Việt xâm phạm rừng , làm biến đổi môi trường sống của các loài theo hướng tiêu cực đang là một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều loài cho nhiều loài động vật trong Sách Đỏ Việt N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
BÁO CÁO MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
GVHD TS LÊ QUỐC TUẤN
Trang 2Mục lục
I Đặt vấn đề 3.
II Khái niệm .4.
1 Khái niệm rừng 4.
2 Phân loại rừng 6.
III Vai trò của rừng 7.
IV Hiện trạng và tình hình khai thác tài nguyên rừng 12.
1 Hiện trạng 13.
2 Tình hình chung về nạn phá rừng 21.
V Nguyên nhân chặt phá rừng 25.
VI Tác động 28.
1 Tác động tới môi trường tự nhiên 28.
1.1 Không khí 28.
1.2 Nước 30.
1.3 Đất 32.
1.4 Sinh thái .33.
2 Tác động tới kinh tế 35.
VII Biện pháp bảo vệ rừng 36.
1 Ở Việt Nam 36.
1.1 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lí bảo vệ rừng 37.
1.2 Quy hoạch, xác định lâm phận các loại rừng ổn định 38.
1.3 Hoàn thiện thể chế sách và pháp luật 38
1.4 Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng 39.
1.5 Củng cố nâng cao năng lực của cán bộ kiểm lâm 41.
1.6 Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân 42 1.7 Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng.
Trang 3Hiện trạng chặt phá rừng ở Việt Nam
và trên thế giới.
I.Đặt vấn đề.
Một báo cáo công bố trên tạp chí Science số ra ngày 14/11 cho biết từ năm 2000-2012, diện tích rừng toàn cầu đã giảm 2,3 triệu km2 trong khi diện tích trồng mới chỉ là 800.000 km2 - điều này có nghĩa là trung bình diện tích rừng bị phá năm sau cao hơn năm trước hơn 2.000 km2
Theo báo cáo trên - do nhóm các nhà nghiên cứu đến từ 15 trường đại học trên thế giới thực hiện, Indonesia hiện là nước có tốc độ phá rừng ở mức cao nhất thế giới
Số liệu thống kê cho thấy "Đất nước vạn đảo" đã mất 20.000 km2 rừng từ năm 2011-2012,xếp thứ năm thế giới sau Nga, Brazil, Mỹ và Canada
Tại Việt Nam, những năm đầu thế kỉ XX, độ che phủ của rừng nguyên sinh vào khoảng 70%, giữa thế kỷ XX còn 43%, đến những năm 1979 - 1981 chỉ còn 24% (Viện Điều tra quy hoạch rừng)
Theo thống kê thì chỉ trong một thời gian ngắn , danh sách các loài động vật hoang dã ở Việt Nam ngày càng tăng lên tới 407 loài Mức độ đa dạng sinh học của Việt Nam đang bị
đe dọa nghiêm trọng Việt xâm phạm rừng , làm biến đổi môi trường sống của các loài theo hướng tiêu cực đang là một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều loài cho nhiều loài động vật trong Sách Đỏ Việt Nam bị tuyệt chủng
Ta biết rừng là nguồn tài nguyên quan trọng của đất nước ta Rừng không những là cơ sở
để phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kì quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxi, và các nguyên tố cơ bản kháctrên hành tinh, duy trì tính ổn định màu mỡ của đầt làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt củacác thiên tai bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí
Tuy nhiên, với tình trạng rừng ngày càng suy giảm thì thiên tai như hạn hán, lũ lụt xảy ra với tần xuất và cường độ ngày càng tăng gây ra nhưng thiệt hại nghiêm trọng Dọc theo chiều dài đất nước từ Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai đến Thái
Nguyên, Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Cần Thơ, Cà Mau thiệt hại vật chất là 11.600 tỉ đồng, chết và mất tích 415 người (2007) Năm 2008, chỉ 6 tháng đầu năm thiệt hại là 814 tỉ, riêng thủ đô Hà Nội với trận lụt lịch sử tháng 11 “ngập chìm trong nước” thiệt hại vật chất đã hơn 3.000 tỷđồng, 20 người chết
Riêng năm 2013 vừa qua, đã có không ít những cơn bão với tần suất vô cùng dày đặc, gây thiệt hại về người và của Các hiện tượng thiên tai xảy ra ngày càng nhiều chứng tỏ môi trường ngày càng suy thoái, cuộc sống của con người ngày càng bị đe dọa Phải chăng là
do sự tàn phá thiên nhiên của con người? Mà đặc biệt đó là vấn nạn chặt phá rừng một
Trang 4nhà chức trách của toàn thế giới.
