1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Nhóm 15 hiện trạng chặt phá rừng ở việt nam và thế giới

48 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một thực tế dễ dàng nhìn thấy là nạn phá rừngbừa bãi khiến cho diện tích đất trống đồi trọc tăng lên, môi trường bị ô nhiễm, nhiềuloại lâm sản quý bị khai thác quá mức, các loại động vật

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM



BÁO CÁO BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

ĐỀ TÀI: “HIỆN TRẠNG CHẶT PHÁ RỪNG Ở VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ: 4

II NỘI DUNG: 5

a) Khái niệm: 5

b) Hiện trạng: 6

 Việt Nam 6

 Thế giới 10

c) Nguyên nhân 16

 Chiến tranh: 16

 Cháy rừng: 18

 Khai thác lâm sản quá mức: 20

 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất: 24

 Nghèo đói: 25

 Gia tăng dân số và tập quán du cư: 27

d) Ảnh hưởng 30

1 Về khí hậu: 31

2 Về nước: 32

3 Về đất: 34

4 Về hệ sinh thái: 36

5 Về kinh tế: 37

6 Đối với Việt Nam: 37

e) Giải pháp: 39

 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý bảo vệ rừng 39

Trang 3

 Quy hoạch, xác định lâm phận các loại rừng ổn định 40

 Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật 40

 Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng 41

 Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực của lực lượng kiểm lâm 44

 Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân 45

 Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng 45

 Ứng dụng khoa học công nghệ 46

 Hợp tác quốc tế 46

 Phòng cháy chữa cháy rừng 47

III KẾT LUẬN: 47

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO: 48

Trang 4

Việt Nam của chúng ta là một nước nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều tạo điềukiện cho sự phát triển đa dạng sinh học, thảm thực vật đa dạng phong phú, hơn thếnữa với những điều kiện như vậy thuận lợi cho sự phát triển của những cánh rừngnhiệt đới với hệ sinh thái nhiều tầng Vì thế, ở nước ta rừng được xếp vào loại tàinguyên vô cùng quí giá, như ông bà ta đã nói: “ Rừng vàng biển bạc” Ngay từ khicon người ở trong xã hội nguyên thủy chủ yếu kiếm sống bằng săn bắt, hái lượm thìrừng thành môi trường, ngôi nhà, nguồn sống của họ rừng cung cấp lương thực đểcon người tồn tại và phát triển, tiến hóa từ nguyên thủy đến văn minh Rừng cònsong hành với người dân trong suốt thời kì chống giặc ngoại xâm, cùng người dântham gia đánh giặc, bảo vệ nhân dân ta khỏi bom đạn, tàn phá của kẻ thù Ngày nay,rừng không những là cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội mà rừng còn giữ chức năngsinh thái hết sức quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, duy trìtính ổn định của đất, làm giảm ô nhiễm không khí và sự tàn phá của thiên nhiên như

lũ lụt, xạt lỡ đất, xói mòn đất Bước vào thời kì hiện đại hóa, công nghiệp hóa, chấtthải công nghiệp đã làm mất cân bằng sinh thái, gây nên hiệu ứng nhà kính, làmthủng tần ozon và các hệ lụy khác ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và cuộc sốngcủa con người Rừng chính là vị cứu tinh của con người, rừng giúp hấp thu khícacbonic và nhã ra khí oxi, thanh lọc không khí trả lại bầu không khí trong lành chohành tinh, chính vì thế rừng được xem là “ Lá phổi của Trái Đất” Rừng còn cungcấp cho chúng ta nhiều loại gỗ quý như: đinh, lim, sến,…nhiều thảo dược quantrọng giúp kéo dài tuổi thọ cho con người như: sâm, sa nhân, tam thất…và rừng lànơi bảo tồn nguồn gen động thực vật quý hiếm như: tê giác, bò tót, voi, gấu, sao la,hổ

Mặc dù rừng có nhiều lợi ích cho con người như vậy nhưng con người vẫnchưa nhận thức được hết điều đó Một thực tế dễ dàng nhìn thấy là nạn phá rừngbừa bãi khiến cho diện tích đất trống đồi trọc tăng lên, môi trường bị ô nhiễm, nhiềuloại lâm sản quý bị khai thác quá mức, các loại động vật quý hiếm đang đứng trướcnguy cơ bị tuyệt chủng, khí hậu nóng lên và hệ sinh thái bị suy giảm trầm trọng.Chúng tôi chọn đề tài nạn phá rừng ở Việt Nam và Thế giới vì đây là vấn đề bứcxúc, vô cùng nhức nhối đặt ra cho toàn thể nhân loại bởi khí hậu của chúng ta đangngày một nóng lên, nguyên nhân cũng là do rừng bị chặt phá bừa bãi, vô tổ chứclàm mất cân bằng sinh thái Phân tích vấn đề này, chúng tôi sẽ đưa ra những hiệntrạng của rừng, những nguyên nhân rừng ngày càng mất đi, bên cạnh đó chúng tôicũng góp ý những giải pháp tích cực nhằm ngăn chặn tình trạng phá rừng bừa bãi đểlàm cho nước ta và toàn Trái Đất mãi có màu xanh của rừng, màu xanh của sự sống

