1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các công ty đa quốc gia và chiến lược phát triển hiện nay

94 730 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các công ty đa quốc gia và chiến lược phát triển hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh quốc tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy sự phát triển và phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế quốc gia, đồng thời dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế thế giới.Các công ty đa quốc gia đã ngày càng phát huy được vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế thế giới. Nói cách khác, trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế, các công ty đa quốc gia đóng vai trò then chốt. Trong toàn cầu hoá kinh tế thế giới, công ty đa quốc gia là động lực quan trọng cho sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá trên toàn thế giới nói chung và cho từng quốc gia nói riêng. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, chúng góp phần nâng cao trình độ, phát triển kỹ thuật, làm biến đổi cơ cấu kinh tế ngành thông qua chuyển giao và nâng cao trình độ công nghệ, mở rộng thị trường, nâng cao trình độ quản lý góp phần tăng trưởng cho các nền kinh tế. Các công ty đa quốc gia cũng có tác động tích cực đến các hoạt động thương mại, đầu tư trực tiếp, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cũng như phát triển các nguồn lực khác.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

PHẦN A: CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 6

1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 6

1.1 Khái niệm 6

1.2 Nguyên nhân ra đời của các công ty đa quốc gia 6

2 CẤU TRÚC VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 7

2.1 Cấu trúc 7

2.2 Đặc trưng 8

2.2.1 Quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động lớn 8

2.2.2 Chiến lược của các công ty đa quốc gia 9

2.2.3 Các công ty đa quốc gia là công ty đa ngành, hoạt động trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực 10

2.2.4 Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn 10

2.2.5 Đặc điểm xu hướng phát triển 10

3 CÁC CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HIỆN NAY CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 11

3.1 Một số công ty đa quốc gia 11

3.2 Các chiến lược phát triển 15

3.2.1 Chiến lược quốc tế (International strategy) 15

3.2.2 Chiến lược đa địa phương (Multidomestic strategy) 16

3.2.3 Chiến lược toàn cầu (Global strategy) 17

3.2.4 Chiến lược xuyên quốc gia (Transnational strategy) 17

PHẦN B: TẬP ĐOÀN TOYOTA VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN 19

1 GIỚI THIỆU CHUNG 19

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 20

1.2 Tình hình hoạt động của Toyota trong những năm gần đây 26

Trang 2

2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HIỆN NAY CỦA TOYATA TRÊN THỊ

TRƯỜNG THẾ GIỚI 29

2.1 Tình hình chung 29

2.2 Các chiến lược phát triển 32

2.2.1 Chiến lược đa địa phương 32

2.2.2 Chiến lược toàn cầu 32

2.2.3 Chiến lược quốc tế hóa 34

2.2.4 Chiến lược xuyên quốc qia 35

2.2.4.1 Khai thác kinh tế địa phương 35

2.2.4.2 Biến đổi sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của địa phương 35

2.2.5 Chiến lược cạnh tranh 36

2.2.6 Chiến lược nhân sự 38

2.2.7 Chiến lược sản xuất 38

3 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HIỆN NAY CỦA TOYOTA TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 40

3.1 Giới thiệu chung về công ty Toyota Việt Nam 40

3.2 Môi trường vĩ mô 42

3.2.1 Kinh tế 42

3.2.2 Dân số 46

3.2.3 Văn hóa- Xã hội 47

3.2.4 Chính trị_ Pháp luật 52

3.2.5 Công nghệ 62

3.2.6 Tự nhiên 62

3.3 Môi trường vi mô 64

3.3.1 Đối thủ cạnh tranh (trong ngành, tiềm tàng) 64

3.3.2 Nhà cung cấp 65

3.3.3 Khách hàng 66

3.3.4 Sản phẩm thay thế 67

3.4 Chiến lược phát triển hiện nay 68

3.4.1 Chiến lược cấp công ty 68

Trang 3

3.4.1.1 Chiến lược hội nhập dọc 68

3.4.1.2 Chiến lược nội địa hóa 69

3.4.1.3 Chiến lược đa dạng hóa có liên kết 70

3.4.2 Chiến lược cấp chức năng 71

3.4.2.1 Chiến lược giá 71

3.4.2.2 Chiến lược phân phối 72

3.4.2.3 Chiến lược marketing 72

3.4.2.4 Chiến lược nhân sự 75

4 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA CHIẾN LƯỢC 76

4.1 Thành công 76

4.2 Thất bại 77

PHẦN C: TỔNG KẾT 80

1 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 80

1.1 Tích cực 80

1.1.1 Thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển 80

1.1.2 Thúc đẩy đầu tư nước ngoài 81

1.1.3 Làm thay đổi cơ cấu thương mại quốc tế 82

1.1.3.1 Thay đổi trong cơ cấu hàng hoá 82

1.1.3.2 Thay đổi trong cơ cấu đối tác 83

1.1.4 Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm 83

1.1.5 Công ty đa quốc gia với hoạt động chuyển giao công nghệ 84

1.2 Tiêu cực 86

2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM 88

3 KIẾN NGHỊ……… 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy sự phát triển và phụ thuộc lẫnnhau của các nền kinh tế quốc gia, đồng thời dẫn đến những thay đổi sâu sắc trongmọi lĩnh vực của nền kinh tế thế giới.Các công ty đa quốc gia đã ngày càng pháthuy được vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế thế giới Nói cách khác, trongquá trình toàn cầu hoá kinh tế, các công ty đa quốc gia đóng vai trò then chốt

Trong toàn cầu hoá kinh tế thế giới, công ty đa quốc gia là động lực quantrọng cho sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá trên toàn thế giới nói chung vàcho từng quốc gia nói riêng Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, chúng góp phầnnâng cao trình độ, phát triển kỹ thuật, làm biến đổi cơ cấu kinh tế ngành thông quachuyển giao và nâng cao trình độ công nghệ, mở rộng thị trường, nâng cao trình độquản lý góp phần tăng trưởng cho các nền kinh tế Các công ty đa quốc gia cũng cótác động tích cực đến các hoạt động thương mại, đầu tư trực tiếp, nghiên cứu khoahọc và phát triển công nghệ cũng như phát triển các nguồn lực khác

Có thể nói rằng, hiện nay các công ty đa quốc gia là chủ thể kinh tế có ảnhhưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc tế, là đầu nối các nền kinh tế quốc gia với nềnkinh tế quốc tế Do đó, việc nghiên cứu về công ty đa quốc gia có ý nghĩa quantrọng cả về lý luận và thực tiễn

Với sự phát triển của thương mại toàn cầu, phạm vi hoạt động của các doanhnghiệp không chỉ giới hạn trong phạm vi biên giới của một quốc gia, mà còn pháttriển mạnh mẽ trên thị trường quốc tế Hoạt động kinh doanh quốc tế phát triểnmạnh mẽ trên toàn thế giới Muốn kinh doanh quốc tế thành công mỗi doanhnghiệp đều lựa chọn cho mình một chiến lược phát triển riêng Có nhiều loại chiếnlược mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn như: sản phẩm, thương hiệu,marketing…

Toyota là một tập đoàn sản xuất ô tô hàng đầu của Nhật Bản, chiến lược mà

họ đã sử dụng chiến lược quốc tế về sản phẩm, sản xuất các loại xe đa dụng trêntoàn cầu nhằm tiết kiệm chi phí và đưa đến cho khách hàng trên toàn thế giới

Trang 5

những mẫu xe đáp ứng nhu cầu phong phú của họ Việc nghiên cứu hoàn cảnh rađời, cách thức thực hiện chiến lược và những thành công mà Toyota đã thu đượcnhờ chiến lược này trên toàn thế giới, cũng như những bài học kinh nghiệm mànhững doanh nghiệp bước vào kinh doanh quốc tế muốn thành công nhờ chiếnhoạch định được những chiến lược tốt

Với mục đích trên nhóm chúng em đã tiến hành tìm hiểu và hoàn thành đềtài tiểu luận “Các công ty đa quốc gia và chiến lược phát triển hiện nay” cụ thể làcác chiến lược phát triển của Toyota Nội dung bài tiểu luận gồm 3 phần chính:

 Phần A: Các công ty đa quốc gia

 Phần B: Tập đoàn Toyota và chiến lược phát triển

 Phần C: Tổng kết

Mặc dù, nhóm chúng em đã rất nỗ lực và cố gắng trong việc thu thập thôngtin, tìm kiếm tài liệu nhưng với những hiểu biết có giới hạn cùng với thời gianchuẩn bị cho bài tiểu luận không dài; mặt khác đây là lần đầu tiên chúng em đượctiếp cận tìm hiểu vế các công ty đa quốc gia nên không thể tránh được những saisót Vì thế, chúng em kính mong nhận được mong sự góp ý và bổ sung quý báu từphía thầy để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn

Nhóm 1

Trang 6

PHẦN A: CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

1.1. Khái niệm

Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational corporation)hoặc MNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất haycung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sáchvượt cả ngân sách của nhiều quốc gia Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớnđến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia Các công ty đaquốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa Một số ngườicho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó

là xí nghiệp liên hợp toàn cầu

Công ty đa quốc gia là Công ty hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khácnhau (khác với Công ty quốc tế: chỉ là tên gọi chung chung của một công ty nướcngoài tại một quốc gia nào đó.)

1.2. Nguyên nhân ra đời của các công ty đa quốc gia

Tiền thân của các công ty đa quốc gia là công ty quốc gia Công ty quốc gianày mang quốc tịch của một nước và vốn đầu tư vào công ty này thuộc quyền sởhữu của các nhà tư bản nước sở tại Việc kinh doanh của họ ngày càng phát triển,hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra ngày càng nhiều và chất lượng cao hơn Từthập niên 80, cùng với xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, các công ty quốcgia tiến hành sáp nhập với nhau tạo thành công ty đa quốc gia

Mục tiêu lớn nhất là tối đa hóa giá trị tài sản công ty nhờ việc khai thác cáctiềm năng tại chỗ như: không ngừng tìm kiếm các nguồn nguyên liệu và nhân côngvới giá cả so sánh, tìm kiếm những ưu đãi về thuế, bảo vệ tính độc quyền đối vớicông nghệ hay bí quyết sản xuất ở một ngành không muốn chuyển giao cũng là lý

do mở rộng khu vực sản xuất

Trang 7

Sự liên kết giữa các công ty quốc gia nhằm tăng khả năng bảo vệ trướcnhững rủi ro

Ví dụ, rủi ro trong mua bán hàng hóa như vận chuyển, bảo hiểm, chu kỳcung cầu,… Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chínhquyền địa phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá lạm phát, chính sách, quản lý ngoạihối, thuế, khủng hoảng nợ… Giảm thiểu sự không ổn định của chu kỳ kinh doanhnội địa, chống lại chính sách bảo hộ mậu dịch ở các nước, bảo vệ thị phần, giảm chiphí trung gian đáp ứng nhanh nhu cầu người tiêu dung

Cuối cùng là, các công ty đa quốc gia có thể sử dụng các công nghệ chế tạotrực tiếp sản xuất theo bằng sáng chế (một bên là nhà cung cấp cho phép sử dụngbằng sáng chế, một bên trả phí định kỳ cố định và gia tăng theo sản xuất), điều nàycho phép họ độc quyền sản xuất và trực tiếp bán sản phẩm ở nước ngoài

Cạnh tranh gay gắt thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật, nhiều ngành kỹnghệ mới ra đời như công nghệ sinh học, điện tử, người máy…đòi hỏi nhiều vốn,nhiều kỹ thuật cao cấp, công ty một quốc gia không thể đủ sức đáp ứng cho nên sự

ra đời của công ty đa quốc gia là cần thiết

2 CẤU TRÚC VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

Trang 8

 Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khácnhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft).Một số khác cho rằng đặc điểm cơ bản của các công ty đa quốc gia là bộphận không trực tiếp làm việc với khách hàng, tiếng Anh: back-office, (ví dụ cungcấp nguyên liệu, tài chính và nguồn nhân lực) ở mỗi quốc gia mà nó hoạt động Cáccông ty đa quốc gia đã tạo ra một phiên bản nhỏ của chính nó ở mỗi công ty Xínghiệp liên hợp toàn cầu mà một số người cho rằng sẽ là giai đoạn tiếp theo trongtiến trình phát triển của công ty đa quốc gia thì không có đặc điểm này.