Để mọi người hiểu rõ hơn về vai trò của rừng, các vấn đề chặt phá rừng hiện nay và nhữngảnh hưởng tiêu cực do chặt phá bừa bãi gây ra nên nhóm em xin trình bày về đề tài “ Hiện trạng chặt phá rừng tại Việt Nam và trên thế giới”
Trang 5 Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu Quần xã sinh
vật phải có diện tích đủ lớn Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trongquần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác
Trang 62 Phân loại.
Việc hình thành các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ giữa sự hình thành các thảm thực vật tự nhiên với vùng địa lý và điều kiện khí hậu trong mỗi kiểu rừng được hình thành thì khí hậu, đất đai và độ ẩm sẽ xác định thành phần cấu trúc và tiềm năng phát triển của thảm thực vật rừng các kiểu thảm thực vật rừng quan trọng trên thế giới là:
Rừng lá kim (rừng Taiga) vùng ôn đới có thành phần khá đồng nhất, phân bố
chủ yếu ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Bắc Trung Quốc và một số vùng núi cao nhiệt đới.Kiểu rừng này có năng suất thấp hơn vùng nhiệt đới
Rừng rụng lá ôn đới phân bố ở vùng thấp hơn và gần vùng nhiệt đới hơn, chủ yếu ở
Trang 7 Dựa vào chức năng cơ bản mà thực chất là dựa vào tính chất và mục đích sử dụng,rừng được chia thành 3 loại chính như sau:
Rừng phòng hộ được sử dụng cho mục đích bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống
xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường Rừng phòng hộ lạiđược chia thành 3 loại là rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chống cát bay,rừng phòng hộ chắn sóng ven biển
Rừng đặc dụng được sử dụng cho các mục đích đặc biệt như bảo tồn thiên nhiên,
mẫu chuẩn hệ sinh thái, bảo tồn nguồn gen động thực vật rừng, phục vụ cho côngtác nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh chonghỉ ngơi du lịch Rừng đặc dụng bao gồm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiênnhiên, các khu văn hóa - lịch sử và môi trường
Rừng sản xuất bao gồm các loại rừng sử dụng để sản xuất kinh doanh gỗ, lâm đặc
sản rừng, động vật rừng và kết hợp bảo vệ môi trường
III Vai trò của rừng
Rừng là tài nguyên quý giá Rừng che phủ một phần ba diện tích lục địa, thực hiện nhiều chức năng, cung cấp các dịch vụ thiết yếu và duy trì sự sống trên hành Hiện nay, sinh kế của 1,6 tỷ người trên trái đất phụ thuộc vào rừng
Trang 8 Rừng đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu, cung cấp ôxy cho khí quyển và giữ lại lượng lớn CO2 thải ra.
Trang 9Một hecta rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 - 500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn).
Rừng có ảnh hưởng đến nhiệt độ, độ ẩm không khí, thành phần khí quyển và có ý nghĩa điều hòa khí hậu rừng là vật cản gió
Ảnh hưởng đến khí hậu địa phương và giảm tác động của khí thải Thông qua sự kiểm soát của vận tốc gió và các luồng không khí, rừng ảnh hưởng đến sự luân chuyển không khí địa phương và do đó có thể giữ lại chất rắn lơ lửng và các yếu tố khí, nó có thể lọc các khối không khí và giữ lại các chất gây ô nhiễm
Rừng tạo ra và duy trì độ phì nhiêu cho đất; giúp điều chỉnh tác động tiêu cực của các hiện tượng thời tiết cực đoan, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, lũ và hạn hán…
Trang 10VD: Tán rừng có khả năng chắn gió trong khi mạng lưới dày đặc của rễ cây có khả năng giữ đất, cộng thêm chức năng đệm của dòng nước.
