1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản

18 590 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 56,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích về luận điểm của Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường Cách mạng vô sản” và liên hệ bản thân về tư tưởng Hồ Chí Minh và câu nói của Người. Tiểu luận đầy đủ nội dung, cơ sở lý luận, thực tiễn, chứng minh luận điểm và nhận thức bản thân

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 2

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH 3

A CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN ĐIỂM 3

I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

II CƠ SỞ THỰC TIỄN 5

B PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUAN ĐIỂM 7

I PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM 7

II QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 9

C NHẬN THỨC BẢN THÂN 11

I ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM 11

II TRÁCH NHIỆM CỦA BẢN THÂN 13

PHẦN III: KẾT LUẬN 18

Trang 2

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, giai cấp phong kiến từng bước nhượng bộ, đầu hàng, làm tay sai cho thực dân Pháp, các cuộc đấu tranh chống Pháp lần lượt thất bại, cách mạng Việt Nam rơi vào tình thế “dường như trong đêm tối không có đường ra”, Hồ Chí Minh đã chứng kiến bao cảnh khổ cực của nhân dân và sớm ý thức được con đường phải giải phóng dân tộc

Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh nhận thấy rằng, xã hội loài người là một trình độ phát triển cao của giới tự nhiên, vận động và phát triển theo quy luật khách quan “Từ đời xưa đến nay, chế độ công cộng nguyên thuỷ sụp đổ

do chế độ nô lệ thay thế Chế độ nô lệ sụp đổ, do chế độ phong kiến thay thế Chế

độ phong kiến sụp đổ, do chế độ tư bản thay thế Đó là quy luật nhất định trong sự phát triển của xã hội”

Con đường giải phóng dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Giải phóng dân tộc theo con đường Cách mạng Tháng Mười, theo con đường cách mạng vô sản, đó là tư tưởng chỉ đạo mang tính nguyên tắc, được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện Đảng cũng như chỉ đạo thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Là một sinh viên năm 3 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – một trong những trường Kinh tế và bề dày lịch sử đứng đầu cả nước, bản thân em tự nhận thức được mình sẽ chính là thế hệ trả tương lai của đấy nước, góp phần đóng góp đưa đất nước Việt Nam ta ngày một giàu mạnh, phát triển, vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu Để làm được điều đó, bản thân em trước hết cần phải dành một mức độ quan tâm nhất định, có kiến thức và tầm hiểu biết về lịch sử, xã hội và đặc biệt là tương tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng vô sản Chính vì vậy, chủ đề nghiên cứ của em lần này chính là phân tích về luận điểm của Hồ Chí Minh:

“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường Cách mạng vô sản”

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH

A CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN ĐIỂM

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản

1.1 Cách mạng giải phóng dân tộc

Cách mạng giải phóng dân tộc là cuộc cách mạng nhằm thủ tiêu sự thống trị của đế quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc và thiết lập chính quyền của nhân dân Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc là nội dung cơ bản, cốt lõi trong hệ thống quan điểm của Người về con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, con người, về lực lượng giải phóng dân tộc,

về phương pháp cách mạng, khởi nghĩa vũ trang toàn dân,…

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc là công việc, nhiệm vụ hàng đầu trước tiên của cách mạng Việt Nam, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Từ khi Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước, tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin và quốc tế thứ 3 thì mục tiêu giải phóng dân tộc ngày càng được thể hiện rõ hơn Mục tiêu cấp thiết của cách mạng thuộc địa chưa phải là giành quyền lợi riêng biệt của mỗi giai cấp mà quyền lợi chung của toàn dân tộc

Mục tiêu đặt lên hàng đầu của cách mạng ở thuộc địa là chú trọng vào quyền lợi chung của toàn dân tộc thay vì đấu tranh vì quyền lợi riêng của từng giai cấp Đó là mục tiêu mang tính chiến lược đấu tranh dân tộc, phù hợp với xu thế thời đại cách mạng chống đế quốc, giải phóng dân tộc, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng và mong ước một cuộc sống tự do, độc lập, và hạnh phúc của quần chúng nhân dân

1.2 Cách mạng vô sản

Trước hết, “cách mạng vô sản” là cuộc cách mạng mà theo đó giai cấp công nhân tiến hành lật đổ chế độ tư bản Giai cấp công nhân với vai trò là giai cấp lãnh đạo cùng các tầng lớp nhân dân lao động xây dựng một xã hội mới, loại

bỏ ách áp bức bót lột của chủ nghĩa tư bản Đó là cuộc cách mạng giành độc lập cho dân tộc, tiếp đến là đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

