1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu dịch tễ học bệnh dịch tả lợn cổ điển (classical swine fever) ở lợn tại miền bắc việt nam giai đoạn 2014 2017

139 358 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của những chủng virus dịch tả lợn phân lập được .... Đặc điểm dịch tễ học phân tử của virus gây bệnh dịch tả lợn tại Việt Nam theo không gian và thời

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

NGUYỄN PHỤC HƯNG

NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC BỆNH DỊCH

TẢ LỢN CỔ ĐIỂN (CLASSICAL SWINE FEVER) Ở LỢN

TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014 - 2017

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

NGUYỄN PHỤC HƢNG

NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC BỆNH DỊCH

TẢ LỢN CỔ ĐIỂN (CLASSICAL SWINE FEVER) Ở LỢN

TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014 - 2017

Chuyên ngành: Dịch tễ học thú y

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Nguyễn Thị Lan

2 PGS.TS Lê Văn Phan

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Phục Hƣng

Trang 4

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thị Lan và PGS.TS Lê Văn Phan đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Bệnh lý thú y, Bệnh viện thú y, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học thú y và Phòng thí nghiệm bộ môn bệnh lý, khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên tôi hoàn thành luận án./

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Phục Hƣng

Trang 5

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục bảng viii

Danh mục hình ix

Trích yếu luận án x

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Địa điểm nghiên cứu 3

1.3.2 Thời gian nghiên cứu 3

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 3

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.5.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh dịch tả lợn 5

2.1.1 Trên thế giới 5

2.1.2 Ở Việt Nam 8

2.2 Bệnh dịch tả lợn 9

2.2.1 Virus dịch tả lợn 9

2.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh dịch tả lợn 19

2.2.3 Triệu chứng và bệnh tích bệnh dịch tả lợn 22

2.2.4 Các phương pháp chẩn đoán bệnh dịch tả lợn 25

2.2.5 Phòng chống bệnh dịch tả lợn 26

2.2.6 Xu hướng sản xuất vaccine phòng bệnh Dịch tả lợn hiện nay 28

2.2.7 Đáp ứng miễn dịch bệnh Dịch tả lợn và hiện tượng dung nạp miễn dịch 32

Trang 6

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 36

3.1 Nội dung nghiên cứu 36

3.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn giai đoạn 2014 – 2017 tại miền Bắc Việt Nam 36

3.1.2 Hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch 36

3.1.3 Một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của các chủng virus phân lập được 36

3.2 Vật liệu nghiên cứu 36

3.2.1 Số liệu nghiên cứu 36

3.2.2 Động vật thí nghiệm 36

3.2.3 Thuốc thử và vật liệu thử 37

3.2.4 Thiết bị, dụng cụ 37

3.3 Phương pháp nghiên cứu 38

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 38

3.3.2 Phương pháp tính toán 38

3.3.3 Phương pháp xét nghiệm 39

3.3.4 Phương pháp giải trình tự gen 45

3.3.5 Phương pháp xây dựng cây phả hệ 45

3.3.6 Phương pháp phân tích đặc điểm dịch tễ học phân tử 46

3.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 46

Phần 4 Kết quả và thảo luận 47

4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn giai đoạn 2014-2017 tại miền Bắc Việt Nam 47

4.1.1 Xác định vùng nghiên cứu 47

4.1.2 Xác định ca mắc bệnh dịch tả lợn 48

4.1.3 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý 54

4.1.4 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo lứa tuổi, theo phương thức chăn nuôi và theo giống lợn nuôi 57

4.1.5 Hệ số năm dịch và hệ số tháng dịch của bệnh dịch tả lợn 60

4.1.6 Tỷ lệ hiện mắc và tốc độ mắc bệnh của bệnh dịch tả lợn ở đàn lợn nuôi từ 2014-2017 63

4.2 Hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch 64

Trang 7

4.2.1 Kết quả đánh giá hiện tượng mang trùng ở lợn nái và khả năng dung nạp

miễn dịch ở lợn con 65

4.2.2 Kết quả đánh giá khả năng dung nạp miễn dịch ở lợn con sinh ra từ lợn nái được tiêm vaccine dịch tả lợn đầu thai kỳ 68

4.3 Một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của những chủng virus dịch tả lợn phân lập được 74

4.3.1 Kết quả giám định virus dịch tả lợn bằng kỹ thuật RT-PCR 74

4.3.2 Kết quả phân tích tính đa dạng di truyền của CSFV 75

4.3.3 Đặc điểm biến đổi của gen E2 giữa các chủng CSFV 80

4.3.4 Kết quả nghiên cứu phân tích phả hệ của CSFV tại Việt Nam 87

4.3.5 Đặc điểm dịch tễ học phân tử của virus gây bệnh dịch tả lợn tại Việt Nam theo không gian và thời gian 91

Phần 5 Kết luận và đề nghị 95

5.1 Kết luận 95

5.1.1 Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn giai đoạn 2014-2017 tại miền Bắc Việt Nam 95

5.1.2 Hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch 95

5.1.3 Dịch tễ học phân tử của virus dịch tả lợn 96

5.2 Đề nghị 96

Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 97

Tài liệu tham khảo 98

Phụ lục 2 116

Trang 8

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 9

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 10

STT Tên bảng Trang

2.1 Kiểm tra độc lực của virus CSF 15

4.1 Xác định ca bệnh mắc dịch tả lợn bằng phản ứng ELISA 49

4.2 Tần suất xuất hiện triệu chứng của lợn mắc dịch tả lợn 50

4.3 Tần suất xuất hiện bệnh tích của lợn mắc dịch tả lợn 51

4.4 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý - cấp độ xã 54

4.5 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý - cấp độ đàn 55

4.6 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý - cấp độ cá thể 55

4.7 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý - tỷ lệ tử vong 56

4.8 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo lứa tuổi 58

4.9 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo phương thức chăn nuôi 58

4.10 Tình hình bệnh dịch tả lợn theo giống lợn nuôi 59

4.11 Hệ số năm dịch của dịch tả lợn từ năm 2014 - 2017 60

4.12a Hệ số tháng dịch của dịch tả lợn từ 2014 - 2017 61

4.12b Hệ số tháng dịch của dịch tả lợn từ 2014 - 2017 62

4.13 Tỷ lệ hiện mắc bệnh dịch tả lợn ở đàn lợn nuôi từ 2014 - 2017 63

4.14 Tốc độ mắc bệnh dịch tả lợn ở đàn lợn nuôi từ 2014 - 2017 64

4.15 Kết quả xét nghiệm lưu hành virus ở lợn nái trước khi phối giống 66

4.16 Kết quả xét nghiệm kháng thể ở lợn con 35 ngày tuổi 67

4.17 Kết quả xét nghiệm kháng thể ở lợn con 56 ngày tuổi 68

4.18 Kết quả lấy mẫu để kiểm tra hiện tượng dung nạp miễn dịch 69

4.19a Kết quả phòng thí nghiệm xét nghiệm kháng thể ở lợn 35 ngày tuổi 70

4.19b Kết quả phòng thí nghiệm xét nghiệm kháng thể ở lợn 35 ngày tuổi 71

4.20a Kết quả phòng thí nghiệm xét nghiệm kháng thể ở lợn 56 ngày tuổi 72

4.20b Kết quả phòng thí nghiệm xét nghiệm kháng thể ở lợn 56 ngày tuổi 73

4.21 Tỷ lệ tương đồng nucleotide giữa các chủng Dịch tả lợn Việt Nam và các chủng tham chiếu 81

4.22 Tỷ lệ tính tương đồng Amino acid giữa các chủng Dịch tả lợn Việt nam và chủng tham chiếu 82

Trang 11

STT Tên hình Trang

2.1 Cấu trúc của virus dịch tả lợn 10

2.2 Cấu trúc bộ gen Pestivirus 11

4.1 Bản đồ miền Bắc Việt Nam 48

4.2 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc Dịch tả lợn 52

4.3 Bệnh tích đại thể của lợn mắc Dịch tả lợn 53

4.4 Bệnh tích đại thể của lợn mắc Dịch tả lợn 53

4.5 Kết quả giám định sự có mặt của virus CSF trong mẫu bệnh phẩm 74

4.6 Tương đồng trình tự gen giữa các chủng CSFV dựa vào genome 76

4.7 Tương đồng trình tự gen giữa các chủng CSFV dựa vào gen E2 77

4.8 Tương đồng trình tự gen giữa 15 chủng CSFV của Việt Nam dựa vào gen E2 78

4.9 Tỷ lệ % tương đồng về trình tự gen của chủng CSFV thu thập ở Việt Nam năm 1991 và 2013-2016 79

4.10 So sánh trình tự aa suy diễn do gen E2 mã hóa của các chủng CSFV của Việt Nam 83

4.11 Chỉ số kháng nguyên tại các vị trí của protein E2 giữa các chủng virus gây bệnh dịch tả lợn của Việt Nam 86

4.12 Cây phả hệ của các chủng virus gây bệnh dịch tả lợn của Việt Nam dựa vào trình tự bộ gen của virus 87

4.13 Cây phả hệ của virus gây bệnh dịch tả lợn dựa vào gen E2 89

4.14 Cây phả hệ dựa vào trình tự gen E2 của 384 chủng virus gây bệnh dịch tả lợn 90

4.15 Sự phát tán theo không gian và thời gian của virus dịch tả lợn 92

4.16 Sự phát tán theo không gian và thời gian của virus gây bệnh dịch tả lợn sub-genotype 2.1 và 2.2 tại Việt Nam 93

Trang 12

Tên tác giả: Nguyễn Phục Hưng

Tên luận án: Nghiên cứu dịch tễ học bệnh dịch tả lợn cổ điển (Classical swine fever) ở

lợn tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014 - 2017

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Bệnh dịch tả lợn nằm trong danh mục những bệnh truyền nhiễm cần phải công

bố dịch ở Việt Nam và nằm trong danh mục bệnh thuộc bảng A theo Tổ chức Thú y thế giới Bệnh gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn ở nhiều tỉnh thành Bệnh

có tốc độ lây lan nhanh, xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi và có thể gây chết đến 100% đối với lợn con

Do sự thay đổi về điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội, phương thức và tập quán chăn nuôi, bệnh dịch tả lợn có thể đã có những đặc điểm khác biệt về mặt dịch tễ học Mặt khác, một hiện tượng có tên là “Dung nạp miễn dịch” ở bệnh dịch tả lợn khiến lợn con không đáp ứng với vaccine tiêm phòng và mẫn cảm cao với virus dịch tả lợn cường độc lưu hành dẫn đến bùng phát dịch