Tác động tích cực của rừng đang thu giữ nước mưa, lọc nước và các quy định điều tiết dòng chảy Trong khu vực với cây cứu trợ, bảo vệ đất chống xói mòn
VD: Tán lá, thân cây làm giảm tốc độ hạt nước mưa rơi xuống đất, hạn chế sự tác động trực tiếp lên bề mặt đất tức là ngăn cản dòng chảy Đặc biệt ở những vùng khô hạn vai trò của rừng cũng rất quan trọng, cây có khả năng giữ lại lượng mưa khác như sương, lượng sương này có thể được thu gom và lưu trữ để sử dụng
Tầm quan trọng của rừng còn thể hiện ở chỗ, rừng là hệ sinh thái có giá trị đa dạng lớn nhất và là nơi sinh sống của hơn một nửa các loài động vật, thực vật và côn trùngtrên cạn Rừng cung cấp một môi trường sống cho hệ thực vật và động vật, và tùy thuộc vào khả năng sinh tồn, sức khỏe của ĐV-TV và cuối cùng là cách nó được
Trang 11 Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc tích trữ nước cho các dòng sông, là nguồn cung cấp nước cho gần 50% các thành phố lớn nhất thế giới
Rừng cũng cung cấp nơi ở, việc làm, tạo an ninh sinh kế và các nền văn hóa liên quan đến những cộng đồng định cư trong khu vực rừng Rừng là lá phổi xanh của tráiđất, là yếu tố quyết định sự sống còn của hơn bảy tỷ dân trên hành tinh
Những giá trị của rừng đối với cuộc sống là rất to lớn Tuy nhiên, bất chấp tất cả những lợi ích vô giá của rừng về kinh tế, xã hội, sinh thái và sức khỏe, con người vẫn đang tàn phá rất nhiều các khu rừng cần cho cuộc sống và hơi thở của chúng ta
IV Hiện trạng và tình hình khai thác tài nguyên rừng
Trang 121.Hiện trạng.
Về trữ lượng
Ở Việt Nam
Trang 13 Việt Nam là đất nước nhiều đồi núi, diện tích đồi núi chiếm tới ¾ lãnh thổ nên phần lớn diện tích lãnh thổ được che phủ bởi rừng.
Diện tích đất lâm nghiệp nước ta năm 2005 là 14,43 triệu ha chiếm 43,6%diện tích đất tự nhiên
Đất nước Việt Nam trãi dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi tù nhiệt đới ẩm phía nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như: rừng cây lá rộng thường xanh, rừng nủa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đávôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng ngập nước ngọt,
Trang 14 Tuy nhiên trong những năm qua, do tác đông của nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan nên rừng của nước ta đã bị suy giảm nghiêm trọng về cả số lượng lẫn chất lượng.