Hồ Chí Minh tiếp thu bản chất cách mạng, khoa học và tính nhân văn cao cả của học thuyết cách mạng vô sản nhằm giải phóng triệt để con người khỏi sự

Trang 4

áp bức về mặt dân tộc, bóc lột về mặt giai cấp và sự nô dịch về mặt tinh thần Người đã trăn trở rất nhiều về sự khác nhau giữ xã hội Châu Âu và xã hội Phương Đông Tại đây, nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu nên sự phân hoá giai cấp khác biệt với xã hội tư bản Phương Tây nhưng những giai cấp khác nhau vẫn có sự tương đồng lớn đó là cuộc sống của người dân mất nước Sự khác nhau giữa mâu thuẩn chủ yếu của xã hội tư bản chủ nghĩa và mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa là giữa dân tộc bị áp bức với đến quốc xâm lược Thực tiễn xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đặt ra vấn đề giải quyết trong cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược Con đường mà Hồ Chí Minh xác định là con đường chính xác, trong những thập nên đầu thế kỷ

XX, lịch sử là sự khảo nhiệm khách quan, ngiêm khắc về con đường cứu nước

mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn Mục tiêu của cách mạng vô sản là giải phóng xã hội, giải phóng con người Mục tiêu lần lượt đi từ việc đoàn kết, hội tụ các giai cấp công nhân và người lao động để lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị, áp bức, sau đó là tập hợp các tầng lớp nhân dân lao động tổ chức xã hội mới, xoá bỏ tình trạng áp bức, bóc lột

2 Mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản

Chủ nghĩa Mác chỉ ra rằng trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, phải thực hiện những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh dân tộc cách mạng, cùng với đó là những cuộc chiến đứng lên của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản và cuối cùng là phải kết hợp giữa hai hình thức chiến tranh cashc mạng đó

Bên cạnh đó, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã đưa ra rằng đằng sau những xung đột chính trị mang tính dân tộc, sau mong ước của các dân tộc muốn thống nhất, đằng sau những cuộc xung đột giữa các quốc gia dân tộc, giữa một bên là các quốc gia này và bên kia là các dân tộc bị nôi lệ là cuộc đấu tranh của các giai cấp vô sản, tư sản, quý tộc, và các tầng lớp xã hội khác Vì vậy, có thể thấy rõ được rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa là điều kiện để giải quyết vấn đề dân tộc

Lênin cũng đưa rằng về mâu thuẫn cơ bản nhất của chủ nghĩa đế quốc là đấu tranh giữa tư sản và vô sản đã đến lúc phải cách mạng Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc và thuộc địa gắn liền với mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản cũng

là vấn đề nóng trong cuộc cách mạng giải phóng

Trang 5

Trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, giải phóng dân tộc là quy luật khách quan, giữa việc giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, con người có mối quan hệ mật thiết Để mang lại cho người lao động có quyền làm chủ, quyền được phát triển, quyền độc lập, to do, hạnh phúc dân tộc thì chỉ có triệt tận gốc sự áp bức, bóc lột và thiết lập một nhà nước mới của dân, do dân và vì dân Công việc sau khi giành độc lập đó là phải xây dựng và đi lên chủ nghĩa xã hội, gây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no

II CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 Thực tiễn Việt Nam

Cuối thế kỷ XIX, Thực dân Pháp đã cơ bản hoàn tất xâm lược Việt Nam, nước Việt Nam khi đó từ một quốc gia độc lập, có quyền tự do đã rơi vào tình cảnh đất nước thuộc địa dưới quyền của Pháp Thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông Dương với bộ máy điều hành đã thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp và bóc lột nhân dân ta, chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ thống trị khác nhau Nhân dân ta mất nước, trở thành nô lệ, bị đàn áp và không có tự do, cuộc sống vô cùng khổ cực Về kinh tế, Pháp tienes hành khai thác thuộc địa Đông Dương hai lần trong thời gian từ năm

1897 – 1929 và lấy Việt Nam làm trọng điểm Nền kinh tế Việt Nam có sự phát triển ở mức độ nào đó nhưng chỉ là nền kinh tế thuộc địa, hoàn toàn phụ thuộc vào Pháp mà không được tự chủ, luôn trong tình trạng mất cân đối Về văn hoá, thực dân Pháp thực hiện chính sách nô dịch văn hoá, xoá đi hệ thống giáo dục phong kiến mà thay bằng chế độ giáo dục thực dân hạn chế khiến nhân dân ta trở nên mù chữ, không được tiếp nhận và bị che giấu mọi thông tin, tri thức tiến bộ từ bên ngoài

