Phương án cứu nạn cứu hộ khi sảy ra sự cố trên công trình xây dựng (chuẩn phục vụ tranh tra, kiểm tra của nhà thầu thi công);Phương án cứu nạn cứu hộ khi sảy ra sự cố trên công trình xây dựng (chuẩn phục vụ tranh tra, kiểm tra của nhà thầu thi công);Phương án cứu nạn cứu hộ khi sảy ra sự cố trên công trình xây dựng (chuẩn phục vụ tranh tra, kiểm tra của nhà thầu thi công);Phương án cứu nạn cứu hộ khi sảy ra sự cố trên công trình xây dựng (chuẩn phục vụ tranh tra, kiểm tra của nhà thầu thi công);Phương án cứu nạn cứu hộ khi sảy ra sự cố trên công trình xây dựng (chuẩn phục vụ tranh tra, kiểm tra của nhà thầu thi công)Phương án cứu nạn cứu hộ khi sảy ra sự cố trên công trình xây dựng (chuẩn phục vụ tranh tra, kiểm tra của nhà thầu thi công);Phương án cứu nạn cứu hộ khi sảy ra sự cố trên công trình xây dựng (chuẩn phục vụ tranh tra, kiểm tra của nhà thầu thi công);;
Trang 1PHƯƠNG ÁN HUẤN LUYỆN, CỨU NẠN, CỨU HỘ KHI SẢY RA SỰ CỐ
(Dành cho cán bộ, công nhân tham gia thi công xây dựng công trình)
PHẦN I KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CỨU NẠN, CỨU HỘ
I Khái niệm
1 Các khái niệm
- Cứu: Làm cho thoát khỏi mối đe dọa sự an toàn, sự sống còn.
- Nạn: Đối tượng đã hoặc bị đe dọa đến sự sống, sự an toàn.
- Nạn nhân: Người bị nạn hay phải chịu hậu quả của một tai họa xã hội hoặc chế
độ bất công
- Cứu nạn: Làm cho đối tượng gặp nạn thoát khỏi các mối đe dọa đến sự sống
hoặc sự an toàn
- Hộ: Làm thay người khác (thường dừng sau động từ).
- Cứu hộ: Giúp đối tượng đang bị nạn thoát khỏi nguy hiểm.
- Tìm kiếm: là việc sử dụng lực lượng, trang thiết bị, phương tiện để xác định vị
trí của người, phương tiện bị nạn
- Phối hợp hoạt động tìm kiếm và CNCH: là sự thống nhất hành động; phát huy
sức mạnh tổng hợp của các lực lượng để đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác tìm kiếmCNCH
- Sự cố: là những trục trặc bất thường xảy ra ngoài sự kiểm soát của con người,
phương tiện kỹ thuật và có thể xảy ra hậu quả nghiêm trọng nếu không được khắc phụckịp thời
- Tai nạn: là những tình huống rủi ro xảy ra bất ngờ đã hoặc đang đe dọa đến sự
an toàn và sự sống của con người Tai nạn bao gồm: Tai nạn máy bay, tai nạn tàuthuyền trên biển, tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt, đường song, đường hầm, sập
đổ nhà cao tầng, công trình xây dựng…
- Thiên tai: là sự tác động của các yếu tố tự nhiên và gây ra những hậu quả xấu
đối với cuộc sống Thiên tai bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lũ, lụt, xả lũ, mưa lớn,mưa đá, triều cường, going, sét, lốc xoáy, vòi rồng, sạt lở, nước dâng, động đất, sóngthần
- Thảm họa: là sự tác động bất ngờ gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc
biệt nghiêm trọng về người và tài sản, gây tác động xấu và để lại hậu quả lâu dài đối vớiđời sống xã hội và môi trường trên phạm vi rộng lớn Chẳng hạn như: sự cố tràn dầu, sự
cố rò rỉ, phát tán hóa chất độc hại, sự cố bức xạ, thiên tai,…
Trang 2II Các tình huống cơ bản trong hoạt động cứu nạn, cứu hộ
1 Có người bị nạn trong sự cố cháy, nổ
2 Có người bị nạn trên sông, suối, hồ, ao, giếng nước, hố sâu có nước, khu dulịch, vui chơi giải trí, bãi tắm
3 Có người bị nạn trong các sự cố sạt lở đất đá, sập đổ nhà, công trình
4 Có người bị mắc kẹt trong các phương tiện khi xảy ra sự cố, tai nạn giao thôngđường bộ, đường sắt, đường sông
5 Có người bị mắc kẹt trong nhà, trong thang máy, trên cao, dưới hầm, hố sâu,trong hang, công trình ngầm
6 Các tình huống cứu nạn, cứu hộ khác theo quy định của pháp luật
III Kế hoạch thực hiện công tác cứu nạn, cứu hộ gồm các nội dung cơ bản sau:
a) Chuẩn bị về lực lượng làm công tác cứu nạn, cứu hộ;
b) Chuẩn bị về phương tiện cứu nạn, cứu hộ phù hợp với tình hình đặc điểm của
cơ quan, tổ chức và địa phương;
c) Phân công nhiệm vụ, cơ chế phối hợp để tổ chức ứng phó với các tình huống
sự cố, tai nạn có thể xảy ra;
d) Kinh phí bảo đảm cho hoạt động cứu nạn, cứu hộ;
đ) Kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện
III Huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cứu nạn, cứu hộ
1 Đối tượng huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cứu nạn, cứu hộ gồm:
Cán bộ, thuộc công ty, cán bộ, công nhân tham gia lao động sản xuất tại côngtrình
2 Thời gian huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cứu nạn, cứu hộ:
a) Thời gian huấn luyện nghiệp vụ cứu nạn, cứu hộ lần đầu từ 32 đến 48 giờ;b) Thời gian bồi dưỡng bổ sung hàng năm về nghiệp vụ cứu nạn, cứu hộ tối thiểu
Trang 3c) Phương pháp, biện pháp, kỹ thuật, chiến thuật cứu người bị nạn trong các sự cốsạt lở đất đá, sập đổ nhà, công trình;
d) Phương pháp, biện pháp, kỹ thuật, chiến thuật cứu người bị mắc kẹt trong cácphương tiện khi xảy ra sự cố, tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông;
e) Phương pháp, biện pháp, kỹ thuật, chiến thuật cứu người bị mắc kẹt trong nhà,trong thang máy, trên cao, dưới hầm, hố sâu, trong hang, trong công trình ngầm
PHẦN II ỨNG PHÓ KHI GẶP THIÊN TAI, TAI NẠN
I Phương pháp ứng phó, phòng tránh giông sét
1 Chưa thể chống sét tuyệt đối
Các nghiên cứu của Viện Vật lý địa cầu cho thấy, Việt Nam nằm ở tâm giôngchâu Á - một trong ba tâm giông trên thế giới, có hoạt động giông sét mạnh Mùa giông
ở Việt Nam tương đối dài, số ngày giông trung bình 100 ngày mỗi năm và số giờ giôngtrung bình là 250 giờ một năm Mỗi năm, Việt Nam hứng chịu tới hai triệu cú sét Khuvực như Cổ Dũng (Hải Dương), Sơn Lộc (Hà Tĩnh), Đồng bằng sông Cửu Long lànhững nơi được coi là tâm sét
Theo tiến sĩ Anh, từ năm 2005, Viện Vật lý địa cầu hoàn thành công trình nghiêncứu về giông sét và các giải pháp phòng chống Kết quả nghiên cứu đã có đủ dữ liệu để
có thể xây dựng quy phạm phòng chống sét tại Việt Nam Tuy nhiên, TS Anh cũng cho
rằng: "Phòng chống sét tuyệt đối là điều không thể đối với loài người hiện nay Không
chỉ Việt Nam mà ngay cả trên thế giới cũng chỉ có thể nghiên cứu để giảm thiếu tác hại của loại hình thiên tai này".
