Bảo vệ môi trường...52 CHƯƠNG III- KẾT LUẬN...54 TÀI LIỆU THAM KHẢO...55 CHƯƠNG I- ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên quý giá của đất nước ta, nó vốn được mệnh danh là "lá phổi" của trái đất,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN
●●●●●●●●
BÁO CÁO MÔN
KHOA HỌC MÔI
TRƯỜNG
ĐỀ TÀI:
“KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG”
GVHD: TS Lê Quốc Tuấn
Danh sách nhóm
1 Lâm Mỹ Tiên 13149407
2 Nguyễn Thị Hẹn 13149120
3 Đỗ Thị Mỹ Tuy 13149469
4 Nông Thị Lệ 13149201
5 Nguyễn Thị Ngân 13149250
6 Đàm Kim Trọng 13149613
7 Nguyễn Huỳnh T Hồng Thắm 13149365
TP HCM, tháng 4/2014 PHỤ LỤC CHƯƠNG I- ĐẶT VẤN ĐỀ 4
Trang 2CHƯƠNG II - NỘI DUNG 5
I-Khái niệm và phân loại 5
1 Khái niệm 5
2 Phân loại 6
2.1 Hệ thực vật rừng 6
2.1.1 Theo chức năng 7
2.1.2 Theo trữ lượng 9
2.1.3 Sinh thái 9
2.1.4 Dựa vào tác động của con người 11
2.1.5 Dựa vào nguồn gốc 13
2.1.6 Rừng theo tuổi 14
2.2 Hệ động vật rừng 15
2.3 Tài nguyên khác 19
2.3.1 Đất rừng 19
2.3.2 Vi sinh vật rừng 21
II- Khai thác và sử dụng tài nguyên rừng 22
1 Hiện trạng rừng .22
2 Nguyên nhân 25
3 Vấn đề khai thác và sử dụng 26
3.1 Về mặt kinh tế 26
3.3.1 Lâm sản 26
3.1.2 Lâm sản ngoài gỗ 34
3.1.3 Dược liệu 37
3.1.4 Du lịch sinh thái 40
3.2 Về mặt xã hội 45
3.2.1 Ổn định dân cư 45
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 2
Trang 33.2.2 Tạo nguồn thu nhập 45
4 Biện pháp bảo vệ và khai thác tài nguyên rừng bền vững 47
4.1 Mục tiêu bảo vệ 47
4.2.Các biện pháp bảo vệ 47
4.3 Các chính sách và pháp lý 50
4.4.Khai thác và sản xuất lâm sản bền vững 52
4.5 Bảo vệ môi trường 52
CHƯƠNG III- KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
CHƯƠNG I- ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên quý giá của đất nước ta, nó vốn được mệnh danh là "lá phổi" của trái đất, không những là điều kiện phát triển kinh tế- xã hội mà còn có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta Rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxi và các nguyên tố khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nước và mức ô nhiễm không khí Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một nhiêm vụ trọng tâm, không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong sự phát triển kinh tế- xã hội và trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ
Trang 4môi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra.
Việt Nam chúng ta có rất nhiều nguồn tài nguyên như: tài nguyên đất, tài nguyênnước, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản,…Thế nhưng tài nguyên rừng lạ là một
đề tài hấp dẫn
Chuyên đề báo cáo tài nguyên rừng này sẽ giúp chúng ta tìm hiểu thêm về tài nguyênrừng của đất nước mình, nó mang lại những lợi ích gì cho nền kinh tế của quốc gia?Ảnh hưởng như thế nào đối với đời sống xã hội? Và hơn cả là chúng ta phải làm nhưthế nào để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên
CHƯƠNG II - NỘI DUNG
I-Khái niệm và phân loại.
1 Khái niệm
Rừng là gì?
