1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh

24 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 485,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu nắm bắt được những yếu tố ảnh hưởng đến kiệt quệ tài chính có thể giúp doanh nghiệp có cơ sở nắm bắt được các yếu tố có khả năng tác động đến kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp, từ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây có những biến chuyển và thay đổi mạnh mẽ, làn sóng start up nở rộ và phát triển nhanh chóng, mang đến cho các công ty nhiều cơ hội trong hoạt động kinh doanh, tuy nhiên các thống kê cho thấy hằng năm có rất nhiều DN bị tạm dừng hoạt động, phá sản Doanh nghiệp phá sản sẽ gây ra những tác động tiêu cực qua xã hội và nền kinh tế Trước khi xảy ra phá sản, doanh nghiệp sẽ rơi vào một giai đoạn gọi là “kiệt quệ tài chính” Nếu nắm bắt được những yếu tố ảnh hưởng đến kiệt quệ tài chính có thể giúp doanh nghiệp có cơ sở nắm bắt được các yếu tố có khả năng tác động đến kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp,

từ đó đề ra những biện pháp khắc phục những yếu kém kịp thời Ngoài ra, việc nhận biết những dấu hiệu kiệt quệ tài chính sớm là cơ

sở đưa ra những giải pháp giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng kiệt quệ và giảm những thất thoát do kiệt quệ tài chính gây ra Đó là

lý do mà tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của công ty niêm yết trên

sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

a Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu này nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh

b Mục tiêu cụ thể

Bài nghiên cứu nhằm kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của công ty, cụ thể:

Trang 2

Các nhân tố tài chính và phi tài chính tác động đến khả năng kiệt quệ tài chính của công ty

Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đó

Đề xuất mô hình dự báo kiệt quệ tài chính cho các công ty

niêm yết ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh trong năm 2010 – 2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài

Ý nghĩa khoa học: Khái quát và phát triển những vấn đề lý luận về những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn mang lại một số ý nghĩa thực tiễn cho doanh nghiệp như sau:

Kết quả nghiên cứu giúp cho doanh nghiệp có cơ sở nắm bắt được các yếu tố có khả năng tác động đến kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp làm cơ sở đưa ra những giải pháp giúp doanh nghiệp

Trang 3

thoát khỏi tình trạng kiệt quệ và giảm những thất thoát do kiệt quệ tài chính gây ra

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu, hàm ý nghiên cứu và đề xuất

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Đối với nghiên cứu nước ngoài:

Beaver (1966) từ kết quả thực nghiệm, đã đưa ra kết luận rằng khi muốn phát hiện dấu hiệu một doanh nghiệp lâm vào kiệt quệ tài chính, chúng ta sẽ so sánh các chỉ số tài chính của doanh nghiệp

đó với ngưỡng giới hạn được Beaver đưa ra Ngưỡng giới hạn được Beaver tính toán từ việc so sánh các chỉ số tài chính của doanh nghiệp phá sản và không phá sản, và được lựa chọn dựa trên phương pháp thử sao cho xác suất của việc dự báo sai là nhỏ nhất

Một trong những nghiên cứu tiêu biểu về các nhân tố ảnh hưởng đến kiệt quệ tài chính là nghiên cứu của Atlman (1968) Alman đưa ra mô hình dự báo xác suất phá sản Z – score Kết quả nghiên cứu, Alman đưa ra kết quả rằng doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, có nguy cơ cao phá phá sản/kiệt quệ tài chính nếu chỉ số Z<1.81 với các biến ảnh hưởng đến kiệt quệ tài chính bao gồm: Vốn luân chuyển/Tổng tài sản, Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản, EBIT/Tổng tài sản, Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu/Giá trị sổ sách của nợ phải trả, Tổng doanh thu/Tổng tài sản

Trang 4

Tuy nhiên, Ohlson (1980) cho rằng với các giả định trong nghiên cứu của Altman sẽ dẫn đến chệch trong kiểm định ý nghĩa Trong nghiên cứu của mình, Ohlson sử dụng mô hình hồi quy Logistic và đưa ra 9 biến độc lập để sử dụng trong mô hình dự báo sự phá sản/kiệt quệ tài chính Kết quả nghiên cứu, Ohlson đưa ra kết luận các biến độc lập như tổng nợ phải trả/ tổng tài sản, nợ ngắn hạn/tài sản lưu động, thu nhập ròng trong hai năm tăng (giảm), có tính chất đồng biến và các biến quy mô doanh nghiệp, vốn lưu động ròng/tổng tài sản, lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản, quỹ hoạt động/tổng phải trả, có tính chất nghịch biến với kiệt quệ tài chính