2 Phòng chống sét ngoài trời
Trang 4Theo các nhà khoa học, thường thì cơn giông kéo đến rất nhanh trong vòng 15phút và di chuyển với vận tốc 40km một giờ Nói chung khi đang ở nơi không an toàn
thì cần phải để ý đến các dấu hiệu của giông như mây đen, không khí lạnh, gió.
Có thể ước tính được khoảng cách từ nơi đang đứng tới nơi sét xảy ra bằng cáchước lượng khoảng thời gian từ lúc tia chớp lóe lên và lúc nghe thấy tiếng sấm Chia sốgiây cho 3 sẽ được khoảng cách đến tia sét Ví dụ đếm được 3 giây thì sét cách vị tríđứng là 3/3= 1km
Ngoài ra còn có phương pháp xác định vị trí của sét đó là cảm nhận cơ thể khi đang ở khu vực giông, mưa Nếu thấy lông tay, tóc, dựng thì chúng ta đang có nguy cơ
bị sét đánh, trong trường hợp này phải lập tức chụm hai chân lại, dùng tay bịt tai, cúi thấp người (nhưng không để cơ thể chạm đất ngoài hai bàn chân) Sau khi nghe tiếng
sét khoảng 7-10 phút thì cơn sét đã qua có thể trở về trạng thái bình thường
Tư thế ngồi để tránh bị sét đánhNếu thời gian này nhỏ hơn 20 giây thì phải di chuyển đến nơi an toàn hơn Khinghe thấy tiếng sấm đầu tiên bất kể là gì cũng cần phải thấy nguy hiểm đã đến Sét cóthể đánh cách xa nơi có mưa tới 15-20km Người đang lao động hoặc đi lại ngoài trờicần tìm nơi trú an toàn
Nếu ở ngoài trời, tuyệt đối không dùng cây cối làm chỗ trú mưa, tránh các khuvực cao hơn xung quanh, tránh xa các vật dụng kim loại như xe đạp, máy, hàng ràosắt Nên tìm chỗ khô ráo, nếu xung quanh có cây cao hơn thì nên tìm chỗ thấp, tìm vịtrí cây thấp Người ở vị trí càng thấp càng tốt, tay ôm cổ, phần tiếp xúc của người vớimặt đất là ít nhất; nhón chân, không được nằm xuống đất Đặc biệt, không đứng thànhnhóm người gần nhau
Trang 5Tuy nhiên khi sắp xảy ra giông, thì biện pháp tránh sét tốt nhất là nên về nhà haycông sở Các ngôi nhà, trụ sở làm việc nên lắp đặt hệ thống chống sét (đơn giản nhất
là cột thu lôi)
Khi ở trong nhà nên đứng xa cửa sổ, cửa ra vào, các đồ dùng điện, tránh các
chỗ ẩm ướt như buồng tắm, bể nước, vòi nước, không nên dùng điện thoại trừ trường
hợp rất cần thiết Nên rút phích cắm các thiết bị điện trước lúc có giông gần xảy ra.
Với các đường dây điện thoại hay dây điện vì nối với lưới bên ngoài nên rất có thể bịảnh hưởng sét đánh lan truyền Nên tránh xa các dây này và các vật dùng điện vớikhoảng cách ít nhất là 1m Cần rút ăng ten ra khỏi ti vi khi có giông
Nếu như bạn cảm thấy tóc bị dựng lên (như cảm giác điện khi sờ tay trước mặt vi) thì điều đó có nghĩa là có thể bị sét đánh bất cứ lúc nào, lập tức cúi ngồi xuống vàlấy tay che tai, không nằm xuống đất hay đặt tay lên đất
ti-II Phương pháp ứng phó với lốc xoáy, gió giật
1 Một số kiến thức về lốc xoáy, gió giật:
a Lốc xoáy: là những xoáy nhỏ cuốn lên, có trục thẳng đứng, thường xảy ra khikhí quyển có sự nhiễu loạn và về cơ bản là không thể dự báo được Nguyên nhân sinhgió lốc là những dòng khí nóng bốc lên cao một cách mạnh mẽ Trong những ngày hènóng nực, mặt đất bị đốt nóng không đều nhau, một khoảng nào đó hấp thụ nhiệt thuậnlợi sẽ nóng hơn, tạo ra vùng khí áp giảm và tạo ra dòng thăng Không khí lạnh hơn ởchung quanh tràn đến tạo hiện tượng gió xoáy, tương tự như trong cơn bão Tốc độ giócủa lốc xoáy tăng mạnh đột ngột trong một thời gian rõ rệt
b Gió giật (hay còn gọi là tố): là hiện tượng gió tăng tốc đột ngột, hướng cũngthay đổi bất chợt, nhiệt độ không khí giảm mạnh, ẩm độ tăng nhanh thường kèm theodông, mưa rào hoặc mưa đá Khi có những đám mây xuất hiện, chân mây tối thẫm, mâythấp, đó là những đám mây báo trước gió mạnh đột ngột, thường là gió giật (tố) Giógiật xảy ra khi không khí lạnh tràn vào vùng nóng và nâng không khí nóng lên đột ngột.Gió giật thường xảy ra trong một thời gian ngắn (hàng phút và hàng chục phút) Vùnggió giật là một dải dài và hẹp chuyển dịch với tốc độ khá lớn, tới cấp 10 Gió giật rấtnguy hiểm, thường xảy ra trong cơn dông, bão và xảy ra đột ngột chưa dự đoán trướcđược
2 Thực hiện một số biện pháp phòng, tránh, ứng phó với lốc xoáy, gió giật:
Để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do lốc xoáy, gió giật gây ra và xử lý tìnhhuống lốc xoáy, gió giật xảy ra trên địa bàn, Thường trực Ban Chỉ huy Phòng chống lụtbão thành phố đề nghị Thường trực Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các cơ quan,
Trang 6đơn vị tổ chức thực hiện, đồng thời chỉ đạo các ban - ngành, phường - xã - thị trấn trựcthuộc tuyên truyền đến nhân dân một số biện pháp phòng, tránh lốc xoáy, gió giật sauđây:
a Đối với trên biển:
- Buộc chủ tàu thuyền khi ra biển phải có phao cứu sinh và toàn bộ thủy thủ,thuyền viên phải mặc áo phao vào khi đang ở trên biển;
- Khi thấy biển động thì phải nhanh chóng trở vào bờ hoặc di chuyển tìm nơitránh, trú an toàn;
- Tổ chức hợp lý đội hình khai thác trên biển theo tổ, trong đó đảm bảo cự ly,khoảng cách hợp lý giữa các tàu thuyền để hỗ trợ nhau khi gặp nạn
b Đối với trên đất liền:
- Xây dựng các công trình, nhà ở kiên cố, thường xuyên chằng chống nhà cửa đểtăng độ vững chắc nhằm đề phòng lốc xoáy, gió giật Ở các cửa biển, ven biển, nơitrống trải, nếu nhà ở lợp bằng lá, tôn tráng kẽm, fibro xi măng, ngói có thể dằn lên máinhà các loại thanh nẹp bằng gỗ, sắt, dây kẽm cỡ lớn hoặc các bao chứa cát để hạn chếtốc mái khi có lốc xoáy, gió giật (tham khảo hướng dẫn đính kèm)
- Chặt tỉa cành, nhánh của các cây cao, dễ gãy đổ, cây nằm gần nhà ở, lướiđiện…;