Ngay từ buổi sơ khai,con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng Rừng lànơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ Lịch sử càng phát triển, những kháiniệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng
Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫnnhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Rừngchiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lí
Năm 1952, M.E Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lí,trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật,trong quá trình phát triển của mình, chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫnnhau và với hoàn cảnh bên ngoài
Năm 1974, I.S Mê lê khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, làthành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 4
Trang 5Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004: rừng là một hệ sinh thái bao gồm quầnthể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trườngkhác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độche phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đấtrừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
Hình 1: Ảnh minh họa
Tài nguyên rừngTài nguyên rừng là một phần
của tài nguyên thiên nhiên,
thuộc loại tài nguyên tái tạo
được Nhưng nếu sử dụng
không hợp lý, tài nguyên rừng có thể bị suy thoái không thể tái tạo lại.
Do nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam và địa hình với nhiều độ cao khác nhau so vớimực nước biển nên rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét độc đáo củavùng nhiệt đới và rất đa dạng: Có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy,rừng cây lá rộng, rừng cây lá kim, rừng lá thấp, truông cây bụi và đặc biệt là rừngngập mặn
Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng Có thể nói nước ta là trung tâmthu nhập các luồng thực vật và động vật từ phía Bắc xuống, phía Tây qua, phía Namlên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong vùng Đồng thời nước ta có độ caongang từ mực nước biển đến trên 3000m nên có nhiều loại rừng với nhiều loài thựcvật và động vật quý hiếm, độc đáo mà các nước ôn đới khó có thể tìm thấy được
Trang 62 Phân loại
2.1 Hệ thực vật rừng
Về thực vật, theo số liệu thống kê gần đây thì thực vật có mạch bậc cao của Việt Nam
có đến 12000 loài, nhưng chỉ có khoảng 10500 loài đã được mô tả, trong đó cókhoảng 10% là loài đặc hữu, 800 loài rêu, 600 loài nấm Khoảng 2300 loài cây cómạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc Về cây lấy
gỗ có 41 loài cho gỗ quý, 20 loài cho gỗ bền chắc, 24 loài cho gỗ đồ mộc và xâydựng, Loại rừng cho gỗ chiếm khoảng 6 triệu ha Ngoài ra rừng Việt Nam còn córừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài đã được gây trồng có giátrị kinh tế cao
Ngoài những cây làm lương thực, thực phẩm và cây lấy gỗ ra, rừng Việt Nam còn cónhững cây được sử dụng làm dược liệu gồm khoàng 1500 loài, trong đó có khoảng75% là cây hoang dại Những cây có chứa chất quý hiếm như cây Tô Hạp, có nhựathơm có ở vùng núi Tây Bắc và Trung Bộ, cây Gió Bầu sinh ra trầm hương, phân bố
từ Nghệ- Tĩnh đến Thuận Hải, cây Dầu Rái cho gỗ và cho dầu nhựa,
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 6
Trang 7Hình 4: Vườn quốc gia Cát Tiên
Rừng phòng hộ
Rừng phòng hộ: Là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất,chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môitrường
- Rừng phòng hộ đầu nguồn: Rừng ở nơi phát sinh hoặc bắt nguồn nước tạo thành các
dòng chảy cấp nước cho các hồ chứa trong mùa khô, hạn chế lũ lụ, chống xói mòn,bảo vệ đất Gồm những rừng có sẵn trong tự nhiên, chủ yếu là rừng hỗn giao gồmnhiều tầng, không đều tuổi, mật độ dày, cây có rễ sâu, bền, chắc
Trang 8cát bay, ngăn chặn sự xâm mặn của biển, chắn sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo vệ cáccông trình ven biển.