2.2. Đặc trưng

2.2.1 Quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động lớn

Sở hữu của các công ty đa quốc gia là sở hữu có tính chất đa chủ và đa quốctịch thể hiện ở sự tham gia của nhiều chủ sở hữu ở các nước khác nhau đối với tàisản của công ty được phân bổ trên phạm vi toàn cầu

Quyền sở hữu tập trung: các chi nhánh, công ty con, đại lý trên khắp thế giớiđều thuộc quyền sở hữu tập trung của công ty mẹ, mặc dù chúng có những hoạtđộng cụ thể hằng ngày không hẳn hoàn toàn giống nhau

Đặc trưng khác của các công ty đa quốc gia là có chung nguồn tài trợ, baogồm tài sản, văn bằng bảo hộ, nhãn hiệu hàng hóa và nhân lực Vì các công ty con

là của một công ty, họ có nguồn tài trợ nội bộ mà không dành cho bên ngoài

Các công ty đa quốc gia thường sở hữu các yếu tố có tính cốt lõi và quyếtđịnh đối với quy trình sản xuất: vốn đầu tư, bí quyết công nghệ, các kỹ năng quảntrị và mạng lưới hoạt động toàn cầu Do đó, tạo khả năng sinh lợi rất lớn và mangtính tiên phong nhằm tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ

Về lao động, các công ty đa quốc gia thường thu hút một lượng lớn lao động

ở chính quốc và các quốc gia khác Ví dụ, tập đoàn Air France ( Pháp) bao gồm 16công ty con với 45000 lao động, tập đoàn Danone ( Pháp) có 81000 nhân viên…

Trang 9

2.2.2 Chiến lược của các công ty đa quốc gia

Các công ty đa quốc gia thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị,điều hành và kinh doanh có tính toàn cầu Tuy nhiên, các công ty đa quốc gia có thể

có nhiều chiến lược và kỹ thuật hoạt động đặc trưng để phù hợp với từng địaphương nơi nó có chi nhánh

Những công ty con của họ phải chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố môitrường: đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung ứng, định chế tài chính và chínhphủ Một vài trường hợp, những lực lượng này hoạt động trên cả môi trường chínhquốc và nước ngoài Ví dụ: nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường Mỹ cũng giốngnhư trên thị trường Châu Âu như Ford, Chrysler, Honda, Volkwagen, và Volvo vớinhững đối thủ khác nhau Tương tự, công ty thường thuê các nhà cung cấp nướcngoài như nhau

Những công ty con có chung chiến lược Mỗi công ty đa quốc gia sẽ thể hiệnchiến lược của mình để các công ty cùng phát triển một cách hài hòa Những kếhoạch như vậy sẽ khác nhau trong công ty đa quốc gia Đôi khi, kế hoạch tập trungđược thảo ra, lúc khác thì kế hoạch phân tán được sử dụng

Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong công ty đa quốc gia nhằm mục tiêuquan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về vốn phục vụ kinh doanh Vì vậysau khi thành lập công ty đa quốc gia, các công ty thành viên phát triển nhanh hơn,tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ đó tổng tài sản cũng tăng lênđáng kể

2.2.3 Các công ty đa quốc gia là công ty đa ngành, hoạt động

trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực

Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng,bảo hiểm, nghiên cứu ứng dụng về khoa học công nghệ…là xu hướng có tính quyluật cùng với sự phát triển của các công ty đa quốc gia Ví dụ, Mitsubishi ban đầuchỉ hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo nhưng nay đã hoạt động trong các lĩnhvực như khai khoáng, luyện kim, hóa chất, luyện kim, ngân hàng,…

Trang 10

Với sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa các lĩnh vực có liên quan trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh và sự liên kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất đãtăng thêm lợi thế so sánh cho các công ty đa quốc gia trong việc mở rộng địa bànhoạt động và gia tăng lợi nhuận.

2.2.4 Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn

Về cơ cấu tổ chức, được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện và hiệpthương Cần nhấn mạnh, công ty đa quốc gia không phải là một doanh nghiệp,không có tư cách pháp nhân độc lập Do đó các mệnh lệnh hành chính không được

sử dụng trong điều hành các công ty đa quốc gia Các doanh nghiệp là thành viêncủa công ty đa quốc gia đều có pháp nhân độc lập, có cơ quan quyền lực cao nhấtnhư hội đồng thành viên, đại hội cổ đông

Sở hữu vốn của công ty đa quốc gia cũng rất đa dạng Trước hết vốn trongcông ty đa quốc gia là do các công ty thành viên làm chủ sở hữu, bao gồm cả vốn

tư nhân và vốn nhà nước Quyền sở hữu vốn trong công ty đa quốc gia cũng tùythuộc vào mức độ phụ thuộc của các công ty thành viên vào công ty mẹ

2.2.5 Đặc điểm xu hướng phát triển

Thay đổi trong lĩnh vực đầu tư: trong hoạt động đầu tư của mình có sựchuyển dịch từ công nghiệp khai thác tài nguyên sang công nghiệp chế biến sảnphẩm, đem lại giá trị cao hơn; từ công nghiệp thâm dụng lao động nhiều chuyểnsang đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều kĩ thuật và công nghệ mới và sang cácngành dịch vụ điện tử, dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng, y tế, giáo dục…

Các công ty đa quốc gia ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự pháttriển của kinh tế thế giới: Hiện nay các công ty đa quốc gia chiếm đến 2/3 trị giáthương mại quốc tế, chiếm 4/5 tổng giá trị đầu tư FDI; 9/10 thành quả nghiên cứukhoa học và chuyển giao kĩ thuật của thế giới; chiếm 95% hoạt động XNK lao độngquốc tế… và các công ty đa quốc gia đóng vai trò trọng yếu trong đẩy nhanh quốc

tế hóa đời sống kinh tế toàn cầu, biến mỗi nước trở thành một bộ phận của kinh tếthế giới

Trang 11

Mở rộng các hình thức liên kết kinh tế để tăng cường khả năng cạnh tranh:

Để mở rộng phạm vi thế lực, tăng sức cạnh tranh phù hợp với bước phát triển mớicủa kinh tế và kĩ thuật, cùng với chiến lược sáp nhập, các công ty đa quốc gia lớncòn đẩy mạnh hoạt động liên hợp Đó là sự thiết lập quan hệ hợp tác giữa hai hoặcnhiều công ty đa quốc gia ngang sức cùng hoặc khác quốc tịch nhằm thực hiện mụctiêu nào đó

Đa dạng hóa và chuyên môn hóa cao độ là một xu hướng chiến lược mới củamỗi công ty đa quốc gia: Các công ty thông qua sản xuất nhiều chủng loại sảnphầm hoặc thỏa mãn nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau để giảm bớt rủi ro, tìm kiếm

cơ hội kinh doanh mới, đối phó với tình trạng kinh tế thế giới tăng trưởng chậm,nhu cầu thị trường giảm sút Một số khác lại “ thu hẹp chiến tuyến”, loại bỏ cáchoạt động sản xuất “ngoại vi”, dốc toàn lực phát huy thế mạnh chuyên môn củamình

3 CÁC CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HIỆN NAY CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

3.1. Một số công ty đa quốc gia

Các công ty đa quốc gia (MNCs) ngày càng đóng vai trò quan trọng và chủđạo trong các quan hệ kinh tế thế giới Tính đến năm 2004, toàn thế giới có khoảng63.000 công ty đa quốc gia với trên 800.000 chi nhánh Các công ty đa quốc giahiện chi phối hơn 80% giá trị thương mại quốc tế, chiếm hơn 90% tổng giá trị vốnđầu tư và thành tựu khoa học, công nghệ trên thế giới Với sức mạnh ngày cànglớn, các công ty đa quốc gia ngày càng mở rộng ảnh hưởng, duy trì và nâng caoquyền lực kiểm soát trong các lĩnh vực quan trọng như tài chính, công nghệ, dịch

vụ và lao động Các công ty xuyên quốc gia chính là một nhân tố cực kỳ quan trọnggóp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình toàn cầu hóa kinh tế Trong hơn mộtthập kỷ gần đây, các công ty xuyên quốc gia đã tăng cường hoạt động mua lại vàsáp nhập (M & A), hình thành các công ty quốc tế khổng lồ có ảnh hưởng ngày

Trang 12

càng lớn đến quá trình phân công lao động quốc tế, trong đó phải nói đến một sốcông ty đa quốc gia có danh tiếng lớn như sau:

Google: Là gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm Google đã được hàng tỷ

người trên toàn thế giới biết đến và sử dụng hàng ngày Hầu hết số người được hỏiđều cho biết, họ đánh giá cao công ty này vì

có môi trường làm việc tuyệt vời, cách thức

kinh doanh cởi mở, minh bạch và quan

trọng hơn là những cam kết của công ty về

việc cải thiện xã hội

Apple: Công ty này nổi tiếng bởi luôn không

ngừng đổi mới sản phẩm, lại được điều hành bởi độingũ nhà lãnh đạo tài giỏ i, do đó, công ty khôngngừng phát triển, lợi nhuận gia tăng

BMW: Là một cô ng ty chuyên sản xuất dòng xe hơi

xa xỉ, không có gì đáng ngạc nhiên khi BMW được

cho là “có tiếng” bởi luôn tạo ra những sản phẩm

hoàn hảo cộng với phần dịch vụ đi kèm thỏa mãn

được nhu cầu cao của khách hàng

Sony: Là một công ty sản xuất hàng đầu trong

lĩnh vực điện tử với nhiều chủng loại hàng hóa

từ máy tính sách tay, điện thoại di động đến ti vi,thương hiệu Sony nổi tiếng và được biết đếnrộng rãi trên toàn thế giới

Intel (Integrated Electronics): Thành lập

năm 1968 tại Santa Clara, California, Hoa Kỳ, là

Trang 13

nhà cung cấp chip lớn nhất thế giới, Intel nổi tiếng bởi chất lượng sản phẩm và uytín của mình Intel luôn là lựa chọn đối tác hàng đầu của nhiều công ty sả n xuấtmáy tính hàng đầu thế giới.