Trước sự xâm lược đó, một loạt các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta diễn ra sôi nổi nhưng đều không đạt được kết quả rõ rệt Phong trào Cần Vương đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng và sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này không còn tiêu biểu Tiếp sau đó, lần lượt các phong trào nông dân như khởi nghĩa Yên Thế, phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh hay cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng đều rơi vào thế bế tắc và thất bại Cách mạng Việt Nam chìm sâu vào trong cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước

Trang 6

2 Thực tiễn Thế giới

Từ khi chủ nghĩa đế quốc ra đời, ngày càng gay gắt về vấn đề thị trường, khu vực ảnh hưởng Chủ nghĩa đế quốc xuất khẩu tư bản, đầu tư khai thác thuộc địa đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn, làm quan hệ xã hội của nước thuộc địa biến đổi một cách căn bản Các nước thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản thực dân Chủ nghĩa đế quốc cấu kết với nhau tiến hành chiến tranh xâm lược, thiết lập chính quyền cai trị, bóc lột, nô dịch các nước thuộc địa Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa thực dân càng gay gắt, sự phản ứng dân tộc của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt

Và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc xâm lược, thống trị các thuộc địa lại tạo cho các dân tộc bị chinh phục những phương tiện và phương pháp để tự giải phóng Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh dân tộc để tự giải phóng khỏi ách thực dân, lập lại các quốc gia dân tộc độc lập trên thế giới chịu tác động sâu sắc của chính sách xâm lược, thống trị của chủ nghĩa

đế quốc thực dân Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ rằng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không thể đi theo con đường cách mạng tư sản: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi áp bức Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy” Sau khi Cách mạng Tháng 10 Nga dành chiến thắng và mở ra thời đại từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Qua đó, Hồ Chí Minh đã nhận thấy rằng, chỉ có cách mạng Nga trong tình hình thế giới bấy giờ mới có khả năng thành công, đưa nhân dân có cuộc sống độc lập, tự do và bỉnh đẳng Cách mạng Nga với đưa ra chiến lược về cách mệnh thành công thì phải lấy dân làm gốc, cùng với đó phải có Đảng bền gan, chấp nhận hy sinh và luôn vững bền, theo chủ nghĩa Mác-Lênin.Việc lựa chọn và đi theo con đường cách mạng vô sản là quyết định đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về nhận thức cách mạng của Hồ Chí Minh Đây cũng là quyết định mang tính bước ngoặt căn bản với cách mạng Việt Nam

Trang 7

B PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUAN ĐIỂM

I PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM

1 Con đường cách mạng vô sản là con đường duy nhất

1.1 Phong trào Cần Vương

Phong trào Cần Vương nổ ra vào cuối thế kỷ 19 do đại thần nhà

Nguyễn là Tôn Thất Thuyết nhân danh vị hoàng đế trẻ tuổi vua Hàm Nghi đề xướng trước nạn xâm lược của thực dân Pháp Phong trào thu hút được một

số các quan lại trong triều đình và văn thân Ngoài ra, phong trào còn thu hút đông đảo các tầng lớp sĩ phu yêu nước thời bấy giờ Phong trào Cần vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp

cả nước, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, kéo dài

từ 1885 cho đến 1896 Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra ngoài và phát chiếu Cần Vương chống thực dân Pháp Bên cạnh đó, các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng lời kêu gọi của Hàm Nghi đã diễn ra rất sôi nổi trong suốt thời gian, tiêu biểu phải kể đến: Khởi nghĩa Hương Khê, Ba Đình, Bãi Sậy,… Tuy nhiên, phong trào Cần Vương suy yếu dần; từng cuộc khởi nghĩa lần lượt bị tiêu diệt Từ cuối năm 1895 đầu 1896, khi tiếng súng cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại, phong trào Cần Vương coi như chấm dứt Sự thất bại của phong trào Cần Vương có rất nhiều nguyên nhân không chỉ đến từ nền sản xuất lạc hậu, lực lượng và chiến thuật chưa hợp lý, tinh thần chiến đấu của quân ta chưa mãnh liệt mà nguyên nhân còn đến từ sự kháng cự chỉ

có tính chất địa phương Các phong trào chưa quy tụ, tập hợp thành một khối thống nhất đủ mạnh để chống Pháp Các lãnh tụ Cần Vương chỉ có uy tín tại nơi họ xuất thân, tinh thần địa phương mạnh mẽ làm họ chống lại mọi sự thống nhất phong trào trên quy mô lớn hơn Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì quân của họ hoặc giải tán hay đầu hàng Cùng với đó, các đạo quân này không được lòng dân quê nhiều lắm bởi để có phương tiện sống và duy trì chiến đấu, họ phải đi cướp phá dân chúng Ngoài ra, sự thất bại của phong trào Cần Vương còn đến từ chính sách sa thải các quan chức Việt và cho các dân tộc thiểu số được quyền tự trị rộng rãi cũng làm cho các sắc dân này đứng về phía Pháp Chính người Thượng đã bắt Hàm Nghi, các bộ lạc Thái, Mán, Mèo, Nùng, Thổ đều đã cắt đường liên lạc của quân Cần Vương