Trang 5

II NỘI DUNG:

a) Khái niệm:

Có nhiều cách định nghĩa rừng khác nhau nhưng hầu hết đều định nghĩa dựavào

phạm vi không gian, hệ thống sinh vật và cảnh quan địa lí:

- Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm

vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển (Morozov 1930) Rừng chiếmphần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý

- Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thểcác cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển củamình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau với hoàn cảnh bênngoài (M.E.Tcachenco 1952)

- Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinhquyển địa cầu (I.S.Mê lê Khôp 1974)

- Rừng cũng có thể hiểu bằng một cách khác là đất đủ rộng có cây cối mọclâu năm

- Rừng tự nhiên 9,77 triệu ha,chiếm 84,37%

- Rừng trồng 1,81 triệu ha, chiếm 14,63%

- Rừng có sự cân bằng đặc biệt về trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôntồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật; đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất

và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác.Rừng là một tổng hợpphức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thểtrong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó,rừng luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chốnglại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật Nhữngkhả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và của chọn lọc tựnhiên ở tất cả các thành phần rừng

- Phá rừng là quá trình chuyển đổi hay sự thay đổi của lớp phủ mặt đất từrừng sang các trạng thái khác (Palo et al., 1987; Turner & Meyer, 1994)

- Phá rừng là thuật ngữ mô tả sự thay đổi hoàn toàn trong sử dụng đất từrừng sang nông nghiệp, bao gồm cả canh tác nương rẫy và chăn thả, hay sử dụng đôthị Nó không bao gồm rừng đã bị khai thác (thậm chí chặt trắng) và để cho tự táisinh (WRI, 1992:118)

- Phá rừng mang ý nghĩa hủy hoại hay làm mất đi thảm cây, từ mất hoàn toànhay vĩnh viễn thảm cây cho đến những thay đổi nhỏ trong thành phần sinh thái

Trang 6

b) Hiện trạng:

Tốc độ phá rừng nhiệt đới hàng năm giai đoạn 1981-1990 là 0,8% hay 15,4triệu hecta/năm, trong đó châu Á có tỷ lệ mất rừng cao nhất (1,2%) Riêng đối vớiViệt Nam, trong nữa thế kỷ từ 1943 đến 1993 có khoảng 5 triệu hecta rừng tự nhiên

bị mất, nghĩa là tốc độ phá rừng hàng năm ở Việt Nam vào khoảng 100.000 hecta

 Việt Nam

Việt Nam là một nước nhiệt đới nằm ở vùng Đông Nam Á, có tổng diện tíchlãnh thổ khoảng 331.700 km2, trong đó diện tích rừng và đất rừng là 20 triệu ha,chiếm khoảng 20% diện tích toàn quốc (Tổng cục thống kê năm 1994)

Nếu như vào khoảng thế kỷ XX ở nước ta độ che phủ của rừng còn lại 43%diện tích đất tự nhiên Thì sau 30 năm chiến tranh tiếp theo là giai đoạn mà rừngViệt Nam bị thu hẹp lại khá nhanh Hơn 80 triệu lít chất diệt cỏ cùng 13 triệu tấnbom đạn với 25 triệu hố bom đạn, bom cháy rừng cùng với đội xe ủi đất khổng lồ

đã tiêu hủy hơn 2 triệu ha rừng nhiệt đới các loại và diện tích rừng chỉ còn khoảng9,5 triệu ha, chiếm 29% diện tích cả nước

Việt Nam cũng có tình trạng như những nước đang phát triển khác, diện tíchrừng đang bị thu hẹp nhanh chóng Theo bản đồ rừng của Maurand vào năm 1945thì nước ta có 14,352 triệu ha rừng, chiếm tỉ lệ 43,8% so với diện tích tự nhiên

Theo số liệu điều tra của viện qui hoạch rừng thì đến năm 1975 còn 9,5 triệu

ha rừng, chiếm 29,1% diện tích tự nhiên, đến năm 1981 còn 7,4 triệu chiếm 24%,đến năm 1989 có 9,3 triệu, trong đó có những rừng mới trồng

Diện tích rừng bị suy giảm từ 43% xuống còn 28,2% (1943-1995) Rừngngập mặn ven biển cũng bị suy thoái nghiêm trọng giảm 80% diện tích do bị chuyểnđổi thành các ao đầm nuôi trồng thủy hải sản thiếu qui hoạch

Gần đây diện tích rừng tuy có tăng lên 37% (năm 2005), nhưng tỉ lệ rừngnguyên sinh cũng vẫn chỉ ở mức khoảng 8% so với 50% của các nước trong khuvực

Đây là một thách thức lớn đối với Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khíhậu, trong các hoạt động thực hiện mục tiêu năm 2010 của Công ước đa dạng sinhhọc nhằm tăng cường hiệu quả bảo tồn và dịch vụ của các hệ sinh thái rừng tronggiảm thiểu thiên tai, bảo vệ tài nguyên nước, giảm phát thải khí cacbonic

