Do các khác biệt như vậy nên con người không thể sử nước biển thay thế trong đời sống hằng ngày, tuy nhiên nguồn nước biển cũng đóng vai trò quan trọng trong vòng tuần hoàn nước và là mô
Trang 1BÀI BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Ô NHIỄM NƯỚC VÀ GIẢI
PHÁP KHẮC PHỤC
GVHD : Lê Quốc Tuấn
Thực hiện :
1. Nguyễn Thị Hải Phượng
2. Nguyễn Xuân Bình Minh
3. Trần Thị Ngọc
4. Tạ Thị Thu
5. Lê Thị Yến Xuyến
6. Nguyễn Thùy Vân
7. Bùi Thị Lụa
Tháng 4- 2014
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 2Nước là nguồn tài nguyên quý báu và hết sức thiết yếu đối với
sự sống trên trái đất Thực tiễn chỉ ra rằng quốc gia nào quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, trong đó có việc khai thác, sử dụng hợp lí nguồn nước, thường xuyên bảo đảm cho nguồn nước sạch, thì hạn chế được nhiều dịch bệnh,chất lượng cuộc sống được nâng lên Bởi vậy, ở nước ta, một mặt khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất, xây dựng, nhưng mặt khác cần coi trọng việc đảm bảo nguồn nước sạch.
Vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung là ô nhiễm nước nói riêng luôn là vấn đề nhức nhối không chỉ là của mỗi quốc gia mà còn là của toàn thế giới,việc khan hiếm nguồn nước sạch đã và đang gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng đến môi trường, hệ sinh thái, các loài sinh vật, trong đó có con người , tiềm ẩn Do vậy đề tài “ô nhiễm nguồn nước và phương pháp khắc phục” với mục tiêu là giới thiệu sơ lược
về hiện trạng ô nhiễm nước hiện nay và ảnh hưởng của nó Từ đó đề
ra biện pháp giải quyết, kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này, cũng chính là bảo vệ cuộc sống của chính bản thân và thế hệ tương lai.
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4I. TÀI NGUYÊN N ƯỚ C VÀ VAI TRÒ :
I.1. TÀI NGUYÊN N ƯỚ C :
Là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mụcđích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, côngnghiệp,dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đềucần nước ngọt
97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gầnhơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ởcác cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nướcngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí
Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3, tập trungtrong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), còn lại trong khí quyển và thạch quyển.94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực,0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ Lượng nước trong khí quyểnkhoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% tổnglượng nước trên trái đất Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát từ nướcmưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km3/năm Lượng nước con người sử dụngtrong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho côngnghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp)
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt vàsạch trên thế giới đang từng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở mộtvài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm chonhu cầu nước càng tăng Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệnguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây Trong suốtthế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đất ngập nước trên thế giới đã bị biến mấtcùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng Các hệ sinh thái nướcngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm nhanh hơn các hệ sinhthái biển và đất liền
1. Các ngu n n ồ ướ c ng t: ọ
Nước mặt:
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngậpnước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúngmất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất Nước mặt tựnhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ các nguồn nước
Trang 5mặt khác bởi các kênh hoặc đường ống dẫn nước Cũng có thể bổ cấpnhân tạo từ các nguồn khác được liêt kê ở đây, tuy nhiên, số lượng không
đáng kể Con người có thể làm cho nguồn nước cạn kiệt (với nghĩa không
Nước ngầm :
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trongcác lỗ rỗng của đất hoặc đá Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầngngậm nước bên dưới mực nước ngầm Đôi khi người ta còn phân biệtnước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi
Nước ngầm có tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm so với nướcmặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi so sánh
về lượng nước đầu vào Sự khác biệt này làm cho con người sử dụng nómột cách vô tội vạ trong một thời gian dài mà không cần dự trữ Đó làquan niệm sai lầm, khi mà nguồn nước khai thác vượt quá lượng bổ cấp
sẽ làm cạn kiệt tầng chứa nước và không thể phục hồi