Platt, H.D và Platt, M.B (2006) sử dụng mô hình nhị phân Binary Logistic với biến phụ thuộc là “1” nếu công ty bị kiệt quệ tài chính và “0” nếu công ty không bị kiệt quệ tài chính để xây dựng mô hình kiệt quệ tài chính cho mẫu khảo sát Kết quả đưa ra các nhân tố

có tác động đến kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp, bao gồm : dòng tiền trên doanh thu; lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) trên tổng tài sản; nợ dài hạn đến hạn trả trên tổng tài sản;

tỷ sổ khả năng trả lãi (EBIT/chi phí lãi vay); tỷ số thanh toán nhanh

Kế thừa nghiên cứu của Ohlson,Ying Wuang và Michael Campbell (2011) đã tiến hành kiểm chứng lại mô hình của Ohlson

về dự báo phá sản, kiệt quệ Cũng giống nghiên cứu của Ohlson,

mô hình hồi qui Logistic được sử dụng Kết quả nghiên cứu thu được tương tự như Ohlson

Đối với nghiên cứu trong nước:

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hồng Vân (2017) sử dụng

mô hình Binary Logistic Regression để đo lường khả năng xảy

ra kiệt quệ tài chính của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường

Trang 5

chứng khoán của Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã xác định được các nhân tố tác động đến kiệt quệ tài chính doanh nghiệp gồm tỷ số thanh toán hiện thời, tỷ số nợ và quy mô doanh nghiệp Trong nghiên cứu của Lưu Trọng Đức (2012) cho thấy tỷ lệ đòn bẩy và xếp hạng tín nhiệm có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp

Cũng sử dụng mô hình hồi quy Logistic, tác giả Bùi Thị Minh Ngọc (2013) nghiên cứu kết quả cho thấy rằng hai biến có ý nghĩa thống kê, ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp là: Vốn lưu động ròng trên tổng tài sản và lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA

DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm về khả năng kiệt quệ tài chính

Theo Trịnh Ngọc Thơ và các cộng sự (2005): “Kiệt quệ tài chính xảy ra khi không thể đáp ứng các hứa hẹn với các chủ nợ hay đáp ứng mộ cách khó khăn Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa đến phá sản Đôi khi nó chỉ có nghĩa là đang gặp khó khăn, rắc rối”

Nhìn nhận kiệt quệ tài chính từ góc độ phá sản của doanh nghiệp, Foster (1986) cho rằng nộp đơn xin phá sản là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang rơi vào kiệt quệ tài chính

Trong một nghiên cứu khác, Jones và Henser (2004) phát biểu rằng có hai tình trạng mà một doanh nghiệp niêm yết trên thị

Trang 6

trường chứng khoán bị cho là kiệt quệ: Tình trạng thứ nhất là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các khoản nợ tới hạn Tình trạng thứ hai là doanh nghiệp nộp đơn xin phá sản

Theo Brealey Myers (2003), kiệt quệ tài chính xảy ra khi công ty gặp khó khăn tài chính (financial difficulties) không thể đáp ứng các hứa hẹn với các chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn

1.1.2 Dấu hiệu kiệt quệ tài chính

Một số dấu hiệu cụ thể của tình trạng kiệt quệ tài chính có thể nhận biết như sau:

Giai đoạn “thất bại”

Doanh nghiệp gặp một số khó khăn trong hoạt động kinh doanh như: doanh nghiệp bị khách hàng phàn nàn và mất khách hàng thân thiết làm cho doanh số bán hàng sụt giảm, doanh thu không đủ

bù đắp chi phí làm thu nhập hoạt động bị âm, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hồi công nợ nên thỉnh thoảng bị thiếu hụt tiền mặt để hoạt động

Giai đoạn “mất khả năng thanh khoản”

Một số dấu hiệu để nhận biết một doanh nghiệp kiệt quệ tài chính trong giai đoạn mất khả năng thanh khoản là: thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) thấp hơn chi phí tài chính (chi phí lãi vay) trong hai năm liên tiếp bắt đầu từ năm sau phát hành trái phiếu, trong bất kỳ vào một năm nào doanh nghiệp có EBITDA thấp hơn 80% chi phí lãi vay (Asquith, Gertner, và Scharfstein, 1994); tỷ

số đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp cao hơn 1 trong hai năm liên tiếp; thu nhập trước thuế, lãi vay (EBIT) thấp hơn chi phí lãi vay trong hai năm liên tiếp (Joseph P.H.Fan, Jun Huang và, Ning Zhu, 2013)

