Phần tiếng Việt: Nhằm đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng của DN mà chủ yếu là các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế GTGT không đúng hạn củ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM QUỐC HÙNG
TP Hồ Chí Minh - năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Phạm Văn Đạt, là học viên lớp Tài chính công khóa 27, năm học 2017 – 2019 của Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh Tôi xin cam đoan như sau:
Luận văn: “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp: Nghiên cứu trường hợp huyện Tháp Mười - Đồng Tháp” là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện và không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của cá nhân hay tổ chức nào khác
“Các tài liệu, số liệu trong luận văn hoàn toàn khách quan, trung thực và chính xác Số liệu trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc.”
“Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về công trình nghiên cứu khoa học của tôi và người hướng dẫn./.”
Đồng Tháp, ngày 03 tháng 7 năm 2019
Học viên
Phạm Văn Đạt
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT IV DANH MỤC CÁC HÌNH V DANH MỤC BẢNG BIỂU VI TÓM TẮT LUẬN VĂN VIII
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1
1.1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.2.1 Dữ liệu thu thập 2
1.2.2 Cách tiếp cận và kỹ thuật thực hiện đề tài 3
1.3 Bố cục luận văn 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
2.1 THUẾ GTGT 4
2.1.1 Khái niệm 4
2.1.2 Phương pháp tính thuế 5
2.1.3 Thời hạn khai thuế 7
2.2 Tuân thủ thuế 8
2.2.1 Tuân thủ thuế 8
2.2.2 Hành vi không tuân thủ thuế 11
2.3 Tuân thủ thuế GTGT 13
2.3.1 Trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế: 13
2.3.2 Tần suất kê khai thuế GTGT 15
2.3.3.Hồ sơ khai thuế GTGT 16
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thu thập dữ liệu 18
Trang 53.2 Kiểm tra làm sạch dữ liệu 20
3.3 Phân tích dữ liệu 20
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Giới thiệu khái quát về Chi cục Thuế huyện Tháp Mười 22
4.1.1 Đặc đểm kinh tế xã hội huyện Tháp Mười 22
4.1.2 Khái quát về Chi cục Thuế huyện Tháp Mười 24
4.1.3 Thực trạng tại Chi cục Thuế huyện Tháp Mười 25
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc nộp thuế GTGT không đúng hạn của DN 28
4.2.1 Về quy mô hoạt động 28
4.2.2 Tình hình hoạt động SXKD 33
4.2.3 Vốn đăng ký kinh doanh và kinh nghiệm kinh doanh 37
4.2.4 Lao động và doanh thu 38
4.2.5 Thuận lợi và khó khăn trong việc quản lý kê khai và nộp thuế GTGT tại Chi cục Thuế huyện Tháp Mười 40
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Một số giải pháp nâng cao việc chấp hành nghĩa vụ thuế của DN 48
5.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền cho người nộp thuế 48
5.2.2 Hoàn thiện cở sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác 49
5.3 Khuyến nghị chính sách 50
5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 51
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi cục Thuế huyện Tháp Mười năm 2018 24
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng số liệu 4.1 35
Biểu đồ 4.1 36
Bảng số liệu 4.2 36
Biểu đồ 4.2 37
Bảng số liệu 4.3 38
Biểu đồ 4.3 38
Bảng số liệu 4.4 39
Biểu đồ 4.4 40
Bảng số liệu 4.5 41
Biểu đồ 4.5 41
Bảng số liệu 4.6 42
Biểu đồ 4.6 43
Bảng số liệu 4.7 44
Biểu đồ 4.7 45
Bảng số liệu 4.8 46
Biểu đồ 4.8 46
Trang 9DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục A: Danh mục ứng và các chức năng trong ứng dụng dùng để khai thac dữ liệu
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
1 Phần tiếng Việt:
Nhằm đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng của DN mà chủ yếu là các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế GTGT không đúng hạn của các DN đang đang hoạt động SXKD trên địa bàn, thực tế nhất và là yêu cầu cấp thiết trong công tác quản lý thuế tại Chi cục Thuế huyện Tháp Mười nói riêng”
và hệ thống quản lý thuế Việt Nam nói chung Đề xuất để hạn chế số tiền thuế chuyển thành nợ hiện nay của các DN và phát huy khả năng thu thuế của cơ quan thuế đồng
thời tối thiểu hóa số thuế nợ của các DN, tác giả chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng
đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp: Nghiên cứu trường hợp huyện Tháp Mười - Đồng Tháp”
“Phương pháp sử dụng chủ yếu trong đề tài là phương pháp thống kê mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp nhằm hệ thống hóa các lý luận và đề xuất giải pháp.”
“Trong tổng số 66 DN nộp thuế trể hạn với tổng số 114 lượt trong năm 2018, qua phân tích tác giả nhìn nhận các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi vi phạm thuế GTGT của các doanh nghiệp này gồm: Ngành nghề kinh doanh chiếm số đông là ngành xây dựng
và thương nghiệp; Phương pháp kê khai thuế GTGT chủ yếu là Phương pháp khấu trừ; Doanh thu năm 2018 hoặc vốn đăng ký kinh doanh dưới 5 tỷ đồng; Số lượng lao động dưới 20 người; Thâm niên hoạt động dưới 20 năm.”
“Qua đó, cho chúng ta thấy rõ hơn về những tồn tại, hạn chế, khó khăn và thách thức hiện nay đối với ngành Thuế Việt Nam nói chung và Chi cục Thuế huyện Tháp Mười thuộc Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp nói riêng Thông qua việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp giúp cho Chi cục Thuế huyện Tháp Mười và Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp có những giải pháp quản
lý thuế trong năm 2019 và những năm tiếp theo đạt hiệu quả, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.”