Trang 7

Trong vòng 25 năm qua, toàn bộ vùng rừng tự nhiên bị mất đi hơn 5 triệu ha

ở cả vùng cao lẫn vùng ven biển, trung bình mỗi năm mất khoảng 250.000 ha.Trong mấy năm qua, diện tích rừng có chiều hướng tăng lên, 28,2% theo thống kêđến năm 2004 thì độ che phủ rừng toàn quốc lên đến 36,7% (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Diễn biến về diện tích rừng ở Việt Nam (đơn vị tính:

Trong 60 năm qua, việc phá rừng đã trở thành một hiểm họa nghiêm trọngcho rừng rậm ở Việt Nam Dựa theo các nguồn tin được trích dẫn nhiều nhất, từnăm 1963 đến năm 1993, phần lãnh thổ quốc gia được rừng bao phủ giảm từ 43%xuống còn 20% (tác giả Võ Quý 1996) hoặc 16% mà thôi Nhiều quan sát viên đi

xa hơn còn cho rằng phần lãnh thổ Việt Nam được bao phủ bởi rừng rậm đã xuốngthấp hơn 10%, có ước tính cho thấy diện tích rừng Việt Nam đã bị thu hẹp 200.00

ha Như vậy, phần lãnh thổ quốc gia được bao phủ bởi rừng rậm chỉ còn khoảng 20% tức là 3,3 đến 6,6 triệu ha

Trang 8

10-Việc phá rừng ở Việt Nam dường như vẫn tiếp diễn ở mức báo động Riêngtỉnh Daklak ở cao nguyên miền Trung, diện tích rừng nhiệt đới giảm với mức độtrung bình 4,5% năm, từ 1.219.848 ha (1995) còn khoảng 1.000.000 (2000).

Bên cạnh ý thức của người dân, phá rừng làm nơi ở hay đốt rừng làm rẫy, hệthống rừng Việt Nam còn phải đối diện với hiểm họa mới “Phá rừng để trồng caosu…” hay là phá rừng ngập mặn nuôi tôm Việc phát triển nhanh chóng nghề nuôitôm đã có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với rừng ngập mặn ở Việt Nam Trong 50năm qua, Việt Nam mất khoảng 220.000 ha rừng ngập mặn - hơn 80% diện tíchnguyên thủy đã bị phá hủy Trong năm 2000 chỉ còn khoảng 110.680 ha Trong tỉnh

Cà Mau ở vùng ĐBSCL diện tích dung cho việc nuôi tôm đã tăng lên gấp 3 lầntrong vòng 12 tháng cho đến năm 2001 , và đến năm 2002 lớn lên 202.000 ha, cácước tính cho thấy diện tích rừng ngập mặn trong tỉnh giảm từ 200.000 ha trước

1975 xuống còn 60.000-70.000 ha và hầu như tất cả việc phá rừng này là để nuôitôm Nguy cơ mất rừng và tài nguyên thiên nhiên đang đe dọa cả nước Tai họa mấtrừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đã xảy ra ở rất nhiều nơi

Trang 9

Là một quốc gia đất hẹp người đông, Việt Nam hiện nay có chỉ tiêu rừng vàoloại thấp, chỉ đạt mức bình quân khoảng 0,14 ha rừng, trong khi mức bình quân củathế giới là 0,97 ha/ người Các số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2000 nước ta cókhoảnggần 11 triệu hecta rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 9,4 triệu hecta

và khoảng 1,6 triệu hecta rừng trồng; độ che phủ của rừng chỉ đạt 33% so với 45%của thời kì giữa những năm 40 của thế kỉ XX Tuy nhiên, nhờ có những nỗ lựctrong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước về bảo vệ và pháttriển tài nguyên rừng, "phủ xanh đất trống đồi núi trọc" nên nhiều năm gần đây diệntích rừng ở nước ta đã tăng 1,6 triệu hecta so với năm 1995, trong đó rừng tự nhiêntăng 1,2 triệu hecta, rừng trồng tăng 0,4 triệu hecta Ở nhiều tỉnh, rừng tự nhiên giàucòn lại rất thấp, như Lai Châu còn 7,88%, Sơn La 11,95%, và Lào Cai 5,38% Sựsuy giảm về độ che phủ rừng ở các vùng này là do mức tăng dân số đã tạo nhu cầulớn về lâm sản và đất trồng trọt Kết quả đã dẫn tới việc biến nhiều vùng rừng thànhđất hoang cằn cỗi Những khu rừng còn lại ở vùng núi phía Bắc đã xuống cấp, trữlượng gỗ thấp và bị chia cắt thành những đám rừng nhỏ phân tán Tính đến năm

2010 nước ta có tổng diện tích rừng là 13.388.075 ha, trong đó rừng tự nhiên là10.304.816 ha và rừng trồng là 3.083.259 ha.Độ che phủ rừng toàn quốc là 39,5%(Theo Quyết định số 1828/QĐ – BNN – TCLN ngày 11 tháng 8 năm 2011)

