1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu dịch tễ học bệnh dịch tả lợn cổ điển (classical swine fever) ở lợn tại miền bắc việt nam giai đoạn 2014 2017 (tt)

27 345 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà khoa học trong lĩnh vực thú y cũng bỏ nhiều công sức và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu công bố về căn bệnh và các đặc điểm dịch tễ học của bệnh, tuy nhiên do sự thay đổi

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Nguyễn Thị Lan

2 PGS.TS Lê Văn Phan

Phản biện 1: GS.TS Lê Thanh Hòa

Viện Công nghệ sinh học

Phản biện 2: PGS.TS Phạm Công Hoạt

Vào hồi 08h0 ngày 28 tháng 12 năm 2019

Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trang 3

1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chăn nuôi lợn nước ta trong những năm gần đây đã phát triển nhanh chóng Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO) trong thập niên vừa qua Việt Nam được ghi nhận là nước chăn nuôi phát triển mạnh và cung cấp nhiều thịt lợn Xong tập quán chăn nuôi theo hướng truyền thống vẫn còn rất phổ biến, không có tính chuyên nghiệp nên dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp Trong công cuộc đổi mới của toàn Đảng, toàn dân, ngành chăn nuôi nước

ta đang từng bước phát triển vững chắc, đạt nhiều thành tựu to lớn đáng khích

lệ và dần trở thành một trong những ngành chính của nông nghiệp Việt Nam Đặc biệt, khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO), nhà nước đã có những chính sách điều chỉnh phù hợp như kinh tế trang trại, vốn tín dụng, chính sách đất đai, chính sách đầu tư nước ngoài Tất cả các chính sách đó đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có chăn nuôi Bước đầu đã có sự hình thành các khu vực, các cụm chăn nuôi mang tính hàng hóa phù hợp với phát triển của từng loại gia súc, gia cầm và đặc biệt có thể cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao Thời gian vừa qua, do hội nhập kinh tế quốc tế, việc giao lưu buôn bán động vật, sản phẩm động vật giữa các nước trên thế giới ngày càng mở rộng, tình hình dịch bệnh động vật cũng phát triển mạnh, trong đó có bệnh dịch tả lợn

cổ điển (Classical Swine Fever) xảy ra tràn lan ở nhiều khu vực

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, dịch tả lợn cổ điển liên tiếp nổ ra gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn Bệnh xuất hiện trong cả nước và xảy ra tương đối nghiêm trọng ở nhiều tình thành Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi, đặc biệt trên lợn con, tỷ lệ chết có thể lên tới 100% Một trong những đặc điểm quan trọng là lợn nái tạo cảm nhiễm qua nhau thai, gây chết phôi, sảy thai Những lợn con sống sót xuất hiện tình trạng Dung nạp miễn dịch – không đáp ứng với vacxin tiêm phòng và mẫn cảm cao với virus dịch tả lợn cường độc lưu hành, dễ tạo ra sự bùng phát của dịch Vì vậy,

tổ chức dịch tễ thế giới xếp bệnh này thuộc bảng A, là bảng danh mục các bệnh nguy hiểm nhất

Bệnh dịch tả lợn do một loại virus Pestivirus, họ Flaviviridae, đó là bệnh truyền nhiễm gây tiêu chảy nặng, lây lan nhiều và không có thuốc đặc trị ở lợn mọi lứa tuổi với nhiều thể khác nhau, gây chết hoặc không, lợn nhiễm bệnh duy trì mầm bệnh lâu dài gây thiệt hại trầm trọng về mặt kinh tế cho người chăn nuôi Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua niêm mạc, qua vết thương ở da và một phần qua hệ thống hô hấp Theo các nghiên cứu cho thấy CSFV lây truyền theo chiều ngang và chiều dọc

Trang 4

2

Ở nước ta, do tính chất nguy hiểm của bệnh, ngành thú y đã có những biện pháp tích cực nhằm khống chế bệnh Tuy nhiên bệnh vẫn luôn xảy ra và gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng Các nhà khoa học trong lĩnh vực thú y cũng bỏ nhiều công sức và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu công bố về căn bệnh

và các đặc điểm dịch tễ học của bệnh, tuy nhiên do sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu, thay đổi về điều kiện xã hội, phương thức và tập quán chăn nuôi thì các đặc điểm về dịch tễ học của một số bệnh cũng sẽ thay đổi, tìm ra được

sự thay đổi đó sẽ là một phương hướng để đưa ra những biện pháp hiệu quả hơn trong công tác phòng chống bệnh