Hình 6: Rừng phòng hộ ven biển Tuy Hòa
-Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái: Nhằm mục đích điều hòa khí hậu, chống
ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 8
Trang 9Hình 7: Rừng chống ô nhiễm môi trường trong thành phố
2.1.2 Theo trữ lượng
Rừng giàu: Trữ lượng rừng trên 150 m³/ha
Rừng trung bình: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (100-150) m³/ha
Rừng nghèo: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (80-100) m³/ha
Rừng kiệt: Trữ lượng rừng thấp hơn 50 m³/ha
2.1.3 Sinh thái
Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới
Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới
Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới
Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới
Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp
Kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cỏ cao khô nhiệt đới
Kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới
Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp
Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm ôn đới ẩm núi vừa
Kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao
Kiểu quần hệ lạnh vùng cao
Trang 10Hình 8: Rừng thông Đà Lạt
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 10
Trang 11Hình 9: Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà
Là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên
- Rừng nguyên sinh: là rừng chưa hoặc ít bị tác động bởi con người, thiên tai Cấu trúc
của rừng còn tương đối ổn định
Trang 12Hình 12: Rừng thứ sinh ven quốc lộ 17
- Rừng phục hồi: là rừng được hình thành bằng tái sinh tự nhiên trên đất đã mất rừng
do nương rẫy, cháy rừng hoặc khai thác kiệt
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 12
Trang 13Hình 13: Rừng ngập mặn Cần Giờ
- Rừng sau khai thác: là rừng đã qua khai thác gỗ hoặc các loại lâm sản khác.
Rừng nhân tạo
Là rừng được hình thành do con người trồng, bao gồm:
-Rừng trồng mới trên đất chưa có rừng
-Rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có
-Rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác
Theo thời gian sinh trưởng, rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại câytrồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau
Trang 14Là rừng được trồng bằng chồi thân, chồi rễ hay chồi gốc Chỉ áp dụng cho các
loài cây có khả năng đâm chồi mạnh
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 14
Trang 17Hình 17: Cây gỗ lâu năm(ảnh minh họa)
2.2 Hệ động vật rừng
Về động vật cũng rất đa dạng Nhưng rất khó để có thể xác định hiện nay có con sốchính thức là bao nhiêu loài động vật hiện còn sống trên trái đất của chúng ta Vì lẽcác phân loài có khi được xem như loài lại có những loài mới còn tiếp tục đượckhám phá và mô tả
Hình 18: Chim núi xanh ở Bắc Mỹ
Trang 18Ở Việt Nam, ngoài các loài động vật đặc hữu còn có những loài mang tính chất tổnghợp của khu hệ động vật miền Nam Trung Hoa, Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện Hiện tại
đã thống kê được khoảng 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng
cư, 475 loài cá nước ngọt và 1650 loài cá ở rừng ngập mặn và cá biển, chúng phân bốtrên những sinh cảnh khác nhau, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, có ýnghĩa khoa học Sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan và khí hậu đã tạo nên tính đa dạngsinh học vô cùng phong phú và đặc sắc của Việt Nam, thể hiện ở trong các khu rừng rộng lớn về loài
và nguồn gen Rừng cung cấp nguồn gen về thực vật và động vật với 14.000 nguồn gen được bảo tồn
và lưu giữ Nhiều loài có tên trong Sách đỏ thế giới.
Trang 19Hình 24: Sao la
Sao la là một trong những
loài thú hiếm nhất trên
thế giới sinh sống trong
vùng núi rừng Trường Sơn
tại Việt Nam và Lào được
các nhà khoa học phát hiện vào năm 1992.
chim quý hiếm thuộc
họ Sếu thực sự Đây là loài chim cao nhất trong số các loài chim biết bay trên trái đất.Chúng cũng không phải là loài chim di cư Là một loài chim quý hiếm, có giá trị cao
về cả thẩm mỹ và sinh học, do đó chúng được bảo vệ bởi pháp luật của hầu hết cácquốc gia nơi chúng phân bố, trong đó có Việt Nam Sếu đầu đỏ được đưa vào Sách đỏViệt Nam và thế giới ( Sách đỏ IUCN)