Microsoft là một tập đoàn công nghệ máy tính

đa quốc gia có trụ sở tại Mỹ Tập đoàn này hiện cótới 89.000 công nhân viên tại 102 quốc gia trêntoàn thế giới Tổng doanh thu năm 2010 của hãngđạt 69.900 triệu USD Tập đoàn này phát triển, giacông, và cấp bản quyền cho các phần mềm phục

vụ trong máy tính Hiện hãng đang có trụ sở ở nhiều nước trên thế giới như Anh,Đan Mạch, Canada, Đức, Ấn Độ…

Unilever: Là một công ty đa quốc gia, được Anh và Hà Lan thành lập.

Unilever là tập đoàn của Anh và Hà Lan chuyên sản

xuất các mặt hàng tiêu dùng như mỹ phẩm, hóa chất

giặt tẩy,kem đánh răng, dầu gội,thực phẩm Đối thủ

cạnh tranh chủ yếu của Unilever là hãng Procter &

Gamble, Nestlé, Kraft Foods, Mars Incorporated,

Reckitt Benckiser và Henkel Công ty này sở hữu

nhiều công ty sản xuất hàng tiêu dùng, thực phẩm, sản phẩm giặt tẩy, mỹ phẩm củathế giới

IBM (International Business Machines): Là

một tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia có trụ

sở tại Armonk, New York, Mỹ IBM được thành lậpnăm 1911 tại Thành phố New York, lúc đầu có tên làComputing Tabulating Recording (CTR) và đổi thànhInternational Business Machines vào năm 1924 IBM là nhà sản xuất và bán phầncứng, phần mềm máy tính, cơ sở hạ tầng, dịch vụ máy chủ và tư vấn trong nhiềulĩnh vực từ máy tính lớn đến công nghệ na nô

Trang 14

McDonald's là một tập đoàn kinh doanh hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh

với khoảng 31.000 nhà hàng tại 119 quốc gia phục

vụ 43 triệu lượt khách mỗi ngày Dưới thương hiệu

của mình, hiện hệ thống các nhà hàng của

McDonald’s đã phủ khắp toàn cầu từ Argentina, Bỉ,

Brazil, Trung Mỹ, Colombia, Đan Mạch, Pháp,

Ireland, Italy, Mexico, Na Uy, Peru, Thụy Sĩ, Hà

Lan, Anh Quốc, Uruguay và Venezuela

Walt Disney Sự kiện chính năm 2011: Kênh ESPN của Walt Disney cung

cấp dịch vụ cho 100 triệu hộ gia đình Walt Disney đạt kết quả kinh doanh tốt dựatrên tiền đề quan trọng là một đội ngũ điều hành giỏi Hãng luôn tập trung vào việccải thiện hiệu quả của những mảng kinh doanh mà hãng thông thạo Walt Disneygần đây đã bổ sung thêm một số kênh truyền hình mang tên ESPN nhằm tận dụng

lợi thế cái tên của kênhtruyền hình nổi tiếng hàngđầu trong lĩnh vực thể thaonày Việc kênh truyềnhình thiếu nhi Disney giữnguyên được sự trongsáng như những ngày đầuđược giới thiệu cách đây 10 năm cũng được đánh giá là một thành tích lớn Hãngnghiên cứu thương hiệu Interbrand xem Disney là thương hiệu có giá trị lớn thứ 9trên thế giới, định giá ở mức 29 tỷ USD, chỉ kém chút ít so với thương hiệu Apple.Điều này cho phép Walt Disney dễ dàng quảng bán những sản phẩm khác như côngviên chủ đề, phim ảnh và cửa hiệu Disney

Trang 15

3.2. Các chiến lược phát triển

3.2.1 Chiến lược quốc tế (International strategy)

Công ty đa quốc gia áp dụng chiến lược quốc tế cố gắng tạo giá trị bằngcách chuyển kỹ năng và sản phẩm có giá trị sang thị trường nước ngoài nơi mà đốithủ cạnh tranh thiếu kỹ năng và những sản phẩm đó Hầu hết công ty quốc tế tạogiá trị bằng cách chuyển sản phẩm của mình từ trong nước sang thị trường mới Họtập trung chức năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) Tuy nhiên, họ cũng

có xu hướng phát triển sản xuất và marketing trong mỗi quốc gia chủ yếu mà họkinh doanh Trong khi đó thực hiện biến đổi sản phẩm theo địa phương và chiếnlược marketing bị giới hạn Đồng thời văn phòng chính duy trì kiểm soát chặt chẽchiến lược marketing và sản phẩm ở hầu hết các công tyquốc tế

Công ty đa quốc gia như Toys R Us, Mc Donald’s, IBM, Kellogg, Procter&Gamble, Wal-mart, và Microsoft Microsofl phát triển kiến trúc hạt nhân cho sảnphẩm ở cơ sở Redmond bang Washington và cũng viết một khối lượng lớn mã củamáy tính ở đây Tuy nhiên, công ty cho phép công ty con phát triển chiến lượcmarketing và phân phối và biến đổi các khía cạnh của sản phẩm với sự khác nhaucăn bản của địa phương như là ngôn ngữ và kí tự Procter&Gamble có các cơ sởsản xuất truyền thống ở thị trường chính ngoài Mỹ, bao gồm Anh, Đức và Nhật.Sản phẩm của những cơ sở sản xuất khác nhau này được phát triển bởi công ty mẹ

ở Mỹ và thường đưa ra thị trường sử dụng thông điệp phát triển ở Mỹ Lịch sử chothấy, sự đáp ứng yêu cầu địa phương ở P&G có giới hạn

Chiến lược truyền thống có ý nghĩa nếu một công ty có cạnh tranh hạt nhân

có giá trị mà các đối thủ nước ngoài thiếu, và nếu công ty đối mặt với áplực yếu đốivới yêu cầu của địa phương và giảm chi phí Trong những tình huống như vậy,chiến lược quốc tế rất có giá trị Tuy nhiên, công ty áp dụng chiến lược này nhấnmạnh vào sự tùy biến sản phẩm đề nghị và chiến lược thịtrường đối với điều kiệnđịa phương Theo sự hình thành một cơ sở tương tự,công ty áp dụng chiến lược

Trang 16

quốc tế chịu chi phí hoạt động cao Điều này làmcho chiến lược không thích hợptrong ngành công nghiệp mà áp lực chi phí cao.

3.2.2 Chiến lược đa địa phương (Multidomestic strategy)

Công ty áp dụng chiến lược đa thị trường nội địa thường hướng đến đáp ứngyêu cầu địa phương tối đa Sự phân biệt giữa đặc điểm của công ty đa thị trườngnội địa (multidomestic firms) là họ tùy biến sản phẩm đề nghị và chiến lượcmarketing để đáp ứng yêu cầu địa phương Như kết quả, họ thường không có khảnăng để nhận ra giá trị từ tác động của đường cong kinh nghiệm và kinh tế vùng.Nhiều công ty đa thị trường nội địa có cơ cấu chi phí cao Họ thực hiện công việccạnh tranh hạt nhân trong công ty

General Motor là ví dụ tốt về công ty đa thị trường nội địa, đặc biệt liênquan đến mở rộng hoạt động của châu Âu Chiến lược đa thị trường nội địa có ýnghĩa nhất khi có áp lực cao cho đáp ứng địa phương và áp lực chi phí thấp Cơ câuchi phí cao ứng với thànhlập một cơ sở sản xuất tương tự làm cho chiến lược nàythích hợp với ngànhcông nghiệp mà áp lực chi phí mạnh mẽ

Một điểm yếu nữa của chiến lược nàylà nhiều công ty đa thị trường nội địa

đã phát triển liên hoàn không tập trung (decentralised federations) theo đó mỗicông ty con ở mỗi quốc gia sản xuất một bộ phận của xe hơi Họ thường thiếu khảnăng để chuyển những kỹ năngvà sản phẩm thu được từ cạnh tranh hạt nhân đếncông ty con Điều này là ví dụ minh họa bởi sự thất bại của Philips NV thành lậpVCR định dạng V2000 nhưlà thiết kế độc quyền trong ngành công nghiệp VCRtrong cuối thập niên 70 Công ty con của Philips ở Mỹ từ chối chấp nhận V2000định dạng; thay vào đóhọ mua VHS format VCRs của Matsushita và đính nhãnhiệu của họ lên đó

3.2.3 Chiến lược toàn cầu (Global strategy)

Công ty áp dụng chiến lược toàn cầu tập trung vào tăng lợi nhuận bằng cáchgiảm chi phí từ các hoạt động đường cong kinh nghiệm và kinh tế vùng Đó là họ

áp dụng chiến lược giảm giá Sản xuất, marketing và hoạt động nghiên cứu và phát

Trang 17

triển R&D của công ty áp dụng chiến lược toàn cầu tập trung vào một địa điểmthích hợp Công ty toàn cầu không biến đổi sản phẩm đề nghị và chiến lượcmarketing theo điều kiện của vùng bởi vì sự biến đổi này tăng chi phí Thay vào đó,công ty toàn cầu thích đưa ra thị trường sản phẩm tiêu chuẩn toàn cầu để gặt hái lợinhuận tối đa từ qui mô kinh tế theo đường cong kinh nghiệm Họ cũng sử dụng lợithế chi phí để hỗ trợ giá trên thị trường thế giới Chiến lược này cũng có ý nghĩakhi có áp lực mạnh để giảm phí và nơi mà nhu cầu đáp ứng yêu cầu địa phươngthấp Những điều kiện này phổ biến ở nhiều ngành công nghiệp Ngành côngnghiệp chất bán dẫn, mà nhu cầu khổng lồ xuất hiện đối với sản phẩm chuẩn hóatoàn cầu Những công ty như là Intel, Texas Instrument và Motorola áp dụng chiếnlược này Tuy nhiên, như chúng ta đề cập từ đầu, những điều kiện này không tìmthấy ở các thị trường sản phẩmtiêu dùng, nơi mà nhu cầu cho đáp ứng yêu cầu địaphương cao Chiến lược này không thích hợp khi nhu cầu cho đáp ứng yêu cầu địaphương là rất cao.