Nguồn nước ngầm có khả năng bị nhiễm mặn cách tự nhiên hoặc do tácđộng của con người khi khai thác quá mức các tầng chứa nước gần biênmặn/ngọt Ở các vùng ven biển, con người sử dụng nguồn nước ngầm cóthể làm cho nước thấm vào đại dương từ nước dự trữ gây ra hiệntượng muối hóa đất.Con người cũng có thể làm cạn kiệt nguồn nước bởicác hoạt động làm ô nhiễm nó
2. Các ngu n n ồ ướ c bi n và đ i d ể ạ ươ ng
Nước biển và đại dương chiếm 97% nước trên Trái Đất Nước biển giàu các ion hơn so với nước ngọt Tuy nhiên, tỷ lệ các chất hòa tan khác nhau rất lớn Chẳng hạn, mặc dầu nước biển khoảng 2,8 lần nhiều các
bicacbonat hơn so với nước sông dựa trên nồng độ phân tử gam, nhưng tỷ
lệ phần trăm của bicacbonat trong nước biển trên tỷ lệ toàn bộ các ion lại
Trang 6thấp hơn so với tỷ lệ phần trăm tương ứng của nước sông do các ion bicacbonat chiếm tới 48% các ion có trong nước sông trong khi chỉ chiếmkhoảng 0,41% các ion của nước biển Do các khác biệt như vậy nên con người không thể sử nước biển thay thế trong đời sống hằng ngày, tuy nhiên nguồn nước biển cũng đóng vai trò quan trọng trong vòng tuần hoàn nước và là môi trường sinh sống của nhiều sinh vật làm phong phú
hệ sinh thái vì vậy ô nhiễm nguồn nước biển cũng là mối quan tâm của toàn cầu
I.2. VAI TRÒ C A N Ủ ƯỚ C :
Nước là tài nguyên hết sức quan trọng đối với sự sống của con người và thiênnhiên, tham gia thường xuyên vào các quá trình sinh hóa trong cơ thể sống.Phần lớn của các phản ứng hóa học liên quan đến sự trao đổi chất trong cơ thểđều có dung môi là nước Nhờ có tính chất này mà nước đã trở thành tác nhânmang sự sống đến cho trái đất
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang nănglượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu,thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên Có thể nói sự sống củacon người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước
1. Đ i v i s c kh e con ng ố ớ ứ ỏ ườ i
1.1.1. Trong c th : ơ ể
Đối với cơ thể sống, thì thiếu nước là một hiểm họa, thiếu ăn con người có thểsống được vài tuần, còn thiếu nước thì con người không thể sống nổi trong vàingày Nhu cầu sinh lý của con người 1 ngày cần ít nhất 1,83 lít nước vào cơ thể
và có thể nhiều hơn tùy theo cường độ lao động và tính chất của môi trườngxung quanh Mỗi ngày cơ thể mất đi khoảng 1,5 lít nước qua đại tiểu tiện, đổ
mồ hôi, hơi thở Khi làm việc, vận động cơ thể sẽ mất thêm nước Vì vậy, để giữlượng nước của cơ thể bình thường, cần phải uống nước để thay thế phần mất
đi Nhu cầu nước của mỗi người thay đổi tùy theo tuổi tác, nhiệt độ cơ thể, cânnặng, mức độ vận động, làm việc, thời tiết
Nước giữ nhiều vai trò rất quan trọng trong cơ thể, dưới đây là vài thống kê:
- Duy trì nhiệt độ trung bình của cơ thể, như nước trong bộ tản nhiệt của xe ô tô,máy bay
Trang 7- Chuyên chở chất dinh dưỡng và ôxy nuôi tất cả tế bào.
- Giúp chuyển hóa thực phẩm ra năng lượng, cần thiết cho các chức năng cơ thể
- Giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng
- Loại bỏ các chất thải của cơ thể qua hệ tiết niệu, da, ruột, hơi thở
- Bao che các cơ quan sinh tử trong cơ thể, tránh tổn thương do sự cọ xát, vachạm
- Bảo vệ các khớp xương, tránh viêm sưng, đau nhức vì nước là chất nhờn làmcho khớp cử động trơn tru
- Làm ẩm không khí để sự hô hấp dễ dàng, tránh dị ứng, ho khan
- Phòng chống sự đóng cục máu ở các động mạch của tim, não, giảm nguy cơtai biến tim và não
- Cần thiết cho sự sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh, các hormon cần thiếtcho các chức năng và các phản ứng sinh hóa của cơ thể
- Là thành phần cấu tạo của các bộ phận quan trọng: não chứa 85% nước, xương22%, cơ bắp 75%, máu 92%, dịch bao tử 95%, răng 10%
Trang 8Trong việc bảo vệ sức khỏe : Uống thật nhiều nước để tăng quá trình phân giải,
khả năng trao đổi chất và đào thải chất độc có thể chữa được một số bệnh Tắmnước khoáng nóng ở các suối nước nóng tự nhiên để chữa các bệnh thấp khớp,bệnh ngoài da, bệnh tim mạch, bệnh thần kinh…
1.1.2. Đ i v i phát tri n kinh t : ố ớ ể ế
a. Trong vi c s n xu t : ệ ả ấ
Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn Nước dùng để làm nguội cácđộng cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phảnứng hóa học Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệyêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau Nước góp phần làm động lựcthúc đẩy sự phát triển kinh tế Nếu không có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệthống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạtđộng và không tồn tại
• Công nghiệp :Trong sản xuất công nghiệp nước đóng vai trò rất quantrọng, người ta ước tình rằng 15% sử dụng nước trên toàn thế giới côngnghiệp như : các nhà máy điện, sử dụng nước để làm mát hoặc như mộtnguồn năng lượng, quặng và nhà máy lọc dầu, sử dụng nước trong quátrình hóa học, và các nhà máy sản xuất sử dụng nước như một dung môi