Từ khoá: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng
Trang 112 Phần tiếng Anh:
In order to provide factors influencing the behavior of non-compliance with the value added tax of enterprises, which are mainly factors affecting the ability to pay the incorrect VAT of enterprises operating in business activities in the location , the most practical and urgent requirement for tax administration in the district of the ten Tower Tax department in particular "and Vietnam tax management system in general Proposal to limit the amount of tax transferred to the current debt of the companies and to promote tax revenues of the tax authorities while minimizing the debt tax amount of the companies, the author selects the
topic "Factors affecting non-compliance of tax The value of enterprise: The case study
of Thap Muoi district, Dong Thap province”
The principal method of use in the topic is the statistical method of describing, comparing, analyzing, synthesize in order to systematically characterize the reasoning and propose solutions
Out of 66 enterprises pay the tax term of 114 per year 2018, through the analysis
of authors to see the factors affecting the violation of VAT of these enterprises include: the business of accounting is the construction and trade sector Business The method of declaration of VAT is mainly the deductible method; revenue in 2018 or business registration capital of less than 5 billion VND; the number of employees under 20; over
20 years of operation
Thereby, showing us more clearly the current existence, limitations, difficulties and challenges facing the Vietnam tax industry in general and the branch of the Thap Muoi tower tax bureau of Dong Thap tax department in particular Through the study
of the factors affecting the non-compliance of value-added tax of enterprises to help the tax department of ten tower and the Dong Thap Provincial tax bureau to have tax management solutions in the year 2019 and subsequent years effective, ensuring completion of assigned political tasks
Keywords: factors affecting behavior that do not comply with value added tax
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Lý do chọn đề tài
“Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo công bằng, hợp lý giữa các cá nhân và tổ chức hoạt động kinh doanh,” đó còn là khoản chi phí quan trọng được DN quan tâm, nhất là trong nền kinh tế thị trường, khi DN có mục tiêu hàng đầu chính là lợi nhuận.”
Thuế được thể hiện bằng những Luật thuế do Nhà nước quy định, trong đó Luật thuế giá trị gia tăng, mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước
“Hiện nay, cả nước nói chung và huyện Tháp Mười nói riêng thì tình trạng nợ thuế có chiều hướng tăng cao ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước, tình hình tuân thủ nộp thuế đúng hạn chiếm tỷ lệ thấp Việc nộp thuế đúng hạn giúp cho Nhà nước chủ động giải quyết được các vấn đề chung thiết thực rõ ràng là một vấn đề lớn ảnh hưởng đến nguồn thu của quốc gia Do vậy, việc nộp thuế đúng hạn giúp cho Nhà nước chủ động giải quyết được các vấn đề chung thiết thực trong xã hội như hoạt động bảo vệ An ninh cộng đồng, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường, xây dựng các công trình công cộng ”
“Thực tại, tình hình nợ thuế trên cả nước có chiều hướng tăng cao “ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước, theo thống kê tại Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ Thuế thuộc Chi cục Thuế huyện Tháp Mười từ năm 2016 đến năm 2017 có số liệu về tình hình nộp thuế không đúng hạn của các DN chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng nợ của cả năm, cụ thể: Tiền thuế nợ năm 2016 là: 25.118.825.673 đồng, chiếm 21,76% so với tổng thu tiền thuế đã thu trong năm, Tiền thuế nợ năm 2017 là: 21.552.085.997 đồng, chiếm 14,84% tổng tiền thuế đã thu trong năm.” Do đó, Nhu cầu thực hiện nghiên cứu nhằm đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng của
DN có tính ứng dụng cao “là một yêu cầu cần thiết” trong ngành thuế hiện nay.”
Trang 13Từ thực trạng trên cho thấy nhu cầu thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố ảnh
hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp: Nghiên cứu trường hợp huyện Tháp Mười - Đồng Tháp” nhằm đưa ra các đề xuất
để hạn chế số tiền thuế chuyển thành nợ hiện nay của các DN và phát huy khả năng thu thuế của cơ quan thuế đồng thời tối thiểu hóa số thuế nợ của các DN
1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
“Nghiên cứu nhằm đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng của DN mà chủ yếu là các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế GTGT không đúng hạn của các DN đang đang hoạt động SXKD trên địa bàn, thực
tế nhất và là yêu cầu cấp thiết trong công tác quản lý thuế tại Chi cục Thuế huyện Tháp Mười nói riêng và hệ thống quản lý thuế Việt Nam nói chung.”
“Xác định được các yếu tố giải thích được hành vi nộp thuế đúng hạn của các
DN, dựa trên những yếu tố này, cơ quan Thuế sẽ có những phân tích, đánh giá cần thiết đưa ra quyết định trong hoạt động thu thuế cũng như giảm thiểu được tình trạng nợ thuế ngày càng tăng của các DN hiện nay.”
“Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế giá trị gia tăng của DN nghiên cứu trường hợp huyện Tháp Mười - Đồng Tháp, từ đó đề xuất các giải pháp hạn chế hành vi nộp thuế trễ hạn Vì vậy, đề tài nghiên cứu tập trung các mục tiêu sau đây:”
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế GTGT không đúng hạn của các DN trên địa bàn huyện Tháp Mười;
- Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến khả năng nộp thuế GTGT không đúng hạn của các DN trên địa bàn huyện Tháp Mười;
- Kiến nghị các giải pháp để hạn chế hành vi nộp thuế trễ hạn
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.2.1 Dữ liệu thu thập
- Dữ liệu thứ cấp: Được thu thập tại Chi Cục Thuế huyện Tháp Mười
Trang 14- Dữ liệu sơ cấp:“Thu thập trên các báo cáo, danh bạ DN, danh sách chứng từ
và sổ bộ thuế GTGT của Chi cục Thuế huyện Tháp Mười”
1.2.2 Cách tiếp cận và kỹ thuật thực hiện đề tài
- Phương pháp sử dụng chủ yếu trong đề tài là phương pháp định tính
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp nhằm hệ thống hóa các lý luận và đề xuất giải pháp
1.3 Bố cục luận văn
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
Trang 15Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 THUẾ GTGT
2.1.1 Khái niệm
- Khái niệm:“Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Thuế GTGT tính trên giá bán chưa có thuế GTGT Người sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm thu và nộp hộ người tiêu dùng Người tiêu dùng mua sản phẩm với giá đã có thuế GTGT, vì vậy người tiêu dùng chính là người chịu khoản thuế này.”
- Ưu điểm của thuế GTGT:““Thuế GTGT có ưu điểm là không thu trùng lắp cho nên nó đã góp phần khuyến khích chuyên môn hóa sản xuất, hợp tác hóa để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.””
- Đặc điểm của thuế GTGT:“Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình SXKD nhưng chí tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ Thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu Đối tượng nộp thuế GTGT là người cung ứng hàng hóa, dịch
vụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thuế thu nhập Thuế GTGT có tính lãnh thổ, đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.”
- Vai trò của thuế GTGT:“Thuế GTGT có khả năng huy động được số thu lớn
và tương đối ổn định cho Ngân sách Nhà nước Thuế GTGT được tập trung thu ngay từ khâu đầu, ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế được thất thu thuế Thúc đẩy cả người bán và người mua hàng cùng thực hiện tốt chế độ hóa đơn, chứng từ Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông
Trang 16hàng hóa, đẩy mạnh được xuất khẩu do thuế GTGT khắc phục được việc thu trùng lắp của thuế doanh thu.”
-“Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ
hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp;”
-“Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam kê khai khấu trừ nộp thay.”
Phương pháp trực tiếp
*“Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% áp dụng đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng bạc, đá quý.”
“Giá trị gia tăng của vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ (-) giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng.”
“Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra là giá thực tế bán ghi trên hoá đơn bán vàng, bạc, đá quý, bao gồm cả tiền công chế tác (nếu có), thuế giá trị gia tăng và
Trang 17các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng.”
Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào được xác định bằng giá trị vàng, bạc, đá quý mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý bán ra tương ứng
“Trường hợp trong kỳ tính thuế phát sinh giá trị gia “tăng âm (-) của vàng, bạc,
đá quý thì được tính bù trừ vào giá trị gia tăng dương (+) của vàng, bạc, đá quý Trường hợp không có phát sinh giá trị gia tăng dương (+) hoặc giá trị gia tăng dương (+) không đủ bù trừ giá trị gia tăng âm (-) thì được kết chuyển để trừ vào giá trị gia tăng của kỳ sau trong năm Kết thúc năm dương lịch, giá trị gia tăng âm (-) không được” kết chuyển tiếp sang năm sau.”
* Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng tỷ lệ % nhân với doanh thu áp dụng như sau:
Đối tượng áp dụng:
-“DN, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một tỷ đồng, trừ trường hợp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế;”
- DN, hợp tác xã mới thành lập, trừ trường hợp đăng ký tự nguyện;
- Hộ, cá nhân kinh doanh;
-“Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu
tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật, trừ các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí.”
-“Tổ chức kinh tế khác không phải là DN, hợp tác xã, trừ trường hợp đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ.”
Tỷ lệ % để tính thuế GTGT trên doanh thu được quy định theo từng hoạt động như sau:
Trang 18-“Phân phối, cung cấp hàng hoá: 1%;”
-“Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;”
-“Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;”
- Hoạt động kinh doanh khác: 2%
2.1.3 Thời hạn khai thuế
-“Đối với mỗi loại thuế pháp luật quy định về ngày nộp hồ sơ và thời hạn nộp thuế khác nhau, đối với các loại thuế do người nộp thuế tự tính số thuế phải nộp trong
kỳ, thời hạn nộp thuế là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.”
-“Tiền thuế được chuyển vào ngân sách nhà nước từ người nộp thuế phải được nộp vào tài khoản của cơ quan thuế mở tại kho bạc nhà nước thuộc địa bàn hoạt động của DN bằng các hình thức chuyển khoản từ các tổ chức tín dụng hoặc nộp tiền mặt tại kho bạc nhà nước.”
- Thời hạn nộp thuế được xác định là:
+“Nộp thuế theo quý chậm nhất là ngày thứ 30 (ba mươi) của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế.”
+“Nộp thuế năm chậm nhất là ngày thứ 30 (ba mươi) của tháng đầu tiên” của năm dương lịch.”
“Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác hoặc tổ chức dịch vụ xác nhận trên chứng từ nộp thuế của người nộp thuế trong trường hợp nộp thuế bằng chuyển khoản.”
“Kho bạc Nhà nước, cơ quan quản lý thuế hoặc tổ chức được cơ quan quản lý thuế uỷ nhiệm thu thuế cấp chứng từ thu tiền thuế đối với trường hợp nộp tiền thuế trực tiếp bằng tiền mặt.”
“Điều kiện để các DN trong nghiên cứu này tuân thủ pháp luật về thuế xét trên khía cạnh khả năng nộp thuế đúng hạn là các báo cáo trung thực do DN tự lập, tính toán chính xác các số liệu về thuế, nộp báo cáo thuế kịp thời đồng thời nộp đầy đủ, kịp
Trang 19thời số thuế vào ngân sách nhà nước (Chaltopadhyay, 2002).”