Sự suy giảm tài nguyên rừng biểu hiện trước hết và rõ nét thông qua việc suy giảm diện tích rừng trước đây phần lớn đất việt nam có rừng che phủ, nhưng chỉ khoảng
1 thế kỉ qua, rừng bị suy thoái nặng nề trong thời kì pháp thuộc, nhiều vùng đất rộng lớn phía nam đã bị khhai phá để trồng cà phê, cao su, chè, và một số cay công nghiệp khác Vào khoảng thế kỉ XX, hầu như các khu rừng thuộc châu thổ sông hồng, một phần lớn châu thổ sông cửu long cùng với các khu rừng trên đất thấp venbiển đã bị khai thác để trồng trọt và xây dựng làng xom Vào lúc này độ che phủ của rừng còn lại 43% diện tích đất tự nhiên Ba mươi năm chiến tranh tiếp theo là giai đoạnmà rừng việt nam bị thu hẹp khá nhanh Hơn 80 triệu chất lít chất diệt cỏ cùng 13 triệu tấn bom đạn vơi hơn 25 triệu hố bom, bom cháy cùng các đội xe ủi đất khổng lồ đã tiêu hủy 2 triệu ha rừng nhiệt đới các loại
Trang 15Sự biến động diện tích rừng việt nam giai đoạn 1943- 2009 (triệu ha)
Từ năm 1945 đến năm 1995 tổng diện tích rừng liên tục giảm xuống( giảm 5 triệu
ha trong vòng 50 năm, trung bình mỗi năm giảm 0.1 triệu ha), trong đó đặc biệt giảm nhanh ở giai đoạn 1976-1985, trung bình mỗi năm mất khoảng 0.14 triệu ha Nguyên nhân làm suy giảm rừng ở giai đoạn này là do dân số tăng nhanh, nạn đốt nương làm rẫy tràn lan, quá trình khai hoang lấy đất trồng các cây công nghiệp như
cà phê, chè, cao su,…và khai thác gỗ xuất khẩu
Từ năm 1990- 1995, do công tác trồng rừng được đẩy mạnh đã phần nào làm cho diện tích rừng được tăng lên, từ 9.3 triệu ha lên 13.2 triệu ha( trung bình mỗi năm tăng 0.21 triệu ha) Tuy nhiên nhìn chung diện tích rừng vẫn chưa thể phục hồi trong tổng diện tích rừng thì rừng tự nhiên có xu hướng giảm đi rõ rệt và đang dần
bị thay thế bởi rừng trồng
Diện tích rừng tự nhiên liên tục giảm từ năm 1945- 1995 đặc biệt giảm nhanh
trong giai đoạn 1976- 1995( giảm từ 11.1 triệu ha xuống còn 8.3 triệu ha tức là giảm 0.11 triêu ha trong vòng 19 năm, trung bình mỗi năm giảm 0.11 triệu ha) đặc biệt nghiêm trọng ở một số vùng như Tây Nguyên mất 440.000 ha, vùng Đông Nam Bộ mất 308.000 ha, vùng Bắc Khu IV cũ mất 243.000 ha, vùng Bắc Bộ mất 242.500 ha Nguyên nhân là do thời kì chiến tranh, dân địa phương chặt gỗ làm nhà
và lấy đất trồng trọt tình trạng đó vẫn còn tiếp diễn cho tới ngày nay
Tuy nhiên từ năm 1995 đến nay diện tích rừng tự nhiên đang có xu hướng tăng trở lại, năm 1995 là 8.3 triệu ha đến năm 2009 là 10.3 triệu ha ( trung bình mỗi năm tăng 0.5 triệu ha) Điều này được lí giải là do sự phát triển của rừng tái sinh và rừngtre nứa mặt dù trong một thời gian ngắn các loaị rừng đó chưa thể thành rừng tự nhiên tốt được Trong 7 kiểu rừng chủ yếu ở Việt Nam thì trừ rừng lá rộng rụng lá
và rừng hỗn giao giữa gỗ và tre nứa tất cả các kiểu rừng còn lại đều giảm diện tích Trong số này, rừng lá rộng thường xanh và rừng nửa bị rụng lá là giảm nhiều nhất