Khu vực phân bố:Loài chim này sinh sống tại các khu vực thuộc Tiểu lục địa Ấn Độ,khu vực Đông Nam Á và Australia Môi trường tự nhiên quen thuộc của chúng lànhững vùng đất ngập nước, vùng ao hồ hoặc các cửa sông
Trang 20Hình 27: Sếu đầu đỏ ở Tràm Chim (Đồng Tháp)
2.3 Tài nguyên khác
2.3.1 Đất rừng
Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ở vùng có đủ rừng đấtđược bảo vệ khá tốt, dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trênđồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, lớp đất mặt không bị mỏng giữ được hệ thống
vi sinh vật và các khoáng chất hữu cơ có trong đất Cây cối lấy chất dinh dưỡng từ đất
và trả lại cho đất một lượng sinh khối rất lớn, đây là nguồn làm cho đất rừng ngàycàng trở nên màu mỡ, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy,
độ phì nhiêu được duy trì Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ Điều này thể hiện ở quiluật phổ biến: rừng tốt tạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt
ra nhanh, đất không còn độ bám dễ bị sạt lở Điều đó thể hiện một qui luật cũng kháphổ biến, đối lập hẳn hoi với qui luật trên, tức là rừng mất thì đất kiệt, và đất kiệt thìrừng cũng bị suy vong
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 20
Trang 21phải có biện pháp khai
thác và sử dụng hợp lí nguồn đất và đất rừng để bảo vệ và phát huy tối đa tiềm năngcủa tài nguyên này
2.3.2 Vi sinh vật rừng
Vi sinh vật có thể tồn tại trong 3 môi trường đất, nước, không khí Nhưng chủ yếu làtrong môi trường đất, vi sinh vật đóng vai trò hết sức cần thiết, chiếm đại đa số vềthành phần và số lượng so với các sinh vật khác Chúng ta có thể tưởng tượng: mộtnắm đất là cả một vương quốc có các “sắc tộc” khác nhau sống chen chúc, tấp nập vàhoạt động sôi nổi
Môi trường đất là cả một thế giới, một hệ sinh thái phức tạp được hình thành quanhiều quá trình sinh học, vật lý và hóa học Sự tích lũy các chất hữu cơ trên bề mặt đá
mẹ là nhờ các vi sinh vật tự dưỡng Đó là các vi sinh vật sống bằng chất vô cơ, phânhủy chất vô cơ, tổng hợp nên chất hữu cơ cho cơ thể mình Khi các sinh vật đó chết đi,một lượng chất hữu cơ được tích lũy lại, vi sinh vật dị dưỡng nhờ các chất hữu cơ đó
mà sống Sau đó các thực vật bậc thấp như tảo, rêu, địa y bắt đầu mọc trên tầng chấthữu cơ đầu tiên đó Khi lớp thực vật này chết đi, các vi sinh vật dị dưỡng sẽ phân hủychúng làm cho lớp chất hữu cơ càng thêm phong phú Nhờ đó mà các thực vật bậc cao
có thể phát triển Lá cành của thực vật bậc cao rụng xuống lại cung cấp một lượng lớnchất hữu cơ làm cho các loài vi sinh vật dị dưỡng phát triển mạnh mẽ Các tế bào visinh vật này lại là nguồn thức ăn cho các nguyên sinh động vật như trùng roi, amip,
Và nguyên sinh động vật lại là thức ăn của các loài giun đất, nhuyễn thể, côntrùng, khi chúng chết đi cũng là một nguồn hữu cơ lơn cho vi sinh vật và thực vậtphát triển Các loài sinh vật cứ tác động qua lại lẫn nhau trong những điều kiện môitrường nhất định tạo thành một hệ sinh thái đất vô cùng phong phú
Trang 22II- Khai thác và sử dụng tài nguyên rừng
1 Hiện trạng rừng
Theo Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), tính từ năm
1990 đến nay, thế giới mất đi gần 3% diện tích rừng, có nghĩa là mỗi năm mất
13 triệu ha rừng do nạn chặt phá rừng tràn lan
Diện tích rừng còn lại hiện chỉ chiếm 36%, nhưng cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng
vì hằng năm có khoảng 6 triệu ha rừng có nguy cơ bị phá hủy Hiện có 76 nước trênthế giới không còn rừng nguyên sinh
Tại Mexico, nhân Ngày thế giới bảo vệ rừng (21-3 hằng năm), Hội đồng bảo vệ rừngbền vững của Mexico (CCMSS) cảnh báo tình trạng khai thác rừng và nạn chặt phárừng bừa bãi đã biến nước này thành một trong những ''điểm nóng'' phá rừng nghiêmtrọng ở khu vực Mỹ Latin và Caribê
Theo thống kê của cục kiểm lâm vào 12/2009: cả nước có 4145,74 ha rừng bị tàn phá.Diện tích rừng và đất lâm nghiệp được báo cáo chiếm ½ tổng diện tích lãnh thổ ViệtNam Tuy nhiên thực trạng rừng Việt Nam như thế nào là một vấn đề đáng quan tâm
lâu nay.