• Nông nghiệp- Lâm nghiệp : Đối với cây trồng nước là nhu cầu thiết yếu,đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinhdưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất…
• Ngư nghiệp : Nước là môi trường sống của các loài thủy hải sản, không
có nước thì không có nuôi trồng thủy hải sản
b. Trong du l ch : ị
Hoạt động du lịch cũng gắn liền với nguồn nước Nước không những được dùng
để cung cấp cho sinh hoạt du lịch ăn, uống, tắm, giặt… mà còn là môi trường tốt
để phát triển các loại hình du lịch
II. Ô NHI M N Ễ ƯỚ C
Ô nhiễm nước là sự suy thoái chất lượng nước được đo bởi các tiêu chuẩn sinhhọc, hóa học và vật lí Sự suy giảm này được đánh giá dựa theo việc sử dụng
Trang 9nước, không đúng tiêu chuẩn, và sức khỏe cộng đồng hay tác động sinh thái Từsức khỏe cộng đồng hay quan điểm sinh thái, chất ô nhiễm là những chất vượtquá giới hạn cho phép mà gây hại đến các đời sống của sinh vật Như vậy, lượng
dư của kim loại nặng, chất đồng vi phóng xạ, photpho, nitơ, natri, và nhữngnguyên tố cần thiết khác, cũng như vi rút, vi khuẩn gây bệnh, tất cả đều là chấtgây ô nhiễm
I.1. TH C TR NG Ô NHI M N Ự Ạ Ễ ƯỚ C HI N NAY Ệ
1. Ô nhi m n ễ ướ c trên th gi i ế ớ
Ô nhiễm nước đang là vấn đề đáng báo động trên thế giới hiện nay Đặc biệt là các nước có nền công nghiệp phát triển, cùng với sự phát triển thì các khu công nghiệp, nhà máy đã thải ra môi trường hàng loạt các lượng chất thải độc hại làm cho nguồn nước bị ô nhiễm
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độđáng lo ngại Tiến độô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộphát triển kỹnghệ Để chứng minh hiện trạng ô nhiễm nước trầm trọng trên thếgiới ta có thể kể ra vài ví dụ tiêu biểu về nạn ô nhiễm:
o Anh Quốc vào : Ðầu thế kỷ19, sông Tamise rất sạch Và nó
trởthành ống cống lộthiên vào giữa thế kỷ này Các sông khác cũng
có tình trạng tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo
vệ nghiêm ngặt
o Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn đềcũng không khác bao nhiêu Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thếkỷ18 Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bịô nhiễm mãn tính Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạnnhân của nhiều tai nạn (nhưcháy nhà máy thuốc Sandoz ởBâle năm1986) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên
o ỞHoa Kỳtình trạng thảm thương ởbờphía đông cũng nhưnhiều vùng khác.Vùng Ðại hồbịô nhiễm nặng, trong đó hồErie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng
o Trung Quốc: hiện naynguồn nước ngầm tại 90% thành phố của Trung Quốc đang bị ô nhiễm, theo thông báo của hãng tin Tân Hoa
Xã dẫn nguồn từ Ủy ban bảo vệ môi trường Trung Quốc
Trang 10Theo các số liệu thống kê, mỗi năm ở Trung Quốc xảy ra khoảng 1.700 tai nạn ônhiễm và 40% sông ngòi ở nước này bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Một con sông bị ô nhiễm ở Trung Quốc
2. Tình tr ng ô nhi m n ạ ễ ướ ở ệ c Vi t Nam hi n nay ệ
Môi trường là vấn đề càng ngày càng được quan tâm nhiều hơn ở Việt Nam khi cuộc sống rõ ràng bị tác động bởi ô nhiễm môi sinh do con người gây ra
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việcthực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại.Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá
Trang 11nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước bị ô nhiễm nghiêm trọng.
2.1. Ô nhi m n ễ ướ ở c các khu v c s n xu t ự ả ấ
a. Trong khu v c s n xu t công nghi p ự ả ấ ệ
Trong công nghiệp hiện nay song song với sự phát triển là vấn đề ô nhiễm môi trường nước càng nghiêm trọng do chất thải xuất công nghiệp Ô nhiễm nước dosản xuất công nghiệp là rất nặng
Ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn
Riêng tại khu vực Ðông Nam Bộ, lượng nước thải từ các KCN, chiếm đến 49% lượng nước thải của các KCN trong toàn quốc Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các KCN có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp Trong khi đó, theo ước tính có khoảng 70% trong tổng số hơn một triệu mét khối nước thải ngày, đêm phát sinh từ các KCN được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý
Trang 12Các nhà máy đưa chất thải trực tiếp ra sông làm ô nhiễm nước
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước
bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu
cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu
Trang 13Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm
ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý,gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực
Thống kê cho thấy, năm 2011 mỗi ngày các KCN nước ta thải ra khoảngtám nghìn chất thải rắn (CTR), tương đương khoảng ba triệu tấn một năm Tuynhiên, lượng CTR đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN,nếu như tính trung bình cả nước, năm 2005-2006, một ha diện tích đất cho thuêphát sinh CTR khoảng 134 tấn/năm, thì đến năm 2008-2009, con số này đã tănglên 204 tấn/năm (tăng 50%)