Mục tiêu của đề tài là: (1) Đánh giá được tình hình dịch bệnh ở miền Bắc Việt Nam, xác định được một số đặc điểm dịch tễ học (tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết, năm dịch,

hệ số mùa dịch, hệ số tháng dịch…) theo không gian và thời gian (2) Xác định được sự mang trùng và hiện tượng dung nạp miễn dịch ở đàn lợn nuôi và (3) Xác định một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của virus dịch tả lợn ở miền Bắc Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Có ba nhóm phương pháp chính được dùng trong nghiên cứu này, bao gồm: (1) phương pháp nghiên cứu dịch tễ học; (2) Phương pháp ELISA xác định kháng nguyên

và xác định kháng thể và (3) Phương pháp phân tích đặc điểm sinh học phân tử và đặc điểm dịch tễ học phân tử

Kết quả chính và kết luận

(1) Bộ số liệu về đặc điểm dịch tễ học bệnh dịch tả lợn ở miền Bắc Việt Nam (được phân chia theo vùng địa lý gồm có 03 vùng lớn là Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ và Đồng Bằng Sông Hồng):

Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn theo cấp xã tại các địa phương dao động từ 38,75 ±

Trang 13

29,72 ± 4,48% đến 58,33 ± 0,79% Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn theo cá thể dao động từ 1,42 ± 0,18% đến 3,82 ± 1,36% Lợn ở giai đoạn từ 1 – 3 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (5,96 ± 1,05%) Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn ở đàn lợn nuôi theo phương thức chăn nuôi nông hộ là cao nhất (5,92 ± 0,37%) trong khi yếu tố về giống lợn nuôi không ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc dịch tả lợn Tỷ lệ tử vong của bệnh dịch tả lợn trong quá trình điều tra dao động từ 92,13 ± 1,08% đến 94,01 ± 1,98% Trong quá trình điều tra, hầu hết các tỉnh đều có hai năm dịch (hệ số năm dịch >1), chỉ có tỉnh Thái Bình là 3 năm và tại Sơn La, Nam Định là 1 năm có có HSND >1 Dịch tả lợn xảy ra tập trung vào thời điểm tháng 2 – 4 và 8-11 trong năm (hệ số tháng dịch >1) Tỷ lệ hiện mắc của dịch tả lợn là 2,26% đến 2,46% sau 3 năm điều tra trong khi tốc độ mắc bệnh dịch tả lợn là 0,0434 – 0,0474 con/tuần

Như vậy, đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn trong giai đoạn hiện tại đã có những thay đổi so với các nghiên cứu trong giai đoạn trước đây

(2) Kết quả xác định hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch:

Khi kiểm tra hiện tượng mang virus ở lợn nái nuôi tại địa phương: Tỷ lệ lợn nái mang virus là 16,5% - 17.0% Tỷ lệ lợn con âm tính với kháng thể dịch tả lợn lúc 35 ngày tuổi là 87,69% - 88,71% Tỷ lệ lợn con âm tính ở 21 ngày sau tiêm phòng là 77,27% - 79,82%

Khi thực hiện thí nghiệm với đàn nái âm tính virus dịch tả lợn (nhưng được tiêm phòng bằng vaccine nhược độc dịch tả lợn vào 25 ngày sau khi phối), đàn lợn con sinh

ra có hiện tượng âm tính với kháng thể dịch tả lúc 35 ngày tuổi dao động từ 83,17% đến 86,54% vào hai năm 2016, 2017 Tỷ lệ lợn con âm tính với kháng thể dịch tả lợn vào 21 ngày sau tiêm phòng dao động từ 76,09% đến 80,43%

(3) Dịch tễ học phân tử của virus dịch tả lợn:

Kết quả phân tích phả hệ của của các chủng virus dịch tả lợn dựa vào trình tự đoạn genE2 cho thấy các chủng thu được từ Nam Định và Hải Dương thuộc 2 phân nhóm 2.1 và 2.2

Chủng virus dịch tả lợn phân lập thuộc phân nhóm 2.1 rất gần với các chủng GDPY, GDHZ, HN, and HNLY-11 lưu hành tại Trung Quốc trong giai đoạn 2008 –

2011 Trong khi chủng 2.2 có liên quan đến các chủng phân lập từ các nước Châu Âu (Đức, Áo, CH Séc và Ý) và Châu Á (Đài Loan và Nepal)

Trang 14

THESIS ABSTRACT

PhD candidate: Nguyen Phuc Hung

Thesis title: Epidemiological study of classical swine fever in northern Vietnam for the

period 2014 - 2017

Major: Veterinary epidemiology Code: 9.64.01.18

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

Classical swine fever (CSF) is in the list of infectious diseases that require to be reported in Vietnam and the A list of diseases by the World Organisation for Animal Health Disease has caused considerable damage to the pig industry in many provinces The disease is rapidly spreading, occurring in pigs of all ages and can kill up to 100% of piglets

Due to changes in natural conditions and social conditions, animal husbandry practices, CSF outbreaks may have epidemiological alterations On the other hand, a phenomenon known as "immunological tolerance" in CSF causes piglets not to respond

to vaccines and are highly susceptible to virulent CSFV, leading to outbreaks

The objectives are: (1) To assess the epidemic situation in Northern Vietnam, to identify some epidemiological characteristics (incidence, mortality, epidemic year index, monthly epidemic index, etc.) by space and time (2) Identification of carriage and immunological tolerance in pig herds and (3) Identification of some molecular epidemiological characteristics of CSFV in Northern Vietnam

Materials and Methods

There are three main methods used in this study, including: (1) Epidemiological method; (2) ELISA for antigen and antibody determination and (3) Molecular biology and molecular epidemiological characterization determination

Main findings and conclusions

1) Data on epidemiological characteristics of CSF outbreak in Northern Viet Nam (divided by geographic region including three major regions: The Northwest, the Northeast and the Red River Delta): The incidence of CSF by commune level was from 38,75 ± 2,85% to 42,50 ± 4,41%; by the pig farm ranged from 29,72 ± 4,48% to 58,33 ±

Trang 15

had the highest incidence (5,96 ± 1,05%) The pigs which grew in backyard livestock were more susceptible to CSF, with the prevalence of 5,92 ± 0,37% while the breeding factor has no effect on the CSF incidence The mortality rate of CSF during the survey ranged from 92,13 ± 1,08% to 94,01 ± 1,98% Most provinces had epidemic index over one in two years whereas Thai Binh province was in 3 years and in Son La, Nam Dinh were in 1 year CSF occurred from February to April and from August to November in the year The prevalence of CSF was 2.26% to 2.46% after 3 years of investigation, while the rate of CSF was 0.0434 - 0.0474 pigs per week Thus, the epidemiological characteristics of CSF in the current period have changed when compared with previous studies

2) Results of identification of carrier and immune tolerance: testing the virus carriers in local sows showed: The rate of sows carrying the virus was 16.5% - 17.0% The percentage of piglets negative for CSF antibody test at 35 days of age was ranged

of 87.69% - 88.71% The pigs at 21 days after vaccination were from 77.27% to 79.82% negative for CSF antibody test

When the sows were tested negative for CSF (but were vaccinated at 25 days after mating), the percentage of piglets negative for CSF antibody test at 35 days of age ranged from 83.17% to 86.54% in 2016 and 2017, respectively The percentage of piglets negative for CSF antibody at 21 days after vaccination ranged from 76.09% to 80.43%

(3) Molecular epidemiology of CSFV: The results of phylogenetic analysis of CSFV in pigs based on E2 gene showed that the strains collected from Nam Dinh and Hai Duong belonged to 2 sub-groups 2.1 and 2.2 The isolates of subtype 2.1 were closely related to the GDPY, GDHZ, HN, and HNLY-11 strains circulating in China during 2008 to 2011 while strain 2.2 was associated with isolates from Europe (Germany, Austria, the Czech Republic, and Italy) and Asia (Taiwan and Nepal)

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chăn nuôi lợn nước ta trong những năm gần đây đã phát triển nhanh chóng Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO) trong những năm vừa qua Việt Nam được ghi nhận là nước chăn nuôi phát triển mạnh và cung cấp nhiều thịt lợn (từ 116 – 121 triệu tấn thịt lợn từ năm 2016-2018) (FAO, 2018) Tuy nhiên do tập quán chăn nuôi theo hướng truyền thống vẫn còn rất phổ biến, không có tính chuyên nghiệp nên dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp

Trong công cuộc đổi mới của toàn Đảng, toàn dân, ngành chăn nuôi nước

ta đang từng bước phát triển vững chắc, đạt nhiều thành tựu to lớn đáng khích lệ

và dần trở thành một trong những ngành chính của nông nghiệp Việt Nam Đặc biệt, khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO), nhà nước đã có những chính sách điều chỉnh phù hợp như kinh tế trang trại, vốn tín dụng, chính sách đất đai, chính sách đầu tư nước ngoài Tất cả các chính sách đó đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có chăn nuôi Bước đầu đã có sự hình thành các khu vực, các cụm chăn nuôi mang tính hàng hóa phù hợp với phát triển của từng loại gia súc, gia cầm và đặc biệt có thể cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao

Nhưng do tập tục chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún mà ngành chăn nuôi ở nước ta còn mang tính tự cung tự cấp, chăn nuôi tập trung, chăn nuôi hàng hóa theo quy mô trang trại chưa nhiều Chất lượng sản phẩm chăn nuôi chưa đủ sức hội nhập và cạnh tranh Từ đó, dẫn đến những khó khăn nhất định cho ngành chăn nuôi, đặc biệt là vấn đề kiểm soát dịch bệnh

Thời gian vừa qua, do hội nhập kinh tế quốc tế, việc giao lưu buôn bán động vật, sản phẩm động vật giữa các nước trên thế giới ngày càng mở rộng, tình hình dịch bệnh động vật cũng phát triển mạnh, trong đó có bệnh dịch tả lợn cổ điển (Classical Swine Fever) xảy ra tràn lan ở nhiều khu vực Ở Việt Nam trong những năm gần đây, dịch tả lợn cổ điển liên tiếp nổ ra gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn Bệnh xuất hiện trong cả nước và xảy ra tương đối nghiêm trọng ở nhiều tỉnh thành Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi, đặc biệt trên lợn con, tỷ lệ chết có thể lên tới 100% Một trong những đặc điểm

Trang 17

lợn con sống sót xuất hiện tình trạng dung nạp miễn dịch – không đáp ứng với vaccine tiêm phòng và mẫn cảm cao với virus dịch tả lợn cường độc lưu hành, dễ tạo ra sự bùng phát của dịch Vì vậy, tổ chức dịch tễ thế giới xếp bệnh này thuộc bảng A, là bảng danh mục các bệnh nguy hiểm nhất

Bệnh dịch tả lợn do một loại Pestivirus, họ Flaviviridae gây ra, đó là bệnh

truyền nhiễm gây tiêu chảy nặng, lây lan nhiều và không có thuốc đặc trị ở lợn mọi lứa tuổi với nhiều thể khác nhau, gây chết hoặc không Lợn nhiễm bệnh duy trì mầm bệnh lâu dài gây thiệt hại trầm trọng về mặt kinh tế cho người chăn nuôi Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua niêm mạc, qua vết thương ở da

và một phần qua hệ thống hô hấp Theo các nghiên cứu cho thấy bệnh dịch tả lợn lây truyền cả theo chiều ngang và chiều dọc