mà tiêu biểu là Đăc Lắc và Gia Lai ở Tây Nguyên Cùng với đó, diện tích rừng tre nứa cũng giảm tương đối nhanh nhất là ở Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Đông Bắc
Trang 16 Diện tích rừng ngập mặn và rừng chua phèn cũng giảm mạnh do phá rừng để nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Trong những năm qua diện tích rừng trồng có xu hướng tăng lên rõ rệt đặc biệt là từ năm 1995 trở lại đây Năm 1995, diện tích rừng trồng nước ta mới có 1 triệu ha thì đến năm 2009 đã tăng lên 2.9 triệu ha, trung bình mỗi năm tăng 0.1 triêu ha Sự gia tăng diện tích gắn liền với các chính sách khuyến lâm đặc biệt là việc giao đất giao rừng cho các
hộ dân Ngoài ra còn có các chương trình trồng rừng được sự hỗ trợ về vốn gắn liềnvới các chính sách khuyến lâm và kĩ thuật nhà nước của các tổ chức quốc tế Tuy nhiên trên thực tế diện tích rừng trồng vẫn chưa bù đắp được số diện tích rừng của nước ta mất đi trong những năm qua, đặc biệt là về chất lượng rừng
Cùng với sự biến động của diện tích rừng, độ che phủ của rừng cũng biến động thất thường qua các năm Từ năm 1945 đến 1995 diện tích rừng liên tục giảm kéo theo sự suy giảm của độ che phủ rừng từ 43% xuống còn 28.2% ( giảm 14.8%) Từ năm 1945 đến nay do diện tích rừng trồng tăng lên nên độ che phủ cũng tăng đạt 39.1% năm 2009 Tuy nhiên vẫn thấp hơn rất nhiều so với độ an toàn sinh thái (45%)
Bình quân diện tích rừng theo đầu người của việt nam giai đoạn 1943-2009 ( đơn
ha/người xuống còn 0.13 ha/người, tức giảm đến 0.5 ha/người
Từ năm 1995 đến nay tuy có tăng lên nhưng không đáng kể Năm 2009 chỉ số này
là 0.15ha/người thấp nhiều so với bình quân trên đầu người của thế giới ( diện tích rừng bình quân trên đầu người của thế giới là 0.93 ha/người)
Trên thế giới
Trang 17Thông tin thu thập và phân tích từ 233 quốc gia và các khu vực ngày 16/9/2011.
Mức độ đánh giá tài nguyên rừng:
Rừng chiếm 31% tổng diện tích đất đến năm 2010 tổng diện tích rừng toàn thế giới đạt hơn 4 tỉ ha, tương đương 0,6 ha/ người 5 quốc gia giàu rừng nhất là Liên Bang Nga, Brazil, Canada, Hoa Kì và Trung Quốc chiếm hơn 50% tổng diện tích rừng 10 quốc gia không có rừng và 54 quốc gia có diện tích rừng dưới 10% tổng diện tích tự nhiên
Tổ chức nông lương liên hiệp quốc ( FAO) hôm 14-11 cho biết tình trạng phá rừngtrên toàn cầu đang giảm dần đi nhưng rừng vẫn đang biến mất ở mức báo động FAO cho biết trong bản đánh giá nguồn tài nguyên rừng toàn cầu mỗi năm thế giớimất đi 7,3 triệu ha rừng, chiếm 0,18% diện tích rừng toàn cầu trong thời gian từ 2000-2005 Tổ chức này cũng cho biết tỉ lệ này giảm so với thời gian từ năm 1990-2000, với 8,9 triệu ha rừng bị biến mất hàng năm Bản đánh giá này cũng
Trang 18Congo, Ấn Độ, Inđonesia, Peru, Nga và Mĩ là những nước hiện có diện tích rừng chiếm 2/3 tổng diện tích rừng trên toàn thế giới.