 Thế giới:

Trang 10

quốc gia nào Mà hiện nay nó đã trở thành vấn đề chung của toàn thế giới Ngàycàng có nhiều hơn các tổ chức, cộng đồng liên quốc gia tham gia vào công việcchung tay bảo vệ môi trường, vào việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của ngườidân Các tổ chức chính phủ, các quốc gia cũng phối hợp cùng thực hiện, đã cónhững hành động nhằm chung tay vào bảo vệ mội trường Một trong những vấn đềđược đặt ra và được đánh giá là quan trọng hàng đầu trong việc từng bước cải thiệnlai môi trường, bảo vệ môi trường sống của mỗi chúng ta đó là bảo vệ rừng, pháttriển nguồn tài nguyên rừng đang có và tái tạo lại nguồn tài nguyên rừng đã mất

Qua đó, chúng ta có thể thấy được những tác dụng, lợi ích mà rừng mang lạicho môi trường, đặc biệt là cho chính con người Rừng thực hiện nhiều chức năng,cung cấp các dịch vụ thiết yếu và duy trì sự sống trên hành tinh Rừng là hệ sinhthái có giá trị đa dạng lớn nhất và là nơi sinh sống của hơn một nửa các loài độngvật, thực vật và côn trùng trên cạn Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc tích trữnước cho các dòng sông, là nguồn cung cấp nước cho gần 50% các thành phố lớnnhất thế giới Rừng tạo ra và duy trì độ phì nhiêu cho đất; giúp điều chỉnh tác độngtiêu cực của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ và hạn hán….Quan trọnghơn, rừng tạo kế sinh nhai cho 1,6 tỷ người trên Trái đất Những giá trị của rừng đốivới cuộc sống là rất to lớn Mặc dù vậy, bất chấp những lợi ích vô giá của rừng vềkinh tế, xã hội, sinh thái và sức khỏe, con người vẫn đang tàn phá rất nhiều các khurừng, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Nhưng hiện nay vấn đề khai thác rừngvẫn diễn ra vô cùng phức tạp Tuy tốc độ chặt phá rừng có giảm so với trước đây,nhưng tỉ lệ đồi đất trống do khai thác rừng để lại còn khá cao Một số liệu thống kêcho thấy rằng:

+ Tốc độ phá rừng nhiệt đới hàng năm giai đoạn 1981-1990: Trên thế giới là0,8% tương đương 15,4 triệu hecta/năm Trong đó Châu Á có tỷ lệ chặt phá rừngcao nhất với 1,2%; cao hơn gấp 1,5 lần so với mức trung bình của thế giới Riêngđối với Việt Nam, trong vòng nửa thế kỷ từ năm 1943 đến năm 1993 có khoảng 5triệu hecta rừng tư nhiên(rừng nguyên sinh) bị tàn phá trái phép, nghĩa là tốc độ phárừng hàng năm Việt Nam vào khoảng 100.000 hecta/năm

Trong giai đoạn này, chúng ta có thể thấy rằng: Hiện tượng chặt phá rừngbừa bãi đã manh nha, bắt đầu gây tổn hại đến rừng tự nhiên trên thế giới Trướcđây, chặt phá rừng chưa được gọi là hiện tượng chung của cả thế giới Mà đó chỉ làhiện tượng tự phát, nhỏ lẻ; khai thác rừng chỉ với mục đích phục vụ cho nhu cầuthiết yếu của cộc sống như làm nhà, bàn ghế, canh tác nông nhgiệp Ví dụ, ởAmazon khoảng 17 % diện tích rừng đã bị mất trong vòng 50 năm, chủ yếu là dochuyển đổi rừng chăn thả gia súc và khai thác gỗ cho sinh hoạt

Trang 11

Nhân dân phá rừng để chăn nuôi tại Brazill

Đốt rừng làm nông nghiệp

Trang 12

Và hậu quả là:

+ Do đặc điểm cuộc sống đang còn phụ thuộc quá nhiều vào thiên nhiên,trình độ khoa học- công nhệ, kinh tế, kỹ thuật chưa phát triển Đặc biệt là khu vựccác nước nghèo, trình độ dân trí thấp Và lợi dụng những điều kiện đó, cùng những

kẽ hở trong quản lý của nhà nước, chưa có những quy định cụ thể và rõ ràng Đếngiai đoạn này đã xuất hiện mục đích phá rừng vì thương mại, kinh doanh gỗ nóiriêng và các mặt hàng lâm sản nói chung Bằng chứng là rừng trên thế giới đã bắtđầu bị tàn phá ở khắp mọi nơi, tốc độ phá rừng bắt đầu gia tăng nhanh chóng vàđáng báo động

Trang 13

Khai thác gỗ để chế biến giấy+ Trong giai đoạn 2000-2005, diện tích rừng thực tế bị mất hàng năm là 7,3triệu ha/năm bằng diện tích của Panama Con số này đã giảm so với giai đoạn 1990–2000 từ ước tính là khoảng 8,9 triệu ha/năm, tương đương với tốc độ mất rừngthực trên thế giới là 0,18%/năm.

