Nhiều đoạn kênh mương bị tắc nghẽn, nước đặc quánh, đen sì, … Một thực tế đáng báo động là trong quá trình sản xuất tinh bột Dong riềng, tỷ lệ thành phẩm sau khi chế biến chỉ được 25 - 3
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––
TẠ PHƯƠNG THU
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN PHÂN BÓN HỮU CƠ SINH HỌC TỪ BÃ DONG RIỀNG TẠI XÃ XUÂN VÂN,
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-––––––––––––––––––––––
TẠ PHƯƠNG THU
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN PHÂN BÓN HỮU CƠ SINH HỌC TỪ BÃ DONG RIỀNG TẠI XÃ XUÂN VÂN,
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
NGÀNH: SINH THÁI HỌC
MÃ SỐ: 8.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LƯƠNG THỊ THÚY VÂN
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn của TS Lương Thị Thúy Vân, giảng viên khoa Sinh học, trường
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Các số liệu, kết quả nghiên cứu trongluận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Tạ Phương Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyênngành Sinh thái học, tại khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên,tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các đồngnghiệp, bạn bè và gia đình
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo hướng dẫn
TS Lương Thị Thúy Vân đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức,
kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường Đạihọc Sư phạm, phòng quản lý Đào tạo Sau Đại học, tập thể các thầy cô giáokhoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, đã nhiệt tình giảng dạy
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Tuyên Quang,BGH trường THPT Xuân Vân đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong thờigian tôi đi học
Tôi chân thành cảm ơn Sở Công thương tỉnh Tuyên Quang, các hộ sản xuấtchế biến tinh bột dong riềng tại xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh TuyênQuang đã tạo điều kiện giúp đỡ khi tôi thực hiện nghiên cứu đề tài tại địaphương
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, bạn
bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện luận văn, do còn hạn chế về mặt thời gian, kinhphí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rấtmong nhận được những ý kiến quý báu của thầy cô giáo, các nhà khoa học,cùng bạn bè, đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả
Tạ Phương Thu
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt iv
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Thực trạng sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng và tác động tới môi trường từ các cơ sở chế biến Dong riềng từ các làng nghề ở Việt Nam 3
1.2 Thực trạng sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng và tác động tới môi trường tại Tuyên Quang 7
1.2.1 Thực trạng sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng tại Tuyên Quang
7 1.2.2 Tác động tới môi trường của hoạt động sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng tại Tuyên Quang 8
1.3 Vai trò của vi sinh vật chuyển hóa chất thải hữu cơ và ứng dụng để sản xuất phân bón hữu cơ sinh học 11
1.3.1 Vai trò chuyển hóa chất thải hữu cơ của vi sinh vật 11
1.3.2 Nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật để sản xuất phân bón hữu cơ sinh học 14
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
22 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
Trang 62.1.2 Thời gian nghiên cứu 23 2.2 Nội dung nghiên cứu 23
Trang 72.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp điều tra, lấy mẫu và phân tích 23
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
2.3.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của rau Su su
26 2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27
3.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 29
3.2.1 Diện tích, dân số 29
3.2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội 29
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường từ các cơ sở sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 32
4.1.1 Ô nhiễm do nước thải 32
4.1.2 Ô nhiễm do bã thải 38
4.2 Sản suất phân bón hữu cơ từ bã thải Dong riềng 41
4.2.1 Quy trình ủ phân hữu cơ từ bã Dong riềng 41
4.2.2 Diễn biến nhiệt độ của đống ủ theo thời gian 42
4.2.3 Thành phần lý, hóa học của sản phẩm sau khi ủ 44
4.2.4 Đặc điểm cảm quan của sản phẩm phân hữu cơ sau khi ủ 45
4.3 Ứng dụng phân bón hữu cơ sinh học sản xuất từ bã Dong riềng bón cho cây rau su su tại xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 46
4.3.1 Đặc tính hóa học đất trồng su su tại xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 46
4.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học sản xuất từ bã thải Dong riềng đến sinh trưởng phát triển và năng suất rau Su su 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
BTNMT
C/N
Bộ Tài nguyên môi trường
Tỉ lệ giữa cacbon và nitơ
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Chất lượng phân bón hữu cơ ủ từ bã thải Dong riềng 19
Bảng 1.2 Tính chất lý, hóa học của bã thải dong riềng sau ủ so với ban đầu 19
Bảng 1.3 Hiệu quả của phân hữu cơ đến năng suất lúa trên đất bạc màu 20
Bảng 1.4 Định lượng bã thải ở các công đoạn sản xuất 21
Bảng 4.1 Chất lượng nước thải tại một số cơ sở sản suất tinh bột Dong riềng tại xã Xuân Vân 33
Bảng 4.2 Thành phần lý, hóa học của mẫu bã thải tại xã Xuân Vân 39
Bảng 4.3 Nhiệt độ đống ủ bã thải dong riềng tại Xuân Vân(oC) 42
Bảng 4.4 Tính chất lý hóa học của sản phẩm sau ủ so với ban đầu 44
Bảng 4.5 Tính chất cảm quan của sản phẩm sau ủ có chế phẩm và đối chứng
45 Bảng 4.6 Đặc tính hóa học của đất trồng su su tại xã Xuân Vân 46
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học sản xuất từ bã thải Dong riềng đến sinh trưởng, phát triển của rau Su su 47
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học sản xuất từ bã thải Dong riềng đến năng suất của cây Su su 48
Trang 10Hình 4.5 Người dân sử dụng nước suối ô nhiễm bị bệnh ngoài da 36Hình 4.6 Gia súc uống nước, ăn cỏ nơi ô nhiễm bị bệnh răng miệng 37Hình 4.7 Cá chết hàng loạt do nước nhiễm chất thải từ sản xuất Dong riềng 37Hình 4.8 Cây trồng héo úa do nước nhiễm độc 38Hình 4.9 Bã thải được bỏ ra vườn nhà 38Hình 4.10 Bã thải được bỏ ra ruộng 39Hình 4.11 Đồ thị diễn biến nhiệt độ trong đống ủ phân hữu cơ từ bã
Dong riềng 43Hình 4.12 Hình thái đặc điểm sản phẩm phân hữu cơ trước và sau ủ 46
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với người dân miền núi nói chung và tại tỉnh Tuyên Quang nói riêng,Dong riềng là loại cây trồng hết sức gần gũi và quen thuộc Ở một số nơi,người dân quen gọi loại cây này là “cây trời đánh không chết” bởi lẽ Dongriềng có thể trồng được trên rất nhiều loại đất và có khả năng chống chịu rấtcao [5]
Dong riềng là loại cây trồng nông nghiệp có giá trị kinh tế khá cao, có thể
sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau nhất là trong công nghiệp thực phẩm.Trong y dược học, Dong riềng được dùng để chế huyết thanh ngọt ưu trương vàđẳng trương Củ Dong riềng có thể luộc ăn trực tiếp, tinh cất thành bột để làmmiến, bánh đa, hạt chân trâu vv…
Trong những năm qua, nhiều làng nghề truyền thống chế biến miến dong