3.2.4 Chiến lược xuyên quốc gia (Transnational strategy)

Môi trường ngày nay điều kiện cạnh tranh quá mạnh trên thị trường toàncầu, công ty phải khám phá kinh tế chi phí dựa trên kinh nghiệm và kinh tế vùng,

họ phải chuyển cạnh tranh hạt nhân trong công ty, và họ phải làm tất cả để tậptrung vào áp lực đáp ứng yêu cầu địa phương Họ nêu rằng xí ghiệp kinh doanhhiện đại, cạnh tranh hạt nhân không chỉ có ở nước nhà Họ có thể phát triển ở bất

cứ hoạt động nào của công ty Vì vậy, họ duy trì dòng chảy của kỹ năng lao động

và sản phẩm đề nghị không chỉ trong một cách thức, từ công ty nước chính quốcsang công ty con ở nước ngoài, như trường hợp của công ty áp dụng chiến lượcquốc tế Hơn nữa, dòng chảy dòng chảy này cũng sẽ từ công ty con đến chính quốc

và từ công tycon này sang công ty con nước ngoài khác- quá trình này được xem làhọc tập toàn cầu (global learning) Bartlett và Ghoshal đưa ra chiến lược áp dụng đểđạt đồng thời tất cả mục tiêu như là chiến lược xuyên quốc gia(transitionalstrategy)

Trang 18

Chiến lược xuyên quốc gia có nghĩa là khi một công ty đối mặt với áp lựcgiảm chi phí cao và áp lực cao với đáp ứng yêu cầu địa phương Một công ty ápdụng chiến lược chuyển đổi cố gắng đạt mục tiêu chi phí thấp và lợi thế khác nhau.Như chúng ta thấy, chiến lược này không dễ

Trang 19

PHẦN B: TẬP ĐOÀN TOYOTA VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

1 GIỚI THIỆU CHUNG

 Tên công ty: Toyota Motor Coporation

 Người sáng lập: Kiichiro Toyoda

 Chủ tịch kiêm CEO: Akio Toyoda

 Trụ sở:

 Trụ sở chính: 1 Toyota-Cho, Toyota, Nhật Bản

 Trụ sở tại Tokyo: 1-4-18 Koraku, Bunkyo-ku, Tokyo, Nhật Bản

 Trụ sở tại Nagoya: 4-7-1 Meieki, Nakamura-ku, Nagoya,AichiPrefecture, Nhật Bản

 Logo:

Trang 20

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Toyota Motor Corporation thường gọi là Toyota là một công ty đa quốc gia

có trụ sở tại Nhật Bản, hiện là công ty lớn thứ hai trên thế giới sau tập đoàn ôtôkhổng lồ General Motors, Mỹ, và là công ty đứng đầu thị trường ôtô Việt Nam,thành công của Toyota bắt nguồn từ sự kết hợp giữa tài năng kinh doanh thiên bẩm

và những sắc màu văn hoá truyền thống của người Nhật Bản

Sự ra đời và phát triển của thương hiệu Toyota gắn liền với dòng họ Toyoda,thuộc quận Aiichi, cách thủ đô Tokyo hơn 300 km về phía đông nam Năm 1936,gia đình Sakichi Toyoda có ý tưởng thành lập công ty chuyên sản xuất ôtô khi họgiành được một trong hai giấy phép sản xuất ôtô của chính phủ Nhật Bản

Thương hiệu Toyota ra đời từ đó và tháng 4/1937, Toyota chính thức đượcđăng ký bản quyền thương mại

Chiến lược kinh doanh đúng đắn mang lại cho Toyota những thành côngvượt bậc về mặt thương mại, bên cạnh đó là sự phát triển vượt bậc về công nghệsản xuất ôtô Toyota không có nhiều bằng phát minh sáng chế như General Motorshay Ford Motor Company, tuy nhiên, chất lượng của sản phẩm mang thương hiệuToyota luôn được đảm bảo ở mức độ cao nhất bởi Toyota sở hữu những kỹ sư,chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ ôtô thế giới

Sakichi, một nhà phát minh đa tài, đã tạo ra công ty Toyoda AutomaticLoom dựa vào những thiết kế sáng tạo của mình và một trong số đó đã được báncho một người Anh với giá 1 triệu yên Số tiền này giúp ông có vốn thành lập công

ty ôtô Toyota Công ty cũng có một phần vốn của nhà nước nhằm phục vụ các mụcđích quân sự Trước đây, người Nhật dựa chủ yếu vào xe tải nhập từ nước ngoài đểphục vụ chiến tranh tại Manchuria nhưng khi kinh tế suy thoái thì ngân quỹ choviệc này cũng trở nên ít hơn Những sản phẩm trong nước sẽ giúp giảm giá thành,tạo công ăn việc làm và sẽ từng bước làm cho quốc gia đó tự chủ hơn Đến năm

1936, sau những thành công mà Toyota đạt được, chính phủ Nhật yêu cầu bất kỳ

Trang 21

công ty ôtô nào bán sản phẩm của mình trong nước đều phải có một phần lớn vốncủa các cổ đông trong nước và gần như ngừng tất cả việc nhập khẩu

Hoạt động sản xuất ôtô của Toyoda do Kiichiro Toyoda, con trai của SakichiToyoda phụ trách Lúc đầu, họ nghiên cứu thử nghiệm động cơ 2 xylanh nhưngcuối cùng lại sử dụng mẫu động cơ 65 mã lực của Chevrolet, Chassis và hộp sốgiống của chiếc Chrysler Airflow Động cơ đầu tiên của hãng được sản xuất năm

1934 (Type A), chiếc ô tô và xe tải đầu tiên vào năm 1935 (mẫu A1 và G1) và mẫuthiết kế ô tô thứ 2 vào năm 1936 (mẫu AA) Năm 1937, công ty ô tô Toyota đượctách ra

Từ năm 1936 đến 1943, công ty chỉ sản xuất 1757 xe ô tô, trong đó có 1404chiếc sedan và 353 chiếc xe ngựa (mẫu AB) Tuy nhiên, Toyota lại thành công hơntrong lĩnh vực sản xuất xe tải và xe bus Chiếc Toyota KB, một chiếc 4x4 được sảnxuất năm 1941, là một chiếc xe tải 2 tấn giống như chiếc KC trước chiến tranh; nó

có khoang chứa đố 1,5 tấn và có thể chạy với vận tốc 69 km/h Chiếc GB được pháttriển dựa trên chiếc G1 1,5 tấn, và sau đó nó được sản xuất dựa trên mẫu ôtô A1

Chiếc xe tải đầu tiên của Toyota có thiết kế 1,5 tấn và sử dụng động cơ 6xylanh giống với phiên bản của động cơ Chevrolet cùng thời Thật ra, nhiều bộphận của xe có thể đổi qua lại và chiếc những chiếc xe tải của Toyota bị thu giữtrong chiến trang được phe Đồng minh thay thế các bộ phận của Chevrolet vào sửdụng Cũng có phiên bản động cơ 4 xylanh 40 mã lực rất giống với thiết kế củađộng cơ 6 xylanh, nhưng nó có vẻ hơi yếu cho một chiếc xe tải khi chở đủ tải

Sau chiến tranh: một thời kỳ phát triển nhanh chóng Tháng 10/1945, Toyotađược quân đội Mỹ cho phép bắt đầu lại công việc sản xuất Toyota tham gia mộtchương trình huấn luyện của Bộ Chiến tranh của Mỹ về phát triển quá trình sảnxuất và công nhân Chương trình này được Mỹ bãi bỏ vào năm 1945, nhưng nó vẫntồn tại ở Nhật khi Taiichi Ohno xây dựng triết lý kinh doanh và dựa việc sản xuấtvào nó

Trang 22

Sau Thế chiến thứ 2, Toyota bận rộn với việc chế tạo xe tải, nhưng đến năm

1947, hãng bắt đầu sản xuất mẫu SA được gọi là Toyopet, một cái tên gắn bó vớiToyota trong nhiều thập kỷ với nhiều mẫu ô tô khác nhau Toyopet không phải làmột chiếc xe mạnh mẽ khi động cơ chỉ có 27 mã lực và tốc độ tối đa đạt 88 km/h,nhưng nó có giá thành rẻ và đặc biệt thích hợp với những con đường bị bom đạntàn phá trong chiến tranh Trong 5 năm đã có 215 chiếc SA Toyopet được sản xuất.Mẫu SD, một phiên bản cho xe taxi, có lẽ đạt được nhiều thành công hơn khi có

194 chiếc được sản xuất trong 2 năm Mẫu SF Toyopet là chiếc ô tô thật sự phổbiến đầu tiên của Toyota với động cơ được cải tiến và có thêm phiên bản cho xetaxi Mẫu RH với động cơ 48 mã lực được ra đời ngay sau đó Đến năm 1955,Toyota đã sản xuất được 8400 xe mỗi năm và con số này tăng lên 600.000 xe trongnăm 1965

Ngoài những mẫu xe này, Toyota còn bắt đầu sản xuất một mẫu xe tải chodân thường với tên gọi Land Cruiser Những chiếc Land Cruiser đầu tiên có thiết kếgiống chiếc Jeep và được sản xuất dựa chủ yếu vào chiếc xe chở vũ khí 0,5 tấn củaDodge và chiếc Bantam (phiên bản trước của chiếc Jeep) Chúng sử dụng động cơlớn hơn chiếc Jeep và có kích cỡ cũng như thông số giống một chiếc xe chở vũ khícủa Dodge

Năm 1955, Toyota bắt đầu sản xuất chiếc xe sang trọng đầu tiên của mình

Đó chính là chiếc Crown, sử dụng động cơ 4 xylanh dung tích 1.5 lít và hộp số 3cấp; sau đó là chiếc Corona với động cơ dung tích 1.0 lít Năm 1955, chỉ có 700 xeđược sản xuất mỗi tháng, nhưng con số này nhanh chóng tăng lên 11.750 xe năm

1958 và 50.000 xe năm 1964

Khởi đầu của việc phát triển ra thế giới Toyota bắt đầu bán các sản phẩmcủa mình tại thị trường Mỹ năm 1958 với việc xuất khẩu chiếc Land Cruiser vàToyopet Doanh số của Land Cruiser cao hơn Toyopet, tuy nhiên cả hai vẫn khôngđạt được con số mong muốn Toyota quyết định rút Toyopet ra khỏi thị trường Mỹ

Trang 23

và thiết kế lại một mẫu xe khác dành riêng cho thị trường này – một chiến lược dẫnđến sự ra đời của Avaton và Camry

Năm 1959, Toyota mở nhà máy tại Bra-xin Đây là nhà máy đầu tiên củahãng ngoài lãnh thổ Nhật Bản Từ thời điểm này, Toyota duy trì một triết lý là sẽ

“địa phương hóa” thiết kế và khâu sản xuất của mình để phù hợp với điều kiệnđường sá, thời tiết và kinh tế của dân địa phương Điều này còn có nghĩa là Toyotokhông chỉ sản xuất ô tô ở nước ngoài mà còn thiết kế và thử nghiệm chúng tại đó.Trong chiến lược này, Toyota đã xây dựng đượng mối quan hệ lâu dài với các nhàcung ứng và lao động địa phương

Sản phẩm được “Mỹ hóa” đầu tiên của Toyota là chiếc Tiara, hay thườngđược biết đến với cái tên Toyota Corona PT20, ra đời năm 1964 Chiếc xe 6 chỗnày được trang bị động cơ 70 mã lực và có thể đạt vận tốc tối đa 144 km/h và cónội thất rất thoải mái Một năm sau, chiếc Corona xuất hiện với giá dưới $2000.Doanh số bán ra đạt 6400 chiếc trong năm 1965 và tăng lên 71.000 năm 1968 vàgần như tăng gấp đối mỗi năm khi đạt 300.000 chiếc vào năm 1971 Cuối nhữngnăm 1950, Toyota chỉ là một công ty rất bé trên thế giới Đến năm 1963, nó trởthành hãng không phải của Mỹ lớn thứ 93 trên thế giới và năm 1966 đứng thứ 47(trong thời gian này, Toyota trở thành công ty lớn thứ 6 tại Nhật và là nhà sản xuất

ô tô lớn thứ 10 trên thế giới) Năm 1967, Corona có giá bán rất cạnh tranh là $1760với sự hài hòa về hiệu suất, tiện nghi và mức độ tiết kiệm nhiên liệu

Đến năm 1967, Toyota đã phát triển bền vững tại Mỹ và chiếc Corona sedan

4 cửa của hãng là đối thủ chính của chiếc Volkswagen Bettle Ngay từ đầu, Corona

đã nổi tiếng là một chiếc xe có chất lượng và giá thành rẻ, tuy nhiên đến cuốinhững năm 1970, xe gặp vấn đề nghiêm trọng là bị han rỉ Một số chiếc Corona bịhan rỉ đến ½ xe trước khi nó “đủ già” để gặp phải những vấn đề về cơ khí