- Khi trời mưa lớn kèm theo dông, cần sơ tán người già và trẻ em ra khỏi nhữngcăn nhà tạm bợ, đến những nơi an toàn, vững chắc hơn Khi xảy ra lốc xoáy, gió giậtmọi người phải tìm những nơi trú ẩn an toàn như các nhà kiên cố, tránh núp dưới bóngcây, nhà tạm bợ dễ bị ngã đổ gây tai nạn Tuyên truyền, vận động đến các hộ dân có nhàkiên cố tiếp nhận những người dân trú ẩn khi xảy ra lốc xoáy, gió giật với tinh thầntương thân, tương trợ lẫn nhau
Trang 7PHẦN III MỘT SỐ KỸ NĂNG, PHƯƠNG PHÁP CỨU NẠN, CỨU HỘ VÀ SƠ CẤP CỨU NGƯỜI BỊ NẠN THƯỜNG GẶP TRONG MỘT SỐ TÌNH HUỐNG THƯỜNG XẢY RA HÀNG NGÀY
I Cấp cứu nạn nhân ngất xỉu
a) Định nghĩa
- Ngất xỉu là sự mất tỉnh táo trong giây lát, do lượng máu đến não tạm thời bịgiảm
- Mạch đập trở nên rất chậm nhưng chẳng bao lâu nó sẽ trở lại bình thường
- Việc phục hồi diễn ra nhanh và hoàn toàn Ngất xỉu có thể là phản ứng xảy rakhi đau, sợ sệt, tức tối, kiệt sức và đói Nó cũng thường xảy ra ở trẻ em gái tuổi đangdậy thì khi tâm lý tình cảm chưa ổn định
- Những người ít hoạt động thể chất, ở nơi nóng bức, máu khi đó dồn xuống phầndưới cơ thể làm giảm máu đến não
- Đặt nạn nhân nằm xuống, nâng
và đỡ chân nạn nhân lên nhằm làm tăng
lượng máu lên não;
- Bảo đảm thoáng khí, nếu cần thì
mở cửa sổ;
- Khi nạn nhân tỉnh lại, trấn an
nạn nhân và đỡ nạn nhân ngồi dậy từ từ;
- Tìm xem nạn nhân có thương tích gì do ngã gây ra hay không và điều trị chonạn nhân;
- Nếu nạn nhân không tỉnh lại, hãy kiểm tra mạch đập và nhịp thở của nạn nhân.Tiến hành hô hấp nhân tạo nếu thấy cần thiết;
- Đặt nạn nhân ở tư thế hồi sức, gọi điện thoại 115 yêu cầu cứu thương;
- Nếu nạn nhân bắt đầu cảm thấy muốn ngất xỉu trở lại, hãy đặt đầu nạn nhân vàogiữa hai đầu gối của họ và bảo họ hít sâu
Trang 8II Cấp cứu nạn nhân bị đuối nước
1 Nguyên nhân gây ra đuối nước
- Mất khả năng bơi bất ngờ như chuột rút, kiệt sức, sóng đánh quá mạnh… (xảy
ra với cả những người bơi giỏi nhưng chủ quan)
- Người bơi không kiểm soát được nhịp thở hay thở hổn hển sẽ bị nguy cơ ngộpnước
- Huyết áp của người bơi có thể tăng đột ngột do nước lạnh gây đau tim dẫn đếnbất tỉnh
- Người bị đuối nước còn tỉnh sẽ bấu víu vào bất kỳ cái gì mà họ chụp được.Người cứu có thể bị chìm theo nếu bị nạn nhân bấu víu vào
2 Biện pháp sơ cấp cứu ban đầu khi bị đuối nước
Cấp cứu nạn nhân chết đuối:
- Khi thấy một người đang hốt hoảng trên mặt nước hãy nhanh chóng thảy cho họbất cứ thứ gì có thể giúp họ bám vào và nổi lên được Nếu chỉ có một mình và 2 taykhông, nếu không phải là một nhân viên cấp cứu nhiều kinh nghiệm thì bơi ra cứu nạnnhân là điều rất mạo hiểm dù là một tay bơi giỏi vì trong cơn hoảng loạn cực độ, nạnnhân thường có khuynh hướng vùng vẫy, níu kéo rất chặt gây khó khăn cho người cấpcứu và có nguy cơ làm chết đuối luôn cả hai Nên ném cho nạn nhân một phao nổi trướccho nạn nhân bám vào, sau đó mới cho nạn nhân bám vào ngưới cứu hộ
- Sau khi đem nạn nhân lên bờ, hãy nhanh chóng gọi điện thoại số cấp cứu 115 vàtiến hành làm hô hấp nhân tạo bằng phương pháp miệng qua miệng vì đó là phươngpháp hữu hiệu nhất Não người sẽ bị tổn thương hoặc chết nếu nạn nhân ngưng thở từ 4-
6 phút
Với ngạt nước, sơ cứu tại chỗ và đúng kỹ thuật là những yếu tố quan trọng nhất,quyết định đến sự sống còn và khả năng bị di chứng não của người bị nạn
Trang 9- Trường hợp nạn nhân đã ngừng thở, ngừng tim thì nhanh chóng dốc ngược đầu nạnnhân cho nước trong đường thở thoát ra hết; sau đó đặt nạn nhân trên mặt phẳng cứng,ngửa cổ nạn nhân ra sau, móc hết đàm nhớt, dị vật trong miệng nạn nhân ra, một tay đặtlên trán nạn nhân, bịt mũi nạn nhân bằng bằng ngón trỏ và ngón cái, sau đó hít sâu, ápmiệng người cấp cứu vào miệng nạn nhân thổi 2 hơi đầy; để lồng ngực tự xẹp và thổitiếp lần thứ hai Thực hiện cho đến khi nạn nhân thở được hoặc có xe cấp cứu đến.
Nếu nạn nhân bị ngưng tim nên tiến hành xoa bóp tim ngoài lồng ngực song song với hô hấp nhân tạo.
- Đặt người bị nạn nằm ở chỗ khô ráo, thoáng khí Nếu bất tỉnh, hãy kiểm tra xem
có còn thở không bằng cách quan sát sự di động của lồng ngực Nếu lồng ngực không diđộng tức là đã ngưng thở; thổi ngạt miệng qua miệng 2 cái chậm Nếu sau đó vẫn chưathở lại được hoặc còn tím tái và hôn mê thì xem như tim đã ngưng đập, cần ấn tim ngoàilồng ngực ngay Ấn vào vùng nửa dưới xương ức theo cách như sau:
- Dùng 2 ngón tay cái (đối với trẻ dưới 1 tuổi) ấn ở vị trí giữa và dưới đường nốihai đầu vú 1 khoát ngón tay (tức khoảng bằng bề ngang một ngón tay)
Đặt nạn nhân nằm nghiêng
Trang 10- Dùng 1 bàn tay (đối với trẻ từ 1-8 tuổi) hoặc 2 bàn tay đặt chồng lên nhau (đốivới trẻ hơn 8 tuổi và người lớn) ấn vào phía trên mỏm ức 2 khoát ngón tay.
Dùng 2 ngón tay ấn ở vị trí giữa và dưới đường nối 2 đầu vú
- Phối hợp ấn tim và thổi ngạt theo tỷ lệ 5/1 (đối với trẻ ) hoặc 15/2 (đối vớingười lớn) Cần lưu ý là vẫn phải tiếp tục thực hiện các động tác cấp cứu này trênđường chuyển người bị nạn tới cơ sở y tế, cho đến khi tự thở lại được hoặc chắc chắn đãchết
- Việc cấp cứu này đôi khi phải mất hàng giờ hoặc lâu hơn Nếu lồng ngực còn diđộng tức là còn tự thở được, hãy đặt nằm ở tư thế an toàn, nghĩa là nằm nghiêng mộtbên để nếu nôn ói thì chất nôn dễ dàng thoát ra ngoài và không trào ngược vào phổi, gâyviêm phổi
Chú ý:
- Không nên cố tìm cách cho nước trong phổi nạn nhân chảy hết ra ngoài bằng cách xốc nước (vác nạn nhân chạy vòng vòng cho nước chảy ra) vì như thế sẽ bỏ lỡ thời gian vàng cho việc làm hồi sức cấp cứu tim phổi mà chỉ cần chậm trễ 4 phút thôi là não có nguy cơ bị chết rồi! Trong quá trình hồi sức cấp cứu tim phổi, nước trong phổi
sẽ tự động thoát ra ngoài Nếu là nước sông, hồ thì nước sẽ thấm vào hệ tuần hoàn rất nhanh do hiện tượng thẩm thấu (nước sông có nồng độ loãng hơn máu) Phương pháp này chỉ áp dụng khi hi vọng sống còn rất mong manh.