2.2 Tuân thủ thuế
2.2.1 Tuân thủ thuế
Theo James, S.; Alley, C (1999): Tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế Ủy ban các vấn đề về thuế, OECD (09/2004) định nghĩa cụ thể hơn: Tuân thủ thuế là phạm vi
mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có 3 nghĩa vụ cơ bản: Nộp tờ khai thuế đúng hạn; Kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế; Nộp nghĩa vụ thuế kịp thời Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai), và tuân thủ về thu nộp
2.2.1.1 Nộp thuế - nghĩa vụ tất yếu của DN
“Thuế, theo quy định của pháp luật, là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN) Các tác giả giáo trình thuế của Học viện Tài chính viết: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc
từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2007).”
Do vậy, nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của DN Tính tất yếu này xuất phát từ một
số cơ sở như sau:
-“Thuế là khoản chi phí mà DN phải trả cho sử dụng các tài sản quốc gia như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, hệ thống thông tin.v.v.) Vì vậy, DN phải có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập cho Nhà Nước để duy trì và phát triển tài sản quốc gia mà họ sử dụng.”
-“Thuế thu từ DN là khoản thu chủ yếu của NSNN nhằm phục vụ cho mục đích chi tiêu phát triển kinh tế xã hội như chi tiêu cho các hoạt động cung ứng các dịch
vụ công, chi cho điều tiết kinh tế vĩ mô Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải
Trang 20thu thuế để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho xã hội, đặc biệt ở những nước mà NSNN chủ yếu dựa vào nguồn thu nội bộ Thuế tồn tại trong môi trường chính trị kinh tế và xã hội, vì vậy nếu các DN tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế thì đó chính là tín hiệu tích cực
và có lợi đối với NSNN.”
-“Nộp thuế của DN đảm bảo cho Nhà nước thực hiện được các mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua kiểm kê, kiểm soát, hướng dẫn, khuyến khích, điều chỉnh các hoạt động SXKD, các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự cân đối trong nền kinh tế và thực hiện các định hướng phát triển của Nhà nước Mặt khác, nghĩa vụ nộp thuế của DN là tất yếu bởi đây là công cụ mà Nhà nước
sử dụng để phân phối, điều hoà thu nhập giữa các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng.”
-“Nộp thuế của DN sẽ đảm bảo tính công bằng trong tuân thủ nghĩa vụ thuế giữa các DN ở các thành phần kinh tế, ở các ngành kinh tế và ở các loại hình quy mô khác nhau Việc chấp hành nghĩa vụ thuế của một DN sẽ ảnh hưởng tích cực đến các
DN khác và tăng cường sự nhận thức công bằng trong cộng đồng DN, kích thích sự tuân thủ của đại bộ phận các DN còn lại, đặc biệt là các đối tượng hoạt động trong khu vực phi chính thức và các DN đang khai thác các hình thức tránh thuế Xét theo ảnh hưởng tâm lý hành vi, việc nhận thức được nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu sẽ tạo môi trường quản lý thuế dân chủ hơn, tối thiểu hoá sự miễn cưỡng đối đầu cao của các DN, kích thích sự tuân thủ thuế tiềm năng.”
“Tóm lại, nộp thuế phải được các DN nhận thức là một nghĩa vụ tất yếu Quản
lý thu thuế của Nhà nước quan trọng nhất là phải làm cho các DN nhận thức được điều này, đó là cơ sở của sự tuân thủ thuế một cách đầy đủ và kịp thời.”
2.2.1.2 Sự tuân thủ thuế của DN
“Tuân thủ thuế nghĩa là tuân thủ mục đích của luật trong khi đảm bảo tăng cường tính chắc chắn mà mục đích đó có thể được thực hiện trên thực tế Tuy nhiên, khái niệm tuân thủ thuế vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục tranh luận theo hướng
Trang 21nghiên cứu tính tự nguyện hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết rằng hầu hết DN về bản chất là không tự nguyện tuân thủ, và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế Ý nghĩa chính xác của việc tuân thủ thuế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo Andreoni và các tác giả (1998) cho rằng việc tuân thủ thuế nên được định nghĩa là sự sẵn lòng của người nộp thuế chấp hành pháp luật về thuế để có được trạng thái cân bằng nền kinh tế của một quốc gia Kirchler (2007) định nghĩa đơn giản việc tuân thủ thuế là sự sẵn lòng của người nộp thuế nộp số thuế của mình Một định nghĩa rộng hơn của việc tuân thủ thuế, được xác định bởi Song và Yarbrough (1978) cho rằng do các khía cạnh đáng chú ý của các hoạt động của hệ thống thuế ở Hoa Kỳ và chủ yếu dựa vào tự đánh giá và tuân thủ tự nguyện, tuân thủ thuế cần được xác định như khả năng của người nộp thuế và sẵn sàng thực hiện theo pháp luật thuế được xác định bởi đạo đức, môi trường pháp lý và yếu tố tình huống khác tại một thời gian và địa điểm cụ thể Tương tự như vậy, tuân thủ thuế cũng được xác định bởi một số cơ quan thuế như khả năng và sự sẵn sàng của người nộp thuế thực hiện theo quy định của pháp luật thuế, kê khai thu nhập chính xác trong mỗi năm và nộp thuế đúng hạn (Internal Revenues Services, 2009; Australian Tax Office, 2009; Inland Revenue Board, 2009).”