Năm 1967, Toyota giới thiệu một mẫu xe mới khác đến thị trường Mỹ, chiếcCrown, với phiên bản wagon và sedan Xe được trang bị động cơ 6 xy lanh hoàntoàn mới với công suất 115 mã lực (tổng cộng)/5200 vòng/phút Động cơ này tuy

Trang 24

nhỏ nhưng nó có hệ thống nạp được cải tiến, piston hình bán cầu và sử dụng hợpkim nhẹ Crown sử dụng hộp số tay 4 cấp (vào thời điểm đó hộp số tay 3 cấp rấtthông dụng) hay hộp số tự động 2 cấp (mặc dù đa số người Mỹ đã quen với hộp số

tự động 3 cấp) Một điểm bất thường nữa của chiếc Crown là đai an toàn 3 điểm vàghế ngồi không thoải mái Chiếc Crown không bao giờ có doanh số bán cao nhấtnhưng vẫn tốt hơn nhiều so với những xe ngoại nhập khác cùng phân khúc Phiênbản sedan của Crown được bán với giá $2653 còn phiên bản wagon là $2785 Điểmmạnh của Crown là hoạt động êm ái và nội thất yên tĩnh

Ngay sau đó, Toyota mang đến thị trường Mỹ chiếc xe 2000 GT danh tiếng

có ngoại hình giống những chiếc xe thể thao của Anh với mui xe lớn và gần nhưkhông có cabin hay cốp xe Xe được trang bị động cơ 6 xylanh dung tích 150 mãlực và hộp số tay 5 cấp; và đến năm 1966 nó đã lập được 16 kỷ lục thế giới về tốc

độ và độ bền Chiếc 2000GT có thời gian tăng tốc từ 0 lên 96 km/h khá chậm, hơn

10 giây Tuy nhiên, xe có thể vượt qua đoạn đường 400 mét trong 15,9 giây (gầnbằng với chiếc Neon 1995) và rất ổn định ở những khúc cua

Chiếc Corolla, một chiếc xe nhỏ được yêu thích tại Mỹ, xuất hiện tại thịtrường Mỹ lần đầu vào năm 1969, 2 năm sau khi nó được sản xuất tại thị trườngNhật; và tiếp sau đó là những chiếc pickup nhỏ nổi tiếng nhờ sợ ổn định, bền bỉ vàđáng tin cậy

Tóm lược quá trình hình thành và phát triển của Toyota

 1867 Sakichi Toyoda ra đời

 1924 Sakichi Toyoda phát minh Toyoda Loom mẫu G tự động

 1929 bằng sáng chế máy dệt tự động được bán cho một công ty Anh

 1930 Kiichiro Toyoda bắt đầu nghiên cứu về động cơ chạy xăng nhỏ

 1933 Sở ô tô được thành lập tại Toyoda Automatic Loom Works Ltd

 1934 Động cơ đầu tiên được sản xuất (Type A)

Trang 25

 1935 Chiếc ô tô và xe tải đầu tiên (mẫu A1 và G1)

 1936 Mẫu thiết kế ô tô thứ 2 (mẫu AA) được hoàn thành

 1937 Toyota Motor Co, Ltd được thành lập

 1938 Nhà máy Honsha bắt đầu sản xuất

 1950 Công ty phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính, ToyotaMotor Sales Co, Ltd được thành lập

 1955 Toyota bắt đầu sản xuất chiếc xe sang trọng đầu tiên- Crown

 1957 Nguyên mẫu đầu tiên của Crown được xuất khẩu sang Hoa Kỳ, ToyotaMotor Sales USA, Inc được thành lập

 1959 Toyota mở nhà máy tại Bra-xin

 1965 Toyota giành giải thưởng Deming Application về kiểm soát chấtlượng

 1966 Lập được 16 kỷ lục thế giới về tốc độ và độ bền

 1974 Toyota Foundation được thành lập

 1982 Toyota Motor Co, Ltd và Toyota Motor Sales Co, Ltd được sáp nhậpvào Tổng công ty Toyota Motor

 1984 Liên doanh với General Motors (New United Motor Manufacturing,Inc) bắt đầu sản xuất tại Hoa Kỳ

 1988 Toyota Motor Manufacturing, USA, Inc (Nay TMMK) bắt đầu sảnxuất

 1989 Thương hiệu Lexus được đưa ra tại Hoa Kỳ

 1992 Toyota Motor Manufacturing (United Kingdom) Ltd bắt đầu sản xuất

Trang 26

 1997 Prius được đưa ra như là chiếc xe hơi công nghệ xăng-điện được sảnxuất hàng loạt đầu tiên trên thế giới

 1999 sản xuất trong nước đạt đến 100 triệu xe

 2000 Toyota Motor Co, Ltd bắt đầu sản xuất tại Tứ Xuyên Trung Quốc

 2001 Toyota Motor Manufacturing Pháp S.A.S bắt đầu sản xuất tại Pháp

 Năm 2002, Toyota vào Formula One World Championship, Toyota Motor

Co, Ltd bắt đầu sản xuất tại Thiên Tân Trung Quốc

 2004 Robot Toyota đối tác được công bố công khai

 2005 Thương hiệu Lexus được giới thiệu tại Nhật Bản

 2008 trên toàn thế giới Prius bán hàng trên 1 triệu nhãn hiệu

 2010 trên toàn thế giới Prius bán hàng trên 2 triệu nhãn hiệu

1.2. Tình hình hoạt động của Toyota trong những năm gần đây

Cú sốc thua lỗ của Toyota

Năm 2008, nước Nhật bị sốc khi lần đầu tiên trong 71 năm qua, tập đoàn ôtôhàng đầu thế giới Toyota lỗ tới 1,7 tỷ USD do suy thoái kinh tế

Các hãng ôtô Nhật Bản lâm vào tình trạng khó khăn chưa từng thấy trongsuốt 5 năm qua Giảm phát khiến doanh số trong nước liên tục giảm Toyota chốngchọi với cơn bão suy thoái bằng cách tập trung vào thị trường nước ngoài như châu

Âu và Mỹ Năm 2008, bóng đen suy thoái đã bao trùm lên toàn bộ kinh tế thế giới.Lượng xe Toyota bán tại hai khu vực chủ chốt giảm tới 30%

Chủ tịch Toyota Katsuaki Watanabe nhận định, trước tình trạng khẩn cấpchưa từng có, Toyota không còn cách nào khác ngoài chấp nhận thua lỗ Tin xấunày buộc tập đoàn sa thải hàng loạt nhân công thời vụ và bán thời gian, đồng thờitạm ngưng tất cả dự án xây dựng nhà máy mới

Trang 27

Trong suốt lịch sử 7 thập kỷ của mình tính cho đến nay, Toyota chỉ lỗ mộtlần duy nhất vào 1937, năm đầu đi vào hoạt động Từ đó đến nay, Toyota vẫn luônnổi tiếng về hoạt động kinh doanh hiệu quả và chính sách hợp lý, nhanh nhạy Tìnhhình thua lỗ của Toyota diễn ra trong bối cảnh tất cả các nhà xuất khẩu khác củaNhật cũng đang chịu những tổn thất nặng nề Đồng yên tăng giá và suy giảm kinh

tế toàn cầu đã làm cho nhu cầu nhập hàng từ Nhật giảm mạnh Cán cân thương mạicủa Nhật Bản thâm thủng Toyota phải cắt giảm sản lượng ở tất cả các nhà máy đặttại 24 nước trên thế giới Một nhà máy tại Anh quốc, nơi đang có 4.200 nhân côngđang làm việc, phải ngừng sản xuất trong một tháng

Vụ thu hồi xe kỷ lục của Toyota

Sự kiện nổi bật nhất của ngành công nghiệp ôtô toàn cầu năm 2010 chính là

vụ thu hồi xe kỷ lục của Toyota Có thể nói, “cơn bão thu hồi Toyota” đã gây ra tác

động không nhỏ đối với toàn ngành Uy tín của thương hiệu Toyota bị sụt giảm nghiêm trọng.

Với tổng số xe bị thu hồi lên tới trên 9,1 triệu chiếc do lỗi chân ga và thảmlót sàn, trong đó có những dòng xe rất quen thuộc với người tiêu dùng như Avalon,Camry, Corolla hay RAV4 Tiếng tăm về chất lượng có được sau hàng thập kỷ cầnmẫn đầu tư, nghiên cứu và chinh phục của nhà sản xuất Nhật Bản bị lu mờ Có thểnói, 2010 là một năm đáng buồn trong lịch của Toyota Mặc dù nhiều khả năng vẫngiữ được ngôi vị số một thế giới về quy mô sản xuất, nhưng chắc chắn một điều, sẽcòn rất lâu nữa Toyota mới có thể tìm lại được hình ảnh vinh quang xưa

2011- một năm nhiều thách thức đối với Toyota

Năm 2011 là năm chứng kiến nhiều biến động của thị trường ôtô thế giới.Đây cũng là khoảng thời gian được xem là vận hạn của các hãng xe ô tô Nhật Bảnkhi liên tiếp gặp khó khăn vì thời tiết

Tháng 3 năm 2011, Nhật Bản rung động vì thiên tai sóng thần và động đất.Thảm họa kép động đất, sóng thần lớn nhất trong lịch sử đất nước mặt trời mọc

Trang 28

ngày 11/03/2011 không những gây thiệt hại về người mà còn làm tê liệt nhiềungành nghề trong đó có ngành công nghiệp ôtô.

Toyota ban đầu ước tính hụt khoảng 2 triệu xe do thảm họa phá hủy các đơn

vị cung cấp quan trọng tại đông bắc Nhật Bản, bao gồm Renesas Electronics, mộtnhà sản xuất chip máy tính Tuy nhiên, hãng xe hơi số 1 Nhật Bản chỉ hụt 370.000

xe, trong đó có 220.000 xe của tháng đầu tiên sau thảm họa

Không dừng lại tại đó, sự cố ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima đã làmgián đoạn nguồn cung của ngành công nghiệp sản xuất ôtô trên toàn thế giới vàkhiến cho các “ông lớn” trong ngành thiệt hại hàng chục tỷ USD Khi những vếtthương cũ chưa lành thì tháng 10/2011 trận lụt lịch sử tại Thái Lan không chỉ ảnhhưởng lớn đến hoạt động sản xuất và gây gián đoạn nguồn cung của ngành ô tônước này, mà còn ảnh hưởng ngắn hạn đến nguồn cung phụ tùng và ô tô xuất khẩutrong khu vực cũng như thế giới

Quá trình sản xuất tại Toyota đã trở lại bình thường vào tháng 9/2011

“Những nỗ lực phi thường của toàn bộ nhân viên đã giúp chúng tôi hồi phục nhanhngoài sức tưởng tượng” Năm 2011, doanh thu của hãng bị giảm tới 31% vì cácthảm hoạ từ thiên nhiên đã khiến cho các nhà máy bị đóng cửa hàng loạt, dẫn đến têliệt dây chuyền sản xuất ôtô Thảm họa kép đã khiến Toyota tụt xuống vị trí thứ 4trên thế giới xét về mặt doanh số, đồng thời đánh mất vị trí số 1 vào tay GenenalMotors Toyota giữ ngôi vị nhà sản xuất xe hơi số 1 thế giới từ năm 2008-2010