Cho đến hiện tại, chưa có một nghiên cứu hệ thống đầy đủ về dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn trên tổng đại diện đàn lợn nuôi tại miền Bắc Việt Nam Vì vậy trước một diễn biến phức tạp của dịch bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về dịch tễ học bệnh dịch tả lợn cổ điển ở lợn tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014-

2017, đây là việc cần thiết và cấp bách trong bối cảnh hiện nay nhằm đưa ra những khuyến cáo và những giải pháp cấp thiết hỗ trợ cho công tác phòng chống dịch bệnh; giúp người chăn nuôi giảm thiểu thiệt hại trong quá trình chăn nuôi lợn

1.2 MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU

- Cập nhật và phân tích một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn tại miền Bắc Việt Nam

- Xác định hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch của bệnh dịch

tả lợn đối với lợn nuôi tại khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử những chủng virus dịch

tả lợn phân lập tại miền Bắc Việt Nam

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Địa điểm nghiên cứu

- Một số tỉnh phía Bắc Việt Nam gồm: Ba tỉnh Tây Bắc Bộ (Hòa Bình, Yên Bái, Sơn La), ba tỉnh Đông Bắc Bộ (Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên) và bốn tỉnh Đồng Bằng Sông Hồng (Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương)

- Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học thú y và Phòng thí nghiệm của Bộ môn Bệnh lý học của Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

1.3.2 Thời gian nghiên cứu

- Từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 12 năm 2017

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định được sự thay đổi và cập nhật thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học của bệnh Dịch tả lợn trong tình hình hiện tại (2014-2017) ở miền

Trang 5

Đề tài đã cung cấp một số dữ liệu mới về đặc điểm dịch tễ của bệnh Dịch

tả lợn và virus Dịch tả lợn trên địa bàn miền Bắc Việt Nam

Luận án là tài liệu tham khảo tốt, phục vụ cho những nghiên cứu khoa học về bệnh Dịch tả lợn và tài liệu phục vụ giảng dạy trong lĩnh vực thú y

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định rõ sự thay đổi về một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh Dịch tả lợn lưu hành trên địa bàn miền Bắc Việt Nam: Tỷ lệ mắc bệnh theo vùng địa lý, theo lứa tuổi, phương thức chăn nuôi, giống lợn nuôi; hệ số tháng dịch, hệ số năm dịch; tỷ lệ hiện mắc, tốc độ mắc bệnh Dựa vào những thông số dịch tễ học này, những nghiên cứu kế tiếp có thể ứng dụng để tính toán số lượng mẫu, so sánh tốc độ mắc bệnh góp phần đánh giá yếu tố nguy cơ của bệnh

Kết quả xác định về mang trùng tiềm ẩn và dung nạp miễn dịch là cơ sở để đưa ra những biện pháp phòng chống phù hợp như thay đổi lịch trình vaccine, đề xuất phương pháp kiểm soát bệnh thông qua xét nghiệm kháng thể dịch tả lợn

Việc nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của virus Dịch tả lợn đã chỉ ra được nguồn gốc sự lưu hành và sự phù hợp của chủng virus áp dụng cho phòng bệnh bằng vaccine tại địa phương

PHẦN2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ BỆNH DỊCH TẢ LỢN

2.1.1 Trên thế giới

Bệnh dịch tả lợn là bệnh lây lan rất nhanh, tỷ lệ chết cao (có thể từ 60 - 90%) Năm 1810 bệnh dịch tả lợn được Hanson (1957) mô tả đầu tiên ở Tenessce Đến năm 1833, bệnh dịch tả lợn được thông báo đầu tiên ở Ohio (Bắc Mỹ), sau đó bệnh lan ra cả nước Mỹ nhất là vùng Cornbert, vì đây là vùng chăn

Trang 6

Báo cáo mới nhất của OIE (tính đến tháng 1 năm 2017) cho thấy: tại châu

Mỹ không phát hiện thấy ổ dịch Dịch tả lợn, bao gồm: Canada, Chilê, Guiana thuộc Pháp, Mexico, Mỹ và một số tỉnh của Brazil (miền Trung và miền Nam) (OIE, 2017)