+ Từ năm 2000 – 2005, tốc độ mất rừng thực ở Nam Mỹ là lớn nhất - khoảng4,3 triệu ha/năm Xếp thứ 2 là châu Phi mất 4,0 triệu ha/năm Cũng trong giai đoạnnày, châu Đại Dương mất 356000 ha/năm trong khi cả Bắc Mỹ và Trung Mỹ là

333000 ha/năm

+ Trong những năm 1990, tốc độ mất rừng là Châu Á khoảng 800 000ha/năm, đến giai đoạn từ 2000 – 2005, con số này là 1 triệu ha/năm Theo báo cáo,Trung Quốc là nước có tốc độ phá rừng cao nhất Các khu rừng ở châu Âu vẫn tiếptục được mở rộng mặc dù tốc độ có chậm hơn những năm 1990

+ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ (FAO) cho biết: Đây là số liệuquan trọng trong đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu năm 2005 bao gồm đất rừng,việc sử dụng và giá trị của rừng ở 229 quốc gia và vùng lãnh thổ từ năm 1990 –

2005 Song 10 nước là Ôxtrâylia, Brazil, Canada, Trung Quốc, Cộng hoà dân chủnhân dân Côngô, Ấn Độ, Inđônêxia, Pêru, Nga và Hoa Kỳ chiếm 2/3 tổng diện tíchrừng, 84% diện tích rừng trên thế giới thuộc quyền sở hữu của nhà nước, nhưngquyền sở hữu tư nhân đang tăng lên Và hơn 300 triệu ha rừng phục vụ cho mụcđích bảo tồn đất và nước

Trang 14

+ Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2012: Số liệu thống kê của Google, theotrang mạng www.globalforestwatch.org và Đại học Maryland (Mỹ) cho thấy trongkhoảng thời gian từ 2000- 2012, có khoảng 2,3 triệu km2 rừng trên Trái Đất đã biếnmất, gần bằng diện tích của Argentina Nhưng trong khi đó chỉ có khoảng 0,8 triệukm2 được phủ xanh trở lại Đi vào cụ thể, Indonesia là nước có tốc độ mất rừngnhanh nhất thế giới, tăng hơn 50% lên tới 20.000km2/năm, trong khi diện tích củaIndonesia là 1.919.440 km2, vào thời điểm năm 2011 Tốc độ trung bình rừng bị tànphá là 1,04%/năm Con số rất đáng báo động, khi vần đề môi trường ngày nay ngàycàng trở lên gay gắt hơn

Phá rừng ở Inđônêsia

Tuy nhiên, Brazil lại là quốc gia có diện tích rừng mất đi hàng năm lớn nhất,giảm tới 50% từ mức 40.000km2 của năm 2002 xuống còn 20.000km2 vào năm2010.Nghiên cứu xác nhận rằng những nỗ lực giảm phá rừng nhiệt đới của Brazilvới số liệu rõ ràng- nơi lâu nay được cho là chịu trách nhiệm cho phần lớn nạn phárừng nhiệt đới trên thế giới - đã có ảnh hưởng đáng kể.Nạn phá rừng là một mốiquan tâm đặc biệt trong rừng mưa nhiệt đới vì các khu rừng này là nơi có nhiều đadạng sinh học của thế giới.Mặc dù vậy, nhưng tỉ lệ phá rừng giảm ở Brazil với số

Trang 15

liệu rõ ràng trong thập kỷ qua không thể bù đắp lượng mất rừng tăng lên ởIndonesia, Malaysia , Paraguay, Bolivia, Zambia, Angola và các nơi khác.Tìnhtrạng phá rừng, hoặc bị suy thoái trên quy mô toàn cầu đã đến mức báo động

Rừng rậm nhiệt đới ở Brazil

+ Những cánh rừng nguyên sinh chưa có dấu hiệu tàn phá rõ ràng từ các hoạtđộng của con người, hiện nay chiếm 36% tổng diện tích rừng của thế giới, songnhững cánh rừng này đang biến mất hoặc đang bị thay đổi với tỷ lệ 6 triệu ha/năm

vì nạn chặt phá rừng hoặc khai thác gỗ chọn lọc Trong khi phần lớn những cánhrừng được quản lý phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau, thì Đánh giá vềTài nguyên Rừng năm 2005 nêu rõ 11% diện tích rừng được quy hoạch cho bảo tồnđang dạng sinh học và ước tính diện tích các khu vực này đang tăng lên 96 triệu ha

kể từ năm 1990

+ Đánh giá này cho phép chúng ta xác định vai trò quan trọng của tài nguyênrừng trên thế giới trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, đặcbiệt là trong việc đáp ứng các mục tiêu giảm nghèo đói và đảm bảo môi trườngtoàn cầu bền vững