- Khi làm xoa bóp tim ngoài lồng ngực, cần chú ý không quá mạnh bạo vì có thể làm gãy xương sườn nạn nhân.
III Cấp cứu điện giật
1 Tác hại của điện giật
- Cơ thể chúng ta có chứa nhiều nước và các chất điện giải, do đó cơ thể là vật
Trang 11- Dòng điện 20 - 25 mA xoay chiều sẽ gây tê liệt, co thắt các cơ bắp làm nạn nhânkhông thoát ra được khi tiếp xúc với điện.
- Khi dòng điện 50 - 80 mA đi qua cơ thể làm cho nạn nhân choáng váng, liệt cơ
hô hấp, gây nghẹn thở, làm tim ngừng đập
- Dòng điện 90 - 100 mA làm cơ hô hấp ngừng hoàn toàn, rung thất vài giây, sau
đó ngừng tim
- Dòng điện 3000 mA gây ngừng hô hấp, ngừng tim, gây bỏng ở những nơi nó điqua cơ thể và những nơi chúng ta tiếp xúc với mặt đất
- Khi chạm vào dòng điện cao thế, nạn nhân chết ngay lập tức
- Điện giật làm co thắt cơ nạn nhân làm nạn nhân có thể ngã xuống hoặc bắn ra
xa gây chấn thương hoặc dính chặt vào vật dẫn điện gây cháy, bỏng
- Điện cao thế có thể phóng xa đến 18m Với dòng điện cao thế, các vật khô nhưquần, áo, cây gỗ khô không bảo vệ được bạn
2 Xử trí
- La to để có người đến ứng cứu, phụ giúp
- Người cứu nạn phải luôn nhớ chân đi giày, dép khô và đứng nơi khô ráo
- Không bao giờ được đụng vào nạn nhân bằng tay trần
- Đối với điện cao thế:
+ Báo cho cơ quan quản lý đến cắt điện
+ Tuyệt đối không được đến gần nạn nhân cho đến khi bạn chắc chắn dòng điện
đã được ngắt và nếu cần thiết thì cách ly luôn
+ Đứng xa ít nhất 18m và không cho những người xem lại gần
+ Nếu cần phải vào cứu nạn nhân ngay thì phải đi ủng cách điện, dùng gậy, sàocách điện để tách nạn nhân ra khỏi phạm vi có điện
+ Nếu người bị nạn đang làm việc ở đường dây trên cao thì dùng dây nối đất làmngắn mạch đường dây Khi tiến hành cần phải nối đất trước, sau đó ném dây lên làmngắn mạch đường dây
- Đối với điện hạ thế, điện dân dụng:
+ Nhanh chóng cắt nguồn điện (ngắt cầu dao, aptomat, cầu chì…).
Trang 12+ Nếu không thể cắt nhanh nguồn
điện thì dùng các vật có khả năng cách
điện như sào, gậy tre, gỗ khô… để gạt
dây điện ra khỏi nạn nhân hoặc quấn dây
vào tay, chân để kéo nạn nhân ra khỏi
nguồn điện Nếu không còn cách nào
khác thì có thể cầm vào vùng quần áo
còn khô của nạn nhân và giật mạnh ra
+ Nếu nạn nhân nắm chặt vào dây
điện, cần phải đứng trên các vật cách
điện khô (bệ gỗ, bàn, ghế, chồng báo…)
để kéo nạn nhân ra hoặc đi ủng và găng
tay cách điện để gỡ nạn nhân ra
+ Có thể dùng dao, rìu với cán gỗ
khô, kìm cách điện để chặt hoặc cắt đứt
dây điện
- Dùng các biện pháp để chống rơi, ngã nếu người bị nạn ở trên cao
3 Hồi sức
Chỉ được thực hiện sau khi đã cắt được nguồn điện
3.1 Đối với điện cao thế
Nạn nhân gần như chắc chắn bất tỉnh
- Gọi các bộ phận cấp cứu ngay lập tức;
- Hãy kiểm tra nhịp thở, nhịp tim và chuẩn bị hô hấp nhân tạo;
- Đặt nạn nhân ở tư thế hồi sức;
- Xử lý các vết bỏng, vết thương khác nếu có.
3.2 Đối với điện hạ thế
- Nếu nạn nhân bất tỉnh:
+ Kiểm tra nhịp thở, mạch đập;
+ Nếu cần thiết thì làm hô hấp nhân tạo và ép tim ngoài lồng ngực;
+ Làm mát vết thương nếu nạn nhân bị bỏng;
+ Đặt nạn nhân ở tư thế hồi sức:
+ Gọi cấp cứu số 115
Trang 13- Nếu nạn nhân không bị thương tích gì, nạn nhân vẫn có thể đi lại được:
+ Khuyên nạn nhân nghỉ ngơi;
+ Theo dõi sát tình trạng nạn nhân, nếu thấy nghi ngờ thì gọi bác sĩ ngay
IV Cấp cứu nạn nhân bị bỏng
1 Đánh giá mức độ nặng nhẹ của vết bỏng
- Đánh giá mức độ nặng nhẹ của vết bỏng phụ thuộc tác nhân gây bỏng, diện tích,
độ sâu của vết bỏng Tìm hiểu nguyên nhân bị bỏng có thể giúp ta đề phòng một số biếnchứng khác nhau có thể xảy ra Vết bỏng càng lớn, càng sâu thì nguy cơ nhiễm trùngcàng cao, dễ bị choáng do mất nước và đau
- Bỏng nặng:
+ Diện tích bỏng trên 25% diện tích da
+ Diện tích bỏng sâu trên 10% diện tích da
+ Bỏng sâu ở đầu, ở bàn tay, bàn chân hoặc tầng sinh môn
+ Bỏng điện cao thế hoặc hóa chất
- Bỏng vừa:
+ Diện tích bỏng từ 15 - 25% diện tích da
+ Diện tích bỏng sâu từ 2 - 10% diện tích da
+ Bỏng trung bì nông ở đầu, bàn tay, bàn chân
- Bỏng nhẹ:
+ Diện tích bỏng dưới 15% diện tích da
+ Diện tích bỏng sâu dưới 2% diện tích da
- Cơ quan hô hấp rất dễ bị ảnh hưởng và có thể để lại thương tích khi nhiễm phảikhói độc, khí nóng hay hóa chất Các mô xung quanh bị tổn thương và phù nề gây khóthở Các triệu chứng sau cho thấy đường hô hấp của nạn nhân có thể bị tổn thương:
Trang 14+ Giọng nói khàn.
+ Khó thở
Cho dù nạn nhân bị bỏng do bất cứ nguyên nhân nào, mức độ nặng nhẹ ra sao,nếu đường hô hấp bị tổn thương cần phải đưa nạn nhân đi cấp cứu để điều trị kịp thời
2 Nguyên nhân gây bỏng
- Bỏng khô: Lửa hoặc tiếp xúc với vật nóng, thuốc lá, ma sát
- Bỏng nước: Hơi nước nóng, nước nóng hay dầu, mỡ nóng
- Bỏng điện: Điện hạ thế, điện dân dụng, sự phóng điện cao thế, sét đánh
- Bỏng lạnh: Kim loại rất lạnh, ni tơ lỏng (-1900C), ôxy lỏng
- Bỏng do hoá chất: Các hoá chất dùng trong công nghiệp, các loại khí độc, các
chất ăn mòn, thuốc tẩy, nhất là các loại xút
- Bỏng do bức xạ: Bức xạ nhiệt, các đèn tia cực tím mạnh, các nguồn phóng xạ
3 Độ sâu của vết bỏng
a) Bỏng độ I (Bỏng bề mặt):
Chỉ bỏng lớp ngoài da, da bị sưng đỏ đau
rát như cháy nắng, bỏng nhẹ Bỏng này thường
mau lành, không cần chữa trị đặc biệt
Trang 15có khi thấy lòi xương.