đã được khôi phục và phát triển mạnh mẽ Việc sản xuất, chế biến tinh bột Dongriềng và làm miến dong đã cải thiện đáng kể cuộc sống của người dân, tạo ragiá trị cao về mặt kinh tế, giải quyết nhu cầu việc làm cho đại bộ phận lao độngnhàn rỗi và tăng thu nhập cho người dân, tác động lớn tới phát triển xã hội.Tuy nhiên, sự phát triển này cũng kéo theo các hệ lụy về môi trường tạicác thôn bản có chế biến tinh bột Dong riềng Mỗi ngày có hàng trăm tấn củDong riềng được nghiền xát thành bã thải xuống sông, suối; hàng nghìn métkhối nước không qua xử lý, tạo ra một dòng nước đen, bốc mùi hôi thối gây ônhiễm môi trường nghiêm trọng Nguồn nước thải chảy qua một số thôn bản,sau đó đổ dồn về sông, đầu nguồn các con suối làm chết cá và các động vậtthủy sinh khác Nhiều đoạn kênh mương bị tắc nghẽn, nước đặc quánh, đen sì,
… Một thực tế đáng báo động là trong quá trình sản xuất tinh bột Dong riềng,
tỷ lệ thành phẩm sau khi chế biến chỉ được 25 - 30%, còn lại hơn 70% trọnglượng tồn tại dưới dạng chất thải rắn và lỏng như vỏ, bã Dong riềng Do không
có nơi tập kết nên các chủ hộ đành đổ ra vệ đường, ven sông, suối nên hầuhết
Trang 12nguồn nước ở các làng nghề đều chứa các thành phần độc hại vượt mức chophép nhiều lần Tình trạng ô nhiễm môi trường do bã thải và nước thải chưa qua
xử lý từ quá trình sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng đã và đang ảnh hưởnglớn đến môi trường, sức khỏe và đời sống của người dân địa phương [18]
Với mong muốn giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề chế biếnnông sản, đặc biệt là nơi chế biến tinh bột Dong riềng, tận dụng nguồn bã thải
Dong riềng xử lý thành phân bón hữu cơ, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường và xây dựng quy trình chế biến phân bón hữu cơ sinh học từ bã Dong riềng tại xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại nơi chế biến tinh bộtDong riềng xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
- Xây dựng quy trình kỹ thuật chế biến bã Dong riềng làm phân bón hữu
cơ sinh học và ứng dụng bón cho cây rau Su su
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài tổng hợp được những số liệu về thực trạng sản xuất, chế biếntinh bột Dong riềng, công tác xử lý chất thải tại nơi sản xuất, chế biến tinh bộtDong riềng tại xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và có thể làtài liệu tham khảo cho các địa phương, các tổ chức, cá nhân, tập thể quan tâm
và muốn tham khảo các vấn đề có liên quan
- Đề tài đã đề ra kỹ thuật chế biến bã Dong riềng thành phân bón hữu cơsinh học và áp dụng vào trong sản xuất
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu của đề tài đã sử dụng bã Dong riềng làm phân bón hữu cơnhư một nguồn nguyên liệu tận thu, có ý nghĩa thúc đẩy sản xuất rau sạch tạiđịa phương Kết quả nghiên cứu đã đưa ra giải pháp làm giảm mức độ ô nhiễmmôi trường ở các cơ sở sản xuất, chế biến Dong riềng do tình trạng phân hủy bãthải gây ra hiện nay
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Thực trạng sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng và tác động tới môi trường từ các cơ sở chế biến Dong riềng từ các làng nghề ở Việt Nam
Dong riềng (Canna edulis Ker) là cây thân thảo Họ Dong riềng
(Cannaceae) có nhiều tên địa phương khác nhau tại Việt Nam như khoai chuối,khoai lào, dong tây, củ đao, khoai riềng, củ đót, chuối nước [12]
Dong riềng được nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ 19 Năm 1898, ngườiPháp đã trồng thử Dong riềng ở nước ta nhưng công việc đó đã bị dừng lại vìlúc đó chưa biết cách chế biến tinh bột Dong riềng [2] Tuy nhiên vấn đề trồngDong riềng vẫn không được quan tâm vì nhu cầu tiêu thụ thấp và công nghệchế biến không có Từ năm 1986, do nhu cầu sản xuất miến từ bột Dong riềngngày càng tăng nên loại cây trồng này đã được chú trọng, diện tích trồng tựphát ngày càng được mở rộng Những địa phương trồng Dong riềng với diệntích lớn là Hòa Bình, ngoại thành Hà Nội, Hà Tây, Sơn La, Lai Châu, ThanhHóa, Hưng Yên, Tuyên Quang, Hà Giang, Đồng Nai Vào những năm 60 củathế kỷ XX, Dong riềng được trồng chủ yếu nhằm đảm bảo an ninh lương thực
và có năm đạt trên 21.000 ha [12]
Hiện nay loại cây này không được đưa vào danh mục thống kê quốc gia,tuy vậy một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra con số ước đoán về diện tích Dongriềng nước ta những năm gần đây khoảng 30 nghìn ha [37] với các giốngDong riềng lấy củ và dong riềng làm cảnh được trồng khắp cả nước, từ vùngđồng bằng trung du đến các vùng núi cao như Sapa, Bắc Hà (tỉnh Lào Cai),Đồng Văn, Hoàng Su Phì…(tỉnh Hà Giang), Na Rì, Ngân Sơn …(tỉnh BắcKạn), Bình Liêu (tỉnh Quảng Ninh), Nguyên Bình, Hòa An…(tỉnh Cao Bằng),Yên Sơn, Chiêm Hóa…(tỉnh Tuyên Quang) [12]
Dong riềng còn là cây trồng dễ tính, yêu cầu đất không nghiêm khắc nên
có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau vẫn cho năng suất củ cao Nếu trồng
ở nơi đất tốt, một khóm có thể thu được 15-20kg Trồng trên diện tích lớn,
Trang 14Dong riềng có thể cho năng suất đạt tới 45-60 tấn củ/ha nếu thâm canh Vớinhững đặc điểm này, Dong riềng đã trở thành một loại mặt hàng có nhiều triểnvọng phát triển ở vùng miền núi nước ta, có thể phát triển cây Dong riềng trênmột phạm vi rộng lớn ở nhiều vùng để tăng nguồn vật liệu cho sản xuất miến,tinh bột và các sản phẩm khác [38].
Hiện nay, nhu cầu sử dụng miến trong nước và xuất khẩu ngày càng tăngdẫn tới việc chế biến tinh bột Dong riềng ngày càng phát triển Các cơ sở chếbiến tinh bột Dong riềng để làm miến chủ yếu ở một số làng nghề tại QuốcOai, Hoài Đức, Ba Vì (Hà Nội), Trảng Bom (Đồng Nai), Yên Mỹ, Khoái Châu(Hưng Yên), Na Rì, Ba Bể (Bắc Kạn), Nguyên Bình (Cao Bằng), Bình Liêu(Quảng Ninh)… Tuy nhiên, các quy trình chế biến miến dong ở nước ta hiệnnay vẫn mang tính thủ công chưa đảm bảo chất lượng, trình độ khoa học kỹthuật trong khâu xử lý bã thải và nước thải còn kém dẫn ô nhiễm môi trườngtrầm trọng
Xã Dương Liễu, huyện Hoài Ðức, Hà Nội (Hà Tây cũ) là xã có truyềnthống chế biến tinh bột Dong riềng Vào chính vụ sản xuất, chế biến kéo dài từtháng mười đến tháng tư, trung bình Dương Liễu thải ra hơn 200 tấn bã thải từquá trình chế biến tinh bột Dong riềng không được thu gom, xử lý mà xả thẳngvào hệ thống thoát nước Mặt khác, hệ thống tiêu thoát nước thiếu đầu tư, cảitạo đồng bộ nên thường xuyên xảy ra tình trạng ứ đọng cục bộ Bã thải chảytheo hệ thống thoát nước dân sinh, dồn vào mương Ðan Hoài rồi thải trực tiếp
ra kênh T5 Một phần nhỏ bã thải Dong riềng được công ty TNHH Mặt trờixanh xử lý làm phân vi sinh, phần lớn vẫn xả trực tiếp ra môi trường Ngoài ra,còn thêm lượng chất thải chăn nuôi, phế thải xây dựng, rác thải sinh hoạt càngkhiến môi trường ô nhiễm nặng [45]
Nghề chế biến tinh bột ở Minh Hồng có từ năm 1971, do một người thợcủa làng nghề Sấu Giá (Hoài Đức) về dạy nghề cho các hộ xã viên Sau khi chếbiến thành tinh bột sẽ được bán cho các làng nghề làm miến ở Hoài Đức Đếnnăm 2001, Minh Hồng được công nhận là làng nghề, người dân trong làng đã
Trang 15không ngừng đưa các thiết bị máy móc tiên tiến vào sản xuất như máy nghiền,máy xay vỏ Hiện nay, cả làng có 235 hộ với 1.245 nhân khẩu thì có tới 203 hộlàm nghề chế biến tinh bột sắn và Dong riềng Gia đình chị Lương Thị Mận đã
có thâm niên gần 30 năm làm nghề này cho biết: “Trung bình mỗi ngày, giađình chị chế biến được 2 - 3 tấn nguyên liệu, thu được 1,2 - 1,5 tấn tinh bột”.Vào những tháng cao điểm, trung bình mỗi hộ chế biến khoảng 4 tấn nguyênliệu/ngày thì cả làng sẽ thải ra khoảng trên 250m3 nước thải ra môi trường” [7].Trước thực trạng trên, nhân dân trong làng đã cố gắng cải tạo hệ thốngthoát nước, nhưng là một làng nằm giữa đỉnh núi Ba Vì nên việc cải tạo gặp rấtnhiều khó khăn Dòng suối Víp là nơi mà nước thải trong làng xả ra, do xảnguồn nước bẩn này ra sông Đà nên con sông này cũng chịu chung cảnh ônhiễm Vào vụ chế biến chính thì những con mương có màu đen kịt Việc nướcthải tồn đọng lâu ngày đã ảnh hưởng rất lớn tới nguồn nước ngầm Toàn bộ các