Sự gia tăng phát thải trên đơn vị diện tích đã phản ánh sự thay đổi trong
cơ cấu sản xuất công nghiệp, xuất hiện các nghành có mức phát thải cao và quy
mô ngày lớn tại các khu công nghiệp và dự báo tổng phát thải CTR từ các KCNnăm 2015 sẽ vào khoảng 6 đến 7,5 triệu tấn/năm và đến năm 2020 đạt từ 9 đến13,5 tấn/năm
b. Trong s n xu t nông nghi p ả ấ ệ
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông
nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân
Trang 14c. Ô nhi m n ễ ướ c trong sinh ho t c a ng ạ ủ ườ i dân
Ô nhiễm nguồn nước - thực trạng đáng báo động : Sự bùng nổ dân
số cùng với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng đã tạo ra sức
ép lớn tới môi trường sống ở Việt Nam Đặc biệt, nguồn nước sinh hoạt ngày càng trở nên thiếu hụt và ô nhiễm
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có
hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớncác bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ
Trang 15ở các thành phố lớn là rất nặng Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện
có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ
sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử
lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP
d. Ô nhi m n ễ ướ ở c các con sông và vùng bi n ể
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2012 về môi trường nước mặt,vùng Đông Nam bộ là vùng phát sinh lượng nước thải công nghiệp lớn nhấttrong 6 vùng kinh tế của cả nước (chiếm 50%) Báo cáo của Bộ Tài nguyên vàMôi trường về môi trường khu công nghiệp Việt Nam năm 2009 cũng cho thấy,tổng lượng nước thải phát sinh từ các khu công nghiệp của TP Hồ Chí Minh57.700m3/ngày); Bà Rịa - Vũng Tàu 93.550m3/ngày; Bình Dương45.900m3/ngày)
Tại các địa phương này các chỉ số ô nhiễm trong nước thải từ các KCN(TSS, BOD5, COD, tổng N, tổng P) đều ở mức cao Cụ thể TP.Hồ Chí MinhTSS là 12.694kg/ngày, BOD5 là 7.905 kg/ngày, COD 18.406kg/ngày; BìnhDương các chỉ số này lần lượt là 10.908 kg/ngày, 6.288kg/ngày, 14.642kg/ngày.Riêng tỉnh Đồng Nai, với hệ thống sông Đồng Nai là nơi có vai trò đặc biệtquan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểmvùng Đông Nam bộ, hiện tổng lượng nước thải phát sinh từ các khu công nghiệptrên địa bàn khoảng 179.066m3/ngày Trong đó các chỉ số ô nhiễm trong nướcthải từ các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện ở mức cao nhất trong vùng(TSS 39.395 kg/ngày, BOD5 24.532 kg/ngày, COD 57.122 kg/ngày)
Tính trên toàn bộ lưu vực sông Đồng Nai có 114 khu công nghiệp (với57.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp), tuy nhiên mới chỉ có
79 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải, còn lại các khu công nghiệpđều xả nước thải trực tiếp ra sông Đồng Nai Hiện tình trạng ô nhiễm nguồnnước sông Đồng Nai đang ở mức báo động, trung bình mỗi tháng có gần 30 tấnchất thải gây ô nhiễm như dầu mỡ, chất thải hữu cơ, kim loại nặng đổ ra sông
Trang 16này Bên cạnh những nguồn nước thải từ khu công nghiệp, nước thải sinh hoạt
từ các khu đô thị cũng đang đe dọa trực tiếp cuộc sống của người dân nơi đây
Đông Nam bộ là nơi có tốc độ đô thị hóa lớn nhất cả nước, mật độ dân sốtăng cao nên lượng nước thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao trong số các nguồn thải.Trong số các nguồn tiếp nhận nước thải đô thị, sông Sài Gòn tiếp nhận nước thảisinh hoạt nhiều nhất, chiếm 76,21% tổng lượng nước thải Chất lượng nướcsông Sài Gòn khu vực hạ lưu bị ô nhiễm nặng, đặc biệt khu vực cầu Sài Gònđến cầu chữ Y Các chỉ tiêu BOD5, COD… đều không đạt QCVN 08:2008 loạiA2, tại một số điểm vượt B1 Đây là một trong những nguồn thải cơ bản nhấtgây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ, ônhiễm do dầu mỡ, hoạt động của vi trùng gây bệnh
Các con sông có nguồn nước bị ô nhiễm
Trang 17Nước thải xả ra bãi biển có màu đục ngầu, rác chất thành đống bốc mùi nồng nặc Tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải, chất thải từ tàu thuyền
ra vào neo đậu, các khu dân cư, nhà máy, nhà hàng, khu du lịch xả ra hệ thống các bãi biển khiến hàng trăm ngàn người ở các vùng ven biển ngán ngẫm khi phải trong trong môi trường nước bị ô nhiễm
Môi trường ven biển ở Quảng Ngãi đang bị ô nhiễm nặng
Sự ô nhiễm trước tiên phải kể đến là ô nhiễm dầu Hàm lượng dầu trong nước ở vùng biển ven bờ tăng cao, nhất là ở khu vực cửa sông, gần khu vực cảng, bến đỗ tàu thuyền Hệ số ô nhiễm dầu trong trầm tích tăng từ 0,7 (năm 2001) lên 2,4 (năm 2008)
Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam
Trang 18Sự cố tràn dầu gây ô nhiễm nguồn nước biển
Ô nhiễm môi trường nước biển nghiêm trọng Cá chết dạt trắng bãi biển.