- Vết bỏng dù lớn hay nhỏ chúng cần phải
chữa trị ngay, nhiễm trùng phải ghép da
- Bỏng diện tích lớn rất nguy hiểm đến tính mạng
4 Quy trình sơ cứu một nạn nhân bị bỏng
Mục đích của việc sơ cứu bỏng là làm giảm tổn thương tổ chức và hạn chế thấpnhất tiến triển của vết bỏng bằng sự hạn chế sinh ra các yếu tố trung gian gây viêm
Bước 1: Nhanh chóng loại bỏ tác nhân gây bỏng theo nguyên tắc cách ly nạn
nhân với nguồn nhiệt Loại trừ tiếp xúc với tác nhân gây bỏng càng sớm càng tốt
- Dập tắt lửa đang cháy trên quần áo bằng cách dùng nước hoặc có thể dùng áo,chăn, vải bọc kín chỗ đang cháy để dập lửa;
- Xé bỏ quần áo đang cháy âm ỉ hoặc bị thấm đẫm nước nóng, dầu hay các dungdịch hóa chất nếu ngay sau đó không có nước lạnh dội vào vùng bỏng;
- Đối với bỏng điện thì phải ngắt ngay nguồn điện hay tách nạn nhân ra khỏinguồn điện;
- Tháo bỏ những vật cứng trên vùng bỏng như giầy, ủng, vòng, nhẫn, đồng hồ…trước khi vết bỏng sưng nề
Bước 2: Nhanh chóng làm mát vùng bị tổn thương, thường dùng nước mát (đây
là biện pháp đơn giản, hiệu quả) Thao tác này phải tiến hành ngay sau khi bị bỏng,càng sớm càng tốt, sau 30 phút mới làm thì không hiệu quả
Trang 16- Sử dụng nước sạch, nhiệt độ nước tiêu chuẩn là từ 16 200C, để ngâm và rửavùng tổn thương Tận dụng các nguồn nước sẵn có như nước đun sôi để nguội, nướcmáy, nước mưa, nước giếng…
- Có thể ngâm, rửa phần bị bỏng dưới vòi nước hay trong chậu nước mát; hoặc dội liên tục nước sạch lên vùng bỏng; hoặc đắp thay đổi bằng khăn ướt Nếu bỏng hóa chất thì phải phải rửa các hóa chất bằng nước
- Không ngâm toàn bộ cơ thể nạn nhân vào trong nước
- Không đắp các loại thuốc mỡ, lá cây… vào vùng bị bỏng khi chưa rửa sạch
- Rửa nước lạnh cũng làm tăng sự mất nhiệt, thân nhiệt tiếp tục giảm, gây sốcnặng thêm Do vậy, việc dùng nước để rửa hoặc ngâm vết thương cần được kiểm soátchặn chẽ khi diện tích bỏng lớn hơn 15% diện tích cơ thể, nhất là trẻ em và người già
Bước 3: Phòng chống sốc.
- Đặt nạn nhân ở tư thế nằm;
- Động viên, an ủi nạn nhân;
- Cho nạn nhân uống nước vì nạn nhân rất khát nhất là khi phải chuyển nạn nhân
đi xa
Chú ý:
Trang 17- Chỉ cho nạn nhân uống nước khi nạn nhân tỉnh táo, không bị nôn và không cónhững chấn thương khác.
- Dung dịch cho uống: Nếu có điều kiện nên pha dung dịch sau để cho nạn nhânuống:
Pha 1 lít nước:
+ 1/2 thìa cà phê muối ăn;
+ 1/2 thìa cà phê muối Natri Bicarbonat (NaHCO3);
+ 2 3 thìa cà phê đường hoặc mật ong, nước cam, chanh ép
Nếu không có điều kiện để pha dung dịch trên thì có thể cho nạn nhân uống nướcchè đường, nước trái muối, đường hoặc Oreson
- Dùng thuốc giảm đau cho nạn nhân Khi dùng thuốc giảm đau, phải chú ý nếunghi ngờ nạn nhân có chấn thương bên trong thì không được dùng thuốc giảm đau, anthần mạnh
Bước 4: Duy trì đường hô hấp.
Nạn nhân bị bỏng ở vùng mặt, cổ, nhất là khi bị mắc kẹt trong khu vực có dầu, đồđạc, bàn ghế… đang bốc cháy, sẽ nhanh chóng bị phù mặt, cổ và các biến chứng củađường hô hấp do hít phải khói hơi Những trường hợp này phải được ưu tiên số một vàphải được chuyển đến bệnh viện ngay Nhưng trong khi chờ đợi, phải theo dõi sát nạnnhân và phải đảm bảo sự thông thoát đường hô hấp (giữ tư thế đúng hoặc có thể đặt mộtcanuyn vào mũi hoặc miệng nạn nhân, có trường hợp phải mở khí quản…)
Bước 5: Phòng chống nhiễm khuẩn.
Bản thân vết bỏng là vô khuẩn Do vậy, khi cấp cứu bỏng phải rất cẩn thận đểtránh vết bỏng bị nhiễm bẩn, như:
- Không dùng nước không sạch để dội hoặc đắp vào vết bỏng
- Nếu có điều kiện, người cứu nên rửa tay sạch và tránh động chạm vào vết bỏng
Bước 6: Băng vết bỏng.
- Không được bôi dầu mỡ, dung dịch cồn, kể cả kem kháng sinh vào vết bỏng
- Không được chọc phá các túi phỏng nước
- Không được bóc da hoặc mảnh quần áo dính vào vết bỏng
- Nếu có điều kiện thì phủ vùng bỏng bằng gạc, vải (loại không có lông tơ) vôkhuẩn, nếu không có thì dùng gạc, vải càng sạch càng tốt
Trang 18- Vết bỏng sẽ chảy ra nhiều dịch nên trước khi dùng băng co giãn để băng vếtbỏng lại thì phải đệm một lớp bông thấm nước lên trên gạc hoặc vải phủ vết bỏng Nếukhông có băng co giãn thì chỉ được băng lỏng vùng bỏng để đề phòng vết bỏng sưng nềgây chèn ép.