hộ trong làng đều sử dụng nguồn nước giếng khơi, có những giếng đào sâu tới20m nhưng vẫn có mùi khó chịu Trước thực trạng ô nhiễm môi trường ở MinhHồng ngày càng nghiêm trọng, UBND xã Minh Quang cùng với Trung tâmNước sinh hoạt - Vệ sinh môi trường nông thôn và Trung tâm Tư vấn khoa học
- công nghệ và môi trường Hà Tây (cũ) đã tiến hành khảo sát thiết kế, báo cáo
dự án xây dựng hệ thống hầm bioga xử lý nước thải chế biến nông sản của làngnghề Minh Hồng Theo như dự án báo cáo sẽ xây dựng 203 hầm Bioga tại các
hộ gia đình với công suất - 3m3/ngày/hộ Nhưng khi thực hiện vấn đề khó khăngặp phải là thiếu vốn Chính vì vậy dự án này đã không được triển khai và đếnnay cũng không còn tính khả thi Thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghềMinh Hồng đang ở mức báo động nghiêm trọng [7]
Từ lâu, người dân xã Tứ Dân (huyện Khoái Châu – Hưng Yên) đã phảichịu ảnh hưởng ô nhiễm nặng nề do chất thải của nghề chế biến Dong riềng.Trồng cây Dong riềng lấy củ để chế biến thành tinh bột làm miến là một nghề
đã có từ lâu đời ở Tứ Dân Xã có diện tích đất canh tác là 385.78 ha, trong đódiện tích trồng cây Dong riềng là 296ha (chiếm 77%) Toàn xã có tới 2.070 hộ
Trang 16trồng và chế biến Dong riềng Việc chế biến Dong riềng cần dùng nhiều nước;
bã và nước xả ra càng nhiều đã làm ách tắc dòng chảy và gây nên sự ô nhiễmmôi trường trầm trọng ở xã và các vùng lân cận Hàng năm mùa thu hoạchDong riềng đến đồng thời cũng là lúc người dân ở xã và các vùng lân cận phảisống chung với ô nhiễm môi trường nặng Nguồn nước ở mương máng, hồ ao
do nước thải và bã Dong riềng xả ra không tiêu thoát được, ứ đọng lại, phânhuỷ gây nên mùi hôi thối kéo dài hàng tháng Đến khi những cơn mưa đầu mùa
hạ đổ xuống, nước bị ô nhiễm theo các dòng chảy trôi đi Biết là ô nhiễm môitrường nặng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt hàng ngày và sức khoẻnhưng nhiều năm trôi qua người dân ở đây vẫn phải bám lấy nghề Giá trị kinh
tế của 1 sào canh tác trồng dong xen đỗ và lạc cho thu nhập trên 2 triệu Bà connông dân ở đây vẫn gọi cây Dong riềng là cây "lười" vì người dân chỉ việctrồng cây xuống rồi thu hoạch, không mất công chăm bón [43]
Các làng nghề chế biến tinh bột từ sắn và Dong riềng khác cũng đang chịutình hình ô nhiễm như các làng nghề trên như thôn Mạn Đê (xã Nam Trung,Nam Sách, Hải Dương), từng là một điển hình về môi trường xanh - sạch, naycũng đang "kêu cứu" vì rác và nước thải của làng nghề chế biến nông sản.Trong 700 hộ của thôn có tới hơn 300 hộ làm nghề, mỗi ngày thải ra 3 tấn rác,chủ yếu là phế phẩm từ Hành, Tỏi, Bí ngô, Dong riềng Mỗi tuần, rác thải chỉđược thu gom, xử lý một lần Ao, hồ ở đây đã cơ bản được lấp bằng rác, cảlàng đều ăn bằng nước mưa, tắm rửa bằng nước giếng khơi, một người dântrong thôn cho biết, sợ nhất vào mùa làm miến, rác như đống rơm trên đường
đi, gom đốt không kịp, gặp mưa là thối um
Tại các cơ sở chế biến miến dong ở huyện Ba Bể (Bắc Kạn), chỉ cần đứngcách xa cơ sở sản xuất miến dong, có thể choáng váng khi phải hứng chịu mùihôi từ bã thải, kênh mương, đống rác, cống rãnh bốc ra Do không có nơi tậpkết nên các chủ hộ đành đổ xuống ao, kênh mương nên hầu hết các nguồn nước
ở các làng nghề đều chứa các thành phần kim loại nặng, asen, axít vượt mứccho phép nhiều lần [18]
Trang 17Trong quá trình sản xuất chế biến tinh bột từ Dong riềng đã thải ra mộtlượng bã rất lớn, gây không ít khó khăn về diện tích bãi chứa nhất là sự ônhiễm môi trường Thành phần của chúng bao gồm phần lớn là xenlulo, lignin,ngoài ra chúng còn chứa một số độc tố; pH thấp; nhiều loại VSV gây bệnh gâyảnh hưởng đến sinh hoạt, đời sống con người Phế thải này sau khi thải rakhông thể sử dụng trực tiếp cho mục đích nông nghiệp mà chúng cần được xử
lý bằng các biện pháp hóa học hoặc sinh học Xử lý phế thải bằng phương phápsinh học đang là một giải pháp hữu hiệu đang được nhiều nhà khoa học quantâm Phế thải bã Dong riềng sau khi được xử lý bằng phương pháp sinh họcđược bổ sung thêm một số loài VSV có ích sẽ là một nguồn nguyên liệu có giátrị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như phân bón hữu cơ vi sinh
1.2 Thực trạng sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng và tác động tới môi trường tại Tuyên Quang
1.2.1 Thực trạng sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng tại Tuyên Quang
Tại Tuyên Quang, trong những năm gần đây, cây Dong riềng đã khẳngđịnh ưu thế của mình trong việc giúp người dân xóa đói, giảm nghèo và làmgiàu hiệu quả Từ chỗ chỉ được canh tác và chế biến tại một số thôn thuộc xãLực Hành (Yên Sơn), thì nay đã có rất nhiều xã và huyện đã đưa cây Dongriềng vào canh tác Diện tích Dong riềng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cótrên 1800 ha, năng suất ước đạt 65 - 70 tấn/ha, sản lượng củ ước đạt trên900.000 tấn/năm, tương đương với 18.000 tấn tinh bột ướt được chế biến/năm.Dong riềng được trồng tập trung chủ yếu tại huyện Yên Sơn và Chiêm Hóa.Diện tích trồng cây Dong riềng tập trung chủ yếu tại một số xã trên địa bàntỉnh như: xã Lực Hành, xã Phúc Ninh, xã Trung Trực, xã Xuân Vân, xã KiếnThiết, xã Nhữ Hán huyện Yên Sơn; xã Kim Bình, xã Vinh Quang, xã BìnhPhú, xã Yên Nguyên huyện Chiêm Hoá trong đó riêng có xã Xuân Vân,huyện Yên Sơn diện tích trồng Dong riềng tập trung có khoảng 300 ha, sảnlượng đạt khoảng: 20.000 tấn/năm [5]
Trang 18Việc sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng và làm miến dong đã cảithiện đáng kể cho cuộc sống của người dân, giải quyết nhu cầu việc làm chođại bộ phận lao động nhàn rỗi và tăng thu nhập cho người dân Những nămgần đây, các xã thuộc địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã xác định cây Dong riềng làmột trong những cây phát triển kinh tế chủ lực của địa phương Nhờ trồng vàchế biến Dong riềng, nhiều hộ dân trong tỉnh đã thoát nghèo và trở thành hộkhá, giàu.
Từ thực tế thu nhập từ cây Dong riềng của các địa phương, việc quyhoạch, mở rộng vùng nguyên liệu đã được các địa phương hưởng ứng, chonhân dân đăng ký diện tích Ngành Nông nghiệp tỉnh đã ban hành quy trìnhcanh tác cây Dong riềng đúng khoa học Tỉnh khuyến khích các cơ sở chế biếncải tiến, nâng cao công nghệ các dây chuyền chế biến bột Dong riềng, đề ra cácbiện pháp nhằm giải quyết chất thải sau chế biến, đảm bảo vệ sinh môi trường;ngành điện lực đã tạo điều kiện cấp điện với công suất phù hợp để các cơ sởvận hành máy móc; tỉnh chỉ đạo các địa phương lồng ghép, đưa các nguồn vốnvay ưu đãi từ các ngân hàng, dự án… về hỗ trợ người dân mở rộng diện tích,đầu tư phân bón và thâm canh; tạo điều kiện vốn cho doanh nghiệp nâng caoquy mô sản xuất
1.2.2 Tác động tới môi trường của hoạt động sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng tại Tuyên Quang
Việc sản xuất, chế biến tinh bột Dong riềng và làm miến dong đã kéo theocác hệ lụy về môi trường Hiện nay, tại tỉnh Tuyên Quang có khoảng trên 200máy chế biến tinh bột Dong riềng, trong đó riêng xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn
có khoảng trên 70 máy; công suất máy của các cơ sở chế biến trung bình đạtkhoảng 600 -1.000kg tinh bột/ngày; tương đương với 30-50 tấn tinh bột đượcsản xuất/ngày Để chế biến 1 tấn dong riềng củ thành tinh bột cần sử dụng 6-10
m3 nước, như vậy mỗi năm để chế biến 20.000 tấn Dong riềng củ đã có120.000m3 nước chưa qua xử lý, mỗi ngày có hàng trăm tấn củ Dong riềngđược nghiền xát thành bã thải xuống suối hàng nghìn mét khối nước không qua
Trang 19xử lý, tạo ra một dòng nước đen, bốc mùi thối gây ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng [5].