Trang 7

Giai đoạn “vỡ nợ, phá sản”

Một số dấu hiệu nhận biết một doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng vỡ nợ và phá sản là: doanh nghiệp nộp đơn xin phá sản; doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản tự nguyện hay bắt buộc theo luật định; doanh nghiệp được một tổ chức khác tiếp nhận lại về mặt quản

lý hoặc sở hữu (Christidis và Gregory, 2010)

1.1.3 Nguyên nhân kiệt quệ tài chính

Nguyên nhân gây ra tình trạng kiệt quệ tài chính được phân

chia thành nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài

Theo Jahur và Quadir (2012), nhân tố bên trong đề cập đến các vấn đề nội bộ liên quan đến quản lý yếu kém của công ty

Adeyemi (2012 ) cho rằng đối với các công ty mới thành lập, nguyên nhân quan trọng nhất gây ra kiệt quệ tài chính là sự thiếu vốn ngay từ lúc khởi đầu kinh doanh

Các nhân tố bên ngoài tác động lên toàn bộ thị trường bao gồm: sự cạnh tranh của các đối thủ trong thị trường, sự vỡ nợ của các đối tác kinh doanh, biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái, lãi suất tín dụng cao, thay đổi bất lợi trong chính sách của chính phủ

Quy mô công ty đóng một vai trò quan trọng quyết định công ty có rơi vào kiệt quệ tài chính hay không Monti & Mariano (2010) cho rằng chỉ có một số ít công ty lớn gặp phải các vấn đề tài chính so với những công ty vừa và nhỏ

1.1.4 Chi phí kiệt quệ tài chính

Kiệt quệ tài chính rất tốn kém Chi phí kiệt quệ tài chính có thể được chia làm hai loại như sau:

- Chi phí phá sản: gồm các chi phí trực tiếp như lệ phí tòa án và các chi phí gián tiếp khi vay nợ

Trang 8

- Chi phí kiệt quệ tài chính nhưng chưa phá sản: là mâu thuẫn quyền lợi giữa trái chủ và cổ đông khi doanh nghiệp gặp khó khăn

1.1.5 Hệ quả của kiệt quệ tài chính

Tình trạng kiệt quệ tài chính có thể gây ra hệ quả sau cho doanh nghiệp:

Mất khách hàng, các nhà cung cấp quan trọng và các nhân

sự chủ chốt

Các mâu thuẫn về quyền lợi giữa trái chủ và cổ đông của công ty

Cuối cùng, nếu công ty lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính

và đi đến phá sản sẽ phát sinh các chi phí trực tiếp liên quan đến thủ tục phá sản như: lệ phí tòa án, chi phí pháp lý và hành chính khác

1.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN

1.2.1 Lý thuyết đánh đổi (Trade Off Theory)

Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ

1.2.2 Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory)

Thuyết trật tự phân hạng đưa ra thứ tự ưu tiên sử dụng các nguồn vốn của doanh nghiệp, trước hết họ sử dụng các nguồn vốn

Trang 9

vay nội bộ, sau đó là nợ bên ngoài và cuối cùng mới là vốn chủ sở hữu Lý thuyết này nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp thích sử dụng nguồn vốn vay hơn việc tăng vốn chủ sở hữu khi nguồn vốn vay nội

bộ không đáp ứng được nhu cầu vốn của họ

1.2.3 Lý thuyết chi phí đại diện (Agency theory)

Lý thuyết chi phí đại diện của Jensen và Meckling (1976) đề cập đến mâu thuẫn lợi ích của 3 nhóm: Cổ đông, nhà quản lý và chủ

nợ Vì những lợi ích trước mắt các nhà quản lý có thể làm tổn hại đến lợi ích cổ đông và chủ nợ

1.3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

1.3.1 Mối liên hệ giữa tỷ lệ nợ và khả năng kiệt quệ tài chính

Tỷ lệ nợ phản ảnh cứ 1 đồng tài sản được tài trợ từ bao nhiêu đồng nợ, chỉ số này càng lớn chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp thấp và ngược lại Yếu tố này giúp cho doanh nghiệp cân nhắc trong việc có tiếp tục sử dụng nợ nữa hay không

1.3.2 Mối liên hệ giữa tỷ suất sinh lời và khả năng kiệt quệ tài chính

Tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp được xác định bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho tổng tài sản Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, có vai trò ước tính hiệu quả một công ty có thể kiếm

