảo luận từ những năm 80 của thế kỷ XX Watts và Zimmerman (1978) cho rằng kế toán chuẩn tắc chỉ mô tả các thủ tục kế toán mà không xem xét đến việc áp dụng các thủ tục đó trong thực tế sẽ có kết quả như thế nào và có thể điều chỉnh gì để các thủ tục kế toán tốt hơn Watts và Zimmerman (1978, 1979, 1980) liên tiếp đưa ra các nhận định về kế toán thực chứng Các tác giả cho rằng kế toán thực chứng không chỉ đưa ra các mô tả thủ tục thông thường mà còn vạch ra các dự đoán thông lệ trong tương lai Các nghiên cứu thực chứng phát triển các giả thuyết nghiên cứu và kiểm định chúng Christenson (1983) trong nghiên cứu về kế toán thực chứng của mình đã cho rằng kế toán chuẩn tắc không

có sự kết nối với thị trường thực và các lý thuyết kế toán được đưa ra mà không quan tâm đến phản ứng của thị trường Có thể nói kế toán thực chứng giúp trả lời cho câu hỏi tại sao và động lực nào cho việc thực hiện thông lệ kế toán

Lý thuyết kế toán thực chứng được vận dụng trong nhiều nhánh nghiên cứu, trong đó có ĐCLN Những nghiên cứu ĐCLN vận dụng kế toán thực chứng khởi đầu với thị trường vốn trong câu hỏi nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc ĐCLN và giá cổ phiếu (Fama, 1970) Khi lý thuyết kế toán thực chứng được Watts và Zimmerman (1978, 1986) giới thiệu và làm rõ, hướng nghiên cứu ĐCLN được chuyển sang việc ĐCLN thông qua các lựa chọn chính sách kế toán Rath và Sun (2008) tổng kết các nghiên cứu trong thời kỳ này về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn chính sách

kế toán nhằm ĐCLN bao gồm: Chế độ lương, thưởng; Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu; Chi phí chính trị

Trong giai đoạn tiếp theo, các nghiên cứu về ĐCLN sử dụng lý thuyết kế toán thực chứng hướng tới mở rộng phạm vi nghiên cứu bằng cách kết hợp các tổ hợp lựa chọn chính sách kế toán đa dạng hơn DA từ đó được phát triển và sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu ĐCLN Giai đoạn gần đây, các nghiên cứu ĐCLN sử dụng DA thay vì lựa chọn chính sách kế toán như trước (Charfeddine và cộng sự, 2013) Sử dụng

Trang 36

DA đem lại kết quả khách quan và chính xác hơn việc sử dụng biến chính sách kế toán Tuy nhiên, DA khó đo lường và phức tạp hơn (Beneish, 2001)

Có rất nhiều mô hình đo lường định lượng DA được nghiên cứu, nổi bật là các

mô hình được giới thiệu trong các công trình của Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991), Dechow và cộng sự (1995) Mô hình Jones (1991) được ưa chuộng trong các nghiên cứu đo lường định lượng biến DA Tuy nhiên, trong phạm vi bài nghiên cứu này, biến DA được đo lường thông qua giá trị nhị phân (có hoặc không) nên mô hình xác định DA được sử dụng là DeAngelo (1986)

Hướng nghiên cứu thực chứng về ĐCLN tập trung vào các hành vi tư lợi Ngoài

đề cập đến mục tiêu cá nhân, các nghiên cứu còn tập trung vào các lợi ích trong các mối quan hệ khác (giữa nhà quản trị và cổ đông; doanh nghiệp và nhà đầu tư) Vì vậy, cần thiết phải xem xét các lý thuyết như: Lý thuyết đại diện; Lý thuyết thông tin bất cân xứng; Lý thuyết các bên liên quan để làm rõ động cơ, nguyên nhân của hành vi ĐCLN, hướng tới mục tiêu cụ thể của bài nghiên cứu là hành vi giảm thuế TNDN phải nộp và xác định các biến nghiên cứu cần thiết

Trong các nghiên cứu sau này, hành vi ĐCLN của nhà quản trị còn được giải thích là nhằm đạt được lợi ích cho tổ chức, chứ không chỉ để tư lợi cá nhân Có hai xu

Trang 37

hướng nghiên cứu chủ yếu sử dụng giả thuyết hệ số nợ/ vốn chủ sở hữu và giả thuyết

về chi phí chính trị

Giả thuyết hệ số nợ/ vốn chủ sở hữu cho rằng các doanh nghiệp ĐCLN nhằm mục đích đáp ứng được các yêu cầu về vay nợ Hành vi này có thể gây bất lợi cho các chủ nợ