“Một định nghĩa khác của việc tuân thủ thuế là hành vi của một người nộp tờ khai thuế, kê khai tất cả thu nhập chịu thuế chính xác, và thanh toán tất cả các loại thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không cần phải chờ đợi theo dõi hành động từ cơ quan có thẩm quyền (Singh, 2003) Hơn nữa, việc tuân thủ thuế cũng đã được tách biệt thành hai quan điểm, cụ thể là tuân thủ trong điều kiện được quản lý và tuân thủ trong điều kiện thực hiện trong điều kiện được hoàn thuế (Chow, 2004 và Harris, 1989) Quan điểm rộng hơn của việc tuân thủ thuế đòi hỏi một mức độ của sự trung thực, kiến thức về thuế đầy đủ và khả năng sử dụng kiến thức này kịp thời, chính xác, hồ sơ đầy
đủ để hoàn tất việc hoàn thuế và các giấy tờ liên quan về thuế (Singh và Bhupalan,
Trang 222001) McBarnet (2001) tuân thủ thuế nên được nhìn nhận trong ba cách, cụ thể là tuân thủ một cách tuyệt đối là người nộp thuế tự nguyện nộp thuế mà không có khiếu nại; tuân thủ có điều kiện là miễn cưỡng nộp thuế và tuân thủ có tính sáng tạo là sự giảm thuế bằng cách áp dụng khả năng có thể để xác định lại thu nhập và giảm đi các chi phí trong phạm vi của luật thuế.”
Một số tài liệu như Allingham và Sandmo (1972), Spicer và Lundstedt (1976)
và Lewis (1982) theo đó mô tả và giải thích việc tuân thủ thuế như kết quả của mối tương quan giữa các biến giải thích bao gồm nhận thức về vốn, hiệu quả và phạm vi ảnh hưởng (quan điểm tài chính công) Các hình thức của việc cưỡng chế về thuế như hình phạt và xác suất phát hiện cũng liên quan đến việc tuân thủ thuế trong khi các yếu
tố khác về hành vi thị trường lao động, tiền lương của một cá nhân và khung thuế cũng góp phần vào việc tuân thủ thuế (Kirchler, 2007)
“Tuy nhiên, cần phát triển khái niệm về tuân thủ thuế và đưa yếu tố thời gian vào như là một tiêu chí thể hiện sự tuân thủ tự nguyện Một DN cần phải thực hiện thanh toán đầy đủ nghĩa vụ thuế nhưng nếu nghĩa vụ thuế đó được thanh toán muộn thì cũng không phải sự tuân thủ hoàn toàn Hơn nữa, nếu lãi suất nộp muộn bị tính thì khoản thu đó cũng không phải là sự tuân thủ hoàn toàn tự nguyện Từ đó có thể định nghĩa sự tuân thủ thuế của DN là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian.”
2.2.2 Hành vi không tuân thủ thuế
“Nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của DN Ủy ban các vấn đề về thuế, OECD (2004) viết : Nghĩa vụ cụ thể của người nộp thuế có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các cơ quan thuế khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà Người nộp thuế chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào Vấn đề tuân thủ thực sự có liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ của Người nộp thuế Bốn loại nghĩa vụ của NNT là: Đăng ký thuế; Nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách); Nộp nghĩa vụ
Trang 23thuế đúng hạn Nếu Người nộp thuế không thực hiện bất kỳ một trong bốn nghĩa vụ trên đây thì có thể coi là không tuân thủ Tuy nhiên, mức độ không tuân thủ là khác nhau rõ rệt.”
Khi phân tích hành vi không tuân thủ thuế cần phải xem xét sự không tuân thủ không dự tính và sự không tuân thủ dự tính:
-“Hành vi không tuân thủ không dự tính: Nhiều người nộp thuế sẵn lòng hợp tác tuân thủ toàn diện nhưng lại không thực hiện được vì họ không biết cách hoàn thành các tờ khai thuế chính xác hoặc không hiểu hết phạm vi nghĩa vụ thuế của họ hoặc họ hiểu sai luật Những nỗ lực nhiều hơn của Cơ quan thuế trong việc hỗ trợ Người nộp thuế trong các trường hợp như vậy, chẳng hạn như việc cải thiện số lượng
và chất lượng thông tin tuyên truyền hoặc giúp họ không rơi vào tình trạng không tuân thủ không dự tính, có thể sẽ thu được kết quả nhiều hơn là việc tăng cường các hoạt động cưỡng chế.”
- Hành vi không tuân thủ thuế dự tính bao gồm tránh thuế (avoidance) và trốn thuế (evasion): Những hành vi này bao gồm việc tạo ra các giao dịch giả tạo để trốn thuế, tìm kiếm mọi kẽ hở hợp pháp để giảm thuế, dùng những thủ đoạn và chống chế ở mọi lúc để trì hoãn và để giảm số tiền thuế phải nộp
“Theo James, S.; Alley, C (1999), việc tuân thủ thuế có thể được nhìn từ góc độ của việc tránh thuế và trốn thuế Cả hai hành vi này đều có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng, theo đó tránh thuế là nói đến những phương sách hợp lệ để làm giảm nghĩa vụ thuế còn trốn thuế lại nói đến những cách làm phạm pháp Trong khi một số người bình luận nhìn nhận việc không tuân thủ chỉ có vấn đề trốn thuế, điều này dường như chưa nắm bắt được toàn bộ bản chất của vấn đề Việc trốn thuế rõ ràng là một hình thức không tuân thủ Mặc dầu vậy, nếu người nộp thuế kéo dài thời gian quá xa để giảm nghĩa vụ thuế của họ, thì điều này lại khó có thể được cho là tuân thủ.”