Ở nước ta, do tính chất nguy hiểm của bệnh, ngành Thú y đã có những biện pháp tích cực nhằm khống chế bệnh Tuy nhiên bệnh vẫn luôn xảy ra và gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng Các nhà khoa học trong lĩnh vực Thú y cũng bỏ nhiều công sức và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu công bố về căn bệnh

và các đặc điểm dịch tễ học của bệnh, tuy nhiên do sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu, thay đổi về điều kiện xã hội, phương thức và tập quán chăn nuôi thì các đặc điểm về dịch tễ học của một số bệnh cũng sẽ thay đổi, tìm ra được sự thay đổi đó sẽ là một phương hướng để đưa ra những biện pháp hiệu quả hơn trong công tác phòng chống bệnh

Cho đến hiện tại, chưa có một nghiên cứu hệ thống đầy đủ về dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn trên tổng đại diện đàn lợn nuôi tại miền Bắc Việt Nam Vì vậy trước một diễn biến phức tạp của dịch bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

về dịch tễ học bệnh dịch tả lợn cổ điển ở lợn tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014-2017 Đây là việc cần thiết và cấp bách trong bối cảnh hiện nay nhằm đưa

ra những khuyến cáo và những giải pháp cấp thiết hỗ trợ cho công tác phòng chống dịch bệnh, giúp người chăn nuôi giảm thiểu thiệt hại trong quá trình chăn nuôi lợn

1.2 MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU

- Cập nhật và phân tích một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn tại miền Bắc Việt Nam

- Xác định hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch của bệnh dịch tả lợn đối với lợn nuôi tại khu vực nghiên cứu

Trang 18

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử những chủng virus dịch

tả lợn phân lập tại miền Bắc Việt Nam

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Địa điểm nghiên cứu

- Một số tỉnh phía Bắc Việt Nam gồm: Ba tỉnh Tây Bắc Bộ (Hòa Bình, Yên Bái, Sơn La), ba tỉnh Đông Bắc Bộ (Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên) và bốn tỉnh Đồng Bằng Sông Hồng (Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương)

- Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học thú y và Phòng thí nghiệm của Bộ môn Bệnh lý học của Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

1.3.2 Thời gian nghiên cứu

- Từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 12 năm 2017

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định được sự thay đổi và cập nhật thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học của bệnh Dịch tả lợn trong tình hình hiện tại (2014-2017) ở miền Bắc Việt Nam: Theo vùng địa lý (Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng Bằng Sông Hồng); theo lứa tuổi, phương thức chăn nuôi, giống lợn nuôi; hệ số tháng dịch,

Luận án là tài liệu tham khảo tốt, phục vụ cho những nghiên cứu khoa học

về bệnh Dịch tả lợn và tài liệu phục vụ giảng dạy trong lĩnh vực thú y

Trang 19

nuôi; hệ số tháng dịch, hệ số năm dịch; tỷ lệ hiện mắc, tốc độ mắc bệnh Dựa vào những thông số dịch tễ học này, những nghiên cứu kế tiếp có thể ứng dụng để tính toán số lượng mẫu, so sánh tốc độ mắc bệnh góp phần đánh giá yếu tố nguy

cơ của bệnh

Kết quả xác định về mang trùng tiềm ẩn và dung nạp miễn dịch là cơ sở

để đưa ra những biện pháp phòng chống phù hợp như thay đổi lịch trình vaccine,

đề xuất phương pháp kiểm soát bệnh thông qua xét nghiệm kháng thể dịch tả lợn

Việc nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của virus Dịch tả lợn

đã chỉ ra được nguồn gốc sự lưu hành và sự phù hợp cho việc sử dụng vaccine phòng bệnh tại địa phương

Trang 20

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ BỆNH DỊCH

TẢ LỢN

Dịch tả lợn là một bệnh quan trọng nằm trong danh sách loại A của OIE Những bệnh thuộc trong danh sách A được định nghĩa như những bệnh truyền nhiễm có khả năng lây lan rất nguy hiểm và nhanh chóng, bất chấp biên giới quốc gia, trở thành hậu quả nghiêm trọng đối với kinh tế xã hội và sức khỏe cộng đồng (OIE, 1998)

2.1.1 Trên thế giới

Bệnh dịch tả lợn là bệnh lây lan rất nhanh, tỷ lệ chết cao (có thể từ 60 - 90%) Bệnh thường ghép với phó thương hàn, tụ huyết trùng Lợn mắc bệnh thường có triệu chứng bại huyết, xuất huyết ở nhiều cơ quan, bộ phận, hoại tử, loét niêm mạc đường tiêu hoá Bệnh tiến triển ở nhiều thể khác nhau: quá cấp, cấp tính, mạn tính và thể tiềm ẩn (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2013) Cho đến nay nguồn gốc của bệnh dịch tả lợn chưa được xác minh chính xác, hiện vẫn còn hai quan điểm song song tồn tại:

Năm 1810 bệnh dịch tả lợn được Hanson (1957) mô tả đầu tiên ở Tenessce Đến năm 1833, bệnh dịch tả lợn được thông báo đầu tiên ở Ohio (Bắc Mỹ), sau đó bệnh lan ra cả nước Mỹ nhất là vùng Cornbert, vì đây là vùng chăn nuôi lợn nhiều nhất (Hanson, 1957)

Theo Fuchs (1968), bệnh xuất hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1862, sau đó lây lan sang các nước châu Âu khác là Đan Mạch, Thụy Điển vào năm 1887 Các nhà khoa học Mỹ cho rằng bệnh xuất phát từ châu Âu và lan sang khắp các nước trên thế giới, ở Nam Mỹ năm 1899, Nam Phi năm 1900

Hiện nay bệnh dịch tả lợn vẫn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, thiệt hại

về kinh tế do dịch tả lợn gây ra vẫn rất lớn Năm 1997, các nước: Đức, Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ có hơn 10 triệu con lợn bị giết hủy (Rassow, 1997) Ở Hà Lan tính đến ngày 31 tháng 12 năm 1997 có 424 ổ dịch trong một năm Cộng hòa liên bang Đức từ tháng 11 năm 1982 đến 9 năm 1984 có 1457 ổ dịch xảy ra ở

248 đàn lợn giống, 777 đàn lợn thịt và 412 đàn hỗn hợp, với 395000 lợn bị xử lý

(Oleksiewicz et al., 2003)

Trang 21

Theo OIE (1998), năm 1984 ở Mexico có 179 ổ dịch, Malaysia có 5 ổ dịch, Hàn Quốc có 45 ổ dịch Năm 1997 dịch tả lợn xuất hiện ở Italia, Tây Ban

Nha và Bỉ đều có nguồn gốc từ Hà Lan (Mesplede et al., 1999)

Trong một thập kỷ từ năm 1999 đến năm 2009, người ta chỉ ghi nhận

được một số ổ dịch xảy ra lẻ tẻ ở khu vực phía Đông của EU (Postel et al., 2013) Mặt khác, theo Postel et al (2013); trong các năm 2011, năm 2012 đến năm 2015

vẫn phát hiện ra một số ổ dịch Dịch tả lợn tại một số nước như: Lithuania, Latvia…

Theo OIE, từ năm 2014 tình hình dịch bệnh Dịch tả lợn vẫn xảy ra ở một

số vùng Caribê (Cuba, Cộng hòa Dominic và Haiti) cũng như từ Bolivia, Columbia, Ecuador và Peru Tuy nhiên, riêng lục địa châu Phi không phát hiện thấy ổ dịch nào (OIE, 2016)

Báo cáo mới nhất của OIE (tính đến tháng 1 năm 2017) cho thấy: tại châu

Mỹ không phát hiện thấy ổ dịch Dịch tả lợn, bao gồm: Canada, Chilê, Guiana thuộc Pháp, Mexico, Mỹ và một số tỉnh của Brazil (miền Trung và miền Nam) (OIE, 2017)

Về địa dư bệnh lý, bệnh dịch tả lợn có tính chất phân bố toàn cầu Theo Edwards (1998), bệnh xảy ra ở tất cả các nước có chăn nuôi lợn Riêng các nước: Australia, Canada, Newzeland, Ireland, Thụy Sỹ và các nước thuộc bán đảo Scadinavia được coi là không có bệnh dịch tả lợn (Van, 1993) Biến đổi di truyền

của chủng CSFV rất cao (Paton et al., 2000; Postel et al., 2012) Ba kiểu gen

chính, bao gồm nhiều kiểu gen, đã được mô tả và phân bố toàn cầu của chúng

khác nhau (Goller et al., 2016)

Kiểu gen CSFV gây ra đợt bùng phát gần đây ở EU (Đức, Bulgaria, Latvia) thuộc kiểu gen 2.3 và chỉ có ngoại lệ kiểu gen 2 Tại Nga, mặc dù đã được tiêm vắc xin sống LK VNIIVVIM, đã được báo cáo về các trường hợp lợn rừng và lợn nuôi nhiễm bệnh, nhưng thông tin gen rất hạn chế Một nghiên cứu gần đây nhấn mạnh rằng trong thập niên 90, các dòng phân lập gen 1 chủ yếu được phát hiện ở Liên bang Nga, trong khi các đợt bùng phát gần đây (2007-

2014) đã được báo cáo về kiểu gen 2.1 và 2.3 (Titov et al., 2015; Vlasova et al.,

2003) Gần đây kiểu gen 2.3 phân lập từ Nga có liên quan chặt chẽ với các phân lập Latvia (2012-2015) và các phân lập đã gây ra vụ bùng phát dịch tả CSF ở Trung Âu, như ở Pháp (2003) và Đức (2006) Báo cáo duy nhất về phân lập kiểu

Trang 22

gen 1.1 gần đây rõ ràng là một chủng vắc-xin (Titov et al., 2015) Trong số kiểu

gen 2.1 của CSFV, virus phân lập từ nhóm phát sinh gen tại Nga cùng với các phân lập từ Trung Quốc và các nước châu Á khác, bao gồm một chuỗi gen từ Nga từ Primorie giống hệt với chuỗi trình tự từ tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc Ví dụ này nhấn mạnh rằng thông tin chuỗi trình tự chi tiết hơn sẽ có giá trị lớn để hỗ trợ điều tra dịch tễ học ở cấp độ khu vực và quốc gia, nhưng cũng để phát hiện các đường lây nhiễm có thể xảy ra trên khắp các khu vực vùng biên Mặc dù tại Trung Quốc đã phát hiện các kiểu gen CSFV 1.1, 2.1, 2.2 và 2.3, một số nghiên cứu cho thấy CSFV kiểu gen 1.1 và 2.1 phổ biến nhất trong các đợt bùng phát

gần đây (Gong et al., 2016; Sun et al., 2013) Bên cạnh đó, có bằng chứng cho

thấy các nhóm phylogenetic cụ thể của kiểu gen 2.1 trở nên chiếm ưu thế trong thập kỷ qua (ví dụ, gen clade 2.1b) hoặc gần đây phát triển trở thành các biến thể