Trang 8

với Trung Hoa làm cạn nguồn khí giới của họ Quen thuộc rừng núi, họ cũng giúp quân Pháp chiến tranh phản du kích đầy hiệu quả

1.2 Khởi nghĩa Yên Thế

Khởi nghĩa Yên Thế là một cuộc đối đầu vũ trang giữa những người nông

dân ly tán tại vùng Yên Thế Thượng và sau đó là Thái Nguyên, đứng đầu

là Hoàng Hoa Thám, với quân Pháp, khi Pháp vừa kết thúc chiến tranh với Trung Quốc và bắt đầu kiểm soát toàn bộ vùng Bắc kỳ những năm cuối thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam Trước khi thực dân Pháp đặt chân đến vùng này, nơi đây đã là một vùng đất có một cư dân phức tạp, chủ yếu là nông dân lưu tán các loại Họ chọn nơi đây làm nơi cư trú và đã công khai chống lại triều đình Khi thực dân Pháp đến bình định vùng này, các toán vũ trang ở đây có thể cũng chống lại quân Pháp như đã từng chống lại triều đình nhà Nguyễn trước đó để bảo vệ miền đất tự do của họ.Và vì Yên Thế là bình địa của Pháp khi chúng mở rộng chiếm đóng Bắc Kì nên họ đã nổi dậy đấu tranh để bảo vệ cuộc sống của mình Nhưng đến năm 1913, cuộc khởi nghĩa cũng đi đến thất bại hoàn toàn Khởi nghĩa Yên Thế có thể được cho rằng đến từ tư tưởng lãnh đạo của Đề Thám (chủ hòa) không hợp với nhiều nghĩa quân (chủ chiến), cùng với đó là việc nhiều nghĩa quân đã bị trói buộc vào tình trạng tá điền không công cũng gây nên sự rạn nứt trong nội bộ của nghĩa quân Thất bại còn đến từ việc nghĩa quân Yên Thế chưa lấy được lòng dân do đôi khi nghĩa quân vẫn cướp bóc, sách nhiễu dân chúng và mục tiêu của cuộc khởi nghĩa chỉ là để giữ một vùng đất nhỏ độc lập với chính quyền của Pháp, chỉ phù hợp với nông dân lưu tán cư trú ở Yên Thế, mà không cuốn hút được các thành phần xã hội khác ở Việt Nam lúc đó

1.3 Phong trào yêu nước của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh

Sau khi thực dân Pháp dập tắt phong trào Cần Vương kéo theo sự thất bại của phong trào yêu nước theo ngọn cờ phong kiến đã đặt ra yêu cầu lớn cần có con đường mới thay thế Tại thời điểm đó, Pháp căn bản hoàn thành công cuộc bình định quân sự, chúng bắt tay vào công cuộc khai thác lần thứ nhất

Xã hội Việt Nam bước đầu phân hóa, các tầng lớp xã hội mới ra đời như tư sản, tiểu tư sản, công nhân nhưng những tầng lớp này còn non yếu chưa đủ sức phát huy sức phát động cuộc cách mạng mới, trong khi các sỹ phu Nho học có nhiều chuyển biến về tư tưởng, chính trị đã nắm lấy thời cơ để tổ chức

Trang 9

nên một trào lưu cứu nước mới theo khuynh hướng dân chủ tư sản Phong trào yêu nước của Phân Bội Châu và Phan Chu Trinh đã rời đời đại diện cho phong trào dân tộc dân chủ của tầng lớp sỹ phu tiến bộ đầu thế kỷ XX Chủ trương cứu nước của hai ông đều có cùng sự thống nhất với nhau ở khái niệm