Hình 31 Ảnh minh
họa
(trangtrinh.myvnc.com)Nhìn chung, rừng Việt Nam được phân thành 3 loại: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ vàrừng sản xuất Do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tạo nên sức ép vào rừng ngày mộtlớn, rừng nước ta ngày càng suy giảm về diện tích và chất lượng, tỉ lệ che phủ thực vậtdưới ngưỡng cho phép về mặt sinh thái, ¾ diện tích đất đai của nước ta (so với diệntích dất tự nhiên) là đồi núi, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên rừng rất quan trọng
Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết diện tích rừng nguyên sinh giảm trầm trọng, hiện chỉ còn rất ít, chủ yếu còn ở những khu rừng phòng hộ, khu bảo tồn, phần lớn rừng tự nhiên hiện nay chỉ còn lại là rừng nghèo Diện tích rừng ngập mặn cũng đã giảm hơn một nửa trong các thập kỷ trước và vẫn tiếp tục suy giảm trong những năm gần đây Đây là một thực trạng đáng báo động trong bối cảnh biến đổi khí hậu với những tác động gia tăng và khó lường, phá rừng theo cách đơn giản nhất để làmnương rẫy, phá rừng để kiếm khoáng sản, phá rừng lấy gỗ… Và vô vàng những kiểutiếp tay vi phạm pháp luật khác đang hủy hoại “lá phổi xanh” của đất nước
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 22
Trang 23Theo Bộ Công an thì có đến 43% vụ phá rừng liên quan đến việc chuyển đổi rừng nghèo, xây dựng thủy điện, thủy lợi, giao thông, khai thác khoáng sản, xây dựng các công trình văn hóa, tâm linh và đáng lo ngại là việc khai thác gỗ trái phép chủ yếu tập trung vào các loại lâm sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao ở các rừng nguyên sinh, rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn Tính đến năm 2010 nước ta có tổng diện tích rừng là 13.388.075 ha, trong đórừng tự nhiên là 10.304.816 ha và rừng trồng là 3.083.259 ha Độ che phủ rừng toànquốc là 39,5% (Theo Quyết định số 1828/QĐ-BNN-TCLN ngày 11 tháng 8 năm2011).
Hiện nay, tình trạng đốn cây lấy gỗ là nghiêm trọng, tràn lan trên nhiều địa phương, cơ
hồ muốn vượt qua tiến độ phát triển rừng Vừa qua, trong khoảng thời gian 10 ngàynghỉ trước và sau Tết Nguyên đán là khoảng thời gian các lâm tặc hoành hành rấtmạnh, Đắk Lắk là một trong các điểm nóng
Hình 32: Phá rừng lấy gỗ
Trang 24Hình 33: Phá rừng khai thác tài nguyênPhá rừng vô tình gây cháy rừng cùng với tình hình thời tiết diễn biến ngày càng phứctạp, khô hạn kéo dài, bão lũ xảy ra thường xuyên gây thiệt hại không nhỏ tới tàinguyên rừng
Hình 34: Cháy rừng
(vietbao.vn)
Ngoài ra, các giải pháp hành
chính và kỹ thuật khó có thể
đi đến đâu nếu cụm chính
sách bảo vệ rừng thiếu sự quan tâm tới đời sống người dân dưới tán rừng Thực chấttheo cơ chế hiện nay, rừng tự nhiên là của nhà nước cho nên nhiệm vụ bảo vệ rừnghầu như trĩu nặng trên vai của lực lượng kiểm lâm còn khá mỏng manh Do vậy đã cóhiện tượng nhiều nơi rừng bị phá mà không được thống kê Đồng thời, do thiếu thốngnhất về phương pháp và các tiêu chí định lượng về rừng, các số liệu về diện tích rừngđược công bố rất khác nhau
BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Page 24