Rừng nhiệt đới bị phá để chuyển thành đất sản suất nông nghiệp Diện tích rừng
bị phá giảm ở một số quốc gia nhưng lại tăng ở các quốc gia khác, khoảng 13 triệu
ha rừng được chuyển mục đích sử dụng hoặc bị mất do các nguyên nhân tự nhiên trên năm Giảm 3 triệu ha so với giai đoạn 1990 là 16 triệu ha trên năm Giai đoạn
1990, Brazil, Indonesia có tỉ lệ mất rừng cao nhất, đến nay đã giảm đáng kể Từ năm 2000, ở Australia, hạn hán nặng và cháy rừng đã làm trầm trọng thêm sự mất rừng
Diễn biến tài nguyên rừng: Nam Mĩ và Châu Phi lại tiếp tục bị mất diện tích rừng khá lớn Từ 2000-2010, Nam Mĩ mất khoảng 4 triệu ha, Châu Phi mất khoảng 3,4 triệu ha/năm Châu Đại Dương có báo cáo suy giảm diện tích rừng Bắc và Trung
Mỹ không có sự thay đổi nhiều lắm so với giai đoạn năm 2000 Rừng vẫn tiếp tục được trồng Diện tích rừng của Châu Âu tiếp tục mở rộng, mặc dù tỉ lệ che phủ vẫn thấp hơn giai đoạn 1990 Châu Á tăng 2,2 triệu ha/năm Mất rừng ở giai đoạn
1990, nhưng từ năm 2000-2010 đã mở rộng quy mô trồng rừng ở Trung Quốc, Ấn
Độ, Việt Nam Diện tích rừng vẫn tiếp tục bị mất ở Nam và Đông Nam Á
Rừng nguyên sinh chiếm 36% tổng diện tích rừng nhưng đã bị giảm đi 40 triệu ha
từ năm 2000 Rừng nguyên sinh còn lại là các khu rừng nhiệt đới ẩm, phong phú
về các loài sinh vật và đa dạng sinh học cao Trong 10 năm qua tổng diện tích rừngnguyên sinh giảm 0,4%
Diện tích rừng trồng tăng khoảng 7% tổng diện tích rừng, tương đương 264 triệu
ha Từ 2005-2010 diện tích rừng trồng tăng 5 triệu ha/ năm Diện tích rừng được trồng mới chủ yếu ở Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ
Quy mô trồng rừng mở rộng, giảm đáng kể lượng rừng mất đi trên toàn cầu giai đoạn 1990-2000 giảm 8,3 triệu ha/ năm Giai đoạn 2000-2010 giảm 5,2 triệu ha/năm
Trang 19nay là 1-3m3/ha/năm Đối với rừng trồng có thể đạt 5-10 m3/ha/năm ( castren,1999)
- Trong giai đoạn 1990-1995, tuy tổng diện tích rừng có tăng lên nhưng chất lượng rừng thì giảm đi đáng kể Diện tích rừng giàu (>150m3 gỗ/ha) và trung bình (80-150 m3/ha) giảm từ 2458,7 nghìn ha xuống còn 2165,3 nghìn ha, trong khi rừng nghèo (< 80 m3/ha)
và rừng phục hồi tăng từ 4389.8 nghìn ha lên 4621.7 nghìn ha cũng trong thời gian trên
- Chất lượng, trữ lượng và giá trị đa dạng sinh học được duy trì, bảo tồn tốt hơn ở những khu rừng đặc dụng đã được thành lập và có ban quản lý Tuy nhiên, tình trạng phổ biến là rừng tự nhiên vẫn bị suy giảm về chất lượng, những khu rừng nguyên sinh, rừng giàu chủ yếu chỉ còn ở những khu rừng đặc dụng và phòng hộ thuộc vùng sâu, vùng xa
- Rừng tự nhiên thuộc quy hoạch rừng sản xuất hiện có 3.105.647ha, trong đó rừng giàu
và trung bình chỉ còn 652.645 ha chiếm 21%, rừng nghèo và rừng non 2.453.002ha chiếm 79% đa số là rừng tự nhiên tái sinh và rừng phục hồi sau khai thác, sau canh tác nương rẫy
-Rừng trồng tăng nhanh cả về diện tích và trữ lượng trong những năm qua, góp phần nâng cao độ che phủ rừng trong cả nước Tuy nhiên, chất lượng rừng trồng còn thấp, cấu trúc thiếu ổn định, giá trị về đa dạng sinh học, khả năng cung cấp gỗ, tác dụng phòng hộ và bảo
vệ môi trường chưa cao Chất lượng rừng chưa được cải thiện, vẫn tiếp tục bị suy giảm, rừng tự nhiên đầu nguồn và rừng ngập mặn vẫn còn bị tàn phá nghiêm trọng
- Rừng giầu, rừng kín, rừng nguyên sinh chỉ còn chiếm khoảng 13% trong khi rừng nghèo
và rừng tái sinh chiếm tới 55% tổng diện tích rừng