Về địa dư bệnh lý, bệnh dịch tả lợn có tính chất phân bố toàn cầu Theo Edwards (1998), bệnh xảy ra ở tất cả các nước có chăn nuôi lợn Riêng các nước: Australia, Canada, Newzeland, Ireland, Thụy Sỹ và các nước thuộc bán đảo Scadinavia được coi là không có bệnh dịch tả lợn (Van, 1993)

2.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, bệnh DTL được phát hiện vào các năm 1923 - 1924 bởi Houdenner (Đào Trọng Đạt và cs., 1989) và đến nay bệnh DTL vẫn là một trong “4 bệnh đỏ” gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn ở nước ta (Lê Minh Chí, 1999)

Theo Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1984); Nguyễn Xuân Bình (1998) đều cho rằng: bệnh DTL xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất vẫn

là ở lợn con theo mẹ và lợn con mới cai sữa Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng và cs (1997) về khả năng thải virus cường độc ở lợn được tiêm vacxin cho thấy: những lợn đã tiêm vacxin DTL trước hoặc sau khi có khả năng miễn dịch chống lại sự xâm nhập của virus cường độc, phát bệnh hay không phát bệnh đều có hiện tượng thải virus cường độc sau khi bị nhiễm và gây bệnh qua tiếp xúc cho những lợn chưa có miễn dịch cùng nhốt chung

Theo Thông tư 04 2011 TT-BNNPTNT, 2011 có nêu: Bệnh DTL ở nước

ta xảy ra quanh năm, tuy nhiên do thời tiết thay đổi (thể hiện r ở miền Bắc) và

do biến động của đàn lợn trong năm nên bệnh có lúc tăng lúc giảm Ngoài ra, bệnh dịch tả lợn còn phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ tiêm phòng, lợn lớn đã có miễn dịch bị giết mổ, lợn con thay đàn bổ sung vào chưa kịp tiêm phòng làm cho tỷ lệ lợn mẫn cảm trong đàn tăng lên Việc tiêm phòng theo mùa vụ và tiêm phòng bổ sung thường xuyên góp phần ổn định và hạn chế dịch bệnh rất nhiều, nhưng trong thực tế sản xuất do nhiều lý do nên việc tiêm phòng chưa thực hiện đúng quy định, vì vậy dịch tả lợn vẫn xảy ra vào các tháng trong năm

Trang 7

5

2.2 BỆNH DỊCH TẢ LỢN VÀ VIRUS DỊCH TẢ LỢN

Bệnh dịch tả lợn do một loại virus pestivirus, họ Flaviviridae, đó là bệnh truyền nhiễm gây tiêu chảy nặng, lây lan nhiều và không có thuốc đặc trị ở lợn mọi lứa tuổi với nhiều thể khác nhau, gây chết hoặc không, lợn nhiễm bệnh duy trì mầm bệnh lâu dài gây thiệt hại trầm trọng về mặt kinh tế cho người chăn nuôi Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua niêm mạc, qua vết thương ở da và một phần qua hệ thống hô hấp Các công trình nghiên cứu đều cho thấy bệnh dịch tả lợn cổ điển có thể lây truyền theo cả chiều ngang và chiều dọc

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh Dịch tả lợn giai đoạn 2014-2017 tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam

+ Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý, trang trại, cá thể, lứa tuổi, phương thức chăn nuôi và giống lợn nuôi

+ Tỷ lệ tử vong, tỷ lệ hiện mắc bệnh dịch tả lợn, tốc độ mới mắc, hệ số năm dịch, hệ số tháng dịch của bệnh dịch tả lợn tại những tỉnh phía Bắc từ năm

2014 – 2017

- Nghiên cứu hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch của bệnh dịch

tả lợn

- Dịch tễ học phân tử của các chủng virus Dịch tả lợn phân lập được

3.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

- Số liệu điều tra trực tiếp tại các địa bàn chăn nuôi

- Mẫu xét nghiệm lấy tại các khu vực chăn nuôi của các tỉnh, thành phố

- Máy móc thiết bị, dụng cụ, hoá chất của phòng chẩn đoán xét nghiệm của Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học và Bộ môn Bệnh lý học, khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