Trang 242.3 Tuân thủ thuế GTGT
2.3.1 Trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế:
“Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.”
“Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa phương cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cùng nơi người nộp thuế có trụ sở chính thì người nộp thuế thực hiện khai thuế giá trị gia tăng chung cho cả đơn vị trực thuộc.”
“Nếu đơn vị trực thuộc có con dấu, tài khoản tiền gửi ngân hàng, trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, kê khai đầy đủ thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra có nhu cầu kê khai nộp thuế riêng phải đăng ký nộp thuế riêng và sử dụng hóa đơn riêng.”
“Căn cứ tình hình thực tế trên địa bàn quản lý, giao Cục trưởng Cục Thuế địa phương quyết định về nơi kê khai thuế đối với trường hợp người nộp thuế có hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhà hàng, khách sạn, massage, karaoke.”
“Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính thì đơn vị trực thuộc nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp của đơn vị trực thuộc;” nếu đơn vị trực thuộc không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu thì thực hiện khai thuế tập trung tại trụ sở chính của người nộp thuế.”
“Trường hợp người nộp thuế kê khai, nộp thuế theo phương pháp khấu trừ có cơ
sở sản xuất trực thuộc (bao gồm cả cơ sở gia công, lắp ráp) không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu đóng trên địa bàn cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính thì:”
“Nếu cơ sở sản xuất trực thuộc có hạch toán kế toán thì phải đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ tại địa phương nơi sản xuất, khi điều chuyển bán thành phẩm hoặc thành phẩm, kể cả xuất cho trụ sở chính phải sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng làm căn cứ kê khai, nộp thuế tại địa phương nơi sản xuất.”
Trang 25“Nếu cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán thì người nộp thuế thực hiện khai thuế tại trụ sở chính và nộp thuế cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc được xác định theo tỷ lệ 2% (đối với hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 10%) hoặc theo tỷ lệ 1% (đối với hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 5%) trên doanh thu theo giá chưa có thuế GTGT của sản phẩm sản xuất ra Việc xác định doanh thu của sản phẩm sản xuất ra được xác định trên cơ sở giá thành sản phẩm hoặc doanh thu của sản phẩm cùng loại tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất.”
“Trường hợp người nộp thuế có hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, mà không thành lập đơn vị trực thuộc tại địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính (sau đây gọi là kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh) thì người nộp thuế phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quản lý tại địa phương có hoạt động xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh.”
Căn cứ tình hình thực tế trên địa bàn quản lý, giao Cục trưởng Cục Thuế địa phương quyết định về nơi kê khai thuế đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh
“Trường hợp người nộp thuế có công trình xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh liên quan tới nhiều địa phương như: xây dựng đường giao thông, đường dây tải điện, đường ống dẫn nước, dẫn dầu, dẫn khí, , không xác định được doanh thu của công trình ở từng địa phương cấp huyện, tỉnh thì người nộp thuế khai thuế giá trị gia tăng của doanh thu xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh chung với hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tại trụ sở chính.”
Trang 262.3.2 Tần suất kê khai thuế GTGT
*“Khai thuế giá trị gia tăng là loại khai thuế theo tháng trừ các trường hợp hướng dẫn tại điểm b, c, d khoản 2 điều 11 chương II thông tư 156/2013/TT-BTC ngày
06 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài Chính.”
* Khai thuế giá trị gia tăng theo quý
- Đối tượng khai thuế GTGT theo quý
“Khai thuế theo quý áp dụng đối với người nộp thuế giá trị gia tăng có tổng doanh thu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống.”
“Trường hợp người nộp thuế mới bắt đầu hoạt động SXKD việc khai thuế giá trị gia tăng được thực hiện theo tháng Sau khi SXKD đủ 12 tháng thì từ năm dương lịch tiếp theo sẽ căn cứ theo mức doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ của năm dương lịch trước liền kề (đủ 12 tháng) để thực hiện khai thuế giá trị gia tăng theo tháng hay theo quý.”
“Người nộp thuế có trách nhiệm tự xác định thuộc đối tượng khai thuế theo tháng hay kê khai thuế theo quý để thực hiện khai thuế theo quy định.”
“Trường hợp người nộp thuế đủ điều kiện và thuộc diện khai thuế GTGT theo quý muốn chuyển sang khai thuế theo tháng thì gửi thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là cùng với thời hạn nộp tờ khai thuế GTGT của tháng đầu tiên của năm bắt đầu khai thuế GTGT theo tháng.”
- Thời kỳ khai thuế theo quý
“Việc thực hiện khai thuế theo quý hay theo tháng được ổn định trọn năm dương lịch và ổn định theo chu kỳ 3 năm Riêng chu kỳ ổn định đầu tiên được xác định tính
Trang 27thuế giá trị gia tăng theo quý của chu kỳ ổn định đó thì từ năm tiếp theo của năm phát hiện cho đến hết chu kỳ ổn định, người nộp thuế phải thực hiện khai thuế giá trị gia tăng theo tháng.”
“Trong chu kỳ khai thuế ổn định theo tháng, nếu người nộp thuế tự phát hiện hoặc qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế kết luận doanh thu của năm trước liền kề của chu kỳ khai thuế ổn định này từ 50 tỷ đồng trở xuống, người nộp thuế đủ điều kiện để khai thuế giá trị gia tăng theo quý của chu kỳ ổn định đó thì người nộp thuế được lựa chọn hình thức khai thuế theo tháng hoặc quý từ năm tiếp theo của năm phát hiện cho đến hết chu kỳ ổn định.”
“Doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ được xác định là Tổng doanh thu trên các Tờ khai thuế giá trị gia tăng của các kỳ tính thuế trong năm dương lịch (bao gồm cả doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng và doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng).”
“Trường hợp người nộp thuế thực hiện khai thuế tại trụ sở chính cho đơn vị trực thuộc thì doanh thu bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ bao gồm cả doanh thu của đơn vị trực thuộc.”
- Khai thuế giá trị gia tăng tạm tính theo từng lần phát sinh đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh
- Khai thuế giá trị gia tăng theo từng lần phát sinh đối với thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên doanh số của người kinh doanh không thường xuyên
2.3.3.Hồ sơ khai thuế GTGT
Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý áp dụng phương pháp khấu trừ thuế:
- Tờ khai thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 01/GTGT ban hành kèm theo Thông
tư 26/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính
Trang 28Trường hợp người nộp thuế có hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh hoặc có cơ sở sản xuất trực thuộc tại địa phương khác nơi đóng trụ sở chính thì người nộp thuế nộp cùng Tờ khai thuế GTGT các tài liệu sau:
-“Bảng tổng hợp số thuế giá trị gia tăng đã nộp của doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh (nếu có) theo mẫu số 01-5/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.”
-“Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán (nếu có) theo mẫu số 01-6/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.”
-“Bảng phân bổ số thuế GTGT phải nộp cho các địa phương nơi có công trình xây dựng, lắp đặt liên tỉnh (nếu có) theo mẫu số 01-7/GTGT ban hành kèm theo Thông
tư Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.”
“Hồ sơ khai thuế GTGT tháng/quý tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu là Tờ khai thuế giá trị gia tăng mẫu số 04/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.”
“Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh là Tờ khai thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 05/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.”
Trang 29Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Danh sách chứng từ từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2018: Số chứng từ, ngày chứng từ, số tiền thuế đã nộp
- Sổ theo dõi thu nộp của từ DN trong năm 2018 về thuế GTGT
- Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện công tác thu NSNN từ năm 2014 đến năm 2018
- Báo tình hình quản lý nợ và cưỡng chế nợ thế năm 2014 đến năm 2018 Các Bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu trên các trang Web
Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong công tác kê khai – kế toán thuế và quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục Thuế
Các tài liệu có liên quan khác
“Trước năm 2014, ngành thuế có rất nhiều ứng dụng quản lý thuế phân tán và nằm rải rác tại các cơ quan thuế ở cả 3 cấp trung ương, tỉnh, huyện Điều này làm tăng khối lượng công việc cho cơ quan thuế trong việc lập và truyền nhận báo cáo từ cấp dưới lên cấp trên Đồng thời, gây khó khăn cho cơ quan thuế cấp trên trong việc khai thác dữ liệu chi tiết của từng người nộp thuế cũng như từng cơ quan thuế.”
“Các ứng dụng quản lý thuế phân tán được thiết kế từ rất lâu, thậm chí có ứng dụng được đưa vào sử dụng từ những năm 1998 với công nghệ lạc hậu nên không thể tích hợp được thành 1 ứng dụng quản lý thuế tập trung và không theo chuẩn mực quốc
Trang 30tế Để khắc phục các khó khăn, hạn chế của ứng dụng quản lý thuế phân tán, từ năm
2014, ngành thuế bắt đầu triển khai thí điểm ứng dụng quản lý thuế tập trung (Tax management system hay gọi tắt là TMS) cho một số cơ quan thuế và đến cuối năm
2015 triển khai mở rộng cho các cơ quan thuế còn lại trên phạm vi toàn quốc Ứng dụng TMS là hệ thống quản lý thuế tích hợp cho phép quản lý và lưu trữ tập trung thông tin quản lý tất cả các sắc thuế trên phạm vi toàn quốc đáp ứng các nghiệp vụ quản lý thuế tập trung Ứng dụng này được vận hành tập trung tại Tổng cục Thuế, thay thế cho 16 ứng dụng quản lý thuế phân tán được sử dụng tại từng cơ quan thuế ở địa phương trước đó.”
“Ứng dụng TMS được nâng cấp từ ứng dụng quản lý thuế thu nhập cá nhân (PIT) được ngành thuế triển khai áp dụng từ năm 2009 Ứng dụng này được mua theo giải pháp đóng gói sẵn của Hãng SAP, là một công ty phần mềm lớn nhất thế giới, thành lập vào năm 1972, có trụ sở chính tại Đức và các chi nhánh đặt tại 50 quốc gia trên thế giới Ứng dụng của hãng SAP đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng như Đức, Mỹ,… Vì vậy, quy trình nghiệp vụ có sẵn trên ứng dụng TMS về cơ bản theo chuẩn quốc tế.”
“Chức năng “danh bạ người nộp thuế hỗ trợ Chi cục Thuế tra cứu tất cả thông tin người nộp thuế đang quản lý Tác giả sử dụng chức năng này để tra cứu thông tin
DN gồm: Mã số thuế, tên DN, ngành nghề kinh doanh, phương pháp tính thuế, vốn đăng” ký kinh doanh, ngày bắt đầu hoạt động, số lượng lao động, tên chủ DN.”