I.2. PHÂN LO I N Ạ ƯỚ C B Ô NHI M: Ị Ễ
1. Ô nhi m sinh h c: ễ ọ
Ô nhiễm nước sinh học do các nguồn thải đô thị hay kỹ nghệ có các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường, giấy, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện,… Để đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng chỉ số coliform Đây là chỉ số phản ánh
Trang 19số lượng nước trong vi khuẩn coliform, thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng biểu hiện sự ô nhiễm nước bởi các tác nhân sinh học Để xác định chỉ số coliform người ta nuôi cấy mẫu trong các dung dịch đặc biệt và đếm
số lượng chúng trong một thời gian nhất định Ô nhiễm nước được xác định theo các giá trị tiêu chuẩn môi trường
Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do sự thải các chất hữu cơ có thể lên men được: sự thải sinh hoạt hoặc kỹ nghệ có chứa chất cặn bã sinh hoạt, phân tiêu,…
Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng, đặtthành vấn đề lớn cho vệ sinh công cộng chủ yếu các nước đang phát triển Các bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều quốc gia chưa kể đến các trận dịch tả Các sự nhiễm bệnh được tăng cường do ô nhiễm sinh học nguồn nước Thí dụ thương hàn, viêm ruột siêu khuẩn Các nước thải
từ lò sát sinh chứa một lượng lớn mầm bệnh Thí dụ lò sát sinh La Villette, Paristhải ra 350 tiệu mầm hiếu khí và 20 tiệu mầm yếm khí trong 1cm3 nước thải, trong đó cónhiều loài gây bệnh
Các nhà máy giấy thải ra nước có chứa nhiều glucid dễ dậy men Một nhàmáy trung bình làm nhiễm bẩn nước tương đương với một thành phố 500000 dân
Các nhà máy chế biến thực phẩm, sản xuất đồ hộp, thuộc do, lò mổ, đều
có nước thải chứa protein Khi được thải ra dòng chảy, protein nhanh chóng bị phân hủy cho ra acid amin, acid béo, acid thơm, H2S, nhiều chất chứa S và P, có tính độc và mùi khó chịu Mùi hôi của phân và nước cống chủ yếu là do indol
và dẫn xuất chứa methyl của nó là skatol
Ô nhiễm hữu cơ được đánh giá bằng BOD5: nhu cầu O2 sinh học trong 5 ngày Ðó là hàm lượng O2 cần thiết để vi sinh vật phân hủy hết các chất hữu cơ trong 1 lít nước ô nhiễm Thí dụ ở Paris BOD5 là 70g/người/ngày
Tiêu chuẩn nước uống của Pháp là lượng hữu cơ có BOD5 dưới 5mg/l, nồng độ O2 hoà tan là hơn 4mg/l, chứa dưới 50 mầm coliforme/cm3 và không cóchất nào độc cả Tiêu chuẩn của các quốc gia khác cũng tương tự
2. Ô nhi m hóa h c do ch t vô c : ễ ọ ấ ơ
Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và cácchất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Cr, Ni, Cd, Mn, Cu, Hg
là những chất độc cho thủy sinh vật
Sự ô nhiễm do các chất khoáng là do sự thải vào nước các chất như nitrat,phosphat và các chất khác dùng trong nông nghiệp và các chất thải từ các ngànhcông nghiệp
Trang 20Nhiễm độc chì (Saturnisne) : Ðó là chì được sử dụng làm chất phụ gia trong xăng và các chất kim loại khác như đồng, kẽm, chrom, nickel, cadnium rấtđộc đối với sinh vật thủy sinh.
Thủy ngân dưới dạng hợp chất rất độc đối với sinh vật và người Tai nạn
ở vịnh Minamata ở Nhật Bản là một thí dụ đáng buồn, đã gây tử vong cho hàng trăm người và gây nhiễm độc nặng hàng ngàn người khác Nguyên nhân ở đây
là người dân ăn cá và các động vật biển khác đã bị nhiễm thuỷ ngân do nhà máy
ở đó thải ra
Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hóa học cũng đáng lo ngại Khi phân bón được sử dụng một cách hợp lý thì làm tăng năng suất cây trồng và chất lượng của sản phẩm cũng được cải thiện rõ rệt Nhưng các cây trồng chỉ sử dụng được khoảng 30 - 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các dòng nước mặt hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hoá sông hồ, gây yếm khí ở các lớp nước ở dưới
Các loại phân bón vô cơ:
Thành phần chủ yếu là C, H, O2 và N, P, K dưới dạng hợp chất vô cơ vàhữu cơ cùng với yếu tố vi sinh vật Một phần khá lớn các phân bón trôi theonước, bốc hơi, chuyển hóa hoặc thấm xuống đất và tồn lưu trong đất Sử dụngquá thừa phân bón vô cơ sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng (eutrophysation) trongnước bề mặt, tạo điều kiện phát triển các loại rong, rêu , tảo v.v… làm mất cânbằng sinh thái do thiếu DO và tăng cao BOD
• Các khoáng acid:
- Nước thải từ sản xuất công nghiệp, trôi theo dòng nước thải vào nước làmgia tăng độ acid, giảm độ pH của nước
Trang 21- Các chất lắng: mưa lũ, xói mòn đất, trôi theo nước rồi lắng lại có thể làm tăng vài trăm lần mức ô nhiễm thông thường của nước sinh hoạt.