CSFV chiếm ưu thế trong khu vực (Gong et al., 2016; Zhang et al., 2018) Theo

các tài liệu hiện có, các phân lập thuộc các nhánh mới xuất hiện chủ yếu được tìm thấy ở phía Bắc và Đông Bắc Trung Quốc bao gồm các tỉnh giáp với Mông

Cổ và Nga Hơn nữa, có nhiều báo cáo về CSFV kiểu gen 2.1 từ Ấn Độ, Mông

Cổ, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam và Indonesia, và kiểu gen này dường như chiếm ưu thế ở nhiều nước châu Á Hơn nữa, các nhà khoa học đã xác định CSFV các kiểu gen 1.1 và 2.2 gần đây tại Ấn Độ và ở hầu hết các quốc gia Đông Nam Á Điều thú vị là các phân tích về chuỗi trình tự kiểu gen 2.2 có sẵn cho thấy một nhóm phylogenetic phổ biến của các dòng phân lập từ Thái Lan và Việt Nam với các phân lập từ Nam Mỹ

Kiểu di truyền của CSFV thu thập từ Ecuador và Peru trong khoảng thời gian từ 2008 - 2013 đã tiết lộ sự xuất hiện của kiểu gen 1.1 Tại Cuba, các nhà khoa học tìm thấy kiểu gen 1.4 duy nhất, bao gồm các biến thể dường như sao chép ở mức độ thấp, chỉ hiển thị nhiễm virus ngắn và do đó hầu như không được

phát hiện ngay cả bằng các kỹ thuật phân tử hiện đại (Coronado et al., 2017; Perez et al., 2012; Postel et al., 2013b) Đã có báo cáo về kiểu gen phân nhóm

1.3 tại miền Nam và Trung Mỹ trước đây hiện không còn xác định trong các nghiên cứu gần đây, điều này cũng có thể là do dữ liệu hạn chế có sẵn

Thông tin về các kiểu gen CSFV hiện tại chỉ được một số quốc gia công khai, cho tới nay vẫn còn số lượng thông tin hạn chế ở các quốc gia khác Do đó, việc phổ biến và tiếp cận dữ liệu bệnh gặp nhiều khó khăn Cơ sở dữ liệu chuỗi trình tự CSF (CSF-DB) của Phòng Thí nghiệm Tham chiếu của EU và OIE về

Trang 23

Dịch tả lợn cổ điển là một công cụ, được triển khai để khắc phục vấn đề này Dữ liệu CSF-DB đã được thiết lập gần hai thập kỷ trước để cung cấp một nền tảng trao đổi dữ liệu chuỗi trình tự chủng CSFV và dữ liệu này đã được cập nhật gần

đây (Dreier et al., 2007; Greiser-Wilke et al., 2000; Postel, et al., 2016) Các

sáng kiến như CSF-DB phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các phòng thí nghiệm quốc gia về CSF và vào sự chấp nhận chia sẻ thông tin về kiểu gen hoặc chuỗi trình tự Việc cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu cung cấp thông tin di truyền về các biến thể chủng CSFV sẽ hỗ trợ hữu ích trong dịch tễ học phân tử CSFV và giúp

có cái nhìn toàn cầu hơn về căn bệnh xuyên biên giới này

2.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, CSF được phát hiện vào các năm 1923 - 1924 bởi Houdenner (Đào Trọng Đạt và cs., 1989) và đến nay CSF vẫn là một trong “4 bệnh đỏ” gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn ở nước ta (Lê Minh Chí và cs., 1999)

Năm 1960, CSF xảy ra ở các tỉnh Nghệ An, Phú Thọ do việc vận chuyển lợn bệnh từ tỉnh ngoài vào Năm 1968 có tới 481 ổ dịch (Lê Độ, 1980) Năm

1973, CSF xảy ra ở 11 trại lợn xung quanh thành phố Hồ Chí Minh Năm 1974 dịch xảy ra ở 17 tỉnh phía Bắc, làm thiệt hại trên 4 vạn lợn, 15 tỉnh Nam bộ có dịch, gây chết 145078 con lợn (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989); năm

1983 dịch xảy ra ở Hải Hưng Trong những năm 1972 - 1973 dịch kéo dài ở Nghệ An, Hà Tĩnh do nhân dân mua lợn bệnh về trong dịp ăn tết cổ truyền làm lây lan dịch bệnh Tại các tỉnh Trung bộ dịch xảy ra mạnh vào những năm 1976 - 1978; năm 1976 có 17 ổ dịch, 1977 có 36 ổ dịch, năm 1978 có 18 ổ dịch (Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng, 1984)

Từ những năm 1980, do việc tiêm phòng đã triển khai đồng bộ nên các

ổ dịch lớn không xảy ra, nhưng bệnh vẫn tồn tại và diễn biến ngày càng phức tạp, có nhiều thay đổi về triệu chứng lâm sàng, bệnh tích cũng như về độ tuổi mẫn cảm

Nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng, Đào Trọng Đạt và Trần Tố Liên (1989) cho rằng: triệu chứng, bệnh tích của CSF ở lợn các lứa tuổi khác nhau, có những biến đổi phức tạp, bệnh diễn ra ở thể mạn tính, không điển hình do các chủng virus bị giảm độc lực thường xảy ra đối với lợn nái chưa tiêm phòng, lợn con theo mẹ và gây chết nhiều nhất là lợn con

Trang 24

Theo Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1984); Nguyễn Xuân Bình (1998) đều cho rằng: CSF xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất vẫn là ở lợn con theo mẹ và lợn con mới cai sữa Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng và

cs (1997) về khả năng thải virus cường độc ở lợn được tiêm vaccine cho thấy: những lợn đã tiêm vaccine dịch tả lợn trước hoặc sau khi có khả năng miễn dịch chống lại sự xâm nhập của virus cường độc, phát bệnh hay không phát bệnh đều

có hiện tượng thải virus cường độc sau khi bị nhiễm và gây bệnh qua tiếp xúc cho những lợn chưa có miễn dịch cùng nhốt chung

Đào Trọng Đạt và cs (1988) nghiên cứu về miễn dịch thụ động và ảnh hưởng của nó đến phản ứng miễn dịch của lợn con chống CSFV đã đi đến khuyến cáo nên tiêm phòng cho lợn con ở 40 - 50 ngày tuổi và lợn nái tiêm phòng trước khi phối giống

Theo Thông tư 04 2011 TT-BNNPTNT, 2011 có nêu: Bệnh dịch tả lợn ở nước ta xảy ra quanh năm, tuy nhiên do thời tiết thay đổi (thể hiện rõ ở miền Bắc) và do biến động của đàn lợn trong năm nên bệnh có lúc tăng lúc giảm Ngoài ra, bệnh dịch tả lợn còn phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ tiêm phòng, lợn lớn

đã có miễn dịch bị giết mổ, lợn con thay đàn bổ sung vào chưa kịp tiêm phòng làm cho tỷ lệ lợn mẫn cảm trong đàn tăng lên Việc tiêm phòng theo mùa vụ và tiêm phòng bổ sung thường xuyên góp phần ổn định và hạn chế dịch bệnh rất nhiều, nhưng trong thực tế sản xuất do nhiều lý do nên việc tiêm phòng chưa thực hiện đúng quy định, vì vậy dịch tả lợn vẫn xảy ra vào các tháng trong năm

2.2 BỆNH DỊCH TẢ LỢN

2.2.1 Virus dịch tả lợn

2.2.1.1 Phân loại hình thái cấu trúc của virus

CSFV thuộc chỉ Pestivirus, họ Flaviviridae Virus này có chung tính kháng nguyên với virus bệnh tiêu chảy ở bò và bệnh biên giới ở cừu So với virus gây bệnh biên giới, những dòng CSFV hình thành một nhóm kháng nguyên đồng dạng có quan hệ với nhau nhưng có một vài thay đổi tồn tại giữa những dòng phân lập Những phản ứng chéo huyết thanh với virus BVD và BD có thể xảy ra

và gây trở ngại trong chẩn đoán huyết thanh (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2013; Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Bá Hiên, 2014)

CSFV có dạng hình cầu cap xit đối xứng khối là đường kính 40-50nm, đường kính của nucleocapside là 29 nm, virus có vỏ bao bọc ngoài, có những gai

Trang 25

lồi 6 - 8 nm tập trung trên bề mặt của virus Bộ gene của virus là ARN chuỗi đơn dương, có độ dài 12 KB mã hóa cho 4 protein cấu trúc và protein không cấu trúc (Moormann and Hulot, 1998) Virus có 2 glycoprotein E155 và E146 KD ở trên

bề mặt và 1 nucleocapside protein 36 KD (Enzmann and Weiland, 1978) Hệ số

sa lắng là 140s - 180s Hạt virus gây nhiễm gồm 3 thành phần chính (Hình 2.1)

Hình 2.1 Cấu trúc của virus dịch tả lợn

Nguồn: Enzmann and Weiland (1978)

Bộ gen (genome): Bộ gen là một sợi đơn ARN nằm ở giữa hạt virus, nên virus chủ yếu nhân lên trong bào tương của tế bào vật chủ Theo Moening (1988), bộ gen vừa là yếu tố di truyền, vừa là yếu tố sinh sản của virus Theo Moorrman and Hulot (1998) bộ gene CSFV là một chuỗi ARN sợi đơn dài khoảng 12 kilobases (KB), có trình tự sắp xếp giống nhau giữa gene của CSFV

và virus gây tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarrhea Virus - BVDV) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Disease Virus) (Nguyễn Ngọc Hải, 2007)

Bộ gen virus có chuỗi đơn RNA dài 12.3kb Bộ gen đã được biết trình tự gen hoàn toàn, chứa một khung đọc mở nằm ở bên sườn của 5’- UTR và 3’- UTR

mã hóa một polyprotein lớn với khoảng 390 amino acid Polyprotein này được cắt bởi protease được mã hóa bởi virus và tế bào vật chủ để tạo nên protein trưởng thành của virus gồm 4 protein cấu trúc (C, Erns, E1 và E2) p7 và 7 protein không cấu trúc (Nprd, NS2, NS3, NS4A, NS4B và NS5B) Trình tự của sản phẩm gen dọc theo khung đọc mở là:

Trang 26

Hình 2.2 Cấu trúc bộ gen Pestivirus

Nguồn: Brett (2007)

Một polyprotein lớn được dịch mã từ RNA của virus sẽ được xử lý thành những protein virus riêng biệt Protein đầu tiên mã hóa là Nprd một protein không cấu trúc có nhiệm vụ phân cắt vị trí Nprd/C Peptidase ký chủ phân cắt những vị trí C/ Erns, E1/E2, E2/p7 và p7/NS2 với sự phân cắt không hoàn toàn ở vị trí E2/p7 NS2-3 được phân cắt bởi autoprotease NS2 Sự phân cắt của polyprotein hình thành NS4A, NS4B, NS5A và NS5B được thủy phân bởi enzyme protease serine NS3-4A