Theo một số cơ sở sản xuất tinh bột Dong riềng ở xã Lực Hành và xãXuân Vân, để sản xuất được bột Dong riềng thành phẩm phải sử dụng một loạihóa chất để tẩy trắng và ngâm ủ bảo quản bột Dong riềng Cứ sản xuất 1 tấn bộtDong riềng, chủ cơ sở sản xuất phải thải ra môi trường hàng trăm mét khốinước thải độc hại chưa qua bất kỳ khâu xử lý nào cả Trong khi sản lượng củDong riềng toàn vùng là rất lớn, đồng nghĩa với hàng nghìn mét khối nước thảiđộc hại ra môi trường
Theo cán bộ môi trường xã Xuân Vân, mặc dù các hộ sản xuất, chế biếntinh bột Dong riềng đã giảm hơn so với hai năm trước (2016, 2017), nhưng quy
mô sản xuất lớn hơn, các hộ chế biến khoảng công suất máy của các cơ sở chếbiến trung bình đạt khoảng 600 - 1.000kg tinh bột/ngày Tương đương với 30-
50 tấn tinh bột được sản xuất/ngày, nên lượng chất thải lớn Vào lúc cao điểm,
do mặt bằng chật hẹp, các hộ đắp đống bã Dong riềng ven đường, gây ô nhiễmmôi trường Lượng nước thải từ chế biến dong rất lớn, nhưng đều không qua xử
lý mà thải trực tiếp ra sông, suối, cống rãnh chung của xã
Các cơ sở chế biến tinh bột Dong riềng tại Tuyên Quang được thành lậpdưới hình thức hợp tác xã, hộ gia đình và vận hành theo phương pháp thủ côngtruyền thống chưa có sự đầu tư bể chứa bột, bể xử lý môi trường, bãi thải và lắpráp dây chuyền chế biến tinh bột Mặc dù các cơ sở đều có bản cam kết bảo vệmôi trường, tuy nhiên thực tế vốn đầu tư cho việc xử lý ô nhiễm môi trường ởcác cơ sở không lớn và rất sơ sài
Hầu hết các cơ sở chế biến tinh bột Dong riềng đều đặt cạnh sông, suối đểtiện lấy nước trong chu trình sản xuất Vì vậy, nếu xử lý nước thải không đạt thìhậu quả ô nhiễm diện rộng là khôn lường Phát triển trồng, chế biến Dong riềng
và bảo đảm môi trường khi chế biến là nhiệm vụ song hành Nhận thức rõ điều
đó, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Tuyên Quang đã hết sức quan tâm, chỉ đạo vấn đề này
Trang 20UBND tỉnh đã giao cho Sở Tài nguyên Môi trường chủ trì, phối hợp với cácngành để tìm hướng giải quyết [5].
Theo ông Nguyễn Hoàng Hải, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên Môi Trườngtỉnh Tuyên Quang, đoàn công tác liên ngành của tỉnh đã kiểm tra vị trí đặt nhàmáy, xử lý chất thải, xả chất thải của các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở chếbiến Dong riềng trên địa bàn toàn tỉnh Trước đó, các huyện, thị phải thống kêchi tiết về các cơ sở chế biến, trong đó đặc biệt lưu ý về hồ sơ bảo vệ môitrường Trên cơ sở kết quả kiểm tra, Sở Tài nguyên Môi trường sẽ chủ trì cùngcác ngành đưa ra được quy định cụ thể về bảo vệ môi trường chế biến Dongriềng Ông Hải cho biết thêm, Trung tâm quan trắc môi trường của Sở cũng cóthể hỗ trợ được các đơn vị chế biến trong thực hiện xây dựng cam kết bảo vệmôi trường Cái khó nhất hiện nay là việc tìm ra được một công nghệ xử lý môitrường phù hợp cả về chất lượng và giá tiền Xử lý triệt để bằng máy móc hiệnđại thì rất tốt nhưng chi phí quá lớn nên các cơ sở không thể đáp ứng được.Tại Hợp tác xã chế biến Dong riềng Thắng Lợi ở xã Lực Hành, huyện YênSơn có 1 ao chứa nước thải lắng, lọc theo quy định Tuy nhiên, ao chứa nàynằm ngay gần suối, lại không đủ chứa lượng nước thải lớn từ 3 máy sản xuất,chế biến công suất 20 tấn củ Dong riềng/ngày nên nước thải chảy tràn xuốngsuối Theo người dân sống gần khu vực này, cứ bắt đầu từ tháng 10 năm trướcđến tháng 2 năm sau khi Hợp tác xã Thắng Lợi đi vào sản xuất thì nước sinhhoạt của một số hộ gia đình bên suối có mùi và không thể sử dụng được Nướcthải cũng như bã Dong riềng được đổ ngay bên bờ suối Và chỉ cần một trậnmưa lũ thì toàn bộ số nước, rác thải này đều theo dòng nước mà trôi đi [5].Ông Phạm Đình Thắng, Giám đốc Hợp tác xã Thắng Lợi thừa nhận: Hợptác xã đã phối hợp với Sở NN & PTNT tỉnh Tuyên Quang ứng dụng tiêu chuẩnVietgap, sản xuất nông nghiệp sạch vào trong quá trình trồng cây Dong riềng
và chế biến tinh bột Dong riềng không dùng hóa chất, phẩm màu Tuy nhiênviệc xử lý ô nhiễm môi trường Hợp tác xã chỉ đáp ứng được một phần việc xử
lý nước thải và đã cam kết với chính quyền địa phương là xây dựng hệ thống bể
Trang 21chứa nước thải đảm bảo chứa nước thải tạm lắng rồi mới xả ra môi trường, camkết thu gom bã, đóng bao và chuyên chở đúng nơi quy định.
Trên địa bàn xã Xuân Vân có khoảng 70 cơ sở sản xuất, chế biến tinh bộtDong riềng Qua kiểm tra, hầu hết các cơ sở sản xuất đều chưa làm tốt công tácbảo vệ môi trường Cụ thể là chưa tuân thủ đúng yêu cầu báo cáo đánh giá tácđộng môi trường và thực hiện đúng bản cam kết bảo vệ môi trường đã đượcphê duyệt Việc xử lý chất thải rắn, khống chế phát sinh mùi và thu gom vậnchuyển bã thải, chất thải vô cơ… không đúng nơi quy định Một số cơ sởkhông đầu tư hệ thống xử lý nước thải như đã cam kết hoặc đầu tư mang tínhđối phó, không vận hành đúng quy định Công tác vệ sinh công nghiệp, vệ sinhnhà xưởng và thu gom xử lý rác thải không được thực hiện thường xuyên gây ônhiễm môi trường, ảnh hưởng đến mỹ quan
1.3 Vai trò của vi sinh vật chuyển hóa chất thải hữu cơ và ứng dụng để sản xuất phân bón hữu cơ sinh học
1.3.1 Vai trò chuyển hóa chất thải hữu cơ của vi sinh vật
Trong cấu trúc của thực vật có 3 thành phần cơ bản xenlulo, hemi xenlulo
và lignin Các thành phần này thường có tỷ lệ không giống nhau, chúng thườngliên kết với nhau tạo thành một khối và quyết định tính chất hoá lý riêng chotừng loài thực vật [32]
Xenlulo là thành phần cơ bản cấu tạo nên màng tế bào thực vật và là cơchất phổ biến nhất trong tự nhiên Thông thường xenluloza của tế bào thực vậtchiếm 50% tổng số hydrocacbon có trên trái đất Sản lượng xenlulo được tổnghợp hàng năm lớn hơn bất kỳ chất hữu cơ nào khác, trên trái đất chúng chiếmkhoảng 4.1010 tấn Lượng xenlulo lớn này nếu không có sự phân giải, chuyểnhoá của vi sinh vật thì sẽ đọng lại và tích luỹ dần tràn ngập trái đất [26]
Xenluloza rất phổ biến trong tự nhiên, hàng năm lượng xenluloza do thựcvật tổng hợp nên là 1011 tấn và xenluloza thường tồn tại phân bố ở dạng sau :
* Các phế thải nông nghiệp: rơm rạ, thân, lá, vỏ cây…
* Các phế thải công nghiệp chế biến như: gỗ vụn, mạt cưa, bã Dong riềng…
Trang 22* Các chất thải sinh hoạt: giấy, rác, bao bì…
Hemi-xenluloza cũng là thành phần của thành tế bào thực vật, đứng thứhai về khối lượng So với xenluloza thì hemi-xenluloza có cấu trúc không chặt,
dễ bị phân giải khi bị axit loãng, đôi khi còn bị phân giải trong nước nóng vàchúng dễ dàng bị phân giải bởi enzim hemi-xenluloza [26]
Hemi-xenluloza tồn tại chủ yếu ở các phần như vỏ hạt, bẹ ngô, cám, rơm
rạ Trong quá trình nuôi cấy vi sinh vật, hemi-xenluloza thường được tạo thànhsớm hơn, có thể do hemi-xenluloza dễ đồng hoá hơn xenluloza
Trong tự nhiên quá trình phân huỷ hemi-xenluloza thường xảy ra songsong với quá trình phân huỷ xenluloza Những vi sinh vật có khả năng thuỷphân dễ dàng hemi-xenluloza nhờ tiết ra các enzim endo-1,4 -β-D glucozit thuỷphân xylan (là loại gốc đường chiếm chủ yếu trong hemi-xenluloza) tạo thànhcác đoạn ngắn và sau đó β-xylosilaza sẽ thuỷ phân thành các đường đơn xylaza.Ngoài ra cũng có sự tham gia của một số các enzim thuỷ phân mạch nhánh.[27]Thành phần cuối cùng là lignin Lignin là một hợp chất cao phân tử,ngưng tụ từ 03 loại rượu, chủ yếu là rượu trans-pcanarilic-cony ferylic và trans-cynapylic [32]
Trong thực vật lignin thường tập trung nhiều ở các mô hoá gỗ và có vai trònhư chất liên kết các tế bào, do đó làm tăng độ bền cơ học, tăng khả năngchống thấm, ngăn chặn các chất độc và vi sinh vật gây bệnh cũng như tác động
từ bên ngoài vào [8, 32]
Lignin rất bền với tác dụng của enzim do vậy trong cây lignin chỉ được tạo
ra mà không không tham gia vào quá trình trao đổi chất [32]
Trong tự nhiên lignin có thể bị phân giải bởi nấm mục trắng
(Phanerochaete chryosporium), còn trong thực vật lignin thường tập trung ở
các mô hoá gỗ và có vai trò như chất liên kết các tế bào, do đó mà tăng độ bền
cơ học, tăng khả năng chống thấm, ngăn chặn các chất độc, các vi sinh vật gâybệnh cũng như tác dụng khác từ bên ngoài
Trang 23Tóm lại, cấu trúc của xenluloza là cấu trúc phức tạp và chặt chẽ, vì vậy màxenluloza rất bền trong điều kiện tự nhiên Các thành phần tạo thành xenluloza
có cấu tạo và thành phần rất khác nhau, do đó việc phá vỡ cấu trúc này đòi hỏiphải có sự hiểu biết sâu sắc đặc tính của từng phần tạo ra chúng và từ đó sửdụng những chủng vi sinh vật, biện pháp thích hợp để phân huỷ chúng
Vi sinh vật phân giải xenluloza: Là những vi sinh vật có khả năng tổnghợp được hệ enzym xelluloza Trong tự nhiên có rất nhiều loài vi sinh vật cókhả năng tham gia vào quá trình phân giải ligno-xenluloza như: nấm, xạ khuẩn,
vi khuẩn Trong điều kiện kị khí các loài nấm phân huỷ xenluloza mạnh hơnnhiều so với các loài vi khuẩn Ngược lại trong điều kiện hiếu khí các loài vikhuẩn lại tỏ ra phân huỷ mạnh hơn so với nấm sợi [26]
Nhiều nhóm có khả năng phân huỷ xenluloza nhờ có hệ enzim xenlulozangoại bào, trong đó vi nấm có khả năng phân huỷ mạnh vì nó tiết ra môi trườngmột lượng lớn enzim có đầy đủ các thành phần, đáng chú ý là Tricoderma.Trong các loài nấm, vi khuẩn có khả năng phân giải hợp chất xenluloza đáng kể
là những loài sau:
- Nấm mốc: Trichoderma reesei, spotrichum, …
- Vi khuẩn kỵ khí: Clostridium.