- Các kim loại hàm lượng "vết": Có một số kim loại (như Hg, Arsen,
Thalium …) với hàm lượng rất nhỏ cũng gây độc hại cho sự sống của sinh vật được thải vào nước chủ yếu từ các nguồn sản xuất và giao thông
• Chất phóng xạ:
Một số dạng phóng xạ tự nhiên được tìm thấy phổ biến là Radi và K40 từkhoáng chất lọt qua thấm lọc vào nguồn nước sinh hoạt Một số chấtphóng xạ lọt ra từ các nhà máy điện nguyên tử, sản xuất vũ khí hạt nhân
3. Ô nhi m do ch t h u c t ng h p: ễ ấ ữ ơ ổ ợ
Ô nhiễm này chủ yếu do hydrocarbon, nông dược, chất tẩy rửa
Trang 223.1. Hydrocarbons (C x H y )
- Hydrocarbons là các hợp chất của các nguyên tố của cacbon và
hydrogen Vài CxHy có trọng lượng phân tử nhỏ (methan, ethan và
ethylen) ở dạng khí trong nhiệt độ và áp suất bình thường Tuy nhiên , đại
đa số CxHy là lỏng và rắn Chúng ít tan trong nước nhưng tan nhiều trongdầu và các dung môi hữu cơ (Walker et al., 1996) Chúng là một trong những nguồn ô nhiễm của nền văn minh hiện đại Vấn đề hết sức nghiêm trọng ở những vùng nước lợ và thềm lục địa có nhiều cá Ðôi khi cá bắt được không thể ăn được vì có mùi dầu lửa
- Sự ô nhiễm bởi các hydrocarbon là do các hiện tượng khai thác mỏ dầu, vận chuyển ở biển và các chất thải bị nhiễm xăng dầu Ưïớc tính khoảng
1 tỷ tấn dầu được chở bằng đường biển mỗi năm Một phần của khối lượng này, khoảng 0,1 - 0,3% được ném ra biển một cách tương đối hợp pháp: đó là sự rửa các tàu dầu bằng nước biển Các tai nạn đắm tàu
chở dầu là tương đối thường xuyên Ðã có 129 tai nạn tàu dầu từ 1973 -
1975, làm ô nhiễm biển bởi 340.000 tấn dầu (Ramade, 1989)
Con đường vận chuyển dầu mỏ
- Ước tính có khoảng 3.6 triệu tấn dầu thô thải ra biển hàng năm
(Baker,1983) Một tấn dầu loang rộng 12 km2 trên mặt biển, do đó biển luôn luôn có một lớp mỏng dầu trên mặt (Furon,1962)
- Các vực nước ở đất liền cũng bị nhiễm bẩn bởi hydrocarbon Sự thải của các nhà máy lọc dầu, hay sự thải dầu nhớt xe tàu, hoặc là do vô ý làm rơi vãi xăng dầu Tốc độ thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước, sẽ làm các lớp nước ngầm bị nhiễm Khoảng 1,6 triệu tấn hydrocarbon do các con sông của các quốc gia kỹ nghệ hóa thải ra vùng bờ biển
Trang 23Nước xà phòng của công ty bột giặt Net tràn vào nhà dân
- Xà bông là tên gọi chung của muối kim loại với acid béo Ngoài các xà bông Natri và Kali tan được trong nước, thường dùng trong sinh hoạt, còncác xà bông không tan thì chứa calci, sắt, nhôm sử dụng trong kỹ thuật (các chất bôi trơn, sơn, verni)
3.3. Nông d ượ c (Pesticides)
- Các nông dược hiện đại đa số là các chất hữu cơ tổng hợp Thuật ngữ pesticides là do từ tiếng Anh pest là loài gây hại, nên pesticides còn gọi làchất diệt dịch hay chất diệt hoạ
- Người ta phân biệt:
+Thuốc sát trùng (insecticides)
+Thuốc diệt nấm (fongicides)
+Thuốc diệt cỏ (herbicides)
+Thuốc diệt chuột (diệt gậm nhấm = rodenticides)
+Thuốc diệt tuyến trùng (nematocides)
- Chúng tạo thành một nguồn ô nhiễm quan trọng cho các vực
nước Nguyên nhân gây ô nhiễm là do các nhà máy thải các chất cặn bã rasông hoặc sử dụng các nông dược trong nông nghiệp, làm ô nhiễm nước mặt, nước ngầm và các vùng cửa sông, bồ biển
Trang 24Thuốc bảo vệ thực vật vứt bừa bãi sau khi sử dụng
- Nước dùng của dân thành phố Arles (miền nam nước Pháp) có mùi khó chịu không sử dụng được, vào năm 1948 Nguyên nhân là do một nhà máy sản xuất thuốc diệt cỏ 2,4-D cách đó hàng trăm km thải chất cặn bã
kỹ nghệ ra sông làm ô nhiễm nguồn nước
- Ô nhiễm của vùng bờ biển Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, ở vịnh
Californie, bởi hãng Montrose Chemicals do sự sản xuất nông
dược Hãng này sản xuất từ đầu năm 1970, 2/3 số lượng DDT toàn cầu làm ô nhiễm một diện tích 10.000 km2 (Mc Gregor, 1976), làm cho một
số cá không thể ăn được tuy đã nhiều năm trôi qua
- Sử dụng nông dược mang lại nhiều hiệu quả trong nông nghiệp, nhưng hậu quả cho môi trường và sinh vật cũng rất đáng kể
4. Ô nhi m v t lý: ễ ậ
- Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lững, tức làm tăng độ đục của nước Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn Sự phát triển của vi khuẩn và các vi sinhvật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng
- Nhiều chất thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu
cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ
Trang 25Nước thải công nghiệp
- Ngoài ra các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hoá học như muối sắt, mangan, clor tự do, hydro sulfur, phenol làm cho nước có vị không bình thường Các chất amoniac, sulfur, cyanur, dầu làm nước có mùi lạ Thanh tảo làm nước có mùi bùn, một số sinh vật đơn bào làm nước có mùi tanh của cá
I.3. NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHI M Ễ
1. Ô nhi m t nhiên ễ ự
- Ô nhiễm tự nhiên là do quá trình phát triển và chết đi của các loài thực vật, động vật có trong nguồn nước, hoặc là do nước mưa rửa trôi các chất gây ô nhiễm từ trên mặt đất chảy vào nguồn nước
- Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau Bên cạnhcác sinh vật có ích thì có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật khác Trong số này, đáng chú ý là các loài vi khuẩn,siêu vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh như các loài ký sinh trùng gây bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật Bản, giun đỏ, trứng giun…
- Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải bệnh viện… Để đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm sinh học thì người ta sử dụng chỉ sốColifom Đây là chỉ số phản ánh số lượng vi khuẩn Colifom có trong nước, thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng để biểu hiện