N prd là autoprotease không cấu trúc có hoạt tính thủy phân protein Nprd không cần thiết đối với sự sao chép virus Nprd cũng hoạt động như một chất đối kháng của sự hoạt hóa IRF-3 và sự sản xuất ra IFN, ức chế sự phiên mã IRF-3 ở những tế bào nhiễm CSFV Những đột biến bỏ đi Nprd của CSFV đã được đề xuất như những dự tuyển vaccine virus sống (Nguyễn Ngọc Hải, 2007)

 Protein cấu trúc

C (mã hóa protein pl4): là protein của nucleocapsid Đầu cuối C (C -

terminus) của protein C ở CSFV đã được xác định và được định vị ở phần kỵ

Trang 27

nước của chuỗi peptide tín hiệu bên trong (internal signal peptide) khởi đầu sự di chuyển của Erns vào trong khoang mạng lưới nội chất

Erns (mã hóa protein gp44/48), El (gp33), E2 (gp55): Là các protein vỏ E2 và Erns có tính kháng nguyên mạnh nhất Erns có tác dụng hỗ trợ thải virus qua một màng đặc biệt, được tiết ra từ tế bào nhiễm, đặc điểm nổi bật của Erns là hoạt tính ribonuclease với tính chuyên biệt đối với gốc uridine Những kháng thể ức chế hoạt tính ribonuclease có khuynh hướng trung hòa tính nhiễm virus,

sự đột biến ở Erns phá hủy hoạt tính ribonuclease gây nên gia tăng số lượng virus Erns tái tổ hợp là một độc chất đối với tế bào bạch huyết trong ống nghiệm, có thể kết hợp với sự giảm bạch cầu ở nhiễm tự nhiên Mặc dù độc tính

tế bào là một đặc điểm nổi bật của những enzyme ribonuclease hòa tan khác nhưng người ta chưa rõ hoạt tính ribonuclease của Erns

có liên quan đến độc tính của nó hay không Vùng đầu cuối C (C - terminal) của Erns có thể khởi động sự

di chuyển của nó qua màng tế bào, có thể coi như là mục tiêu hoặc chứng năng trong tế bào Tuy nhiên, Erns tái tổ hợp cũng có thể nối một cách vững chắc với

bề mặt tế bào qua sự tương tác với glycosaminoglycan và ức chế sự lây nhiễm

(Chen et al., 2008)

E1 và E2 là những protein màng không thể thiếu E2 của CSFV tái tổ hợp

có thể kết hợp với các tế bào và ngăn chặn sự lây nhiễm của CSFV và BVD Mặc

dù vai trò quan trọng của những glycosaminoglycan ở virus là lắp ráp và tiếp nhận những những kháng thể đối với Erns hoặc E2 có thể trung hòa tính lây nhiễm của virus và cả hai kháng nguyên này có thể tạo ra tính sinh miễn dịch bảo vệ

(Liao et al., 2016)

 Protein p7 theo sau những cấu trúc, gồm một vùng đảm đương nhiệm

vụ trung tâm đối với việc tách đầu cuối kỵ nước và cần cho sự sản sinh của virus lây nhiễm nhưng không đòi hỏi trong quá trình sao chép RNA P7 của pestivirus được phân cắt một cách không hiệu quả từ E2 qua peptidase đặc biệt E2- p7 không phân cắt không cần thiết đối với sự sao chép trong nuôi cấy

tế bào và cả hai E2-p7 và p7 giúp tế bào kết hợp với nhau Tuy nhiên, chưa biết rõ p7 là một protein cấu trúc hay không cấu trúc mặc dù nó không được phát hiện trong virus tinh sạch Pestivirus có p7 thì có thể hình thành những kênh ion tham gia trong sự lắp ráp và tiếp nhân của virus (Enzmann and Weiland, 1978)

Trang 28

 Protein không cấu trúc

Protein NS2 là một enzym thủy phân Protein chưa cysteine đã được nhận diện Sự phân cắt NS2-3 thiết yếu đối với sự sao chép RNA của pestivirus và hiệu quả phân cắt NS2-3 được điều chỉnh bởi một chaperone tế bào và có thể xác định tính gây bệnh tế bào Vùng NS2-3 tham gia lắp ráp virus

NS3 chứa một vùng protease serine ở đầu cuối N và một helicase RNA ở đầu cuối C Protease serine NS3 đòi hỏi NS4A như là một yếu tố hỗ trợ Protease serine NS3-4A phân cắt giữa leucine và những amino acid không phân cực nhỏ Hoạt tính protease serine ảnh hưởng đến sự sao chép RNA virus đóng vai trò thiết yếu trong khả năng tồn tại của virus

NS4A hoạt động như một yếu tố hỗ trợ hoạt tính protease serine NS3 NS4A và NS4B không đóng vai trò thiết yếu trong sự sao chép RNA của virus NS5A và NS5B hiện diện dưới dạng hai sản phẩm phân cắt hoàn toàn cũng không khác gì NS5A-5B không phân cắt Chức năng của NS5A chưa được biết

rõ NS5B mang đặc điểm enzyme polymerase RNA phụ thuộc RNA (RdRp -

RNA dependent RNA polymerase) (Lin et al., 2000)

Vỏ protein (Nuleocapside): theo Van (1992), vỏ protein mang những thành phần bên ngoài có độ dày 29 nm, trên bề mặt có những gai lồi 6 - 8 nm là thành phần có tính chất bảo vệ virus Theo Enzmann and Weiland (1978), lớp nucleocapside của virus bao gồm 2 glycoprotein có trọng lượng phân tử là 55 KD (Kilodanton) và 46 KD cùng với một lớp 36 KD (Trần Đình Từ, 1990) Các protein này được đặt tên là Protein E1 (GP55), Protein E2 (GP46) và protein C (G36) Bằng phương pháp đánh dấu các phân tử, các tác giả đã nhận thấy E1 và

E2 là những Glycoprotein nằm trên bề mặt của virus, E2 tạo nên các gai của virus Protein E1 chứa đựng các kháng nguyên chính của CSFV Trong tế bào bị nhiễm,

E1 luôn được liên kết với một lycopeptide khoảng 47 KD (Mesplede et al., 1999)

Những nghiên cứu gần đây cho thấy lớp vỏ protein gồm 4 thành phần: GP55, GP48, GP44 và GP33 cùng một số các protein kết nối trong nhân và 36KD, 23KD và 14KD (Taylor, 1995) Bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ kết tủa, Stark

et al (1990) đã nhận thấy GP48 và GP44 có chung một trục Protein thông

thường Cả 3 dạng này đều nằm ở dạng nhị trùng có cầu nối Disulfide trong virus

ở tế bào bị nhiễm Theo Thiel et al (1991), những sự tương tác đồng hóa trị phức

Trang 29

tạp như vậy giữa những Glycoprotein cấu trúc đến nay chưa được mô tả ở bất kỳ một ARN virus nào

Thứ tự các Glycoprotein trên bộ gene của CSFV được sắp xếp như sau:

1990) Biến đổi di truyền của chủng CSFV rất cao (Paton et al., 2000; Postel et

al., 2012) Ba kiểu gen chính, bao gồm nhiều kiểu gen, đã được mô tả và phân bố

toàn cầu của chúng khác nhau (Bia et al., 2015) Có nhiều báo cáo về CSFV kiểu

gen 2.1 từ Ấn Độ, Mông Cổ, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam và Indonesia, và kiểu gen này dường như chiếm ưu thế ở nhiều nước châu Á Hơn nữa, các nhà khoa học đã xác định các kiểu gen 1.1 và 2.2 của CSFV gần đây tại Ấn Độ và ở hầu hết các quốc gia Đông Nam Á Điều thú vị là các phân tích về chuỗi trình tự kiểu gen 2.2 có sẵn cho thấy một nhóm phylogenetic phổ biến của các dòng phân lập từ Thái Lan và Việt Nam với các phân lập từ Nam Mỹ

Theo Van (1998), Nguyễn Như Thanh cs (2001), các chủng CSFV được phân chia làm 2 nhóm:

Nhóm 1: gồm các chủng virus cường độc Alfort, chủng C, chủng Thiverval

Nhóm 2: gồm các chủng 331 và nhiều chủng khác phân lập được từ những lợn bị bệnh thể mạn tính

Như vậy, trong tự nhiên đã tồn tại những chủng virus có độc lực khác nhau Những chủng có độc lực cao thường gây ra bệnh thể cấp tính và tỷ lệ chết cao, các chủng có độc lực trung bình thường gây bệnh ở thể á cấp tính hoặc mạn tính Các chủng có độc lực thấp thường chỉ gây tỷ lệ chết cao ở bào thai và lợn sơ sinh

Trang 30

Hình 2.3 Phân bố sub-genotype của virus gây bệnh dịch tả lợn trên thế giới

Nguồn: Blome et al (2017)

Theo Dunn (2000), độc lực của virus thường không ổn định, việc tăng cường độc lực có thể được tiến hành sau một hoặc nhiều lần tiêm truyền qua lợn (Bảng 2.1)

Bảng 2.1 Kiểm tra độc lực của virus CSF Loại virus

TN

Virus độc lực cao

Virus độc lực trung bình

Trong cơ thể

động vật

Nồng độ virus trong máu cao, thời gian tồn tại khá dài

Thường nhiễm vào tế bào biểu

mô, tế bào lưới, đại thực bào trong hạch Amidan

Thường giới hạn ở các tế bào biểu mô mạch quản

Trang 31

Ngày nay, người ta đã sử dụng các phương pháp làm giảm độc lực của virus và thu được một số chủng nhược độc có thể sử dụng làm vaccine như CSFV chủng C, chủng IFFA, chủng GPE(-), chủng Thiverval Trước đây người ta

cho rằng kháng nguyên CSFV đồng nhất, nhưng áp dụng kĩ thuật kháng thể đơn dòng (MCAS) có thể phân biệt CSFV thành một số nhóm kháng nguyên (Edwards, 1998) Độc lực của các chủng gây bệnh thay đổi rất lớn Các chủng độc lực cao gây bệnh thể cấp tính, tỉ lệ chết cao, trong khi đó các chủng có độc lực trung bình thường gây các nhiễm trùng á cấp tính và mạn tính

CSFV có quan hệ với virus gây tiêu chảy ở bò (Bovine viral diarrhea virus

- BVDV) về mặt cấu trúc kháng nguyên Virus BVDV lây nhiễm cho trâu, bò, gia súc nhai lại nhỏ và lợn Các lây nhiễm bẩm sinh với virus BDV (Border

disease virus) gây nên bệnh Border ở cừu, dê và virus phân lập được từ hai loại

này thường được gọi là virus Border (Terpstra, 1991; Enzmann, 1988)

CSFV phản ứng chéo với virus BVDV trong phản ứng miễn dịch khuếch tán và phản ứng miễn dịch huỳnh quang, thậm chí CSFV và BVDV ở một mức