- Kít xét nghiệm: Kít ELISA phát hiện kháng nguyên, kháng thể; kit chiết tách RNA và chạy phản ứng RT-PCR, kit tinh sạch và giải trình tự gen

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học

Dùng phương pháp hồi cứu, dịch tễ học phân tích, điều tra dịch tễ, chọn mẫu phân tầng

3.3.2 Phương pháp tính các chỉ số đo lường dịch tễ học

Hệ số năm dịch, Chỉ số mắc bệnh trung bình tháng trên năm, Chỉ số mắc bệnh trung bình tháng trên số năm nghiên cứu, Tỷ lệ hiện mắc, Tỷ lệ mới mắc,

Tỷ lệ tử vong

Trang 8

6

3.3.3 Phương pháp xét nghiệm

- Phương pháp thu thập mẫu

Thu thập mẫu bằng phương pháp chọn mẫu theo xác suất ngẫu nhiên và

tính toán kích cỡ mẫu theo phương pháp thống kê sinh học phù hợp với từng

trường hợp sử dụng phần mềm Win Episcope 2.0 và công thức thống kê để ước

Sử dụng phần mềm BEAST để xây dựng lại quá trình phát tán theo không

gian dựa vào trình tự của gen E2.Trình tự chủng tham chiếu được lấy ở ngân

hàng gene và sử dụng phần mềm CLUSTAL X (Thompson et al., 1997) để so

sánh Các tệp tin này đã được chuyển đổi thành các tệp MEGA (meg), và cây

phả hệ được chạy trong chương trình MEGA 6.06 (Tamura et al., 2013) tự sao

chép 1000 lần cho mỗi trình tự nucletotide

3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học sử dụng Excel 2013

Nghiên cứu tập trung ở 03 vùng là Tây Bắc Bộ (Hòa Bình, Yên Bái, Sơn

La), Đông Bắc Bộ (Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên) và Đồng Bằng Sông

Hồng (Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương)

4.1.2 Xác định ca mắc bệnh dịch tả lợn

Trong những mẫu bệnh phẩm dương tính với phản ứng ELISA, có 06 biểu

bỏ ăn, nằm chụm vào nhau; Viêm kết mạc mắt; Chảy dịch mũi; Xuất huyết trên

da vùng bụng hoặc toàn thân; Tiêu chảy; Điều trị kháng sinh không khỏi Để

thuận tiện cho quá trình điều tra dịch tễ học, chúng tôi lựa chọn những ca

bệnh có 05 trên 06 biểu hiện triệu chứng lâm sàng để ghi nhận ca bệnh dịch

xuất huyết trên da vùng bụng hoặc toàn thân, tiêu chảy, điều trị kháng sinh

không khỏi bệnh Sau đó tại địa bàn điều tra ở cấp độ trang trại, chúng tôi

Trang 9

7

tiến hành mổ khám và kiểm tra bệnh tích đại thể Nếu có biểu hiện hạch mi-đan xuất huyết, lách nhồi huyết, hạch lympho xuất huyết thì đàn lợn đó được coi là mắc bệnh dịch tả lợn

a-4.1.3 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý

Vùng địa lý được chúng tôi phân chia trong quá trình điều tra bao gồm khu vực Tây Bắc Bộ, khu vực Đông Bắc Bộ và Đồng Bằng Sông Hồng Kết quả điều tra tình hình bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý về tỷ lệ mắc bệnh được thể hiện ở bảng 4.1 và về tỷ lệ tử vong được thể hiện ở bảng 4.2

Bảng 4.2 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý – tỷ lệ tử vong

Năm Tây Bắc Bộ (%) Đông Bắc Bộ (%) Đồng Bằng

Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh dịch tả của lợn ở cả ba vùng Tây Bắc

Bộ, Đông Bắc Bộ và Đồng Bằng Sông Hồng cũng có những sự sai khác, kết quả lần lượt là 1,42 ± 0,18%; 2,49 ± 0,36% và 3,82 ± 1,36% (P<0,05) Tỷ lệ tử vong của lợn mắc dịch tả dao động từ 92,13 ± 1,08% đến 94,01 ± 1,98% ở địa bàn điều tra và không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê khi so sánh tỷ lệ

và bán công nghiệp có tỷ lệ mắc dịch tả lợn tương đương nhau là 2,16 ± 0,26%

Trang 10

Lợn 1 – 3 tháng tuổi (%)