- Vi khuẩn hiếu khí: Pseudomonas, Achomobacter.
- Xạ khuẩn: Steptomyces, Micromonospora, Proactynomyces….
Trong đó Steptomyces có khả năng phân huỷ rác cao, xạ khuẩn này thuộc
nhóm ưa nóng, phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 45 - 500C, thích hợp cho quá trình
ủ rác [26]
Vi sinh vật phân giải hemi-xenluloza: Hemi-xenluloza là enzym ít đượcngười ta nghiên cứu ngoại trừ xynalaza là một hemi-xenluloza rất phổ biếntrong tự nhiên Các tác giả cho rằng vi sinh vật tổng hợp xenluloza đồng thờixảy ra quá trình tổng hợp xylanaza, khả năng này thường gặp ở vi sinh vật dạ
cỏ như [5]: Bacteria, Bacillus, Ruminococus…, và các vi khuẩn thuộc chi: Clostridium Ngoài vi khuẩn cũng thấy một số nấm sợi cũng có khả năng tạo
Trang 24xylanaza như: Mycothecium, Verrucaria, Aspergillus….và nhóm xạ khuẩn Streptomyces, vi khuẩn Bacillus
Vi sinh vật phân giải lignin: Trong tự nhiên, lignin bị phân hủy rất chậm,thường kéo dài hàng tháng thậm chí tới hàng năm Các vi sinh vật tham gia
phản ứng phân hủy lignin thường là nấm mục, xốp như các loài: Allesshera, Pseuosis, Chactomium… Ngoài ra người ta còn thấy các loài nấm trắng như Corrolu versiolor Dolyrus, Polydonic Versicolor và các loài vi khuẩn như Nocardia, Steptomyces, Pseudomonas, Agrobacteriu [26].
Vi sinh vật khử mùi hôi: Tinh bột bao gồm hai cấu tử là amiloza vàamilopectin Amiloza là những chuỗi không nhánh bao gồm các đơn phânglucoza liên kết với nhau bằng liên kết 1,4glucozit Amilopectin là chuỗi phânnhánh gồm các đơn phân glocuza gắn với nhau không chỉ nhờ liên kết 1,4glucozit mà còn nhờ 1,6 glucozit Một số loài vi sinh vật có khả năng sinh
enzim khử mùi hôi như: Candida, Saccharomyces, Endomycopsis, Bac.subtilis, Clostridium, Pseudomonas
Vi sinh vật phân giải protein: Protein có cấu trúc rất phức tạp, đơn vị cơbản tham gia vào cấu tạo protein là các axitamin, chúng có liên kết với nhaunhờ liên kết peptid (-CONH) Nhóm vi sinh vật phân hủy protein có khả năngsinh tổng hợp các enzym proteasa, peptidaza để phân giải protein thành cácaxid amin và một phần của các axid amin được vi sinh vật hấp thụ, một phầncòn lại thông qua quá trình khử amin tạo thành NH3
Các chủng vi khuẩn như: Bacillus mycoides, Bacillus subtilis, Achromobacter, Pseudomononas fluorences, Clostridium sporogenes
Xạ khuẩn: Steptomyces rimousus, Step griseus
Nấm sợi: Aspergilus oryza, Asp niger, Penicilium camemberti
1.3.2 Nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật để sản xuất phân bón hữu cơ sinh học
1.3.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trang 25Hiện nay rác thải sinh hoạt và phế thải nông, công nghiệp là một thảm họakhó lường trong sự phát triển mạnh mẽ của quá trình sản xuất, chế biến nôngcông nghiệp và hoạt động của toàn xã hội Phế thải không chỉ làm ô nhiễm môitrường sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, gây độc hại đến sức khỏecon người, vật nuôi và cây trồng, mà còn làm mất đi cảnh quan văn hóa đô thị
và nông thôn
Các nước phát triển như EU, Mỹ, Úc, Nhật Bản, Singapo đều có hệ thốngthu gom và phân loại rác thải gia đình, nơi công cộng ngay cả ở các vùng nôngthôn Sau đó tái chế phần rác thải hữu cơ thành phân hữu cơ bón cho cây trồng.Tại nhiều nước đang phát triển của châu Á như: Thái Lan, Inđônêsia, Malaysiacũng đã có nhiều chương trình giáo dục và nghiên cứu khoa học về thu gom rácthải hữu cơ tại gia và nơi công cộng của thị trấn, thành phố, góp phần làm sạchmôi trường và tạo nguồn phân hữu cơ bằng công nghệ sinh học cho sản xuấtnông nghiệp [23]
Tại các nước phát triển ở châu Âu và một số nước đang phát triển ở châu
Á như Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ đã xây dựng nhiều cơ sở chế biến rác thảihữu cơ sinh hoạt và phế thải nông nghiệp bằng công nghệ sinh học để sản xuấtphân hữu cơ bón cho rau, hoa cây cảnh đem lại hiệu quả kinh tế cao [23]
Tại Úc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia đã thu gom tàn dư thực vật trên đồngruộng dùng chế phẩm vi sinh vật xử lý thành phân hữu cơ tại chỗ để trả lại chođất, làm sạch đồng ruộng và chống ô nhiễm môi trường Tại Đài Loan với côngnghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phế thải mùn rác, phế thải chăn nuôi côngsuất hàng trăm ngàn tấn/năm (Lei Chu Enterprise Co., Ltd 2000) Ở Ấn Độdùng công nghệ vi sinh vật xử lý hèm rượu, bã bùn lọc trong quá trình sản xuấtđường để thành phân hữu cơ bón cho cây trồng với công suất hàng chục ngàntấn/năm (Công nghệ Bioearth của Alfa- Lavan Ltd, 1998) [23]
Để rút ngắn thời gian cho quá trình ủ và hạn chế tối đa các ảnh hưởngkhông có lợi của quá trình chế biến phân ủ tới môi trường, kỹ thuật ủ nhanh đãđược nghiên cứu đầu tiên tại Ấn Độ, Mỹ, Canada… và áp dụng rộng rãi trên
Trang 26toàn thế giới Ngoài các yếu tố: cân bằng tỷ lệ C/N, điều khiển nhiệt độ, độẩm… các nhà khoa học còn phải quan tâm đặc biệt đến vai trò vi sinh vật khởiđộng và vi sinh vật làm giàu dinh dưỡng phân ủ Các yếu tố ảnh hưởng tới quátrình ủ phân bón như sau [29]:
Độ ẩm
Nước là yếu tố rất cần cho quá trình chuyển hóa của vi sinh vật, nếu độ ẩmcủa nguyên liệu quá thấp, quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ sẽ diễn rachậm, nếu độ ẩm quá cao, trong đống ủ sẽ xảy ra quá trình phân giải yếm khí.Nên điều chỉnh độ ẩm ban đầu từ 50 - 60%, sản phẩm sau quá trình ủ sẽ đạt30%
Nhiệt độ
Quá trình ủ luôn luôn gắn liền với việc giải phóng năng lượng Nhiệt độđống ủ tăng nhanh hay chậm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu và sự hoạt độngcủa vi sinh vật Nhiệt độ phù hợp nhất cho quá trình ủ được xác định vàokhoảng 550C Nhiệt độ tăng lên 600C, quần thể vi sinh vật trong đống ủ sẽ giảmmạnh Với nhiệt độ trên 700C, độ hoạt động cuả vi sinh giảm 10 - 15% so vớitại mức nhiệt 600C, ở nhiệt độ 75 - 820C không còn thấy hoạt động nào của visinh vật
Giá trị pH
Khoảng pH thích hợp cho quá trình ủ phân hữu cơ sinh học rất rộng, tuyvậy có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy giá trị pH trong quá trình ủ khôngnên cao hơn 8 pH cao là nguyên nhân làm bay hơi khí NH3 dẫn đến tình trạngthất thoát đạm ra không khí, ảnh hưởng tới chất lượng phân bón sau ủ
Kích cỡ nguyên liệu, nồng độ oxy và quá trình sục khí
Oxy rất cần thiết cho các vi sinh vật hiếu khí Để đảm bảo oxy cung cấpcho vi sinh vật, thể tích khí trong đống ủ phải đạt 20 - 30% Điều này phụ thuộcvào tính chất vật lý của nguồn nguyên liệu, khoảng cách giữa các đơn vịnguyên liệu, áp suất khí trao đổi Kích cỡ nguyên liệu quá nhỏ làm tăng khả
Trang 27năng phân giải của vi sinh vật nhưng hạn chế lưu lượng khí trao đổi và ngượclại, vì thế cần phải cân đối giữa hai yếu tố này sao cho hiệu quả cao nhất.