được lợi nhuận từ tài sản của mình

1.3.3 Mối liên hệ giữa tỷ lệ vốn lưu động ròng/Tổng tài sản và khả năng kiệt quệ tài chính

Trang 10

Vốn lưu động ròng là sự khác biệt giữa tài sản ngắn hạn và

nợ ngắn hạn Một giá trị tiêu cực của tỷ lệ này báo hiệu rằng công ty

có thể gặp vấn đề trong việc đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn bởi vì không có đủ tài sản ngắn hạn để trang trải nghĩa vụ nợ

1.3.4 Mối liên hệ giữa thu nhập giữ lại/Tổng tài sản và khả năng kiệt quệ tài chính

Thu nhập được giữ lại là tài khoản báo cáo tổng số tiền thu nhập tái đầu tư của một công ty trong quá trình hoạt động Tài khoản này còn được gọi là thặng dư kiếm được Những doanh nghiệp có thu nhập giữ lại cao sẽ tài trợ tài sản thông qua duy trì lợi nhuận và không sử dụng nợ

1.3.5 Mối liên hệ giữa giá trị thị trường VCSH/Giá trị sổ sách và tổng nợ đến khả năng kiệt quệ tài chính

Vốn chủ sở hữu được tính bằng giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành trên thị trường Các khoản nợ bao gồm cả ngắn hạn và dài hạn Chỉ tiêu này cho thấy tài sản của công ty có thể giảm giá trị như thế khi các khoản

nợ vượt quá tài sản và công ty trở nên vỡ nợ

1.3.6 Mối liên hệ giữa tỷ lệ doanh thu/Tổng tài sản và khả năng kiệt quệ tài chính

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hay tổng tài sản của doanh nghiệp có thể quay bao nhiêu vòng trong một năm Tỷ lệ doanh thu, tổng tài sản càng cao chứng tỏ vòng quay tài sản của doanh nghiệp nhanh, khả năng xoay vòng vốn để thanh toán nợ tốt

1.3.7 Mối liên hệ giữa quy mô công ty và khả năng kiệt quệ tài chính

Trang 11

Khi thị trường gặp khó khăn, các công ty nhỏ dễ rơi vào kiệt quệ do không tiếp cận được các khoản cho vay, các nguồn vốn ưu đãi Ngoài ra, các công ty nhỏ không có một bộ máy công ty vững mạnh điều hành, giúp đưa ra những quyết định quan trọng tại những thời điểm mấu chốt

1.3.8 Mối liên hệ giữa xếp hạng tín dụng và khả năng kiệt quệ tài chính

Xếp hạng tín dụng được thực hiện bởi các công ty xếp hạng tín dụng được cấp phép hoạt động, cung cấp các thông tin hữu ích cho nhiều đối tượng, xếp hạng tín dụng có ảnh hưởng tích cực đến kiệt quệ tài chính

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả đã tiến hành trình bày những lý luận

cơ bản về các quan điểm khái niệm kiệt quệ tài chính, nguyên nhân kiệt quệ tài chính, chi phí kiệt quệ tài chính, hệ quả của kiệt quệ tài

và các lý thuyết liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp Ngoài ra, trong chương này tác giả cũng trình bày khái quát một số nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước liên quan đến đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Sở Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh là pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước, được tổ chức theo mô hình công ty trách

Trang 12

nhiệm hữu hạn một thành viên, hoạt động theo Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Điều lệ của Sở Giao dịch chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan

2.2 KHẢ NĂNG KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tác giả xác định rằng các công ty kiệt quệ tài chính ít nhất cần phải bước vào giai đoạn thứ hai “mất khả năng thanh khoản” với dấu hiệu nhận biết sau: Lợi nhuận trước thuế, lãi vay (EBIT) thấp hơn chi phí tài chính trong hai năm liên tiếp

Trường hợp doanh nghiệp bước vào giai đoạn thứ 3 của kiệt quệ tài chính – giai đoạn “vỡ nợ, phá sản”, thì doanh nghiệp sẽ có những biểu hiện cụ thể như

Công ty làm thủ tục phá sản do thua lỗ kéo dài

Bị huỷ niêm yết bắt buộc trên sàn giao dịch

2.3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu

a Nhóm giả thuyết ảnh hưởng của các nhân tố tài chính

(1) Giả thuyết ảnh hưởng của tỷ lệ nợ đến khả năng kiệt quệ tài chính

Giả thuyết H1: Doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính càng cao thì càng dễ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính

(2) Giả thuyết ảnh hưởng của tính thanh khoản đến khả năng kiệt quệ tài chính

Giả thuyết H2: Các doanh nghiệp có tính thanh khoản càng cao thì càng ít có khả năng rơi vào kiệt quệ tài chính

Ngày đăng: 26/10/2019, 16:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w