- Sổ bộ thuế GTGT: Tác giả sử dụng chức năng này để khai thác số thuế GTGT phát sinh của DN theo từng kỳ tính thuế, hạn nộp của nó và doanh thu của DN năm 2018
- Danh sách chứng từ: Chức năng danh sách chứng từ hỗ trợ người sử dụng khai thác tất cả các chứng từ do người nộp thuế nộp tiền thuế vào NSNN Chức năng này đã được tac sgiar vận dụng khai thác các khoản nộp thuế GTGT của DN trong năm
2018
Trang 31- Sổ theo dõi thu nộp(sổ thuế -S1/KTT): Là chức năng tổng hợp dữ liệu trong
1 tháng của từng người nộp thuế, nó hỗ trợ người quản lý nắm rõ tất cả các thông tinh
về nợ kỳ trước chuyển sang, thuế phát sinh trong kỳ, số thuế đã nộp trong kỳ, số thuế nộp thừa hoặc số thuế còn phải nộp chuyển kỳ sau Đây là chức năng quan trọng hỗ trợ tác giả xác định được số thuế GTGT của doanh nghiệp đã nộp trong kỳ sẽ được bù trừ với số thuế GTGT phát sinh ở kỳ nào.”
- Quản lý nợ: là chức năng hầu như được gắn liền với Đội Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục Thuế, hỗ trợ người sử dụng nắm bắt được tất cả các thông tin về từng khoản nợ, phân loại nợ, cưỡng chế nợ và phát hành các thông báo cũng như báo cáo tình hình quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại đơn vị
3.2 Kiểm tra làm sạch dữ liệu
Từ dữ liệu đã thu thập được tác giả tổng hợp thành danh sách thông tin các doanh nghiệp có vi phạm nôp thuế GTGT không đúng hạn để làm dữ liệu phân tích
“Tác giả sử dụng phương pháp Thu thập và xử lý số liệu trong 4 phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý số liệu, điều tra chọn mẫu, nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng và dự đoán để phục vụ cho việc nghiên cứu và viết luận văn Bên cạnh đó, tác giả còn xử lý tổng hợp, so sánh tính toán để có kết quả giúp khái quát được vấn đề nghiên cứu.”
Trang 32“Phân tích tổng hợp: Thông qua các số liệu được phân tích đánh giá theo thực trạng tác giả tiến hành thực hiện liệt kê từng yếu tố ảnh hưởng đến việc nộp thuế GTGT không đúng hạn của doanh nghiệp trên địa bàn huyện Tháp Mười năm 2018 Các công cụ và kỹ thuật tính toán được tác giả thực hiện bằng phương pháp thủ công
và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel.”
Từ các yếu tố đã được liệt kê trên làm căn cứ để tác giả đề xuất thực hiện một
số giải pháp để nâng cao hành vi tuân thủ thuế thông qua khả năng nộp thuế đúng hạn của doanh nghiệp trên địa bàn huyện Tháp Mười nói riêng và ngành thuế nói chung
Trang 33Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Giới thiệu khái quát về Chi cục Thuế huyện Tháp Mười
4.1.1 Đặc đểm kinh tế xã hội huyện Tháp Mười
Tháp Mười là một huyện nằm phía đông của tỉnh Đồng Tháp thuộc vùng sâu là vùng kháng chiến củ Có nguồn thu nhập kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và công thương nghiệp ngoài quốc doanh,
Từ năm 1981, huyện Tháp Mười được tách ra từ huyện Cao Lãnh của tỉnh Đồng Tháp Được Trung ương và tỉnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các cơ sở kinh doanh cũng được khuyến khích phát triển, qua đó cũng góp phần thay đổi bộ mặt đô thị
và nông thôn của huyện Toàn huyện có 100% lưới điện quốc gia xuống đến tận 13 xã, thị trấn Các xã đều có trạm xá, trường học tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc sức khỏe và học hành cho nhân dân trong huyện Đường giao thông thuỷ bộ liên xã thông suốt cho xe hai bánh lưu hành Mạng lưới giao thông liên lạc được thông suốt trong toàn huyện Hoạt động du lịch chỉ có một nơi duy nhất là Khu di tích Gò Tháp, đây là khu di tích cấp quốc gia được Bộ văn hóa – Thể thao công nhận từ năm 1998, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa-lịch sử của dân tộc và nhân loại và là một trong 34 “di tích quốc gia đặc biệt” của Việt Nam, là 1 trong 2 di tích lịch sử và khảo cổ quan trọng trong cả nước (Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long và di tích Gò Tháp - tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp)
An Về hành chính, huyện bao gồm thị trấn Mỹ An và 12 xã là: Thạnh Lợi, Hưng
Trang 34Thạnh, Trường Xuân, Mỹ Hoà, Mỹ Quý, Mỹ Đông, Tân Kiều, Láng Biển, Mỹ An, Đốc Binh Kiều, Phú Điền, Thanh Mỹ
“Hầu hết các DN SXKD, dịch vụ trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong huyện có quy mô vừa và nhỏ, chỉ có một vài DN kinh doanh có quy mô trung bình Từ
đó ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế của huyện Tuy nhiên xét về mặt tổng thể chung thì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có tác dụng góp phần phát triển nền kinh
tế huyện Tháp Mười Đời sống của nhân dân ngày được nâng lên, góp phần giải quyết đáng kể tình trạng thất nghiệp ở địa phương, đóng góp khoản thu quan trọng cho Ngân sách nhà nước Đây là nhân tố quan trọng việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tháp Mười hiện tại và tương lai.”
* Về thị trường sản xuất
“Tháp Mười có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khá thuận lợi, tiềm năng kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp làm tăng năng suất sản lượng cây trồng vật nuôi Lĩnh vực công thương nghiệp các ngành phát triển mạnh, đa dạng, phong phú góp phần đem lại nguồn thu thiết thực cho NSNN Cùng với chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước, huyện đã từng bước ổn định, phát triển kinh tế, góp phần tạo việc làm cho một đội ngũ lao động đáng kể trong huyện.”