Lợn 3 – 6 tháng tuổi (%)

Lợn nái (%)

Lợn đực giống (%)

Bảng 4.4 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo phương thức chăn nuôi

Năm Chăn nuôi công

nghiệp (%)

Chăn nuôi bán công nghiệp (%)

Chăn nuôi nông hộ (%)

Bảng 4.5 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo giống lợn nuôi

Năm Lợn lai giống nội (%) Lợn lai giống ngoại (%)

Kết quả bảng 4.5 cho thấy tỷ lệ mắc dịch tả lợn ở lợn lai giống nội là 2,80

± 0,52% không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ mắc dịch tả lợn ở lợn lai giống ngoại (2,65 ± 0,20%)

4.1.5 Hệ số năm dịch và hệ số tháng dịch của bệnh dịch tả lợn

Những thông số dịch tễ học vừa mang ý nghĩa tổng kết, vừa mang ý nghĩa cảnh báo và dự đoán Hai trong những chỉ số quan trọng về dịch tễ học là Hệ số năm dịch (HSND) và hệ số tháng dịch (HSTD) Nhiều bệnh truyền nhiễm ở động vật mang yếu tố mùa vụ và có diễn biến khá đều đặn theo các tháng trong năm Để xác định thời điểm mùa dịch trong năm, người ra sử dụng thông tin về HSTD, nếu từ 2 tháng trở lên thể hiện là tháng dịch thì ta sẽ có mùa dịch trong năm đó Ngoài ra, khi theo d i một bệnh truyền nhiễm trong nhiều năm mà có năm nào gặp tỷ lệ mắc hoặc tỷ lệ chết vượt quá tỷ lệ mắc hoặc chết trung bình

Trang 11

9

trong nhiều năm sẽ được coi là một vụ dịch theo HSND Chúng tôi đã theo d i tình hình bệnh dịch tả lợn trong 4 năm liên tục và đã tính toán thông số về HSTD cũng như HSND Kết quả được thể hiện ở bảng 4.6 và 4.7

Bảng 4.6 Hệ số năm dịch của dịch tả lợn từ năm 2014-2017

Tỉnh điều tra

Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Số lợn

mắc bệnh

HSND

Số lợn mắc bệnh

HSND

Số lợn mắc bệnh

HSND

Số lợn mắc bệnh

Trang 12

10

Kết quả bảng 4.7 cho thấy những tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc Bộ (Hòa Bình, Yên Bái, Sơn La) những tháng dịch tập trung vào tháng 2 đến tháng 4 trong năm Mặt khác, tại Hòa Bình, hệ số tháng dịch lớn hơn 1 còn quan sát thấy ở tháng 8 – 10, Yên Bái là tháng 9 – 11 trong khi tại Sơn La, HSTD lớn hơn 1 tập trung thêm ở giai đoạn tháng 8 – 12 (trừ tháng 10) Vùng Đông Bắc

Bộ (Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên) có HSTD lớn hơn 1 tập trung vào tháng 1 – 3 Kèm theo đó chúng tôi còn quan sát được HSTD của Bắc Giang lớn hơn 1 vào tháng 8 – 9, Phú Thọ là từ tháng 8 – 11 và Thái Nguyên là từ tháng 9 – 12 Như vậy, tại hai khu vực Tây Bắc Bộ và Đông Bắc Bộ, dịch tả lợn thường xảy ra vào những tháng Đông Xuân và Hè Thu

4.1.6 Tỷ lệ hiện mắc và tốc độ mắc bệnh của bệnh dịch tả lợn ở đàn lợn nuôi từ 2014-2017

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tính toán tỷ lệ hiện mắc (TLHM) và tốc độ mắc bệnh của dịch tả lợn ở đàn lợn nuôi vào một số thời điểm Kết quả thể hiện ở bảng 4.8 và bảng 4.9

Bảng 4.8 Tỷ lệ hiện mắc bệnh dịch tả lợn ở đàn lợn nuôi từ 2014-2017

Năm Số ốm Số chết Số sống Số mới mắc Tổng đàn theo dõi TLHM (%)

Tốc độ mắc bệnh (con/tuần)