sự ô nhiễm nước bởi tác nhân sinh học Để xác định chỉ số Colifom người
ta nuôi cấy mẫu trong các dung dịch đặc biệt và đếm số lượng chúng sau một thời gian nhất định Ô nhiễm nước được xác định theo các giá trị tiêuchuẩn môi trường
Trang 26- Ô nhiễm do tự nhiên là do sự bào mòn hay sự sụt lở núi đồi, đất ven bờ sông làm dòng nuớc cuốn theo các chất cơ học như bùn, đất, cát, chất mùn… hoặc do sự phun trào của núi lửa làm bụi khói bốc lên cao theo nước mua rơi xuống đất, hoặc do triều cường nước biển dâng cao vào sâugây ô nhiễm các dòng sông, hoặc sự hòa tan nhiều chất muối khoáng có nồng độ quá cao, trong đó có chất gây ung thư như Arsen, Fluor và các chất kim loại nặng…
- Điều đáng nói là tự nhiên vốn có sự cân bằng, nước bị ô nhiễm do tự nhiên sẽ được quá trình tuần hoàn và thời gian trả lại nguyên vẹn, tuy nhiên với con người thì khác, đó là một gánh nặng thêm với tự nhiên, khi dân số tăng quá nhanh và việc sử dụng nước sạch không hợp lý, không giữ vệ sinh môi trường sẽ phá vỡ cấu trúc tự nhiên vốn có
- Hiện tượng trên thường gặp ở các nước đang phát triển và chậm phát triển trên thế giới Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1992, nước
bị ô nhiễm gây bênh tiêu chảy làm chết 3 triệu người và 900 triệu người mắc bệnh mỗi năm Đã có năm số lượng người mắc bệnh giun đũa lên tới
900 triệu người và bệnh sán máng là 600 triệu người Để hạn chế tác động tiêu cực của ô nhiễm sinh vật nguồn nước mặt, cần nghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải, cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường sống của dân cư, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch vụ công cộng
2. Ô nhi m nhân t o ễ ạ
2.1. N ướ c b ô nhi m t kim lo i n ng ị ễ ừ ạ ặ :
- Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn… thường không tham gia hoặc ít tham gia và quá trình sinh hóa của các thể sinh vật và thường tích lũy trong cơ thể chúng Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật Hiện tượng nước bị nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và các khu vực khai thác khoáng sản Ô nhiễm kim loaii nặng biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại trong nước Một số trường hợp xuất hiện hiện tượng chết hàng loạt các loại cá và thủy sinh vật
- Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không qua xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và con người Kim loại nặng tích lũy theo chuỗi thức ăn thâm nhập vào cơ thể người Nước mặt
bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất và các thành phần môi trường có liên quan khác Để hạn chế ô nhiễm nước, cần phải tăng cường biện pháp xử lý nước thải công nghiệp, quản lý tốt vật
Trang 27nuôi trong môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng rau bằng nguồn nước thải
2.2. N ướ c b ô nhi m b i thu c b o v th c v t và phân bón hóa h c ị ễ ở ố ả ệ ự ậ ọ
- Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học là hiện tượng phổ biến trong các vùng nông nghiệp thâm canh trên thế giới Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, một lượng đáng kể thuốc và phân không được cây trồng tiếp nhận Chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩn nông nghiệp dưới dạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón
- Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón
là làm suy giảm chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp nhưphú dưỡng đất, nước, ô nhiễm đất, nước, làm giảm tính đa dạng sinh học của khu vực nông thôn, suy giảm các loại thiên địch, tăng khả năng chốngchịu của sâu bệnh đối với thuốc bảo vệ thực vật
2.3. N ướ c b ô nhi m t chăn nuôi gia súc và nuôi tr ng th y h i s n ị ễ ừ ồ ủ ả ả
- Nước ta là nước có bờ biển dài và có nhiều điều kiện thuận lợi cho ngành nuôi trồng thủy hải sản, tuy nhiên cũng vì đó mà việc ô nhiễm nguồn nước do các hồ nuôi trồng thủy sản gây ra không phải là nhỏ
- Nguyên nhân là do thức ăn, nước trong hồ, ao nuôi lâu ngày bịphân hủy không được xử lý tốt mà xả ra sông suối, biển gây ô nhiễm nguồn nước Các chất thải nuôi trồng thủy sản là nguồn thức ăn dư thừa thối rữa
bịphân hủy, các chất tồn dư sử dụng như hóa chất và thuốc kháng sinh, vôi và các loại khoáng chất Chất thải ao nuôi công nghiệp có thể chứa đến trên 45% Nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác, là nguồn có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trườngnước
- Bên cạnh đó, các xưởng chế biến mỗi ngày chế biến hàng tấn thủy hải sản, tuy nhiên trong quá trình chế biến đã thải ra môi trường toàn bộ lượng nước thải, bao gồm cả hóa chất, chất bảo quản Ngoài ra, nhiều loạithủy hải sản chỉ lấy một phần, phần còn lại vứt xuống sông, biển làm nước bị ô nhiễm, bốc mùi hôi khó chịu
- Một thực trạng đang xảy ra với các cơ sở nuôi trồng thủy sản là hiện tượng thức ăn nuôi trồng thủy sản gây ô nhiễm Do thiếu quy hoạch và ý thức về môi trường, ở các doanh nghiệp và cá nhân, nước ta có nghề nuôi
cá lồng trên biển đang phát triển rất mạnh Ô nhiễm môi trường biển ở khu vực này đang diễn biến hết sức phức tạp Mỗi ngày ở những ô lồng nuôi cá giò, người nuôi đã đưa xuống biển một lượng thức ăn nuôi cá gồm hàng chục tấn các loại Lượng thức ăn này một phần do cá ăn không hết, hoặc lọt qua lưới rơi xuống đáy biển, trôi sang khu vực biển gần đó
Trang 28Mỗi bè lại có một kiểu cho cá ăn riêng Các loại cá sống, cá chết đựơc băm nhỏ dùng làm thức ăn, rồi tinh bột, rau tươi…Tất cả đều tống xuống hàng chục nghìn ô lồng.