“Dân nước và nước dân” Nhưng song song với đó, Phan Bội Châu tranh thủ

sự giớ đỡ của Nhật Bản, tổ chức bao động đánh đuổi Thực dân Pháp giành độc lập còn Phan Chu Trinh giương cao ngọn cờ dân chủ, cải cách xã hội bằng phương pháp nâng cao dân trí, dân quyền và vạch trần chế độ vua quan phong kiến thối nát Nhưng không tránh khỏi kết quả như các cuộc khởi nghĩa trước đây, phong trào yêu nước của hai ông cũng đi đến sự thất bại Nguyên nhân của nó đến từ khuynh hướng dân chủ tư sản không còn phù hợp với thời đại mới Giống như thất bại của hai cuộc khởi nghĩa trên, các phong trào cứu nước diễn ra lẻ tẻ, không thống nhất nên dễ dàng bị Pháp đàn áp và không chủ động xay dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang

Rất nhiều các cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước được diễn ra sôi nổi và lan rộng nhưng đều đi đến kết quả thất bại Điều này đặt ra cho đất nước phải tìm ra một đường lối, chiến lược hợp lý Điểm thất bại chung của sự thất bại đến từ sự nhỏ lẻ, không tập hợp được tất thảy các tầng lớp nhân dân, tôn giáo, đảng pháo,…dẫn đến lượng quân còn ít Việc hội tụ được các giai cấp công nhân, người lao động để lật đổ chính quyền đã định hướng cho cách mạng bấy giờ đó là: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường Cách mạng vô sản”

II QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Hồ Chí Minh đã tiếp thu sâu sắc quan điểm của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời vận dụng thế giới quan và phương pháp luận biện chứng mác xít phân tích tình hình cụ thể của Việt Nam và thế giới Với Việt Nam, Người khẳng định giải phóng dân tộc tạo điều kiện để giải phóng giai cấp Những đặc điểm cơ bản của Việt Nam mà đặc biệt là trở lực lực lượng sản xuất lạc hậu, chủ nghĩa tư bản chưa phát triển, sự phân hóa trong nội bộ dân tộc chưa sâu sắc như ở phương Tây, mâu thuẫn cơ bản của xã hội không phải

là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản mà là mâu thuẫn giữa

Trang 10

nhân dân Việt Nam (đại bộ phận là nông dân) với đế quốc Pháp và bọn địa chủ phong kiến tay sai Từ đó, Hồ Chí Minh khẳng định, đối với Việt Nam và các nước thuộc địa khác, cách mạng thuộc địa hay cách mạng giải phóng dân tộc, nhiệm vụ quan trọng nhất là phải giải quyết mâu thuẫn dân tộc, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân Đó là nhiệm vụ cơ bản, trước mắt và chỉ có thể là nhiệm vụ của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản Hồ Chí Minh khai thác triệt để nhân tố trong cách mạng giải phóng dân tộc, coi đó là “động lực lớn của đất nước”

Thực tế phong trào cách mạng Việt Nam từ năm 1930-1931 cho đến nay, có lúc, có nơi đã quá nhấn mạnh giai cấp và đấu tranh giai cấp, chưa nhận thức đầy đủ yếu tố dân tộc nên đã có ảnh hưởng đến sự phát triển nhiệm vụ giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam Đồng chí Lê Duẩn đã nhận xét trong phong trào 1930-1931, Mặt trận phản đế nặng về giai cấp hơn dân tộc, làm cho phong trào có phần cô độc; phong trào 1936-1939 mặt trận có tính chất dân chủ chung hơn là dân tộc Những quan điểm trên đây có phần chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của Quốc tế Cộng sản Phải đến năm 1941, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, hình thức mặt trận mới trở lại ý nghĩa dân tộc

rõ ràng, đó là mặt trận Việt Minh Về chiến lược, Hồ Chí Minh đặt công cuộc giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, nhưng trong chỉ đạo

cụ thể Người không bao giờ coi nhẹ nhiệm vụ dân tộc và đề cao một cách không thực tế nhiệm vụ giai cấp Tuy nhiên, khi đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, Người nhắc nhở không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp khác Hơn nữa, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: tập trung giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc cũng nhằm mục đích góp phần giải quyết nhiệm vụ giai cấp Việt Nam trong điều kiện là một nước phong kiến lạc hậu, là thuộc địa của thực dân Pháp, muốn giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, bất công, không thể không xuất phát từ việc giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân Độc lập dân tộc là mục tiêu trước mắt và cũng là khát vọng lướn lao nhất của dân tộc Việt Nam Quan hệ lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp đã được nhìn nhận, giải quyết khoa học, biện chứng và đúng với hoàn cảnh lịch

sử cụ thể của một xã hội thuộc địa nửa phong kiến Đó chính là nét độc đáo, sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Ngày đăng: 25/10/2019, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w