Giả thuyết chi phí chính trị cho rằng hành vi ĐCLN của nhà quản trị có động cơ xuất phát từ việc tối ưu hóa chi phí phải trả do luật định Nhà quản trị có thể điều chỉnh giảm lợi nhuận khi chi phí phải trả tỷ lệ theo lợi nhuận của doanh nghiệp Trong các trường hợp Chính phủ có chính sách ưu đãi, nhà quản trị có thể chuyển lợi nhuận sang năm hiện tại để tối ưu lợi ích đạt được Trong bài nghiên cứu này, giả thuyết chi phí chính trị liên quan đến các biến về thuế TNDN

2.2.3 Lý thuyết đại diện

Khi hình thức công ty Cổ phần xuất hiện, lý thuyết đại diện cũng được xây dựng như một sự kiện quan trọng để đưa ra nhận định về mâu thuẫn tất yếu giữa hai bên, một bên là người ủy nhiệm (cổ đông) và một bên là người được ủy nhiệm (nhà quản trị) Lý thuyết đại diện đề cập tới việc xung đột mục tiêu giữa các cổ đông và nhà quản trị, khi

cổ đông là người nắm giữ quyền sở hữu doanh nghiệp nhưng lại trao quyền quản lý tài sản cho các nhà quản trị Trong khi các cổ đông hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp thì các nhà quản trị lại mong muốn có được lợi ích cá nhân cao nhất Đó có thể là các chế độ về lương, thưởng hay việc đạt được một cam kết trong hợp đồng ràng buộc giữa các nhà quản trị và cổ đông Điều này là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc ĐCLN của các nhà quản trị được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu giai đoạn đầu đã nêu ở trên

Adam Smith (1776) đã sớm đề cập đến việc phân tách giữa quyền sở hữu tài sản của cổ đông và quyền quản lý tài sản của các nhà quản trị Tuy nhiên ông không đưa ra giải pháp cho vấn đề này Berle và Means (1932) trong nghiên cứu về lý thuyết đại

Trang 38

diện của mình đã nhận định sâu sắc về việc sự phân tách quyền hạn này sẽ gây ra một rủi ro rất lớn cho các cổ đông và doanh nghiệp khi mà các nhà quản trị có thể lợi dụng quyền quản lý của mình để đem lại lợi ích cho bản thân và gây thiệt hại cho công ty Các tác giả đã đưa ra lập luận rằng cần thiết phải có một giải pháp nào đó cho vấn đề này, để các cổ đông có thể nắm bắt được tình hình hoạt động của công ty và hành vi quản lý của các nhà quản trị Nhận định này đã góp phần giúp hình thành lên BCTC, báo cáo kế toán Và đó là công cụ quản lý thông tin tài chính hiện đại đầu tiên của các

cổ đông, cũng là công cụ được các nhà quản trị vận dụng để làm “nhiễu” thông tin thay

vì đơn thuần là việc cung cấp thông tin như mục tiêu ban đầu, vốn có của nó

Coarse (1937) đề cập đến công cụ khác giúp ràng buộc trách nhiệm giữa cổ đông và các nhà quản trị, từ đó giảm thiểu các nguy cơ lạm quyền của nhà quản trị, đó

là hợp đồng Tác giả mô tả doanh nghiệp như một mạng lưới liên kết thông qua các ràng buộc hợp đồng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, để đạt được các điều khoản hợp đồng, các nhà quản trị cũng sẵn sàng thay đổi thông tin BCTC Healy và cộng sự (1999) đã đề cập đến vấn đề này trong bài nghiên cứu về ĐCLN của mình

Như vậy có thể thấy, thông tin trung thực là điều quan trọng nhất giúp các cổ đông kiểm soát hoạt động quản lý của các nhà quản trị Thông tin được công bố thông qua các BCTC, báo cáo kế toán Đồng thời trách nhiệm của các nhà quản trị cũng được ràng buộc qua hợp đồng Nhưng người nắm chính xác thông tin nhất là các nhà quản trị

và người can thiệp trực tiếp vào hoạt động của công ty cũng là họ Vì vậy nếu các nhà quản trị muốn, thông tin vẫn có thể sai lệch khi đến với các cổ đông Đó là một trong các lý do tại sao cần thiết phải đề cập đến lý thuyết thông tin bất cân xứng

2.2.4 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng là một lý thuyết quan trọng trong kinh tế học

Lý thuyết thông tin bất cân xứng được hiểu là khi các chủ thể tham gia giao dịch trên

Trang 39

thị trường, một bên nắm bắt đầy đủ thông tin nhưng một bên lại không có đủ những thông tin cần thiết dẫn đến rơi vào những quyết định bất lợi.