độ nhất định có thể hấp thụ kháng thể trung hòa của các loài virus pha tạp Các thí nghiệm giải độc chéo cho thấy rằng các chủng CSFV có dạng là một nhóm pha tạp Trong khi đó các chủng virus BVD hình thành những nhóm đặc tính huyết thanh rõ ràng, khác hẳn với CSFV (Wens, 1990)

2.2.1.3 Đặc tính nuôi cấy, phân lập

Khi tiêm truyền qua cơ thể lợn, các chủng CSFV vẫn giữ nguyên các đặc tính gây bệnh và miễn dịch (Moenning, 1988) Cũng theo Moenning (1988), sự thích nghi của virus đối với các loài động vật khác nhau thường thay đổi tính gây bệnh của virus đối với lợn Trong các loài động vật thì chỉ có thỏ là được chú ý nhất, đặc biệt là để chế tạo ra những chủng virus vaccine nhược độc

Ngoài những tế bào có nguồn gốc từ lợn, CSFV có thể nhân lên trong những tế bào động vật khác Dòng tế bào thận lợn PK - 15 và SK - 6 rất thích hợp cho việc nuôi cấy CSFV (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2013) Các chủng CSFV cường độc thường không gây bệnh tích tế bào (CPE) khi chúng nhân lên trong môi trường tế bào nuôi Đối với những chủng được mô tả là có gây bệnh lý tế bào là do trong thực tế chúng đã bị tạp nhiễm bởi một loại virus khác Terpstra (1991) cũng cho rằng tác động gây CPE chỉ xuất hiện khi có Adenovirus

2.2.1.4 Sự nhân lên của virus

CSFV nhân lên có giới hạn trong nguyên sinh chất của tế bào và không

Trang 32

gây bệnh tích tế bào Thế hệ đầu tiên của virus được giải phóng ra khỏi tế bào khoảng 5 - 6 giờ sau khi gây nhiễm Theo Saatkamp (1998), trong môi trường tế bào, virus lây lan qua tế bào bên cạnh và từ tế bào mẹ sang tế bào con qua cầu nối nguyên sinh chất, điều này dẫn đến không có khả năng phát hiện ra kháng nguyên virus trên bề mặt tế bào bị nhiễm

2.2.1.5 Nguồn bệnh và phương thức lây lan của virus

CSF là một bệnh truyền nhiễm lây lan mạnh do virus gây ra chỉ ở loài lợn (bao gồm lợn nhà và lợn rừng) (Trần Đình Từ, 1990; Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012)

Theo tác giả Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), CSFV tồn tại bất

cứ ở đâu có chăn nuôi lợn Ở một vài vùng giống nguồn bệnh có ở chính ngay trong những lợn nái đã được tiêm phòng Nhận xét này phù hợp với ý kiến của tác giả

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001); Moenning (1988): Lợn là loài vật chủ duy nhất mang mầm bệnh và lây lan Sự tiếp xúc giữa lợn bị bệnh và lợn mẫn cảm là phương thức lây truyền chính của CSFV

Virus truyền từ đàn này sang đàn khác có thể qua nhiều đường khác nhau, trong đó sự du nhập của những con có bề ngoài khỏe mạnh nhưng đã nhiễm bệnh vào trong một đàn là phổ biến nhất Bệnh có thể lan truyền từ các trại chăn nuôi, các phương tiện vận chuyển bị nhiễm virus, virus có thể truyền đi rất xa theo thịt và các sản phẩm chế biến từ thịt hoặc truyền bởi người chăn nuôi, nhân viên thú y, các dụng cụ, trang thiết bị thú y; virus dường như ít có dấu hiệu lây lan từ đàn nọ sang đàn kia bằng con đường không khí (Moenning, 1988) Trong phòng

thí nghiệm có thể tiêm truyền virus qua thỏ, chuột lang (Nguyễn Như Thanh và

cs., 2001; Bùi Quang Anh, 2001)

CSFV có thể sống vài tháng đến vài năm trong thịt đông lạnh Qua con đường thương mại, virus có trong các sản phẩm của lợn có thể du nhập vào các nước hoặc các vùng đang an toàn dịch Lợn mẫn cảm có thể nhiễm khi ăn phải thức ăn có chứa các thành phần phụ phẩm của quá trình giết mổ hoặc thức ăn thừa chất thải từ nhà bếp không qua xử lý (Trần Đình Từ, 1990)

CSFV có thể lây lan ở lợn rừng và những đàn lợn rừng nhiễm bệnh là nguy cơ tiềm tang đối với lợn nuôi thông qua phương thức lây nhiễm qua thức ăn hoặc qua tiếp xúc trực tiếp Đặc biệt là phương thức lây nhiễm qua tiếp xúc trực

Trang 33

tiếp thường xảy ra ở những nơi chăn nuôi với hình thức thả rông hoặc bán thả rông (Nguyễn Lương Hiền và Ngô Thanh Long, 1999)

2.2.1.6 Sức đề kháng của CSFV

Nói chung, thời gian sống sót của virus lâu hơn trong điều kiện lạnh, ẩm

và giàu protein (Kramer et al., 2009) CSFV có sức đề kháng yếu và tùy thuộc

vào trạng thái vật lý của chất chứa virus Trong dịch nuôi cấy tế bào, virus bị vô hoạt ở 60oC trong 10 phút; ở máu đã khử fibrin lại không bị vô hoạt ở 68oC trong vòng 30 phút Virus có khả năng bền vững ở pH từ 5 - 10, trên và dưới giá trị pH này thì virus bị phá hủy nhanh chóng vì vỏ virus có chứa lipid nên các dung môi của mỡ như ether, chloform, deoxychlolate và nonided P40, saponin làm bất hoạt virus rất nhanh (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2013)

Tính phụ thuộc của sự sống sót và nhiệt độ của virus được nghiên cứu kỹ

càng (Wijnker et al., 2008; Farez et al., 1997; Edwards et al., 2000) Đối với

CSFV trong các chất bài tiết, thời gian sống sót đã được chứng minh là vào khoảng

từ vài ngày ở nhiệt độ phòng đến vài tuần ở nhiệt độ 5°C (Weesendorp et al.,

2008) Nếu nhiệt độ cao hơn 35°C, thời gian sống sót của virus giảm đáng kể và virus không thể hoạt động trong vòng vài giờ hoặc thậm chí vài phút từ nhiệt độ

trên 50°C (Haas et al., 1995) Turner cho thấy rằng virus hoàn toàn không thể sống

ở nhiệt độ 60°C trong 3 phút ở các điều kiện phòng thí nghiệm (Turner et al.,

2000) Tuy nhiên, tính đồng nhất của hỗn hợp sẽ bị khử và do đó phân bố nhiệt độ

là rất quan trọng (Gale et al., 2004) Đối với các bãi rào kín để nuôi nhốt heo, điều này có thể có nghĩa là virus có thể sống sót trong ít nhất vài ngày (Artois et al., 2002) đến một tháng trong điều kiện mùa đông lạnh giá (Harkness et al., 1985)

Liên quan đến các giá trị pH, CSFV hoạt động tương đối ổn định trong khoảng pH = 5 và pH = 10 Thời gian bán rã ở mức pH thấp phụ thuộc vào nhiệt độ với thời gian bán rã trung bình thấp hơn 10 lần ở nhiệt độ phòng so với nhiệt độ tại 4°C (70 giờ ở nhiệt độ 4°C so với 5 giờ ở nhiệt độ 21°C đối với độ

pH 3) Độ biến thiên tổng thể cao và cho thấy một số phụ thuộc chủng (Depner

et al., 1992)

Quá trình sấy và hun khói có ít ảnh hưởng đến virus trong khi nhiệt độ cao

hơn dễ dàng khử hoạt động của virus (Edwards et al., 2000) Thời gian sống sót

của virus là hơn 75 ngày đã được báo cáo đối với sản phẩm salami – một loại xúc

xích xông khói (Panina et al., 1992) và hơn 120 ngày đối với thịt thăn hoặc thịt vai của lợn đen Iberia (Mebus et al., 1993)

Trang 34

2.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh dịch tả lợn

2.2.2.1 Động vật cảm nhiễm

Trong tự nhiên, chỉ có loài lợn (cả lợn rừng và lợn nhà) mọi lứa tuổi đều

mắc CSF (Nguyễn Như Thanh và cs., 2001) Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cho

thấy lợn con theo mẹ và lợn cai sữa bị nhiễm nhiều nhất (Nguyễn Xuân Bình, 1998; Đào Trọng Đạt và cs., 1988; Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989); đáng chú ý là lợn nái nhiễm những chủng virus có độc lực thấp gây bệnh cho thai

và sơ sinh (Đào Trọng Đạt và cs., 1988; Hanson, 1957)

Trong phòng thí nghiệm, khi tiêm truyền cho lợn mẫn cảm, bệnh phát ra với triệu chứng, bệnh tích giống như trong tự nhiên Tiêm virus cho thỏ, chuột lang thì bệnh thường ở thể ẩn tính, có thể tái phân lập virus sau vài ngày Tiêm truyền cho thỏ liên tục qua nhiều đời (khoảng 150 đời) sẽ tạo ra một chủng virus nhược độc, không độc với lợn nhưng vẫn giữ được đặc tính kháng nguyên, dùng

để chế văc xin nhược độc dịch tả lợn (Nguyễn Như Thanh và cs., 2001)

Những lợn khỏe mạnh mang trùng có vai trò quan trọng trong dịch tễ học của CSF cổ điển, đặc biệt là ở những vùng virus có độc lực thấp Lợn ở những nơi này thường xuất hiện những thể bệnh không điển hình do những chủng virus

có độc lực thấp gây ra Đây chính là nguồn tàng trữ mầm bệnh rất nguy hiểm Khi lợn nái mang thai bị nhiễm thường làm cho bào thai bị chết lưu, hoặc lợn con

bị chết sau khi sinh hoặc lợn được sinh ra nhưng yếu ớt Những lợn con này có thể bị chết sau khi sinh một thời gian ngắn Virus có thể có thể gieo rắc cho những lứa đẻ sau Những lợn con bị nhiễm bệnh bẩm sinh có thể mang virus suốt đời và gây ra sự truyền bệnh tiếp xúc, vì vậy gây khó khăn trong công tác phòng chống bệnh (Van, 1998; Kamakawa, 2006)

2.2.2.2 Chất chứa và độc lực của virus

Trong cơ thể, virus hấp thu mạnh trên bạch cầu nên máu có độc lực sớm nhất; các chất bài xuất như nước dãi, nước mũi, nước mắt, nước tiểu, phân, các phủ tạng đều chứa virus; hạch lympho và lách chứa nhiều virus nhất (OIE, 1985)

Các chủng virus có độc lực cao thường gây bệnh thể cấp tính, các chủng

có độc lực thấp thường gây ra thể á cấp tính hoặc thể không điển hình (Mesplede

et al., 1999) Các chủng virus có độc tính khác nhau thì có tốc độ lây lan bệnh

khác nhau; những chủng virus cường độc lây lan nhanh hơn và gây ra tỷ lệ chết cao hơn so với chủng độc lực thấp (Terpstra, 1991)