Trang 16

Mô hình sự phát triển bền vững, tương tác giửa con người và thiên nhiên.

c) Nguyên nhân

 Chiến tranh:

Chiến tranh không những là nguyên nhân trực tiếp mà còn là nguyên nhân sâu

xa gây suy thoái đất đai Trong giai đoạn năm 1945 đến 1990 nước ta trải qua 2cuộc chiến tranh hết sức khốc liệt

Chỉ trong giai đoạn từ 1961 đến 1975, 13 triệu tấn bom và 72 triệu lít chất độchóa học do Mỹ rãi xuống chủ yếu ở miền Nam Việt Nam đã hủy diệt khoảng 4,5triệu ha rừng Sau khi kết thúc chiến tranh diện tích rừng cả nước chỉ còn lại khoảng9,5 triệu ha – với 10% rừng nguyên sinh chiếm khoảng 28% diện tích cả nước

Trang 17

Trong những cuộc chiến tranh tàn ác khốc liệt đó điển hình có cuộc chiếntranh hoá học chính là những cuộc chiến tranh bằng chất độc da cam/đioxin màquân đội Hoa Kỳ đã sử dụng và rải lên đất nước Việt Nam trong các cuộc chiếntranh Với số lượng rất lớn chát độc hoá học đã rải, lặp đi lặp lại nhiều lần trong mộtquãng thời gian dài với nồng độ cao, chúng ngấm và dần phân huỷ trong đất, khôngnhững đã làm chết cây cối mà còn gây ô nhiễm môi trường trong một thời gian dài

và làm đảo lộn các hệ sinh thái tự nhiên Những hậu quả tức thời và lâu dài của chấtđộc hoá học đối với tài nguyên và môi trường rừng là rất rõ ràng Trong quá trình bịtác động, hàng trăm loài cây đã bị trút lá, đáng quan tâm nhất là những cây gỗ lớnthuộc tầng nhô và tầng ưu thế sinh thái thuộc họ dầu ( Dipterocarpaceae), họ đậu( Fabaceae) Nhiều loài cây gỗ quý hiếm như giáng hương ( Pterocarpusmacrocarpus), gụ ( Sindora siamensis), sao đen ( Hopea odorata)… và một số cây

họ dầu thuộc tầng cao trong rừng đã bị chết dẫn đến khan hiếm nguồn hạt giống củamột số loài cây quý Tán rừng bị phá vỡ, môi trường rừng bị thay đổi nhanh chóng,những loài cây của rừng thứ sinh như tre, nứa, các loài cây gỗ ưa ánh sáng mọcnhanh, kém giá trị kinh tế thì chúng xuất hiện và lấn át cây gỗ bản địa Nhiều khurừng đã bị phá huỷ nặng nề do quy mô phá hoại rộng lớn và lặp đi lặp lại nhiều lần,kéo dài trong nhiều năm, kèm theo với các tác động khác của bom đạn… Hậu quả

là cây rừng bị chết đi, các loài cây cỏ dại như cỏ Mỹ ( Pennisetum polystachyon),

cỏ tranh(Imperate cylindrica), lau lách xâm lấn và đến nay rừng vẫn chưa đượcphục hồi Ngoài ra, chất độc hoá học rải lên rừng còn gây thiệt hại nhiều cho cácloại tài nguyên khác ngoài gỗ chưa được tính đến như dầu nhựa, cây thuốc, songmây và các loài động vật rừng

Trang 18

 Cháy rừng:

Hiện nay nước ta có trên 6 triệu ha rừng dễ cháy, nhất là rừng thông, rừngtràm, rừng khộp rụng lá… một phần cũng do thời tiết khắc nghiệt, biến đổi khólường của Việt Nam đã làm tăng nguy cơ cháy rừng cao Ngày nay cháy rừng cũng

do nhiều nguyên nhân gây ra, chúng ta có thể kể đến một số nguyên nhân như: hiệntượng el-nino (Theo một định nghĩa đơn giản nhất El nino là hiện tượng phá vỡ điềukiện bình thường của hệ thống đại dương - khí quyển ở khu vực nhiệt đới Thái BìnhDương gây nên những ảnh hưởng đến thời tiết trên qui mô toàn cầu. Hay theo mộtđịnh nghĩa khác El nino là hiện tượng vùng biển ở khu vực nhiệt đới Thái BìnhDương ấm lên một cách bất thường) gây ra, do các hoạt động khai thác của conngười như đốt lửa tìm mật ong, tìm mật gấu hay đốt hương tìm mộ liệt sĩ trongchiến tranh, do hoạt động đốt nưong làm rẫy của người dân tộc miền núi… nhữngnguyên nhân này đều có thể khiến rừng bị cháy Và hầu hết các diện tích rừng bịcháy đều nằm trong những vùng nhạy cảm như rừng đầu nguồn, đất dốc, vùng sinhthái đất ngập nước, rừng tràm, vùng rừng chống cát di động nên dễ gây lũ quét, xói

lở, đất dễ bị khô hạn và thoái hoá Cháy rừng sẽ nhanh chóng lan ra trên một diệntích rộng lớn và rất khó dập tắt cho nên thiệt hại cũng rất nghiêm trọng Sự phục hồi

và tái tạo lại rừng trong điều kiện này là rất chậm vì thế mà tài nguyên rừng đangcạn kiệt dần đi. 