Thành phần dinh dưỡng
Vi sinh vật có nhu cầu sử dụng N, P, K, C như những nguồn dinh dưỡng
cơ bản Tỷ lệ C/N tốt nhất là từ 25:1 đến 30:1 Nếu tỷ lệ này cao hơn 40:1 sẽhạn chế sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật khiến quá trình ủ bị kéo dài.Nếu tỷ lệ C/N thấp hơn 20:1 sẽ dẫn đến bay hơi đạm trong quá trình ủ Tỷ lệ tốtnhất khi kết thúc quá trình ủ là 10:1 đến 15:1 Tỷ lệ C/P phù hợp của quá trìnhphân giải là 75:1 đến 150:1 Để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủng vi sinhvật phát triển, thông thường người ta bổ sung thêm rỉ mật vào đống ủ nhằmcung cấp nguồn đường và các axit amin cần thiết cho các chủng vi sinh vật
Đảo trộn
Khi quá trình phân giải trong đống ủ bắt đầu thì sự đảo trộn được xem nhưmột quá trình cung cấp không khí cho vi sinh vật phát triển Sự đảo trộn khôngnhững cung cấp không khí cho quá trình ủ mà còn làm giảm nhiệt độ đống ủ.Nhiệt độ quá cao sẽ hạn chế sinh trưởng, phát triển của vi sinh vật
Vi sinh vật khởi động và vi sinh vật làm giàu dinh dưỡng
Năm 1980 các kết quả nghiên cứu của Gaur và cộng sự cho thấy việc bổsung các loại vi sinh vật có khả năng phân hủy xenluloza cao cùng các nguyên
tố dinh dưỡng như đạm dạng hữu cơ, lân dạng quặng photphorit và một số điềukiện môi trường khác đã giúp thời gian ủ phân xuống, từ 4 - 6 tháng còn 2 - 4tuần Do đó việc bổ sung thêm các vi sinh vật “ngoại lai” rất quan trọng trong ủphân compost [39]
1.3.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng thành công trong sảnxuất phân bón hữu cơ sinh học từ việc xử lý phế thải hữu cơ, phế thải nhà máychế biến mía đường, phế thải sinh hoạt, phế thải chế biến dứa, phế thải từ nhàmáy chế biến tinh bột sắn… Năm 2001, Trung tâm Công nghệ Môi trường (Đại
Trang 28học Bách Khoa Hà Nội) đã phát triển được giải pháp xử lý ô nhiễm cho các cơ
sở chế biến sắn qui mô 1 tấn nguyên liệu/ngày [23]
Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu thành công cácchủng vi sinh vật có hoạt tính cao có khả năng xử lý nước thải và chất thải rắn.Các chủng vi sinh vật đã được ứng dụng trong xử lý ô nhiễm môi trường, tậndụng và tái sử dụng chất thải nông thôn Kết quả nghiên cứu của Viện cho thấy
đã chọn lựa và ứng dụng thành công chế phẩm sinh học xử lý mùi hôi chuồngtrại tại làng nghề sản xuất bún và chăn nuôi tập trung tại Hà Tây Chế phẩm này
đã được chuyển giao thành công cho trên 1000 hộ nông dân tại xã Bích Hòa Thanh Oai - Hà Nội [19]
-Các chủng vi sinh có hoạt tính cao đã được lựa chọn trong xử lý rác thảirắn gồm 5 chủng vi sinh vật Các chủng vi sinh này đã được ứng dụng thửnghiệm trong sản xuất chế phẩm trong xử lý mùi hôi tại khu chăn nuôi tậptrung tại Nghệ An, Hà Nội, kết quả cho thấy sau 3 - 5 ngày phế thải chăn nuôikhông còn mùi hôi, góp phần tích cực vào giảm thiểu ô nhiễm môi trường [19].Thông qua nghiên cứu, Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam đã tạo rađược các chế phẩm vi sinh vật tổng hợp có có tác dụng phân giải nhanh cácchất hữu cơ, ức chế hoạt động các sinh vật gây mùi hôi, tiêu diệt một số sinhvật có hại cho cây trồng, rút ngắn được thời gian ủ và góp phần kích thích sinhtrưởng và hạn chế bệnh hại cây trồng Sau 60 ngày xử lý bằng chế phẩm vi sinhvật, một số phế phụ phẩm nông nghiệp (rơm, rạ, thân lá ngô, lá mía, lá dứa, vỏtrấu cà phê, các bã thải tinh bột sắn, dong riềng ) đã bị phân hủy và trọnglượng phế phụ phẩm giảm 60 - 70% so với ban đầu [19]
Viện Môi trường Nông nghiệp cũng đã nghiên cứu thành công và ứngdụng men ủ vi sinh vật xử lý phế phụ phẩm làm nguyên liệu sản xuất phân bónhữu cơ sinh học với công suất 10.000 tấn/năm tại tỉnh Đăk Lăk, xây dựng môhình sản xuất chế phẩm VSV qui mô 10 tấn/năm, chế phẩm đạt mật độ VSVhữu ích 108 – 109 CFU/g, và xây dựng hướng dẫn xây dựng quy trình sản xuấtphân bón hữu cơ vi sinh vật với công suất 1.000 tấn/năm, sản phẩm phân bónđạt TCVN tại Hà Nội (Hà Tây cũ) và Nghệ An [19]
Viện đã chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực môi trường nôngnghiệp, nông thôn về chế phẩm men ủ vi sinh hữu ích xử lý phế phụ phẩm
Trang 29thành phân bón hữu cơ tại Hà Nội, Hà Tây, Nghệ An, Bắc Giang, ĐăkLăk vàBình Phước, chế phẩm này là kết quả từ đề tài nghiên cứu về vi sinh vật hợp tácvới địa phương Ưu điểm nổi bật của chế phẩm là có hoạt tính phân hủy cao,không độc tố và có thể làm giảm tới 70% khối lượng chất thải hữu cơ Sau quátrình phân hủy, các chất hữu cơ bị phân hủy có hàm lượng dinh dưỡng cao và
sử dụng làm phân bón cho cây lúa, cây cà phê, mía vừa mang lại hiệu quảkinh tế cao và cải tạo hàm lượng vi sinh vật trong đất lại tận dụng được nguồnphế phụ phẩm nông nghiệp đảm bảo môi trường nông thôn [19]
Kết quả thực nghiệm xử lý bã thải Dong riềng làm phân bón hữu cơ tại
xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, Hà Nội (Hà Tây cũ) của Viện Môi trườngNông nghiệp được thể hiện cụ thể ở bảng sau:
Bảng 1.1 Chất lượng phân bón hữu cơ ủ từ bã thải Dong riềng
Thành
phần
N (%)
P 2 O 5
(%)
K 2 O (%)
Axit Humic (%)
Độ ẩm (%)
Hữu cơ (%)
(Nguồn : Viện Môi trường nông nghiệp, 2012)
Sản phẩm phân bón hữu cơ ủ từ bã thải Dong riềng tại xã Dương Liễuchứa nhiều thành phần và hàm lượng các chất dinh dưỡng có lợi cho cây trồng,trong đó hàm lượng đạm tổng số, chất hữu cơ và pHKCl gần tương đương vớitiêu chuẩn về phân bón hữu cơ của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TT36/2010/BNN&PTNT)
Nghiên cứu của Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn [18] về tính chất lý,hóa học của bã thải Dong riềng sau khi ủ so với khi chưa ủ tại huyện Na Rì -tỉnh Bắc Kạn cho kết quả như bảng sau (bảng 1.2):
Bảng 1.2 Tính chất lý, hóa học của bã thải Dong riềng sau ủ so với ban đầu
Trang 30TT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Trước
TN
Ủ với chế phẩm
TT36 /2010/BNN
(Nguồn : Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn, 2013) [18]
Kết quả ở bảng 1.2 cho thấy, hàm lượng các chất dinh dưỡng chứa trong
bã thải Dong riềng tại trước thời điểm thí nghiệm và sau khi ủ với chế phẩm có