- Ngoài tài nguyên gỗ, rừng việt nam cũng rất giàu có về các loài tre nứa ( khoảng 40loài có ý nghĩa thương mại và khoảng 400 loài, hang năm khai thác khoảng 50.000 tấn
Trang 20- Trong rừng việt nam cũng phang phú về các loài dược liệu, hiện đã biết được
38000 loài ( viện dược liệu,2002), trong đó có nhiều loài đã được biết và khai thác phục vụ cho chế biến thuốc nhiều loài cây cho chất thơm, tannin, tinh dầu và chất béo Ngoài ra rừng còn cung cấp nhiều loại sản phẩm quý khác như cánh kiến, nấm, mật ong, hoa lan, thịt thú rừng
- Hiện nay có nhiều loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ như: cẩm lai ( dalbergia bariaensis), trầm hương ( aquilaria crassna), san bông ( amentotaya argotenia), thông tre ( podocarpus neriifolius), gỗ đỏ (afzelia
xylocarpa), trắc,…
- Các loài động vật quý hiếm như : báo gấm (neophelis nebulosa), vooc5 quần đùi trắng( trachipythecus francoisi delaconri), gà lôi hồng tím ( rheinartia ocellata), chồn bạc má( me gogale personnata geeoffrory), cu li lớn (nycticebus coucang boddaert),, bò tót ( bos gaurus), ca tong( cervuseld), hổ (panther tiges)…
Trang 22 Trong phạm vi cả nước thì Tây Nguyên là vùng có diện tích rừng bị chặt phá lớn nhất cả nước, năm 1995 là 10134 ha đến năm 2009 có giảm mạnh nhưng vẫn bị mất tới 714.8 ha và trung bình mỗi năm diện tích rừng bị chặt phá của vùng là 672.8 ha
Diện tích rừng bị chặt phá của vùng lớn nhất trong cả nước là do tập quán đốt nương làm rẫy của các dân tộc thiểu số, mặt khác do chính sách phá rừng để lấy đấttrồng các cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày như: cao cu, hồ tiêu, cà phê…( đây là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất trong cả nước)
Đồng Bằng Sông Hồng là vùng có diện tích rừng bị chặt phá thấp nhất cả nước (năm 2009 diện tích bị chặt phá là 8.5 ha) do diện tích rừng ở khu vực này ít và chính sách bảo vệ rừng được thực hiện nghiêm ngặt hơn
Đồng Bằng Sông Cửu Long thời gian đầu tức năm 1995 diện tích rừng bị chặt phá lớn 2595 ha chủ yếu là do phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản, giai đoạn sau diện tích rừng bị chặt phá đã giảm đáng kể chỉ còn 18 ha năm 2009
Từ 7000 năm trước việc chặt phá rừng cho việc phát triển nông nghiệp được xác định ở Trung và Nam Phi, còn ở Ấn Độ được xác định vào khoảng 9000 năm trước.tuy nhiên vào những năm trước việc chặt phá rừng làm nương rẫy theo quy mô nhỏ nên không tác động xấu đến môi trường
Ở những vùng nhiệt đới việc chặt phá rừng xuất hiện vào những năm cuối thế kỉ XIX do mở rộng diện tích rồng cây nông nghiệp và công nghiệp
Trang 23đất trồng cây công nghiệp xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu gia thông, khai thác mỏ, xây
dựng đô thị
Hậu quả cuộc chiến tranh hóa học của Mỹ để lại một tổn thất không nhỏ, đã làm
mất đi ¼ diện tích rừng nguyên sinh việt nam
Rừng bị tàn phá, bị khai thác quá mức đã trở thành nghèo kiệt, các hệ sinh thái
rừng bị phá hủy Nhiều loại thực vật rừng quý đang bị chặt hạ, thu hái không có kế
hoạch nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng
Bên cạnh việc chặt phá rừng thì cháy rừng cũng là nguyên nhân quan trọng khiến
diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng trong những năm qua Diện tích rừng bị
cháy của nước ta diễn biến thất thường qua các năm phụ thuộc vào điều kiện thời