Trang 19

Theo số liệu thống kê đầy đủ của Cục kiểm lâm về cháy rừng và thiệt hại docháy rừng gây ra trong 42 năm qua (1963 - 04/2005) tổng số vụ cháy rừng là trên49.600 vụ, diện tích thiệt hại trên 646.900 ha rừng (chủ yếu là rừng non), trong đó

có 274.251 ha rừng trồng và 377.606 ha rừng tự nhiên Riêng năm 2002 đã xảy ra1.098 vụ cháy, năm 2003 xảy ra 642 vụ cháy, trong đó vụ cháy rừng tram U Minh lànghiêm trọng nhất

Cháy rừng ở U Minh

Sự kiện cháy rừng vào tháng 3,4 năm 2002 tại vườn quốc gia U Minh –

Trang 20

U Minh – Thượng trước khi xảy ra cháy rừng đã thống kê được 32 loài thú Sauk hi

bị cháy có ít nhất 25 loài thú (78,2%) bị ảnh hưởng với các mức độ khác nhau Một

số loài có nguy cơ không còn gặp lại ở nơi có hệ sinh thái độc đáo này: Dơi ngựalớn Pteropus vampyrus; Sóc lừa Calossiurus finlaysoni; Rái cá long mũi Lutrasumatrana; Rái cá vuốt bé Aonyx cinerea; Mèo cá Drionailurus viverrinus; Tê têManis javanica; Cầy giông đốm lớn Viverra megasphila… (nguồn cục kiểm lâm,2005)

 Khai thác lâm sản quá mức:

Khai thác nguồn lâm sản đang là tình trạng đáng lo ngại hiện nay đối với tàinguyên rừng Việt Nam Đây là nguyên nhân quan trọng trực tiếp dẫn đến rừng bịsuy thoái một cách nghiêm trọng làm cho sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên, sựphong phú về các loài sinh vật, độ che phủ và chất lượng rừng bị giảm sút gây ranhiều hậu quả nghiêm trọng cho sinh vật và cây trồng trên toàn cầu Khai thác rừng

là hành động do chính con người tạo ra là phần lớn, vì rất nhiều mục đích khác nhau

mà con người đã sử dụng dưới nhiều hình thức để tác động và tàn phá tài nguyênrừng

Trong giai đoạn từ năm 1986-1991, bình quân lượng gỗ bị khai thác là 3,5triệu m3/năm và khoảng 1-2 triệu m3 ngoài kế hoạch (khoảng 80.000 ha bị mất mỗinăm); giai đoạn 1992-1996 khoảng 1,5 m3 khối gỗ/năm; từ năm 1997 tới naykhoảng 0,35 triệu m3 gỗ/năm được khai thác theo kế hoạch từ rừng tự nhiên ở ViệtNam

Khai thác tài nguyên rừng quá mứcNạn khai thác gỗ trộm xảy ra ở nhiều nơi, kể cả trong các khu rừng phòng hộ,rừng đặc dụng cũng làm cho tài nguyên rừng bị cạn kiệt nhanh chóng Nguyên nhân

Trang 21

chính dẫn tới việc khai thác gỗ trái phép nghiêm trọng như vậy vì nhu cầu dung gỗtrong nước và xuất khẩu ngày càng tăng Ngày nay, khi giá gỗ tăng cao, con người

đã không ngừng tiến hành khai thác các loài nhóm gỗ trên theo các mục đích củamình Họ khai phá để phục vụ cho các công trình xây dựng như làm giàn giáo,cốppha Đối với loài gỗ bền chắc thì họ khai thác để xây dựng nhà ở, đối với loài gỗquý hiếm thì họ khai thác nhằm để bán và xuất khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xa

xỉ của con người Việc khai thác các loài gỗ quý hiếm để phục vụ mục đích kinhdoanh xuất khẩu hiện nay đang là một nguồn lợi tức đáng kể cho quốc gia có trữlượng lớn gỗ quý như Việt Nam.Với tốc độ đáng lo ngại nạn khai thác rừng chủ yếudiễn ra ở các khu rừng nhiệt đới đang dần đưa đến nguy cơ mất rừng Như rừngAmazône là khu rừng nguyên sinh lớn nhất hành tinh hiện nay cũng đang bị khaiphá nghiêm trọng cũng với tốc độ khai phá này thì chỉ trong vài mươi năm nữa thìkhu rừng sẽ bị huỷ diệt hoàn toàn và lúc đó con người sẽ nhận những hậu quả khólường xảy ra do sự biến đổi khí hậu trên trái đất