sự thay đổi theo xu hướng tiến gần hơn với tiêu chuẩn về phân bón hữu cơ của
Bộ Tài nguyên và Môi trường (TT36 /2010/BNN&PTNT) Ẩm độ của bã thảigiảm nhiều từ 76,60% xuống còn 33,00% Hàm lượng, N tổng số, P2O5 tổng số
và K2O tổng số đều tăng so với mẫu chưa ủ ban đầu Hàm lượng chất hữu cơtổng số giảm từ 53,28% xuống 22,99% (gần với mức cho phép là 22%)
Theo nghiên cứu cho thấy phân hữu cơ từ bã Dong riềng khi bón cho đấtcanh tác lúa có tác dụng làm cho đất tơi xốp, tăng độ phì nhiêu cho đất, tăngnăng suất, giảm sâu bệnh khô vằn, mốc sương Đặc biệt giảm giá thành sử dụngphân bón cho cây trồng, giải pháp cho việc xử lý bã thải từ quá trình sản xuấtmiến dong Ngoài ra, phân hữu cơ sinh học từ bã Dong riềng giúp cải thiện vấn
đề môi trường [18]
Số liệu bảng 1.3 cho thấy ảnh hưởng của phân hữu cơ (được sản xuất trên
cơ chất là phân chuồng) đến năng suất cây trồng tại Việt Nam [19]
Bảng 1.3 Hiệu quả của phân hữu cơ đến năng suất
lúa trên đất bạc màu [21]
Trang 31m thức
T ă n g n ă n g s u ấ t s o v ớ i đ ố i c h ứ n g (
% )
Trang 32NPK (đối chứng) 3,63
NPK+4 tấn phân chuồng +
(Nguồn: Viện nghiên cứu kỹ thuật Việt Nam, 2004)
Thử nghiệm ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học lên một số loại câytrồng như lúa, ngô, cây ăn quả nhãn, vải… tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ,Hải Dương, Đăk Lăk nông dân đều cho nhận xét bón loại phân này làm câyphát triển tốt, giảm sâu bệnh, đất xốp và thấy tác dụng của phân bón hữu cơ bềnhơn so với bón phân hóa học Năng suất lúa, ngô, quả tăng và có mẫu sản phẩmđẹp hơn [19] Ngoài ra, khi sử dụng các loại phân bón hữu cơ để khai thác cácyếu tố dinh dưỡng tiềm tàng trong đất thì đồng nghĩa với khả năng giảm sửdụng các loại phân bón thông thường khác mà giá phân hữu cơ rẻ (do ngườidân tự sản xuất) nên giúp giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận [24]
Trong năm 2017, tỉnh Tuyên Quang có sản lượng củ Dong riềng là180.000 tấn Thực tế hiện nay, dự kiến tổng công suất chế biến tinh bột Dongriềng (cả hiện có, đầu tư mới và nâng công suất) chỉ đạt 137.400 tấn củ/năm,còn lại lượng nguyên liệu củ Dong riềng được xuất đi các tỉnh khác như TháiNguyên, Bắc Giang, Hà Nội Phân tích thành phần và tính toán lượng bã thảitrong quá trình sản xuất thì lượng bã thải trong năm 2017 như sau:
Bảng 1.4 Định lượng bã thải ở các công đoạn sản xuất
TT Công đoạn Lượng bã thải định
lượng trong 1 tấn củ (kg) Thành phần bã thải
Trang 33(Nguồn : Sở Khoa học công nghệ Tuyên Quang, 2017)
Theo bảng trên, ta thấy cứ 1 tấn củ được xay xát thì sinh ra 340kg bã thải(độ ẩm 50%), tỉ lệ bã thải là 34% Với lượng sản xuất 137.400 tấn củ thìlượng bã thải hàng năm phát sinh ra là 46.716 tấn Lượng bã thải chỉ được
sử dụng một phần đem bón ruộng, bón cho cây ăn quả: cây bưởi, cây cam,cây hồng khi đã hoai mục, còn lại vẫn bị thải bỏ ra môi trường gây ônhiễm và mùi khó chịu
Với hệ số thu hồi phân bón là 40% trong quá trình ủ phân hữu cơ sinh học
và nếu tận dụng được tất cả lượng bã thải trên để làm phân hữu cơ sinh học thìthu được 18.686 tấn phân hữu cơ sinh học Qua đó lượng phân hóa học được sửdụng sẽ giảm xuống, đất được cải tạo tơi xốp và đồng thời hạn chế được tìnhtrạng ô nhiễm do bã thải Qúa trình sản xuất phân bón hữu cơ được người dânlàm trong lúc nông nhàn, sau vụ sản xuất tinh bột Dong riềng
Lợi dụng vào tiềm năng ứng dụng phân bón hữu cơ sinh học từ bã thảiDong riềng như vậy mà tỉnh đã chỉ đạo cho cán bộ Trung tâm khuyến nông vềcác địa phương có cơ sở sản xuất tinh bột Dong riềng tập huấn kỹ thuật chếbiến bã Dong riềng thành phân bón hữu cơ sinh học
Năm 2017, Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Tuyên Quang đã tiến hành tậphuấn cho bà con phương pháp ủ bã Dong riềng bằng cách đánh đống, hoặc ủbằng bể ủ có mái che Phương pháp ủ phân hữu cơ từ bã Dong riềng trong bể ủ
có mái che có ưu điểm là có thể ủ được khối lượng lớn, không tốn kém bạt phủ,bạt lót, không bị úng ngập nước như phương pháp ủ đánh đống Tuy nhiênphương pháp này lại tốn kém hơn vì phải đầu tư xây dựng bể, làm mái che, qúatrình đảo trộn cũng khó khăn hơn
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 34- Các nguồn thải từ các cơ sở chế biến, sản xuất tinh bột Dong riềng tại xã
Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
- Kỹ thuật chế biến bã Dong riềng làm phân bón hữu cơ sinh học
- Củ su su giống lấy tại địa phương
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường từ các cơ sở sản xuất, chế biếntinh bột Dong riềng tại xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
- Xây dựng quy trình chế biến bã Dong riềng làm phân bón hữu cơ sinh học
- Ứng dụng phân bón sinh học từ bã Dong riềng cho cây rau su su
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra, lấy mẫu và phân tích
2.3.1.1 Phương pháp điều tra tình hình sản xuất của nông hộ
- Sử dụng phương pháp kế thừa để thu thập các thông tin thứ cấp có liênquan ở các đơn vị chức năng thuộc các điểm dự kiến điều tra
- Lập phiếu điều tra để thu thập thông tin liên quan từ các hộ sản xuất
- Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia củangười dân để thu thập thông tin
2.3.1.2 Phương pháp lấy mẫu
Bã thải: Mẫu bã thải dong riềng được lấy theo TCVN 9466:2012 Lấy 4
mẫu bã thải tại các điểm: đi ra khỏi dây chuyền sản xuất và trước khi vào
bể chứa
Mẫu nước thải được lấy theo:
- TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-1:2006) (hướng dẫn lập chương trình lấymẫu và kỹ thuật lấy mẫu)
- TCVN 6663-3:2008 (ISO 5667-3: 2003) (hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu)
- TCVN 5999:1995 (ISO 5667 -10: 1992) (hướng dẫn lấy mẫu nước thải)
Trang 35Chọn vị trí lấy mẫu điển hình, dựa trên cơ sở mức độ nhiễm bẩn củanguồn nước thải, đất ô nhiễm lấy 9 mẫu nước thải, đất tại 3 vị trí: đầu nguồnthải (lấy 3 mẫu thải trực tiếp tại cơ sở sản xuất); giữa nguồn: cách điểm đầunguồn 500m (lấy 3 mẫu tại 3 vị trí khác nhau) và cuối nguồn (ở giữa dòng suối)cách điểm xả đầu nguồn 1000m Mẫu nước được lấy vào chai, mẫu bã thảiđược lấy vào túi nilon.