- Nếu bỏng bàn tay thì có thể cho bàn tay vào một túi nhựa rồi băng lỏng cổ tay,làm như vậy sẽ cho phép nạn nhân vẫn cử động được các ngón tay một cách dễ dàng vàtránh làm bẩn vết bỏng
- Nếu vết bỏng ở cổ tay hoặc cổ chân thì trước hết phủ vết bỏng bằng gạc vôkhuẩn hoặc vải sạch, sau đó cho vào một túi nhựa Có thể đặt nẹp cố định chi bị bỏng,nhưng trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải nâng cao chi bỏng để chống sưng nề cácngón chân, ngón tay và khuyên nạn nhân vận động sớm các ngón chân, ngón tay nếu cóthể
Bước 7: Chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất Cần lưu ý và sơ cứu những
tổn thương phối hợp (cố định chi gãy; cố định cột sống, cổ nếu nghi ngờ có chấn thươngcột sống, cổ…)
V Sơ cấp cứu nạn nhân gãy xương
1 Định nghĩa về gãy xương
Gãy xương là tình trạng mất tính liên tục của xương, nó có thể biểu hiện dướinhiều hình thức từ một vết rạn cho đến sự gãy hoàn toàn của xương
Các nạn nhân có thể bị gãy xương do bị các vật nặng, các cấu kiện xây dựng sập
đổ đè và đập lên cơ thể; các bánh xe ô tô, xe máy đè lên các chi hay các bộ phận kháccủa cơ thể trong các vụ tai nạn giao thông; các nạn nhân bị rơi, ngã hay nhảy từ trên caoxuống…
2 Các loại gãy xương
Gãy xương được chia làm 2 loại chính: gãy xương kín và gãy xương hở và cả haiđều có thể là gãy xương biến chứng
- Gãy xương kín: Là loại gãy xương mà tổ chức da ở vùng xung quanh xương gãykhông bị tổn thương hoặc có thể tổn thương nhưng không thông với ổ gãy
- Gãy xương hở: Là loại gãy xương khi có tổn thương thông từ bề mặt của da với
ổ gãy hoặc một đầu xương gãy chồi ra ngoài
Trang 19Gãy xương hở là một tổn thương nghiêm trọng vì không những nó gây nên chảymáu ngoài trầm trọng mà còn vì vi khuẩn dễ dàng xâm nhập gây nên những biến chứngnhiễm khuẩn rất nặng nề, khó điều trị.
- Gãy xương biến chứng: Cả gãy xương hở và gãy xương kín đều được coi là gãyxương biến chứng khi có một tổn thương kèm theo Ví dụ: Khi đầu xương gãy làm tổnthương dây thần kinh và mạch máu hoặc một tổ chức, cơ quan nào đó, hoặc khi gãyxương kết hợp với trật khớp
3 Triệu chứng và dấu hiệu chung
- Nạn nhân có thể cảm thấy hoặc nghe thấy tiếng kêu “răng rắc” của xương gãy
- Đau ở chỗ chấn thương hoặc ở gần vị trí đó Đau tăng khi vận động
- Giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng vận động
- Có phản ứng tại chỗ gãy khi ấn nhẹ lên vết thương
- Sưng nề sau đó bầm tím ở vùng chấn thương
- Biến dạng tại vị trí gãy (Ví dụ: chi gãy bị ngắn lại, gập góc hoặc xoắn vặn,v.v…)
- Khi khám có thể nghe hoặc cảm thấy tiếng lạo xạo của hai đầu xương gãy cọvào nhau (Không được cố gắng tìm dấu hiệu này vì làm nạn nhân rất đau)
- Có thể có triệu chứng sốc Tình trạng sốc thường xảy ra và được nhận thấy rất
rõ trong các trường hợp gãy xương đòn hoặc vỡ xương chậu
+ Nếu có sự kết hợp của 2 hay 3 dấu hiệu của các triệu chứng kể trên hoặc nếunạn nhân có biểu hiện của tình trạng sốc và đau nhiều ở chi hoặc nếu có nghi ngờ vềtính nghiêm trọng của một chấn thương thì hãy xử trí như một trường hợp gãy xương
4 Mục đích của cố định tạm thời gãy xương
- Cố định tạm thời gãy xương đối với nạn nhân bị gãy xương nhằm mục đích giữcho ổ gãy được tương đối yên tĩnh để vận chuyển đi cấp cứu được an toàn, tạo điều kiệnthuận lợi cho việc cứu chữa tiếp theo
Trang 20Một vết thương có gãy xương lớn hoặc gãy nhiều xương làm mạch máu, dây thầnkinh dễ bị tổn thương do các đầu xương gãy di lệch hoặc do các mảnh xương vỡ Nếukhông cố định tốt có thể dẫn đến những tai biến nguy hiểm như: choáng do mất máu, dođau đớn hoặc xuất hiện thêm những tổn thương mới do các đầu xương gãy di độngtrong quá trình vận chuyển gây nên và nhiễm khuẩn vết thương.
- Cố định tạm thời vết thương là thao tác không quá phức tạp, nhưng cần phảiđược tập luyện thành thục ở mọi tư thế, cả ban ngày và ban đêm Đồng thời phải chuẩn
bị đầy đủ các loại nẹp Cùng với băng bó, cầm máu, cố định tạm thời gãy xương lànhững biện pháp phòng chống sốc, chống nhiễm khuẩn tích cực
5 Nguyên tắc cố định tạm thời gãy xương
- Động tác cấp cứu phải thật nhẹ nhàng, không được di động nơi bị gãy xươnghoặc đang cố định xương gãy
- Nẹp phải cố định được khớp trên và khớp dưới ổ gãy
- Nẹp phải được cuốn bông, gạc chỗ dễ cọ sát vào cơ thể
- Không cởi quần, áo nạn nhân (nếu cởi sẽ gây nguy hiểm) Phải cắt quần áo hoặctháo đường chỉ để nhận biết vị trí và mức độ tổn thương
- Nếu ổ gãy có di lệch, biến dạng lớn (gấp góc, xoắn vặn, co ngắn chi nhiều) saukhi giảm đau tốt có thể nhẹ nhàng kéo chỉnh lại trục chi nhằm giảm bớt biến dạng
Động tác kéo nắn chỉnh không nhằm mục đích nắn chỉnh các đầu xương mà chỉgiảm bớt biến dạng, giảm bớt nguy cơ tổn thương phần mềm do các đầu xương gãy vàtạo điều kiện thuận lợi cho việc nắn chỉnh
- Trường hợp gãy hở: Không được kéo, nắn, ấn đầu xương vào trong ổ gãy Đểnguyên tư thế gãy mà cố định
- Nếu có tổn thương động mạch phải băng vết thương trước, buộc nẹp sau
- Sau nẹp có thể buộc hai chi dưới với nhau, buộc chi trên vào cơ thể cho thuậntiện cho việc vận chuyển bệnh nhân
- Băng cố định tương đối chặt để tránh xộc xệch nẹp trong quá trình vận chuyển
- Cần khám nghiệm khắp cơ thể nạn nhân để tìm xem có còn thương tích nàokhác không để xử lý và chuyển thương được tốt
- Nhanh chóng, nhẹ nhàng vận chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế chữa trị Lưu ýgiữ gìn tư thế đúng trong khi vận chuyển và theo dõi sát tình trạng toàn thân của nạnnhân
Trang 216 Dụng cụ cố định tạm thời gãy xương
a) Nẹp
Sử dụng nẹp tre, nẹp gỗ, nẹp Crame, nẹp Thomas, nẹp Beckel Không có nẹp cóthể dùng que, cành cây, bìa các tông, sách, vở, chăn, băng thun… Nẹp dài ít nhất phảibằng xương gãy Nẹp ngắn thì nối lại
- Nẹp tre hoặc gỗ:
Đây là hai loại nẹp được sử dụng rộng rãi và thuận tiện Nẹp loại này dễ kiếm, đủ độ cứng, dễ cố định Một bộ nẹp tốt phải đúng quy cách (trơn, nhẵn, thẳng, bịt kín hai đầu, đủ độ cứng và phù hợp với độ dài chi được cố định).