4.2 HIỆN TƢỢNG MANG TRÙNG VÀ DUNG NẠP MIỄN DỊCH

Để đánh giá hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch trong trường hợp bệnh dịch tả lợn, chúng tôi thực hiện những thí nghiệm vào hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất được thực hiện vào năm 2014 và 2015 Chúng tôi đánh giá khả năng mang virus (bằng phản ứng ELISA) của những lợn hậu bị trước khi phối Tiếp theo, chúng tôi theo dõi những lợn hậu bị sau khi phối và sử dụng đàn con được sinh ra từ lợn mẹ có tồn tại virus huyết (mà không tiêm vaccine dịch tả trong quá trình mang thai) để kiểm tra kháng thể Lần kiểm tra kháng thể đầu tiên

ở đàn lợn con được thực hiện vào lúc 35 ngày tuổi (ngay trước thời điểm tiêm

Trang 13

11

vaccine dịch tả lợn) Lần kiểm tra kháng thể thứ hai ở cùng đàn lợn con đó được thực hiện vào lúc 21 ngày sau khi tiêm vaccine (tức là đàn lợn được 56 ngày tuổi) Kết quả sẽ thể hiện có hay không có hiệu tượng dung nạp miễn dịch ở lợn con sinh ra từ lợn mẹ có virus dịch tả lợn trong máu trước khi phối giống

Giai đoạn thứ hai được thực hiện vào năm 2016 và 2017 Chúng tôi thiết

kế mỗi năm hai đợt thí nghiệm, mỗi đợt thí nghiệm thực hiện trên 10 lợn nái Tiêu chí lựa chọn lợn nái cho thí nghiệm là âm tính với phản ứng ELISA kiểm tra kháng nguyên (nghĩa là không mang virus trong cơ thể) Lợn nái sau khi phối giống được 25 ngày (đảm bảo đang mang thai) sẽ được tiêm vaccine dịch

tả lợn Lợn con sinh ra từ lợn nái thí nghiệm sẽ được xét nghiệm kháng thể vào lúc 35 ngày tuổi (ngay trước khi tiêm phòng vaccine dịch tả lợn) và 56 ngày tuổi để xác định khả năng xảy ra hiện tượng dung nạp miễn dịch

4.2.1 Kết quả đánh giá hiện tượng mang trùng ở lợn nái và khả năng dung nạp miễn dịch ở lợn con

Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra 20 lợn nái ở mỗi tỉnh để tìm ra những lợn đang mang virus trong cơ thể mà không quan tâm đến việc virus đó là từ thực địa hay từ vaccine nhược độc tiêm phòng Kết quả bảng cho thấy: Vào năm

2014, chúng tôi đã tìm được 34 lợn nái có kết quả dương tính với ELISA xác định kháng nguyên trên 200 nái được kiểm tra chiếm tỷ lệ 17% Năm 2015, số lợn nái có kết quả dương tính là 33 trên 200 lợn nái được kiểm tra, chiếm tỷ lệ 16,5% Do kết quả kiểm tra lợn nái mang virus đều dương tính ở một số lợn tại mỗi tỉnh điều tra nên chúng tôi lựa chọn một nái tại mỗi tỉnh (tổng số lợn nái tham gia xét nghiệm là 10 tương đương với 10 tỉnh) và kiểm tra kháng thể ở đàn lợn con sinh ra từ lợn nái đó Việc kiểm tra kháng thể vào lúc lợn con 35 ngày tuổi được thực hiện ngay trước thời điểm người chăn nuôi tiêm phòng vaccine dịch tả lợn theo lịch trình Sau khi lấy máu để xét nghiệm kháng thể, việc tiêm vaccine dịch tả lợn được tiến hành bình thường vào cùng ngày Vào ngày thứ 56 (21 ngày sau tiêm phòng), những lợn con âm tính ở lần xét nghiệm thứ nhất lại được lấy máu để xét nghiệm kháng thể lần thứ hai Kết quả kiểm tra hiện tượng dung nạp miễn dịch ở lợn con được sinh ra từ lợn nái mang virus dịch tả lợn trước khi phối thể hiện ở bảng 4.10

Bảng 4.10 Kết quả kiểm tra hiện tượng dung nạp miễn dịch ở lợn con sinh

ra từ lợn nái mang virus dịch tả lợn trước khi phối

Số âm tính (con)

Tỷ lệ (%)

Số lợn con (con)

Số âm tính (con)

Ngày đăng: 25/10/2019, 15:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w