Mẫu phân bón: Mẫu phân bón được lấy theo TCVN 9496 : 2013
Mẫu đất: Mẫu đất được lấy theo TCVN 7538 – 2 : 2005
2.3.1.3 Phương pháp phân tích
* Đối với mẫu nước thải:
* Đối với mẫu phân bón:
* Đối với mẫu đất:
Trang 362.3.1.5 Phương pháp đánh giá độ chín của đổng ủ: Theo tiêu chuẩn Việt Nam
TCVN 7185: 2002 thông qua việc đo nhiệt độ của đống ủ Đo nhiệt độ trongđống ủ theo thời gian nghiên cứu: 3 ngày đo một lần
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí
n g h i ệ m 1 : Quy trình ứng dụng công nghệ vi sinh để xử lý bã thải dong
riềng làm phân hữu cơ theo phương pháp ủ hiếu khí [14, 24] Xây dựng quytrình chế biến bã Dong riềng làm phân bón hữu cơ sinh học và ứng dụng bónphân cho cây rau Su su
Công thức thí nghiệm ủ phân:
* Lượng nguyên liệu sử dụng làm công thức nền thí nghiệm (công thức
Trang 37CT2: Nền thí nghiệm + 0,5g Chế phẩm sinh học Trichoderma
CT3: Nền thí nghiệm + 0,8g Chế phẩm sinh học Trichoderma
CT4: Nền thí nghiệm + 1,0g Chế phẩm sinh học Trichoderma
Thí
n g hiệ m 2 : Thí nghiệm ứng dụng sản phẩm phân bón hữu cơ sinh học
bón cho rau su su , gồm có 4 công thức, 3 lần nhắc lại, được bố trí theo sơ đồsau (Nguyễn Thị Lan, Phạm Tiến Dũng (2005), Giáo trình Phương phápthí nghiệm, nhà xuất bản Đại học Nông Nghiệp):
Nhắc lại 1
Nhắc lại 2
Nhắc lại 3
CT1 (Đối chứng): (5kg phân chuồng + 0,15kg phân NPK)/ ô thí nghiệm
CT2: (5kg phân hữu sinh học từ bã Dong riềng + 0,15kg NPK)/ ô thí nghiệm CT3: (10kg phân hữu sinh học từ bã Dong riềng + 0,15kg NPK)/ ô thí nghiệmCT4: (15kg phân hữu sinh học từ bã Dong riềng + 0,15kg NPK)/ ô thí nghiệmDiện tích mỗi ô thí nghiệm 1,5m2 (0,5m × 3,0m); trồng rau Su su với mật
độ 05 khóm (5 củ Su su giống) / ô thí nghiệm
Phương pháp bón phân: Bón lót phân hữu cơ sinh học trước khi trồng Su su
2.3.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của rau Su su
2.3.3.1 Thời gian theo dõi các chỉ tiêu như sau
- Lần 1: 50 ngày sau khi trồng
- Lần 2: 55 ngày sau khi trồng
2.3.3.2 Phương pháp đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của rau
- Số ngọn Su su/khóm: đếm số ngọn mới hình thành sau khi cắt
- Chiều dài ngọn (cm): đo từ gốc của nhánh mới cho đến đầu mút lá dài nhất
- Năng suất Su su (kg): khối lượng ngọn Su su/1 ô thí nghiệm
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả nghiên cứu của thí nghiệm 1 và thí nghiệm 2 được xử lý thống kêsinh học bằng phần mềm Excel
Trang 38Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
Xuân Vân là một xã miền núi nằm ở trung tâm cụm phía bắc thuộc khuvực thượng huyện Yên Sơn, dọc theo trục đường tỉnh lộ 185 (nay là quốc lộ2C, chạy song song với dòng sông Gâm), cách tỉnh lỵ Tuyên Quang 22 km,cách huyện lỵ Yên Sơn 17 km Phía bắc giáp 2 xã Quý Quân và Lực Hành, phíanam giáp với xã Tân Long, phía đông giáp với xã Trung Trực, phía tây giáp với
xã Phúc Ninh Xuân Vân nằm trong hệ thống núi thuộc vòng cung Lô - Gâm,trải dọc hai bên bờ sông Gâm, bởi vậy hàng năm nhận được một lượng phù satương đối lớn, tạo nên một vùng đất bồi dọc theo hai bờ sông Gâm rất thuận lợicho việc trồng trọt Có lẽ đây chính là lý do vì sao mà cây trái nơi đây quanhnăm luôn xum xuê, tươi tốt, phong phú và đa dạng
Về địa hình, so với các vùng trong huyện, Xuân Vân là một xã thuộc vùngtrung du bán sơn địa, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam, độ cao trung bình từ280m - 650m so với mặt nước biển Đất đai của xã chia thành ba phần rõ rệt: Phần địa hình núi cao thuộc các thôn: Vông Vàng 1, Đèo Mủng, KhuônKhán, Lương Trung, Đô Thượng 3, Đô Thượng 5, Đồng Dài
Phần địa hình núi thấp và đất đồi thuộc các thôn: Vông Vàng 2, An Lạc,Tân Sơn, Vân Giang, Đô Thượng 1+2 +4 +6, Sơn Hạ 1+2+3 +4
Phần địa hình đất bồi tụ và soi bãi thuộc các thôn: Soi Hà, An Lạc, SoiĐen, Soi Éo
Bên cạnh đó, có chỗ địa hình phân bổ không đều, xen kẽ nhau giữa vùngđất cao và đất thấp Có nhiều con suối nhỏ đổ ra sông Gâm Tất cả các vùngđồi, núi này xưa kia đều là rừng rậm, có nhiều thú dữ như hổ, báo… và nhiềuloài chim quý, nhiều loài gỗ quý như lim, lát, trò… Hiện nay, rừng tự nhiên củaXuân Vân không còn, song với cơ chế mới, Đảng bộ và nhân dân xã Xuân Vân
đã và đang đẩy mạnh phong trào trồng rừng, góp phần phủ xanh đất trống, đồi
Trang 39trọc, nhằm phát triển kinh tế, cân bằng hệ sinh thái môi trường cũng như làmđẹp thêm cảnh quan nơi đây.
Xuân Vân có loại hình đất đai khá phong phú Trước hết vì nằm ở vị tríđịa lý dọc theo sông Gâm nên xã có hệ thống đất bồi, phù sa rất rộng lớn, tập
trung chủ yếu ở các thôn Vông Vàng 2, An Lạc, Soi Hà, Vân Giang Đây là loại
đất thích hợp trồng màu như ngô, lạc, đậu tương, dong riềng và các cây hoamàu ngắn ngày Thứ hai, là loại đất được bồi tụ lắng đọng đất màu từ các thunglũng, sau đó được người dân cải tạo làm ruộng lúa nước Loại đất này đượcphân bổ rải rác trên toàn xã, trong đó, nơi nhiều nhất phải kể đến là ở các thôn:Sơn Hạ, Đô Thượng, Đèo Mủng… Thứ ba, là loại đất núi thấp và đất đồi, tậptrung ở các thôn Vông Vàng, Quang Trung, An Lạc, Tân Sơn… Đất này thíchhợp trồng cây công nghiệp, trồng rừng như keo, mía, bạch đàn Cuối cùng làloại đất núi cao, loại đất này tuy có diện tích ít hơn so với các xã xung quanhnhưng cũng đảm bảo vai trò làm vành đai bảo vệ rừng đầu nguồn, cung cấpnước tưới cho việc trồng lúa và các loại hoa màu khác
Cả bốn loại trên tổng hợp lại có thể phân ra 2 thành phần chính là: Đất thịt
và đất sét chiếm ưu thế chủ yếu chiếm 60% Đất Ferarít và FeS (đất đá biếnchất do cấu tạo núi hình thành) chiếm 40%
Về thủy văn, địa bàn xã có con sông Gâm chảy theo hướng bắc nam dọctheo trung tâm xã Sông Gâm chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống củanhân dân các làng xã Xuân Vân Sông Gâm không những tạo điều kiện giaothông đường thuỷ, cung cấp tưới tiêu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, dòngsông Gâm còn tạo ra cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp góp phần phát triển du lịch.Với vị trí địa lý như trên, khí hậu của Xuân Vân một năm có bốn mùa:xuân, hạ, thu, đông, chia thành hai mùa nóng ẩm và khô lạnh rõ rệt Mùa nóng
ẩm từ cuối tháng ba đến đầu tháng mười Mùa khô lạnh từ tháng mười đếntháng ba năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 20oC đến 25oC.Những năm rét đậm, có nhiệt độ xuống thấp 8oC Lượng mưa trung bình hàngnăm từ 1.600mm – 1.700mm Độ ẩm không khí trung bình hàng năm dao động
Trang 4060% đến 80% Hướng gió chủ yếu là gió Đông Nam vào mùa nóng ẩm và gióĐông Bắc mùa khô lạnh.
Như vậy, tính chất xen kẽ giữa hai mùa khô lạnh và nóng ẩm mưa nhiềudiễn ra rất rõ nét ở Xuân Vân Điều kiện khí hậu nói trên thuận lợi cho sản xuấtnông nghiệp, trồng rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm Nhưng nó cũng gâykhông ít khó khăn cho đời sống nhân dân Mùa lũ lụt gây sạt lở đất ven sôngGâm, các triền núi cao, gây ngập lụt thiệt hại hoa màu, gia súc gia cầm Đôi khithiệt hại đến tính mạng và tài sản người dân Mùa khô lạnh gây nên hạn hán trởngại cho cây trồng vật nuôi [11]
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Diện tích, dân số
Xã Xuân Vân có tổng diện tích đất tự nhiên là 3.989,13 ha Trong đó, đấtlâm nghiệp là 2.651,25 ha chiếm 66,46%, đất nông nghiệp là 916,93 ha chiếm22,98% Tổng số hộ gia đình trong địa bàn xã: 2.339 hộ, 9.379 khẩu và có
11 dân tộc cùng sinh sống (bao gồm các dân tộc: Kinh, Tày, Dao, Mông, Cao Lan, Nùng, Hoa, Mường, Thái, Lào, Cờ Lao) Tỷ lệ dân tộc chiếm 47% trong
toàn xã Trên địa bàn xã có 01 chùa Đại bi nằm trên địa bàn thôn Đô Thượng 4,
xã Xuân Vân [11]
3.2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
- Về nông nghiệp và phát triển nông thôn: Nông - Lâm nghiệp tiếp tục pháttriển theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng cường thâm canh, sử dụng các giốngcây trồng năng suất cao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nhằm tăngnăng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng phù hợp với thị hiếu, thị trường tiêuthụ, tổng sản lượng lương thực hàng năm đạt trên 2.600 tấn, đẩy mạnh sản xuấtcây vụ đông trên đất ruộng 2 vụ lúa, từng bước đưa vụ Đông trở thành vụ sảnxuất chính, nâng hệ số sử dụng ruộng đạt trên 2,6 lần/năm