+ Chi trên: dài 35 45cm, rộng 5
-6cm, dày 0,5cm
+ Chi dưới: dài 80 - 100cm, rộng
8 - 10cm, dày 0,8cm
- Nẹp Crame: Nẹp này làm bằng
thép, có thể uốn cong theo các khuỷu;
thường dùng để cố định gãy xương cánh
tay, cẳng tay và cẳng chân
- Nẹp Thomas (giá Thomas): Loại
này thường dùng trong trường hợp gãy
xương đùi
- Nẹp Beckel (máng Beckel): Loại
này thường dùng trong trường hợp gãy
xương cẳng chân
b) Bông
- Dùng để đệm lót nơi đầu nẹp hoặc nơi đầu xương cọ sát vào nẹp
- Nếu có điều kiện nên dùng bông mỡ (không thấm nước); nếu không có, có thểdùng bông thường hoặc dùng vải hay quần áo
c) Băng
- Dùng để buộc cố định nẹp
- Băng phải đảm bảo: rộng bản, dài vừa phải, bền chắc
- Nếu không có băng thì có thể dùng các dải dây buộc
Trang 22Chú ý: Trong thực tế không phải lúc nào cũng có sẵn các vật dụng để cố định tạm
thời gãy xương nên người ta thường dùng khăn tam giác để bất động tạm thời một sốloại gãy xương và dùng nẹp cơ thể (cố định chi gãy vào chi lành, buộc tay vào ngực…)
7 Cố định tạm thời gãy xương một số trường hợp cụ thể bằng nẹp tre hoặc gỗ
7.1 Gãy xương hở
a) Trường hợp xương chồi ra ngoài vết thương
Chú ý:
- Không bao giờ được kéo đầu xương
gãy vào trong
- Bǎng bó vết thương rồi mới cố định
theo tư thế gãy
(5) Tiến hành nẹp bất động như các trường hợp gãy xương kín;
(6) Chuyển nạn nhân tới bệnh viện ngay Đây là cấp cứu ưu tiên Lưu ý giữ gìn
tư thế đúng trong khi vận chuyển và theo dõi sát tình trạng toàn thân của nạn nhân
Chú ý: vành khǎn hoặc đệm bông phải có chiều dày đủ để không gây áp lực lên
đầu xương khi bǎng ép
b) Trường hợp xương gãy không chìa đầu ra ngoài
(1) Cầm máu bằng cách ép nhẹ nhàng mép vết thương lại (không ấn mạnh vếtthương ở vị trí gãy);
Trang 23(2) Đặt một miếng gạc lên trên vết thương và đệm bông ở xung quanh miệng vếtthương;
(3) Xử trí như trường hợp gãy xương hở có xương chồi ra ngoài
7.2 Gãy xương bàn tay, ngón tay
- Đặt một cuộn băng to vào lòng bàn tay Bàn tay ở tư thế sấp, các ngón tay ở tưthế nửa sấp;
- Đặt một nẹp to bản thẳng từ cánh tay xuống đến bàn tay;
- Cố định cẳng tay và bàn tay
vào nẹp; để hở các ngón tay để theo
dõi sự lưu thông của máu;
- Dùng một băng tam giác hoặc băng cuộn treo cẳng tay lên cổ
7.3 Gãy xương tay
7.3.1 Trường hợp gấp được khuỷu tay
a) Gãy xương cẳng tay
- Để cẳng tay sát thân người, cẳng
tay vuông góc cánh tay, lòng bàn tay ngửa;
- Nẹp thứ nhất đặt ở mặt trước cẳng
tay từ nếp khuỷu đến khớp bàn ngón tay;
- Nẹp thứ hai dài hơn nẹp thứ nhất,
đặt ở mặt sau cẳng tay, từ mỏm khuỷu đến
khớp bàn tay ngón ở phía mu tay;
- Cố định hai nẹp vào bàn tay và cẳng tay ở hai đoạn, đoạn thứ nhất ở bàn tay và
cổ tay, đoạn thứ hai ở trên và dưới khớp khuỷu;
- Dùng một băng tam giác hoặc băng cuộn treo cẳng tay ở tư thế gấp 900
b) Gãy xương cánh tay
- Để cánh tay sát thân người, cẳng tay
vuông góc cánh tay (tư thế co);
Trang 24định nẹp (một ở trên và một ở dưới ổ gãy);
- Dùng băng tam giác treo cẳng tay trước ngực ở tư thế vuông góc 900, bàn tay đểngửa;
- Dùng băng rộng bản băng ép cánh tay vào thân người, thắt nút ở phía trước phía không bị thương
Chú ý:
Trong các trường hợp không có nẹp:
+ Dùng một cuộn băng tam giác treo
cẳng tay vuông góc với cánh tay;
+ Cố định chi vào thân người bằng
các vòng băng hoặc băng tam giác
7.3.2 Trường hợp không thể gấp khuỷu tay
- Không được cố dùng sức để gấp khuỷu tay Bảo nạn nhân dùng tay kia đỡ tay bịthương ở vị trí đó nếu có thể;
- Đặt một miếng đệm dài vào giữa tay bị thương và thân người;
- Buộc tay bị thương vào cơ thể bằng 3 dải băng rộng bản ở các vị trí:
+ Quanh cổ tay và đùi
+ Quanh cánh tay và ngực
+ Quanh cẳng tay và bụng
- Cho nạn nhân nằm xuống và đặt tay bị thương dọc theo thân
7.4 Gãy xương chân
7.4.1 Gãy xương cẳng chân
Cần 3 người thực hiện:
Trang 25+ Người thứ hai: đỡ gót chân, cổ chân và kéo nhẹ theo trục của chi liên tục bằngmột lực không đổi trong suốt thời gian cố định nẹp (đối với trường hợp gãy xương kín).
+ Người thứ ba: cố định gãy xương.
- Băng cố định nẹp ở 3 vị trí: cổ chân, dưới và trên khớp gối, giữa đùi và băng số
8 giữ bàn chân vuông góc với cẳng chân
7.4.2 Gãy xương đùi và khớp háng
a) Cố định bằng nẹp tre, gỗ
Cần 3 nẹp và 3 người thực hiện:
+ Người thứ nhất: luồn tay đỡ đùi ở phía trên và phí dưới ổ gãy
+ Người thứ hai: đỡ gót chân và giữ bàn chân ở tư thế luôn vuông góc với cẳngchân
+ Người thứ ba: đặt nẹp
- Đặt 3 nẹp:
+ Nẹp ngoài từ hố nách xuống qua gót chân
+ Nẹp trong từ bẹn xuống quá gót chân
+ Nẹp dưới từ nách xuống quá gót chân.
- Dùng các dải dây rộng bản để
buộc cố định nẹp ở các vị trí: trên ổ
gãy, dưới ổ gãy, ngang ngực, ngang
hông, dưới đầu gối, cổ chân (băng
kiểu băng số 8)
- Buộc chi gãy vào chi lành ở cổ chân, đầu gối và đùi
Lưu ý:
+ Các nẹp đều phải lót bông vào chỗ giáp các xương
+ Không được buộc nút ở phía chi gãy
+ Sau khi cố định chân gãy xong, nâng cao chân lên một chút để giảm sưng
nề và khó chịu cho nạn nhân
Trang 26+ Phải dùng cáng cứng để vận chuyển người bị gãy xương đùi sau khi đã được cốđịnh tốt.
b) Cố định bằng nẹp cơ thể
Trường hợp không có nẹp tre, gỗ thì tiến hành buộc chi gãy vào chi lành ở các vịtrí: trên ổ gãy, dưới ổ gãy, dưới đầu gối, cẳng chân, cổ chân (dùng kiểu băng số 8 đểbuộc hai chân và bàn chân lại với nhau)
- Băng tam giác với điểm tựa ở
khuỷu tay bên bị thương;
- Gấp mép băng ở bên dưới bàn tay và bên dưới cánh tay bị thương;
- Cột tại xương đòn bằng nút thắt;
- Dùng ghim kim phần băng thừa cho thật chặt hoặc xoắn và giắt mối;
- Có thể nâng đỡ thêm bằng cách quấn băng vòng quanh cánh tay và mình
b) Phương pháp thứ hai
Dùng băng tam giác treo cánh tay.