Trang 35

2.2.2.3 Lứa tuổi mắc bệnh

Các nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy CSF xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi (Trần Đình Từ, 1990), nhưng tập trung nhiều nhất ở lợn con theo mẹ và lợn mới cai sữa Theo Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), do đàn lợn đã được tiêm phòng vaccine nhiều năm nên tuổi mắc bệnh phụ thuộc vào sức đề kháng và tình trạng miễn dịch của đàn lợn Điều này khác với tính chất lây lan mạnh và lợn

ở mọi lứa tuổi bị bệnh, tỷ lệ chết tới 100% trong các ổ dịch của nhiều năm trước đây Tuy nhiên ở các huyện miền núi thuộc các tỉnh Bắc Trung bộ, do công tác tiêm phòng không được thực hiện triệt để nên CSF vẫn xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2014) Theo Nguyễn Xuân Bình (1998), mặc dù quy trình tiêm phòng đã khép kín nhưng CSF vẫn xảy ra với lợn con và lợn thịt giai đoạn 30 - 90 ngày tuổi với tỷ lệ 1 - 1,5% tổng đàn

Như vậy, tỷ lệ mắc CSF tùy thuộc vào tỷ lệ tiêm phòng của đàn lợn và mức độ kháng thể trong cơ thể lợn đã được tiêm; phụ thuộc vào mức độ kháng thể của lợn mẹ truyền qua sữa đầu mà lợn con thu nhận được, ở những vùng có tỷ

lệ tiêm phòng thấp hoặc không được tiêm phòng thì tỷ lệ chết cao và xảy ra ở mọi lứa tuổi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011)

2.2.2.4 Mùa vụ bị bệnh

Theo Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), CSF phát ra quanh năm, nhưng do biến động của đàn lợn nên bệnh có lúc tăng, lúc giảm Theo thống kê của Lê Độ (1980), ở các tỉnh miền Bắc có tới 80% số ổ dịch diễn ra trong thời gian từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau, các tháng còn lại số ổ dịch chỉ chiếm khoảng 20%

Theo thống kê của Cục thú y (2014), những năm gần đây dịch xảy ra hầu hết ở các tháng trong năm nhưng vẫn có sự chênh lệch đáng kể giữa các tháng Ngoài ra, tình hình dịch bệnh cũng còn bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố như tỷ lệ tiêm phòng, số lợn lớn đã bị giết thịt, số lợn con ra đời chưa được tiêm phòng làm cho số lượng cá thể mẫn cảm với CSF trong khu vực tăng lên

2.2.2.5 Sinh bệnh học

Trong điều kiện tự nhiên, virus vào cơ thể lợn qua đường tiêu hóa, niêm mạc mắt, mũi, sinh dục, virus cũng có thể xâm nhập vào cơ thể lợn qua đường hô hấp hoặc các vết thương trên da; một số ý kiến còn cho rằng virus có thể đi qua nhau thai Theo Nguyễn Lương (1999), mọi phương pháp tiêm truyền trong

Trang 36

phòng thí nghiệm như tiêm dưới da, tiêm bắp, tiêm phúc mạc, cho ăn, hít thở đều

có kết quả

Các trường hợp lây nhiễm bệnh tự nhiên với các chủng có độc lực cao được đặc trưng bởi các pha: nhiễm virus ở hạch, máu và nhiễm virus ở phủ tạng Từ tế bào thượng bì trong các hạch lympho, hạch amidan, virus xâm nhập vào lớp mô lympho và từ đó virus được vận chuyển theo đường bạch huyết vào các hạch lympho vùng Ở đó chúng được nhân lên nhanh chóng; một số lượng lớn virus được tạo ra ở mô bào đích thứ hai là lách, hạch lympho nội tạng, tủy xương và đường tiêu hóa,… Vì thế nồng độ virus trong máu cao, và chúng lại xâm nhập vào các cơ quan khác như hệ hô hấp, hệ thần kinh trung ương Tại cơ quan bị nhiễm virus có hiện tượng thực bào do các đại thực bào tiến hành Sự nhân lên của virus trong bạch cầu và các tế bào hệ thống lưới nội bì dẫn đến giảm bạch cầu làm cho lợn dễ nhiễm khuẩn thứ phát (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2013) Theo Trần Đình Từ (1990), các chủng virus có độc lực cao thường lây nhiễm từ khi xâm nhập vào cơ thể, lan tỏa ra tất cả các cơ quan khác trong cơ thể từ 5 - 6 ngày

Lợn nái mang thai mắc bệnh có thể truyền virus cho bào thai ở tất cả các giai đoạn phát triển của thai Virus thường lan truyền qua đường máu và phát triển ở một vài nơi dọc theo nhau thai và lan truyền từ bào thai này sang bào thai khác (Van, 1998; Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012) Ở các bào thai, virus cũng phân bố trong các cơ quan nội tạng và đường máu giống như lợn nhiễm bệnh với chủng có độc tính sau khi sinh Hậu quả cuối cùng của cách lây nhiễm từ trong bào thai có thể rất khác nhau, tùy thuộc vào tuổi thai bị lây nhiễm và độc lực của chủng virus xâm nhập (Terpstra, 1991) Những bào thai

bị nhiễm ở giai đoạn 45 ngày đầu sau khi thụ thai có khuynh hướng chết trước khi sinh hoặc phát sinh hiện tượng lây nhiễm dai dẳng và có đáp ứng miễn dịch cao hơn các bào thai bị nhiễm lúc 65 ngày hoặc muộn hơn Những bào thai lây nhiễm bởi những chủng virus có độc tính trung bình, lúc 45 ngày cuối của thời

kỳ mang thai thường biểu hiện triệu chứng bệnh khi sinh hoặc một thời gian ngắn sau khi sinh hoặc thải virus trong trường hợp lây nhiễm với những chủng virus có độc lực thấp (Van, 1998)

Sau khi virus xâm nhập, hệ thống nội bì của thành mạch quản có nhiều biến đổi Các tế bào bị sưng to do thủy thũng, các mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một số bị tắc mạch dẫn đến các bệnh tích đặc trưng của CSF như xung huyết, xuất huyết, nhồi huyết và hoại tử, viêm não - màng não và thoái

Trang 37

hóa các tế bào nội bì, nghẽn mạch, thâm nhiễm lymphocyte qua mạch thường thấy ở 70 - 90% các trường hợp lợn bị chết (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị

Thể cấp tính

Thường gặp, thời gian nung bệnh từ 2 đến 4 ngày, con vật có các triệu chứng chung: ủ rũ, mệt mỏi, kém ăn hoặc không ăn, kém vận động, sốt cao 41 - 42°C, kéo dài từ 3 - 5 ngày Lợn con thường nằm chồng đống lên nhau ở góc chuồng Ở những đàn lợn mẫn cảm, lúc đầu chỉ có một số con mắc bệnh nhưng sau 10 ngày bệnh sẽ lây ra toàn đàn Do virus tác động đến bộ máy tiêu hóa nên con vật có biểu hiện nôn mửa Trong thời gian sốt con vật đi táo, khi thân nhiệt

hạ con vật đi ỉa chảy: phân loãng nhiều nước, thối khắm, có khi có cục máu và các mảng thượng bì bong tróc ra Do virus tác động đến bộ máy hô hấp nên con vật có biểu hiện: viêm niêm mạc mũi, chảy nước mũi (nước mũi lúc đầu trong loãng về sau đục đặc dần, có khi đóng lại ở khóe mũi làm cho vành mũi nứt nẻ) Con vật ho: lúc đầu ho ít, ho khan, về sau ho nhiều, ho ướt Virus tác động đến hệ thần kinh, đặc biệt là não nên con vật có triệu chứng thần kinh: đi đứng xiêu vẹo, loạng choạng, liệt hai chân sau hoặc liệt nửa thân sau Lợn có biểu hiện viêm kết mạc và giác mạc mắt, chảy nước mắt, lúc đầu trong loãng về sau đục và đặc dần Virus tác động phá hủy thành mạch nên quan sát trên da có các điểm xuất huyết

to nhỏ không đều bằng đầu mũi kim, đầu đinh ghim Điểm xuất huyết nhỏ li ti, tập trung lại thành từng mảng, từng đám giống như vùng cháy Có trường hợp nốt xuất huyết to bằng hạt ngô, tím bầm nằm lặn sâu ở tổ chức liên kết dưới da Lợn chết trong vòng 1 tuần sau khi biểu hiện triệu chứng bệnh, tỷ lệ chết có thể 100% (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2013)

Thể mạn tính

Khi lợn bị bệnh mà sống đến quá 30 ngày thì được coi là thể mạn tính Đặc trưng của thể bệnh này là lợn ăn rất ít hay bỏ ăn, sốt, ỉa chảy kéo dài hoặc

Trang 38

ngắt quãng, bạch cầu giảm Thể này kéo dài vài tháng và cuối cùng cũng chết (Trần Đình Từ, 1990) Các giai đoạn của thể mạn tính gồm:

- Giai đoạn đầu kéo dài 10 - 15 ngày, các triệu chứng giống như thể cấp tính nhưng nhẹ hơn

- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn thuyên giảm

- Giai đoạn ba: sẽ bị bội nhiễm các loại mầm bệnh khác; con vật gầy yếu,

mổ khám Tỷ lệ sung huyết ở niêm mạc dạ dày – ruột chiếm 93,33%, xuất huyết điểm ở thận chiếm 80%, nhồi huyết ở lách và viêm phế quản phổi chiếm tỷ lệ 75%, tỷ lệ xuất huyết điểm ở bốn chân chiếm 71,67% Viêm phồi thùy có tỷ lệ thấp chỉ chiếm 8,3%, xuất huyết ở van hồi manh tràng chiếm tỷ lệ 48,33% Ngoài

ra, một số tổn thương khác cũng được quan sát thấy như: xuất huyết ở da (28,33%); loét ở miệng (16,77%); loét ở hạch amygdale (16,17%); loét ở ruột già (38,33%) Tổn thương xuất huyết thấy ở hầu hết các cơ quan: hạch lympho, thận,

dạ dày, ruột non, ruột già và trên da

Theo Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), CSF là bệnh dịch tễ đàn, do vậy khi quan sát lâm sàng và bệnh tích phải quan sát từ 3 - 5 con trở lên; nhưng tìm ra đầy đủ các bệnh tích điển hình của CSF trong thời gian gần đây là rất khó

Thể cấp tính và mạn tính có thể quan sát thấy bệnh tích xuất huyết lấm tấm ở da, kích thước khác nhau do hoại tử thoái hoá tế bào nội bì và máu khó đông Xuất huyết xảy ra nhiều nhất ở hạch lympho, thận, ít hơn ở tim, màng thanh dịch, bóng đái, niêm mạc ruột, thanh quản, da và dưới da Hạch lympho thường sưng to và xuất huyết ở các xoang ngoại biên làm cho hạch lympho giống