Hơn thế nữa, nhiều người dân còn khai thác gỗ để làm nhiên liệu, củi đốt Đốivới các loại gỗ ngoài giá trị xây dựng công trình, xây dựng nhà ở, phục vụ kinhdoanh xuất khẩu thì những loại thực vật kém giá trị khác lại được con người khaithác với mục đích là làm củi đốt Nhiều người dân ở vùng miền núi và nông thônchiếm một phần dân số đông so với cả nước, đã theo thói quen trong sinh hoạt họchỉ dùng củi để làm nguyên liệu đốt và dùng với lượng củi khá cao Những hộ giađình nghèo không có đất sản xuất, vốn đầu tư đã vào rừng khai thác củi bán đều cóthêm thu nhập Trước năm 1995, có khoảng 21 triệu tấn củi được khai thác hàngnăm, bên cạnh đó còn có nạn đốt than Khai thác củi và đốt than là nghề kiếm sốngkhó thay thế của nhiều người vùng núi

Trang 22

Đốt cây làm thanNgoài khai thác gỗ quý hiếm còn khai thác củi thì khai thác lâm sản ngoài gỗcũng là một sự tàn phá đến tài nguyên rừng Đây có thể xem là nguyên nhân tácđộng làm suy kiệt tài nguyên rừng nhanh nhất Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các loàiđộng vật quý, động vật hoang dã… và các loại thực vật mà cho các sản phẩm ngoài

gỗ Rừng Việt Nam có khoảng 2.300 loài thực vật nhóm lâm sản ngoài gỗ như songmây, lá nón, tre, nứa, và cây thuốc (khoảng 1.000 loài)… Tất cả các loài trên có thểđược sử dụng trong gia đình, bán và xuất khẩu cho nên tình trạng khai thác, buônbán trái phép, xuất khẩu các loài động vật thực vật đang được diễn ra mạnh mẽ Giátrị xuất khẩu cao của các loài nói trên cùng với sự kém hiểu biết, hám lợi nhuận đãthúc đẩy con người tìm cách săn bắt chúng ở khắp mọi nơi, có khoảng 70 loài thuộccác lớp chim thú bò sát bị khai thác thường xuyên để khai thác sử dụng cho các loạimục đích khác, việc kinh doanh các loài hoang dã nhất là rắn, rùa, baba, tắc kè… đểlàm các món ăn đặc sản, làm thuốc, đồ lưu niệm…và xuất khẩu bất hợp pháp ngàycàng tăng Các hoạt động khai phá trái phép này kéo dài âm ỉ, liên tục, tốc độ của sựphục hồi rừng không kịp với tốc độ phá rứng cho nên rừng đang bị suy thoái Cần

có các biện pháp tích cực để ngăn chặn và làm giảm các hoạt động trái phép này

Trang 23

Nạn buôn bán động vật hoang dã trái phép

Voi bị giết để lấy ngà

Trang 24

 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất:

Chuyển đổi mục đích sử dụng đất chính là sự mở rộng đất nông nghiệp, đấtsản xuất, là mở rộng đất canh tác nông nghiệp bằng cách lấn sâu vào đất rừng, lànguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái tài nguyên rừng, suy thoái đa dạng sinhhọc Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm là hậu quả làm suy thoái rừng Do chưa hiểuhết giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái rừng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tếtrước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất khẩu nên rừng ngập mặn Việt Nam

đã bị suy thoái nghiêm trọng Hậu quả của việc phá rừng ngập mặn lấy đất nuôi tômmột cách bừa bãi như hiện nay là huỷ hoại môi trường, làm suy giảm mức sống củanhiều người dân nghèo ven biển, ảnh hưởng xấu đến chủ trương xoá đói giảmnghèo và phát triển bền vững của Chính phủ Nhiều cơ quan quản lý ở Trung ương

và địa phương chưa đánh giá đúng vai trò to lớn của hệ sinh thái rừng ngập mặn;buông lỏng quản lý trong việc sử dụng tài nguyên vùng ven biển có rừng ngập mặn;không kiên quyết xử lý việc phá rừng để nuôi tôm Nhiều địa phương chỉ chú trọngđến lợi ích trước mắt là tôm xuất khẩu mà chưa tính đến hậu quả lâu dài do thiên tai

và suy giảm tài nguyên khi không còn rừng, nên rừng bị tàn phá khắp nơi Vì mấtnguồn sinh sống, một số người có thể biết là sai nhưng vẫn phải làm để nuôi giađình, đó là dùng lưới mắt nhỏ, đăng bắt hết tôm tép hoặc dùng chất nổ, xung điện đểhuỷ diệt nguồn lợi

Ngoài khai phá rừng để làm đầm tôm người dân còn phá rừng để trồng cà phê.Mặt khác, do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành thuỷ sản và lâm nghiệp nênkhông những mất rừng, mà sự cân bằng sinh thái suy giảm và cuộc sống của cộngđồng ven biển bị xáo trộn Có thể khẳng định, việc nuôi tôm và trồng cà phê không

có quy hoạch là mối đe doạ lớn nhất đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn và làmgiảm diện tích rừng

Ngày đăng: 24/10/2019, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w