Toyota vực dậy, tìm lại thế thượng phong

Toyota vừa công bố lợi nhuận quý I/ 2012 của hãng khá khả quan, đồng thời

kì vọng hãng sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian còn lại của năm 2012

Kết quả kinh doanh của hãng Toyota cho thấy những ảnh hưởng của thảmhoạ kép cách đây 1 năm đã bị đẩy lùi rất xa Hãng xe hơi lớn nhất Nhật Bản kỳvọng lợi nhuận của hãng có thể tăng lên 9,5 tỉ USD trong khoảng thời gian tính từ03/2012 – 03/2013 Con số trên lớn hơn rất nhiều so với con số 3,5 tỉ USD trong

Trang 29

khoảng thời gian cùng kì trước đó (03/2011 – 03/2012) Toyota dự kiến tổng doanhthu năm 2012 tăng 18% lên 276 tỉ USD

Để đạt được doanh thu lớn như vậy, ông Akio – CEO của Toyota đã lên kếhoạch tung ra rất nhiều sản phẩm mới trên đất Mỹ như Prius Hybird, Corollacompact và nhiều mẫu Lexus sedan nhằm cạnh tranh với các đối thủ và giành lại thịphần Giờ đây, mục tiêu hàng đầu của họ là phải đối mặt với GM – hãng xe hàngđầu thế giới đang phát triển mạnh tại tất cả các thị trường trên thế giới, trong đóphải kể đến Trung Quốc, nơi Toyota chưa có chỗ đứng vững mạnh Lãi ròng quý I/

2012 của Toyota tăng lên 1,51 tỉ USD, đồng thời họ cũng là hãng xe Nhật Bản phụchồi nhanh nhất sau thảm hoạ kép năm ngoái

Toyota có được sự tăng trưởng tốt đến như vậy một phần là nhờ chính sáchtrợ giá kịp thời của chính phủ Nhật Chính sách này đã giúp thị trường xe Nhật tăngtrưởng nhanh hơn nhiều thị trường khác, dòng xe du lịch tăng 57% trong cả bốntháng đầu năm 2012 Nhờ có chiếc hybrid Prius cùng với chính sách trợ giá, Toyota

đã có được khoản lợi nhuận khổng lồ ở thị trường nội địa Ở thị trường Mỹ, doanh

số của Toyota tăng 12%, cao hơn cả GM, Ford hay đồng hương Honda, Nissan Ởthị trường thế giới nói chung, Toyota chiếm khoảng 10% trong năm 2011 còn ởchâu Âu là 3,2 % và Trung Quốc là 4,3% Riêng tháng 04 vừa qua họ bán được82.000 xe tăng 68% so với 04/2011 (trong khi đó GM bán được 227.217 xe) tạiTrung Quốc Với những tín hiệu tốt như vậy, Toyota kỳ vọng tổng lượng xe mà họbán được trong năm 2012 sẽ là 9,58 triệu xe bao gồm tất cả các thương hiệu con,trong đó có cả Daihatsu và Hino

2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HIỆN NAY CỦA TOYATA TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

2.1. Tình hình chung

Năm 2009- năm thất bát của ngành công nghiệp ô tô Mỹ

Trang 30

Năm 2009 là một trong những năm tệ nhất trong lịch sử ngành công nghiệpôtô, không chỉ bởi hai “đại gia” GM và Chrysler rơi vào tình trạng bảo hộ phá sản,cùng với doanh số toàn cầu sụt giảm kỷ lục Có thể nói năm 2009 là một năm giankhó nhất đối với ngành công nghiệp ô tô Mỹ Chrysler và General Motors, hai trong

số ba đại gia của ngành xe hơi đều lần lượt đệ đơn xin bảo hộ phá sản, dựa vàokhoản cứu trợ từ Chính phủ để bước ra khỏi trình tự phá sản, hoàn thành việc tái cơcấu nợ Trong khi đó, hãng xe Ford dù chưa phải nộp đơn bảo hộ phá sản, nhưngtrong cuộc cạnh tranh toàn cầu hoá cũng bước đi rất gian nan Đã có không ítthương hiệu bị khai tử, như Saturn, Pontiac và sẽ có thể là cả Saab Nhiều đại lýhoạt động lâu năm buộc phải đóng cửa Và cũng không ngoại lệ, vận may khôngmỉm cười với những thương hiệu như Toyota Nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giớinày không những phải chứng kiến doanh số sụt giảm mạnh

Năm 2010, hàng loạt hãng xe tên tuổi trên thế giới đua nhau thu hồi sảnphẩm để sửa chữa Cơn cuồng phong này đã điểm mặt gần như toàn bộ nhữngthương hiệu xe hàng đầu thế giới, từ các hiệu xe Mỹ General Motors, Ford,Chrysler cho tới các hãng xe Nhật Bản Toyota, Honda, Nissan Trong đó, đángchú ý nhất là vụ thu hồi đình đám của Toyota trên khắp toàn cầu Hãng này cũngphải nộp phạt số tiền kỷ lục 48,8 triệu USD cho các nhà chức trách Mỹ để dàn xếpcác cuộc điều tra về việc Toyota cố tình thông báo chậm lỗi chân ga, vốn bị xem lànguyên nhân khiến hàng chục người thiệt mạng

Năm 2011, khủng hoảng nợ công lan rộng và kéo dài ở các nước phát triển,phủ bóng đen lên bức tranh kinh tế toàn cầu năm 2011 Trong khi các nền kinh tếcông nghiệp trì trệ, phục hồi mong manh, bài toán nợ công và suy thoái kinh tế ởchâu Âu, Mỹ, Nhật Bản chưa có lời giải, các nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dươngnổi lên là những điểm sáng Năm 2011 chứng kiến hai xu hướng kinh tế ngượcchiều: Một bên là phương Ðông trỗi dậy và bên kia phương Tây đang tụt dốc Vềtình hình kinh tế thế giới như vậy, Toyota nhận thấy ở các thị trường mới nổi nhưTrung Quốc và Ấn Độ sẽ tiếp tục phát triển, trong khi ở các nền kinh tế đã pháttriển như Mỹ và châu Âu “sẽ hồi phục khiêm tốn” Hơn nữa, công ty nhấn mạnh

Trang 31

giá xăng dầu và nhân công tăng, đặc biệt ở Mỹ, là khó khăn chính cho doanh số bánhàng trong tương lai của Toyota Satoshi Ozawa, giám đốc tài chính của Toyota,cho biết sự mạnh lên của đồng yên cũng là nguyên nhân khiến giá thành sản phẩmcủa Toyota cao hơn các đối thủ cạnh tranh Đức và Hàn Quốc là những quốc gia cótiền tệ yếu hơn, gây ra hạn chế trong việc tiêu thụ các sản phẩm của Toyota.

Năm 2011, còn đánh dấu một sự kiện không thể nào quên của Nhật Bản- Vụđộng đất, sóng thần tàn phá Nhật gây thiệt hại lâu dài về kinh tế Trước tiên, đồngyên đã sụt giá và thị trường chứng khoán Tokyo cũng suy giảm Thảm họa làmngừng trệ một loạt ngành sản xuất, từ công nghiệp xe hơi đến hàng điện tử tiêudùng, thép, đồ uống; buộc nhiều cơ sở phải đóng cửa Ngành công nghiệp xe hơicủa Nhật chịu ảnh hưởng nghiêm trọng ngay lập tức, với việc ba hãng lớn Nissan,Toyota và Honda nằm trong số hàng loạt công ty vừa phải đóng cửa nhà máy Sânbay, nhà ga, cảng biển ngừng hoạt động trên khắp cả nước Nhà sản xuất ô tôToyota bị mất vị trí dẫn đầu ngành công nghiệp ô tô thế giới vì phải cắt giảm sảnlượng do thiếu linh kiện sản xuất trong nước sau khi động đất kèm sóng thần tànphá Nhật Bản Sau thảm họa động đất, trong vòng một tháng, bảy hãng xe của Nhậtchịu thiệt hại tổng cộng 516.000 xe Toyota đứng đầu danh sách với việc sụt giảmsản lượng lên tới 260.000 xe tại tổng cộng 18 nhà máy trong nước của hãng

Trong suốt thời gian qua, từ cuối năm 2009, hãng Toyota đã thu hồi tổngcộng hơn 10 triệu xe, phần lớn là do lỗi tăng tốc đột ngột Tuy nhiên, những vụ thuhồi đó lại không tác động nhiều đến kết quả của bài khảo sát do J D Power tiếnhành Trước đây, Toyota cũng từng bị xếp ở thứ hạng thấp trong bài khảo sát năm

2010 về chất lượng xe mới của J D Power Về cơ bản, đây là bài khảo sát về sốlượng lỗi của xe sau 90 ngày sử dụng, bao gồm cả một số sản phẩm bị thu hồi Thếnhưng, bước sang năm 2012, Toyota vẫn giữ vững vị trí số 1 thế giới về độ tin cậycủa xe Có thể kể đến một số mẫu xe Toyota đáng tin cậy nhất phân khúc nhưLexus ES350, RX350, Prius, Tundra và Sienna Về phần mình, Ford nắm trong tay

3 sản phẩm thành công nhất phân khúc, bao gồm Fusion, Explorer và LincolnMKZ Nhờ khoa học công nghệ phát triển, cùng với đó là xu hướng sử dụng xe hơi

Trang 32

ngày càng tinh tế và tiết kiệm nhiên liệu, các kỹ sư của Toyota đã không ngừngnghiên cứu để ra đời những “đời con” tinh thần có giá trị nhất Trong đó phải kểđến những chiếc xe danh giá hiện nay như Toyota Camry, Innova đang làm mưalàm gió tại thị trường Việt Nam.