đá hóa vân Xuất huyết ở thận chủ yếu là lấm chấm và thường nằm dưới vỏ Lách

có kích thước bình thường, thấy nhồi huyết dọc theo rìa, làm cho lách có hình răng cưa Virus tác động gây mụn loét ở niêm mạc ruột già sau khi gây hoại tử ở

Trang 39

những nang lâm ba riêng biệt Những mụn loét xuất hiện dày, tròn hình cúc áo trên bề mặt có những khối sợi huyết tạo những vòng tròn đồng tâm Những khối sợi huyết đông đặc lại từng đợt làm mụn loét dầy lên Ngoài ra có thể quan sát

thấy hiện tượng có nước nhầy, lắng đọng sợi fibrin, xuất huyết cục bộ màng nhày

của đường tiêu hóa, đường hô hấp, phổi, cuối cùng nhiễm bệnh kế phát xảy ra (Van, 1998) Tùy theo từng ổ dịch, độc lực của virus, sức đề kháng của con vật, thời gian cảm nhiễm,… mà bệnh tích ở từng con ở từng ổ dịch có thể không giống nhau và không đầy đủ như đã nêu Theo quan sát trong thời gian gần đây thì việc tìm thấy đầy đủ các bệnh tích, triệu chứng của CSF là rất khó

Tuy nhiên, theo Trần Thị Dân và cs (2000), bệnh tích của lợn có triệu chứng lâm sàng dịch tả lợn tại các lò giết mổ ở Bà Rịa - Vũng Tầu chủ yếu là: Thận sưng xuất huyết, bàng quang xuất huyết, lách nhồi huyết, phổi viêm xuất huyết, hạch ruột sưng, xuất huyết,…

Thể bệnh mạn tính và thể bệnh phát muộn (Late onset) thường thấy teo tuyến Thymus và sưng các khớp của xương sườn ở lợn con (Van, 1998)

Trong trường hợp CSF xảy ra ở lợn con thường ghép với bệnh phó thương

hàn, E.coli gây những nốt loét tràn lan ở ruột, viêm phổi làm lu mờ bệnh tích

của CSF (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989)

2.2.3.3 Bệnh tích vi thể

Đặc trưng nhất là ở hệ lưới nội bì của thành mạch quản, các tế bào nội bì sưng to, thoái hóa, thủy thũng; các mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một số bị tắc mạch dẫn tới bệnh tích đặc trưng của CSF là xung huyết, xuất xuyết, nhồi huyết (thường thấy ở lách, hạch lympho, thận và đường tiêu hóa), hoại tử, viêm não, viêm màng não đặc trưng bởi sưng và thoái hóa các tế bào nội bì, nghẽn mạch, thấm nhiễm lymphocyte quanh mạch (Ressang, 1973) Theo Van (1998),

sự gia tăng về số lượng các đại thực bào và sự suy yếu của hệ đơn bào ở giữa hạch bạch huyết, lách, hạch amidan và những đám hạch ruột xảy ra trong trường hợp bệnh mạn tính

2.2.3.4 CSF thể không điển hình

Đây là thể bệnh rất khó phân biệt vì bệnh kéo dài và không có triệu chứng đặc trưng Thể CSF không điển hình được nhiều tác giả đề cập đến như Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989); Terpstra (1991) Thể không điển hình biểu hiện dưới các dạng khác nhau như rối loạn sinh sản hoặc bệnh lý sinh sản như sảy thai, thai gỗ, chết thai, thai dị hình, chết sau khi sinh…Theo Nguyễn Lương (1997) đây là

Trang 40

thể CSF khó phân biệt vì bệnh kéo dài và không có các thời kỳ rõ rệt; virus lưu hành một cách không rõ ràng, nhất là lợn sinh sản với các trường hợp ổ dịch nhỏ lẻ nổ ra

khi có điều kiện thuận lợi (Mesplede et al., 1999) Nguyên nhân của thể không điển

hình có rất nhiều như: do độc tố của virus, các nhiễm trùng thứ phát, sức đề kháng bẩm sinh, loại thức ăn, phương thức chăn nuôi

2.2.4 Các phương pháp chẩn đoán bệnh dịch tả lợn

Chẩn đoán CSF là vấn đề khó khăn vì trước hết là bệnh do virus gây ra Lợn là động vật cảm thụ, phát bệnh duy nhất, việc tiêm truyền qua lợn thường phức tạp tốn kém hơn những động vật khác Các môi trường tế bào không biểu hiện CPE khi cấy CSFV, các phương pháp huyết thanh học thường không chỉ dùng một phương pháp cho kết quả mong muốn

Trước đây việc chẩn đoán CSF thường dựa vào các biểu hiện về triệu chứng, bệnh tích (OIE, 1998) Tuy nhiên, hiện nay CSF đã diễn biến phức tạp, do vậy phương pháp này tỏ ra không hiệu quả Việc chẩn đoán, phát hiện virus trong

cơ thể lợn là khó khăn vì số lượng virus trong cơ thể không nhiều Các phương pháp hiện nay đang được áp dụng là:

1 Phát hiện kháng nguyên hoặc phát hiện kháng thể trong các bệnh phẩm bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp

2 Nuôi cấy phân lập virus trên môi trường tế bào hoặc tiêm truyền cho lợn

3 Phản ứng trung hòa trên thỏ

4 Phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu

5 Công thức bạch cầu

6 Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch

7 Kỹ thuật hóa mô miễn dịch (IHC)

8 Phản ứng miễn dịch đánh dấu enzym (ELISA)

9 Kỹ thuật RT-PCR (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2013; Cục Thú y, 1990; 2010) Tuy nhiên, mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng, thí dụ phản ứng ngưng kết hồng cầu (cừu) ít chính xác, phản ứng kết tuản khuyếch tán trong thạch có độ nhạy kém, phản ứng miễn dịch huỳnh quang không cho biết chính xác kháng nguyên phát hiện được là CSFV cường độc hay nhược độ ; dùng phản ứng trung hòa chậm có thể phân biệt hai loại CSFV và dịch tả trâu

bò nhưng không phân biệt được kháng nguyên (hoặc kháng thể) là virus độc

Ngày đăng: 25/10/2019, 15:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Mesplede A., E. Albina and F. Madec (1999). Dịch tả lợn cổ điển luôn là vấn đề thời sự, tình hình hiện tại về vấn đề đáng sợ này. Hội nghị “Passpores 98” tại Angers ngày 18/3/1998 do Synpore và UCAAB tổ chức. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y- 2/1999, tr. 25 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Passpores 98
Tác giả: Mesplede A., E. Albina and F. Madec
Năm: 1999
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011). Thông tư 04 2011 TT-BNNPTNT. Hướng dẫn biện pháp phòng chống bệnh Dịch tả lợn Khác
2. Bùi Quang Anh (2001). Nghiên cứu dịch tễ học bệnh Dịch tả lợn cổ điển và các biện pháp phòng chống ở một số tỉnh vùng Bắc Trung bộ. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Thú y Khác
3. Bùi Trần Anh Đào và Nguyễn Hữu Nam (2009). Một số đặc điểm bệnh lý ở lợn mắc bệnh dịch tả. Tạp chí Khoa học và Phát triển 7(2):166-171 Khác
4. Cao Văn Hồng và Nguyễn Như Trung (2012). Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh dịch tả lợn tại huyện Krông Păk tỉnh Đắk Lắk từ 2005-2010. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y. Tập XIX, số 2. tr. 76-77 Khác
6. Cục Thú y (2010). Quy trình chẩn đoán bệnh dịch tả lợn. Tiêu chuẩn Quốc gia, TCVN 5273:2010 Khác
8. Cục Thú y (2018). Báo cáo tình hình dịch bệnh gia súc gia cầm năm 2017. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y. Tập XXV. Số 3. Trang 85-90 Khác
9. Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1984). Về tình hình dịch tễ của bệnh dịch tả lợn ở Việt Nam và vấn đề phòng chống. Kết quả nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật Thú y 1979-1984, tr 5- 10 Khác
10. Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1989). Miễn dịch học thụ động và ảnh hưởng của nó đến phản ứng miễn dịch của lợn con chống virus dịch tả lợn. Kết quả nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật Thú y 1985 - 1989. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 15 - 19 Khác
11. Đào Trọng Đạt và Phạm Văn Chức (1989). Bệnh virus ở gia súc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Thú y 1985 - 1989. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 15 - 19 Khác
12. Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989). Một số nét đặc trưng về dịch tễ học và bệnh lý lâm sàng dịch tả lợn hiện nay. Kết quả nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật Thú y 1985 - 1989. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 9 - 15 Khác
13. Đào Trọng Đạt, Nguyễn Tiến Dũng, Đặng Việt Tiến và Phạm Ngọc Tê (1988). Miễn dịch thụ động và ảnh hưởng của nó đến phản ứng của lợn con chống virus dịch tả lợn. Kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Thú y 1985 - 1989. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 7 - 9 Khác
14. Đào Trọng Đạt, Nguyễn Tiến Dũng, Trần Tố Liên, Nguyễn Đức Dụ và Nguyễn Khoa Bảng (1989). Tình hình dịch tễ của bệnh dịch tả lợn cổ điển ở Việt Nam và vấn đề phòng chống. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y. Số 2. tr.4 - 9 Khác
16. Lê Độ (1980). Bệnh dịch tả lợn ở miền Bắc Việt Nam trong 20 năm 1960 -1980. Tạp chí Khoa học và kỹ thuật Thú y, III, tr 1 - 9 Khác
17. Lê Minh Chí, Hồ Đình Chúc và Bùi Quý Huy (1999). Kết quả điều tra dịch bệnh gia súc, gia cầm ở 5 tỉnh phía Bắc. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập IV, số 3, tr. 75 - 78 Khác
18. Lê Thanh Hòa, Trần Thị Thanh Xuân, Đỗ Văn Khiên, Phạm Hùng, Trần Xuân Hạnh, Chu Hoàng Hà và Đồng Văn Quyền. (2015). Phân tích đặc điểm gen kháng nguyên E2 (GP55) của virus dịch tả lợn nhược độc chủng C làm vaccine hiện nay tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, 22: 33-40 Khác
20. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Lãnh, Đỗ Ngọc Thúy, Bạch Quốc Thắng, Lê Văn Phan, Nguyễn Viết Không và Đặng Hữu Anh (2013). Bệnh truyền nhiễm của động vật nuôi và biện pháp khống chế. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
21. Nguyễn Bá Hiên và Trần Thị Lan Hương (2009). Miễn dịch học thú y. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
22. Nguyễn Bá Hiên, Trần Xuân Hạnh, Phạm Quang Thái và Hoàng Văn Năm (2010). Công nghệ chế tạo và sử dụng vacxxin thú y ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
23. Nguyễn Lương (1997). Dịch tễ học Thú y phần chuyên khoa. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w