Lý thuyết này được bắt đầu từ nghiên cứu của Akerlof (1970) trong bài báo

“Thị trường cho những quả chanh” Tác giả đã đề cập đến khái niệm “lựa chọn bất lợi” trong thị trường khi người mua không có những thông tin chính xác và kịp thời về sản phẩm nên đã đánh giá thấp giá trị sản phẩm và trả một mức giá không tương xứng với chất lượng Điều này làm bản thân người bán cũng không còn động lực để tạo ra các sản phẩm thực sự tốt Họ có xu hướng bán những sản phẩm kém chất lượng hơn Cuối cùng là “lựa chọn bất lợi” cho cả người mua và người bán khi người mua không mua được hàng tốt còn người bán không bán được sản phẩm có giá trị cao

Các nghiên cứu sau này tập trung vào việc khắc phục hiện tượng “lựa chọn bất lợi” thông qua việc phát triển thông tin truyền dẫn giữa các chủ thể tham gia trên thị trường Điều này có thể thực hiện bằng cách tuyên truyền và đào tạo (Spence, 1974) hay sàng lọc để thu thập thông tin thông qua các kênh bán hàng mẫu, dùng thử (Stiglitz, 1975)

Vận dụng lý thuyết bất cân xứng thông tin trong nghiên cứu ĐCLN có thể thấy

sự mất cân đối thông tin thể hiện rõ trong các mối quan hệ giữa nhà quản trị (người nắm giữ thông tin hoạt động của doanh nghiệp chính xác nhất) và cổ đông, các nhà đầu

tư Như đã đề cập đến trong phần lý thuyết đại diện, các nhà quản trị có thể ĐCLN để đạt được một điều khoản hợp đồng ràng buộc giữa họ với cổ đông Đó có thể là một yêu cầu về lợi nhuận triển vọng hoặc một đề nghị tối ưu hóa số thuế TNDN phải nộp Nhà quản trị cũng có thể mong muốn một mức thưởng cao hơn cho những quyết sách

về lợi nhuận nhằm có lợi cho công ty của mình Thông tin bất cân xứng cũng cần phải được xem như một chi phí đại diện (Barnea và cộng sự, 1981)

Các nghiên cứu về lý thuyết bất cân xứng thông tin và ĐCLN tập trung nhiều vào thị trường vốn, nhất là các đợt IPO hoặc chào bán cổ phiếu, trái phiếu của các công

Trang 40

ty Liệu rằng có việc các doanh nghiệp ĐCLN tăng lên nhằm nâng cao giá trị công ty trong mắt nhà đầu tư trước hoặc sau IPO? (Gumanti, 1996) Một hướng nghiên cứu nữa

là việc các công ty ĐCLN nhằm đạt được điều kiện bắt buộc của Chính phủ khi niêm yết (Haw và cộng sự, 2005)

Trên giác độ doanh nghiệp, thông tin bất cân xứng còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các cơ quan Chính phủ, bao gồm cơ quan thuế Tại Việt Nam điều này càng trở nên rõ rệt khi số lượng doanh nghiệp bị truy thu thuế ngày càng nhiều và tính chất, phạm vi vụ việc ngày càng lớn Cơ quan thuế khó có thể nắm bắt được hết thông tin hoạt động của doanh nghiệp Lý thuyết thông tin bất cân xứng vì thế cần phải được xét đến như một lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi ĐCLN làm giảm chi phí thuế TNDN của doanh nghiệp

2.2.5 Lý thuyết các bên liên quan

Freeman (1984) đã giới thiệu lý thuyết các bên liên quan như một lý thuyết khác biệt với lý thuyết giá trị cổ đông Lý thuyết giá trị cổ đông coi lợi ích của cổ đông được đặt lên hàng đầu và lợi nhuận là điều mà bất cứ công ty nào cũng theo đuổi Còn lý thuyết các bên liên quan cho rằng công ty không chỉ quan tâm đến lợi ích của cổ đông

mà còn phải quan tâm đến lợi ích của các bên liên quan khác Jeswald Salacuse (2004) định nghĩa bên liên quan là các đối tượng bị các hoạt động của doanh nghiệp tác động tới Đó có thể là: Nhà đầu tư, chủ nợ, người lao động, Nhà nước… và cả cổ đông Lý thuyết các bên liên quan cho rằng công ty cần phải cân bằng lợi ích của các bên liên quan Nhưng trong thực tế không thể nào cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan được bởi bản thân các đối tượng này có sự xung đột về lợi ích Ví dụ: Khi kinh doanh thua lỗ, công ty buộc phải cắt giảm chi phí nhân công Như vậy là xung đột giữa lợi ích của cổ đông và người lao động Hoặc doanh nghiệp luôn muốn nộp thuế ít đi nhưng cơ quan thuế lại muốn thu thuế nhiều hơn…

Ngày đăng: 27/10/2019, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w