2.2. Các chiến lược phát triển

2.2.1 Chiến lược đa địa phương

Những thay đổi và đặc trưng sản xuất hướng về khách hàng tại thị trường Nhật Bản

Tại Nhật Bản, doanh số bán hàng kể cả xe mới và cũ đạt tổng số 12 triệuchiếc năm tài chính 2009 Trong đó xe mới đóng góp xấp xỉ 3 triệu chiếc Trongkhi đó 75 triệu xe được đăng ký tại Nhật Bản trong năm tài chính 2009 Điều nàycho thấy Toyota vẫn còn rất nhiều cơ hội phát triển trong nước Để có thể khai tháctối đa cũng cơ hội này, chiến lược phát triển của Toyota tập trung vào những biếnđổi và đặc trưng sản xuất hướng về khách hàng Sự nhận thức về môi trường củakhách hàng Nhật đang ngày càng gia tăng Chính phủ Nhật đẩy mạnh thực hiện cácchương trình nhằm thay thế những dòng xe cũ và tăng nhu cầu sử dụng dòng xethân thiện môi trường Toàn ngành sản xuất ôtô Nhật cũng nhấn mạnh vấn đề môitrường và năng lượng Từ thực tế như vậy Toyota tiếp tục đẩy mạnh việc quản cáochiếc Prius và các dòng xe hybrid khác

2.2.2 Chiến lược toàn cầu

Chủ trương chung: Chiến lược toàn cầu hóa của Toyota là quan niệm thếgiới như một thị trường đồng nhất thay vì những thị trường nội địa riêng lẻ Công

ty đang ấp ủ nhiều dự án táo bạo trong việc giới thiệu các mẫu xe mới cùng một lúctrên khắp thế giới với phụ tùng sản xuất từ nước này để sử dụng tại nước khác

Nội dung của chiến lược toàn cầu tại Toyota:

 Mở rộng quy mô: Kế hoạch xây dựng những trung tâm đào tạo tương tự tạiGeorgetown, Kentucky và nhiều nơi khác trên thế giới đểtăng tốc cho giai

Trang 33

đoạn tăng trưởng tới đào tạo cho công nhân tại những trung tâm mới chính

là chìa khóa duy trì chất lượng vàgiảm tai tiếng cho công ty trong nhữngnăm gần đây

 Phát triển khả năng riêng biệt:

- Các mẫu xe thông minh và tiếng tăm về chất lượng

- Với danh tiếng về chất lượng và tiết kiệm nhiên liệu trước tình trạng giá nănglượng "leo thang" đang khiến nhu cầu củacác loại xe nhỏ- thế mạnh của hãng- tăngmạnh

- Toyota đã thành công với các động cơ hybrid, hay động cơ hydro thế hệ mới vàđộng cơ sử dụng “bio ethanol”

- Sản phẩm mới: dòng xe Corolla nổi tiếng với hy vọng thế hệ xe mới này bán chạy

ở trong nước và ở nước ngoài Theođánh giá, các mẫu tiết kiệm xăng như Corolla,Camry hay chiếc hybrid là con bài chiến lược của Toyota

 Giảm chi phí: (mua lại, hợp tác)

- Tháng 10/2005, hãng Toyota đã mua lại một phần cổ phần của công ty Fujichu từtập đoàn GM đang kinh doanh thua lỗ.nhằm nắm lấy kỹ thuật chế tạo động cơdiesel làm mát máy bằng không khí và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe nhất vềkhíthải và bảo vệ môi trường.-Toyota bắt tay với Ford, chiêu bài chiến lược củaToyota trong việc vượt mặt GM?

- Trước đó Toyota đã từng “chung giường” với GM từ năm 1984 và ăn chia 50/50trong kế hoạch lắp ráp xe Toyto Corolla,Matrix và Tacoma cùng với xe hatchbackPontiac Vibe của GM tại?

Quy mô: Trong quá khứ, Toyota chỉ giới hạn hoạt động của mình tại Nhật.Nhưng hiện nay Toyota lại theo đuổi một chiến dịchtoàn cầu hóa đầy tham vọng

Từ 20 nhà máy tại 14 nước, hiện công ty đã có 47 nhà máy ở 26 nước, không kểNhật Sắp tớicông ty sẽ tiếp tục mở thêm nhà máy tại Mexico, Tiệp Khắc và Mỹ

Trang 34

Toyota đang thử nghiệm giảm thời gian hoàn thiện mẫu xemới (tính bằng tháng) vàlàm việc với nhà cung cấp để tiết giảm chi phí cho phụ tùng.

2.2.3 Chiến lược quốc tế hóa

Chiến lược mở rộng thị phần tại các thị trường đang phát triển để thu lợi nhuận.

Đây là chiến lược được Toyota đặt lên hàng đầu trong thời điểm lập báo cáothường niên năm tài chính 2009 (kết thúc ngày 31/3/2009) Trung Quốc và cácquốc gia mới nổi tại châu Á, Trung và Nam Mỹ hứa hẹn trở thành động lựcquantrọng cho sự tăng trưởng trong tương lai của Toyota Đặc biệt, thị trườngTrungQuốc có tiềm năng phát triển tương đương thị trường Mỹ Toyota đang trong quátrình hình thành một mô hình giúp các kỹ sư chế tạo nhìn nhận vấn đề theo con mắtcủa khách hàng Đối với những nước châu Á còn lại cũng như Trung và Nam Mỹ

và những vùng khác, vẫn còn có những vùng mà thị phần của Toyota rất thấp trongkhi nhu cầu thì ngày càng tăng Sản phẩm chiến lược là những chiếc xe chất lượngcao, giá hợp lý, đáp ứng hiệu quả các yêu cầu của địa phương (phong cách, sự thoảimái ) Mặc dù, trong chiến lược này, Toyota chú trọng khai thác tối đa tiềm năngcủa địa phương, từ khâu kỹ thuật, sản xuất cho đến phân phối để thỏa mãn nhu cầucủa khách hàng địa phương; nhưng đồng thời cũng sử dụng các phương pháp sảnxuất phổ biến, các bộ phận và thành phần cốt lõi mang đậm phong cách ToyotaNhật Bản Chiến lược này bắt đầu vào năm 2004, Toyota đã phát triển sản phẩmIMV (InnovativeInternational Multi-purpose Vehicles) là mô hình quan trọng đápứng hiệu quảcác yêu cầu của thị trường mới nổi IMV là sự kết hợp giữa xu thế nhucầu chung và nhu cầu độc đáo của từng địa phương Hơn thế nữa, đây là sáng kiếncủa công ty con của Toyota, chính vì thế, dự án IMV tồn tại phụ thuộc vào sự hợptác của Toyota Nhật Bản và các công ty con tại thị trường mới nổi Do đó, IMV chỉđược bán ở các thị trường mới nổi này chứ không thể xâm nhập thị trường Nhật,

Mỹ và Tây Âu Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Toyota sản xuất và bán nhữngchiếc xe không được sản xuất và bán tại Nhật Mặc dù “LocalBest” là chìa khóadẫn đến thành công khu vực; nhưng ở đây lại xuất hiện đồng thời xu hướng toàncầu hóa (IMV được lắp ráp ở Thái Lan và Indonesia được sử dụng cả cho tiêu thụ

Trang 35

trong nước và được xuất khẩu sang khác nhau nước, đặc biệt là thị trường mới nổi.Thặng dư xe IMV lắp ráp tại Argentina được xuất khẩu miền Trung và Nam Mỹ, vànhững IMV lắp ráp tại Nam Phi được xuất sang châu Phi) Sự toàn cầu hóa, hợp tácxuyên quốc gia này là một chìa khóa then chốt khác cho sự thành công của dự ánIMV Điều đó chứng tỏrằng, trong khi chú ý đến nhu cầu địa phương trong từngvùng, Toyota đã cố gắng đạt được lợi thế sử dụng hiệu quả nguồn lực toàn cầu đểcung cấp xe chấtlượng cao với chi phí rẻ hơn Do đó, có thể kết luận rằng “Globalthink, Localact” là công thức dành cho IMV Kết quả, tổng sản phẩm IMV đạt hơn500.000đơn vị trong năm 2006.

2.2.4 Chiến lược xuyên quốc qia

2.2.4.1 Khai thác kinh tế địa phương

Đứng trước các áp lực về giảm thiểu chi phí ngày càng tăng khi mà các mẫu

xe hơi dần dần đang tiêu chuẩn hóa, Toyota đã bắt đầu thiết kế lại sản phẩm của họ,

họ sử dụng nhiều bộ phận và đầu tư vào các nhà máy sản xuấtcác linh kiện rời theoquy mô lớn đặt ở những địa điểm thích hợp, nhằm đáp ứng nhu cầu toàn cầu khaithác lợi thế kinh tế theo quy mô cũn như được

2.2.4.2 Biến đổi sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của địa phương

Trong ngành công nghiệp ôtô nhu cầu của các cá nhân vẫn chưa hội tụ hoàntoàn khi mà vẫn có sự khác biệt giữa các vùng khác nhau về thị hiếu dành cho xeôtô Nhằm mục tiêu khai thác sự khác biệt để đáp ứng tối đa nhu cầu của từng khuvực, bên cạnh những dòng xe được ưa chuộngtoàn cầu, Toyota cũng tập trung pháttriển những dòng xe đáp ứng tối đa nhu cầucủa một số khu vực với khẩu hiệu

“Global Best, Local best” Để làm được điều này, Toyota vẫn phải tuân thủ các quytắc, bộ phân cơ bản (hệ thống kaibetsu or kaizen), thứ tạo nên lợi thế cạnh tranh của

họ, cùng lúc này sử dụng các nhà thiết kế sản xuất địa phương, của từng vùng đểđáp ứng tốt hơn nữa các nhu cầu củatừng vùng

Trang 36

Ví dụ: Toyota có mẫu xe Tundra 07 một loại xe thuộc dòng pick-up truck rấtđược ưa chuộng ở Bắc Mĩ hay như dòng Scion xD đáp ứng nhu cầu khác biệt củacác thanh niên ở Mỹ Để tiếp tục khẳng định sức mạnh ở vùng Đông Á giữ vững vịthế sân nhà, Toyota tiếp tục tung ra và hoàn chỉnh các loại xe thuộc dòng ist, Mark

z Io, Alphard, Crown,Tanto (Daihatsu)Trong khi đó, ở Châu Âu nơi rất coi trọngviệc giảm CO2, đồng thời cùng với đó là các chính sách về bảo vệ môi trường được

đề cao, vì thế các dòng xe của Toyota ở thị trường này là RAV4, L600s, iQ vớihàm lượng khí thải CO2 chỉ đạt 99g/km.Cùng với đó là việc thiết lập các cơ sởR&D khác nhau ở mỗi khu vực nhằm giữ vững thế mạnh về nghiên cứu và thiết kế,mặc dù vẫn giữ nguyên cácgiá trị cốt lõi đã tạo nên một Toyota thành công nhưng

về mặt thiết thế thì lạiđược địa phương hóa nhằm thu hút khách hàng

2.2.5 Chiến lược cạnh tranh

Toyota luôn đặt ra nhiệm vụ quan trọng nhất cho mình: đổi mới không baogiờ tự thỏa mãn và luôn đi trước một bước so với xu hướng thị trường Tuy nhiênđặc diểm nổi bật cua Toyota là nó đột phá theo định kỳ từ khuôn mẫu truyền thống

và phát triển một mẫu xe mới với cách tiếp cận mới mẻ Nên trong giai đoạn đầuToyota tập trung vào sản phẩm những mẫu xe có chất lượng tốt và hiệu quả hiệusuất nguyên liệu cao, giá thành hợp lý Trong bất cứ một ngành công ngiệp nào thì

uy tín về chất lượng cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu Đối với người dẫn đầu

họ có thể đặt ra các tiêu chuẩn một ôtô như thế nào là đạt yêu cầu về chất lượng hayhọc ó khả năng tiếp cận với những nhà cung cấp đầu vào giá rẻ thậm chí họ cũng cóthể giành được sự ưu đãi từ phía chính phủ Để có được uy tín đó thì Toyota đãphải bỏ ra hàng thập kỉ cần mẫn đầu tư, nghiên cứu và chinh phục thị trường.Toyota, một trong những công ty lớn hàng đầu của Nhật bản luôn được chính phủnước này dành cho rất nhiều ưu đãi về thuế Bên cạnh đó, do quy mô và uy tín củamình, Toyota đã xây dựng được hệ thống khách hàng và nhà cung cấp trung thànhnhằm giảm thiểu chi phí sản xuất và phát triển thị trường xe của công ty Sự hạnchế về khả năng sản xuất trong việc mở rộng các kênh phân phối và chi phí cao đểphát triển các kênh mới là những rào cản lớn đối với những đối thủ mới Những