- Đặt tay phía xương đòn bị gãy
chéo ngang ngực;
- Đặt băng giữa cánh tay và ngực,
kéo một đầu băng vòng lên phía sau cổ
sang phía bị thương;
- Kéo đầu băng bên dưới (bao luôn
cánh tay) lên trên vai gặp đầu băng trên;
- Cố định nút thắt của hai đầu băng ở sau gáy nạn nhân;
- Kéo đỉnh băng (đầu mút) tới trước khuỷu tay để cố định lại, cài chặt lại phía trênkhuỷu tay bằng kim băng hoặc xoắn đỉnh băng cho đến khi vừa khít khuỷu tay và nhétđỉnh băng vào trong băng ngay phía trước cánh tay;
Trang 27- Cố định cánh tay với ngực bằng băng cuộn lớn trên băng treo.
c) Phương pháp thứ ba
Băng hai vai theo kiểu số 8
Việc này cần hai người thực hiện.
- Người thứ nhất: Nắm 2 cánh tay
nạn nhân nhẹ nhàng kéo ra phía sau bằng
một lực vừa phải, không đối trong suốt
thời gian cố định
- Người thứ hai: Dùng băng băng
kiểu số 8 để cố định xương đòn Hai
vòng số 8 bắt chéo nhau ở sau lưng
Chú ý: Phải đệm lót tốt ở hai hố nách để tránh gây cọ sát làm nạn nhân đau khibăng
d) Phương pháp thứ tư
Dùng nẹp chữ T
- Cho nạn nhân ưỡn ngực, hai vai kéo về phía sau;
- Chèn bông hoặc bǎng dưới hai hố
nách và hai bả vai;
- Đặt nẹp chữ T sau vai, nhánh dài
dọc theo cột sống, nhánh ngang áp vào
vai (nẹp chữ T phải đảm bảo nhánh dài
đủ dài qua thắt lưng, nhánh ngang to bản
và dài qua khỏi vai);
- Quấn bǎng vòng tròn từ nách qua vai buộc nút ở bả vai Quấn bǎng vòng thắtlưng, buộc nút ở vị trí thích hợp không để vướng
7.6 Gãy xương sống
a) Gãy cột sống lưng
- Khuyên nạn nhân nằm yên, không được cố vận động các phần của cơ thể
- Nếu có thể chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện thì đừng di chuyển nạn nhân
+ Người cứu dùng tay giữ chắc đầu nạn nhân (áp hai bàn tay vào tai nạn nhân vớicác ngón xuôi dọc theo cằm, giữ đầu và cổ thẳng hàng với cột sống);
+ Nếu có người đứng xung quanh thì bảo họ đỡ 2 bàn chân nạn nhân;
Trang 28+ Gấp vải, chǎn hoặc gối hoặc quần áo để dọc sát hai bên thân nạn nhân để đỡnạn nhân;
+ Đắp chǎn cho nạn nhân trong khi chờ đợi xe cấp cứu
- Nếu không thể chuyển ngay nạn
nhân tới bệnh viện hoặc đường đi tới
bệnh viện xa khó đi thì phải:
+ Đỡ vai và khung chậu nạn nhân
(người phụ giúp đỡ nên phân bố đều
quanh nạn nhân) và thận trọng đặt đệm
mềm vào giữa 2 chân;
+ Buộc bǎng hình số 8 ở quanh cổ
chân và bàn chân, buộc các dải bǎng to
ở đầu gối và đùi
- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện:
+ Đặt nạn nhân trên một cáng
cứng ở tư thế nằm ngửa Khi đặt phải hết
sức nhẹ nhàng, thận trọng; những người
cứu phải phối hợp động tác thật tốt
(người giữ đầu nạn nhân hướng dẫn
những người phụ giúp khác), phải giữ
cho người nạn nhân và cột sống luôn
luôn thẳng; không được nâng cao hai vai
b) Gãy đốt sống cổ
- Khuyên nạn nhân không được cố vận động Đỡ đầu và cổ nạn nhân cho đến khi
Trang 29- Nếu không thể chuyển ngay nạn nhân đến bệnh viện thì phải nới rộng cổ áo vàlót một vòng đệm cổ;
- Đắp chǎn cho nạn nhân trong khi chờ đợi xe cấp cứu;
- Nếu buộc phải di chuyển nạn nhân thì phải xử trí như trường hợp gãy cột sốnglưng
Lót vòng đệm cổ:
+ Nếu không có sẵn vòng đệm cổ thì gấp một tờ báo lại với bề rộng khoảng10cm Sau đó dùng bǎng tam giác gói lại hoặc nhét tờ báo đã gấp lại đó vào trong mộtbít tất dài;
+ Đặt phần giữa của vòng đệm cổ vào phía trước của cổ ngay phía dưới cằm;
+ Quấn vòng đệm cổ này quanh cổ nạn nhân và buộc nút ở phía trước của cổ;
+ Đảm bảo chắc chắn rằng vòng đệm cổ không gây tắc nghẽn đường thở
7.7 Vỡ xương chậu
- Đặt nạn nhân nằm ngửa, chân duỗi thẳng hoặc hơi co đầu gối, nếu nạn nhâncảm thấy thoải mái dễ chịu hơn ở tư thế này Dùng gối hoặc chǎn mỏng gấp lại để kêdưới gối;
- Nếu chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện thì đắp chǎn cho nạn nhân và đợi xecấp cứu đến;
- Nếu không chuyển ngay được đến bệnh viện hoặc đường đi tới bệnh viện xa(mất trên 30 phút) hoặc đường khó đi thì phải nhẹ nhàng buộc 2 vòng bǎng to bản ởkhung chậu, buộc vòng bǎng phía dưới trước, vòng bǎng này đi vòng qua khớp háng
+ Nếu chỉ có một đai chậu bị tổn thương thì bǎng vòng thứ 2 chéo lên phía đaichậu của bên bị tổn thương;
+ Nếu cả 2 bên đai chậu đều tổn thương thì buộc chính giữa;
+ Đặt đệm mỏng vừa đủ vào giữa hai đầu gối và mắt cá;
+ Bǎng số 8 xung quanh mắt cá và bàn chân và bǎng một bǎng rộng bản ở đầugối Buộc nút ở bên phần không bị tổn thương;
- Khi chuyển nạn nhân tới bệnh viện (nếu không có xe cứu thương) phải:
+ Đặt nạn nhân nằm ngửa
trên cáng cứng, chi ở tư thể nửa
co, đùi dạng nhẹ (tư thế sản
khoa) Phía dưới hai khớp gối đặt
Trang 30một cái chăn hoặc gối;
+ Cố định nạn nhân vào cáng cứng ở ngang ngực, khung chậu và cổ chân
- Nếu có máu, dịch não tủy chảy ra từ tai thì đặt nạn nhân nằm nghiêng về phía
đó, áp vào tai đó một miếng gạc vô khuẩn hoặc vật liệu tương tự sau đó bǎng lại bằngbǎng cuộn (không đút nút lỗ tai);
- Nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường thì đặt nạn nhân nằm ở tư thế hồiphục nghiêng về bên bị tổn thương;
- Kiểm tra nhịp thở, mạch và mức độ đáp ứng (tỉnh táo) 10 phút/lần;
- Nếu ngừng thở ngừng tim thì tiến hành hồi sinh hô hấp - tuần hoàn ngay;
- Chuyển nạn nhân đến bệnh viện càng sớm càng tốt
Lưu ý: nếu não phòi ra ngoài sọ không được bôi thuốc và bǎng ép
VI Cấp cứu nạn nhân hít phải khói
- Hít phải khói, gas, hơi khí độc có thể làm chết người Không được gắng sức cứungười nếu có nguy hại đến bản thân Khói tích tụ trong một không gian chật hẹp có thểlàm người cứu nạn, cứu hộ không được trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ bị ngất xỉu
- Bất cứ ai ở trong không gian chật hẹp đều có thể hít phải khói khi nơi đó xảy rahỏa hoạn Khói do cháy nhựa, nệm mút, sợi tổng hợp sẽ chứa nhiều khí độc Nạn nhâncần phải được giám định các vết thương khác do lửa gây ra