Trang 37

công ty mới gia nhập ngành ôtô không dễ gì vượt qua được mạng lưới phân phốicủa những người đi trước Toyota đặc biệt đã xây dựng cho mình hệ thống phânphối rộng khắp không chỉ tại Nhật mà còn rất nhiều quốc gia khác trên thế giới.Hơn nữa, Toyota luôn áp dụng nguyên tắc: “Đối xử với đối tác và nhà cung cấpnhư một phần mở rộng công việc kinh doanh của bạn.” Điều này có nghĩa Toyotaduy trì nguyên tắc hiệp hội, xem các nhà cung cấp như các đối tác làm ăn Toyotađòi hỏi ở các nhà cung cấp khá tỉ mỉ và gắt gao về mặt chất lượng cũng như cácthông số kỹ thuật Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, nhà cung cấp nào được Toyotalựa chọn đều coi đó một điều may mắn lớn Vì như thế họ đã khẳng định được độtín nhiệm của mình trên thị trường sản xuất ô tô Toyota thường đặt hàng hợp đồngdài hạn và ít thay đổi người cung cấp trừ khi xảy ra sai lầm tai họa Ngoài ra thì cácnhà cung cấp cũng được Toyota hướng dẫn và cùng phát triển Tất cả những điềunày đã làm sức mặc cả của nhà cung cấp cho Toyota giảm đi đáng kể Quay trở lạivới Toyota, sản phẩm của hang đều vượt trội về chất lượng, kiểu dáng Trong chiếnlược phát triển của mình, Toyota luôn chú trọng tới việc giảm tối đa chi phí sảnxuất nhằm giảm giá thành sản phẩm, đồng thời cũng tìm cách chế tạo sao cho giảmthiểu tối đa chi phí sử dụng cho khách hàng Sản phẩm của Toyota rất đa dạng , đápứng được đầy đủ nhu cầu của mọi tầng lớp mua xe (từ những người có nhu cầu thunhập trung bình, tới những tầng lớp thượng lưu ưa chuộng kiểu dáng sang trọng củadòng xe Lesus, Camry), mọi nhu cầu về xe ô tô (xe đi du lịch, đi các loại địahình…) Khách hàng hoàn toàn an tâm với các sản phẩm tới từ Toyota.

Toyota bên cạnh đó cũng rất quan tâm tới dịch vụ khách hàng (các thủ tục

mu xe đơn giản), dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng làm cho khách hàng (tổchức các party khách hàng) khó lòng có thể tìm một hang xe thứ 2 tốt hơn để lựachọn

Với chiến lược tiếp cận khách hàng hợp lí, Toyota đã giảm tối đa sức mặc cảcủa người mua xe ô tô, tạo điều kiện để Toyota căng buồm đi tới

Trang 38

2.2.6 Chiến lược nhân sự

Tại tập đoàn sản xuất xe hơi lớn thứ hai trên thế giới là Toyota, một quy tắcđược đề ra là các nhà quản trị không được quát tháo, đe dọa hoặc trừng phạt nhânviên dưới quyền khi có sai sót xảy ra Thực ra đó không phải là cách quản lý e ngạinhân viên, mà thái độ xử sự này mới bảo đảm các lỗi sai, hỏng được báo cáo ngay

và đầy đủ Từ đó, người quản lý mới có thể tìm ra nguyên nhân sâu xa, giúp choviệc sửa đổi chính sách và các quy trình thực hiện công việc phù hợp hơn và sát vớithực tế của công ty hơn

Trách mắng nhân viên hẳn nhiên sẽ không khích lệ mọi người thông báo vớicấp trên những việc sai sót và như vậy cũng khó tìm ra nguyên nhân sâu xa của sailầm Chính vì phương châm quản lý con người giàu tính nhân văn này mà sựnghiệp kinh doanh của Toyota ngày một phát triển hơn, nguồn lực con người của

họ luôn ổn định và lớn mạnh

Đặc biệt với Toyota, mỗi năm, lãnh đạo công ty nhận được khoảng 2 triệu ýkiến từ người lao động, trong đó 80% được áp dụng vào thực tiễn Trong suốt 40năm qua, nhân viên Toyota đã đóng góp tới 20 triệu ý tưởng cải tiến hiệu suất côngviệc, nghĩa là trung bình mỗi nhân viên nghĩ ra 60 – 70 ý tưởng mỗi năm Đây lànhững con số không thể tin nổi đối với những tư duy nằm ngoài hệ thống doanhnghiệp Nhật Bản.“Người lao động ở Mỹ trung bình một năm đưa ra 0,2 ý tưởng, sovới tỉ lệ 20 ý tưởng một năm của người lao động ở Nhật Bản” – cuốn sách KaizenTeian của Hiệp hội Quan hệ con người Nhật Bản viết

2.2.7 Chiến lược sản xuất

Lợi thế cạnh tranh toàn cầu của Toyota được dựa trên một triết lý của công

ty được biết đến như là hệ thống sản xuất Toyota Hệ thống này phụ thuộc mộtphần vào chính sách quản lý nguồn nhân lực kích thích sự sáng tạo của nhân viên

và lòng trung thành mà còn trên một mạng lưới có hiệu quả cao của các nhà cungcấp và các thành phần nhà sản xuất Đi đầu trong lĩnh vực sản xuất ô tô trên thếgiới, tập đoàn Toyota đã và đang chứng tỏ bản lĩnh của mình trong việc chinh phục

Trang 39

đỉnh cao công nghệ của nhân loại Cùng với nỗ lực theo triết lí kinh doanh và tầmnhìn chiến lược, thành công của Toyota được làm nên từ công nghệ quản lý sảnxuất toàn diện - Hệ thống sản xuất Toyota (Toyota Production System - TPS) Đâycũng chính là tiền đề đem lại sự phát triển vượt bậc thông qua cắt giảm lãng phí,nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như phát huy tối đa nguồn nhân lực trong doanhnghiệp Nhật Bản TPS thực tế là "dòng chảy" hoặc "kéo sản xuất" hoặc "sản xuất diđộng" hoặc "tải san lấp mặt bằng" TPS Toyota chủ yếu liên quan đến việc tạo ralợi nhuận và đáp ứng các khách hàng với chất lượng cao nhất có thể với chi phíthấp nhất trong thời gian ngắn nhất, trong khi phát triển các tài năng và kỹ năng củalực lượng lao động thông qua cải thiện thói quen và kỷ luật nghiêm ngặt giải quyếtvấn đề Mục đích quy định này được pha trộn với nguyên tắc sản xuất

Hệ thống sản xuất Toyota đã đến để bao gồm một số lượng lớn các kháiniệm và phương pháp khác nhau Khi các công ty khác nhau sẽ tìm thấy nó hữu ích

để sử dụng các chiến lược khác nhau để thực hiện hệ thống sản xuất Toyota của họmột danh sách ngắn gọn và định nghĩa của thuật ngữ phổ biến được liệt kê dướiđây:

 Just In Time (JIT) - JIT là một chiến lược hàng tồn kho một công ty có thểchọn để thực hiện để cải thiện lợi tức đầu tư của một doanh nghiệp bằngcách giảm hàng tồn kho và các chi phí liên quan đến việc mang hàng tồnkho

 Jidoka (Autonomation), - Jidoka là một từ Nhật Bản đề cập đến quá trình tạo

ra một dây chuyền sản xuất tự động cũng bao gồm một con người liên lạc.Máy thực hiện với Autonomation khi họ được lập trình để ngừng sản xuấttrong trường hợp có lỗi Khi đó, những con người xác định và giải quyết vấnđề

 Kaizen (cải tiến liên tục) - thuật ngữ Nhật Bản dùng để chỉ quá trình biến đổidần dần cho tốt hơn Nhân viên được khuyến khích cung cấp đầu vào và cải

Trang 40

thiện các quy trình mà họ hơn do đó làm cho công việc của họ thú vị hơn vàcác dây chuyền sản xuất hiệu quả hơn.

 Andon - Thuật ngữ này đề cập đến một phương pháp được sử dụng trongviệc kiểm soát hình ảnh và khi dịch sang tiếng Anh có nghĩa là "Bảng hiệu."Trực quan kiểm soát là một quá trình sử dụng tín hiệu hình ảnh như đồ họa

để minh họa liên tục cho người lao động quá trình sản xuất và môi trườnglàm việc nên chảy như thế nào

 Pokayoke - quá trình kiểm chứng-fool hoặc nhầm lẫn về chống một hệ thốngbằng cách xác định nguyên nhân gây ra lỗi hay sai sót và đưa một kế hoạchtại chỗ để ngăn chặn các lỗi vô ý xảy ra một lần nữa

 Muda - Muda thuật ngữ thường được đi kèm với một danh sách các chất thảikhác nhau hoặc "chất thải chết người" rằng một công ty tìm kiếm để thựchiện các kỹ thuật sản xuất nạc đang cố gắng để loại bỏ

Nhờ ứng dụng các chiến lược sản xuât hiệu quả mà Toyota đã giảm được chiphía sản xuất, loại bỏ những lãng phí không cần thiết giúp Toyota nâng cao vị thếtrên thi trường thế giới với chất lượng cao với giá cả hợp lý

3 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HIỆN NAY CỦA TOYOTA TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

3.1. Giới thiệu chung về công ty Toyota Việt Nam

 Tên công ty: Công ty ô tô Toyota Việt Nam

 Ngày thành lập: Ngày 5 tháng 9 năm 1995 (chính thức đi vào hoạt động10/1996)

 Tổng vốn đầu tư: 89,6 triệu USD

 Lĩnh vực hoạt động chính:

 Sản xuất, lắp ráp và kinh doanh ôtô Toyota các loại

Ngày đăng: 13/09/2013, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Quan hệ kinh tế quốc tế. GS. TS. Võ Thanh Thu. Nhà xuất bản thống kê 3. “ Bản chất và vai trò của công ty” , nhóm Big Four, scribd.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất và vai trò của công ty
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê3. “ Bản chất và vai trò của công ty”
4. “Con đường thành công của Toyota”, leansigmavn.com, ngày 4 tháng 03 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường thành công của Toyota
6. “Công ty đa quốc gia”, wikipedia.org, ngày 25 tháng 05 năm 2012 7. “Sơ lược về Toyota”, tailieu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty đa quốc gia”, wikipedia.org, ngày 25 tháng 05 năm 20127. “Sơ lược về Toyota
8. “Thị trường ô tô Việt Nam năm 2012: vẫn còn niềm tin”, Việt Hưng, dantri.com.vn, 11/01/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường ô tô Việt Nam năm 2012: vẫn còn niềm tin
9. “Bốn tiêu cực lớn khi thu phí ô tô”, Đức Kế, nguoiduatin.vn, 27/03/2012 10. “Tình hình lạm phát ở Việt Nam”, tailieu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn tiêu cực lớn khi thu phí ô tô”, Đức Kế, nguoiduatin.vn, 27/03/201210. “Tình hình lạm phát ở Việt Nam
11. “Chiến lược kinh doanh của Toyota tại Việt Nam”, tailieu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược kinh doanh của Toyota tại Việt Nam
1. Quản trị kinh doanh quốc tế. TS. Bùi Lê Hà- TS. Nguyễn Đông Phong- TS. Ngô Thị Ngọc Huyền- Th.S. Quách Thị Bửu Châu- Th.S. Nguyễn Thị Dược- Th.S. Nguyễn Thị Hồng Thu. Nhà xuất bản thống kê Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w