- Ô nhiễm môi trường gây ra do chăn nuôi gia súc, gia cầm đang là vấn đề nan giải ở nước ta Các hoạt động chăn nuôi gia súc: phân, nước tiểu gia súc, thức ăn thừa không qua xử lý đưa vào môi trường và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác
- Trong chăn nuôi lợn, để rửa chuồng và dồn phân vào hầm biogas người
ta phải dùng tới 150 lít nước cho một con lợn mỗi ngày hay tới 18 tấn nước cho một đời lợn Ngoài việc tiêu hao nhiều nước, người nuôi còn tốn công lao động để cọ rửa chuồng và tắm rửa cho lợn Với thời tiết ẩm ướt, nước dễ lưu lại trong chuồng, càng làm cho độ ẩm của chuồng tăng cao, tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc độc hại sinh sôi nẩy nở
Hàng chục hộ chăn nuôi heo thải chất thải trực tiếp ra kênh
2.4. N ướ c b ô nhi m t sinh ho t c a con ng ị ễ ừ ạ ủ ườ i
Nước thải sinh hoạt (domestic wastewater): là nước thải phát sinh từcác hộgia đình, bệnh viện, khách sạn, cơquan trường học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệsinh của con người.Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học
(cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn
và vi trùng Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác nhau Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao
- Nước thải đô thị(municipal wastewater): là loại nước thải tạo thành do sự gộp chung nước thải sinh hoạt, nước thải vệsinh và nước thải của các cơ
sở thương mại, công nghiệp nhỏtrong khu đô thị Nước thải đô thịthường được thu gom vào hệ thống cống thải thành phố, đô thị để xử lý chung Thông thường ở các đô thị có hệ thống cống thải, khoảng 70% đến 90% tổng lượng nước sử dụng của đô thị sẽ trở thành nước thải đô thịvà chảy
Trang 29vào đường cống Nhìn chung, thành phần cơ bản của nước thải đô thị cũng gần tương tự nước thải sinh hoạt.
- Ởnhiều vùng , phân người và nước thải sinh hoạt không được xửlý mà quay trở lại vòng tuần hoàn của nước Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô nhiễm môi trường Nước thải không được xử lý chảy vào sông rạch và ao hồ gây thiếu hụt oxy làm cho nhiều loại động vật và cây cỏkhông thể tồn tại
- Theo thống kê của SởKhoa học Công nghệ& Môi trường Cần Thơ, trung bình mỗi ngày 1 người dân đô thịCần Thơthải ra hơn 0,89 kg rác Lượng rác thu gom đổvào bãi rác chỉ khoảng 60%, số còn lại người dân đổ ra sông, ao hồ, cống rãnh, kênh, rạch gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
- Không chỉcó hoá chất, rác, bệnh phẩm, trên hầu hết các sông, kênh trên địa phận tỉnh Cần Thơ, người dân đua nhau lấn chiếm lòng sông, làm cản trở dòng chảy, cản trở giao thông đường thuỷvà tranh thủ sử dụng khoảngsông nhỏ hẹp ấy như một hệ thống WC
- Các bãi rác là nơi chứa đựng sự ô nhiễm rất cao, nếu không được thu dọn,
xử lý triệt để thì nước từ các bãi rác theo nước mưa, chảy vào các ao hồ gần khu dân cư, hoặc thấm vào nguồn nước ngầm gây ô nhiễm
- Theo báo cáo mới nhất của SởKHCN & MT TP.HCM (22/10/2002) trung bình mỗi ngày sông Đồng Nai và Sài Gòn phải hứng chịu trên 852.000m3
lượng ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt với hàm lượng DO thấp và COD quá cao (tiêu chuẩn sau này để ước tính nồng độ hữu cơ trong nước
- Còn tại các khu đô thị, trung bình mỗi ngày thải ra 20.000 tấn chất thải rắn nhưng chỉ thu gom và đưa ra các bãi rác được trên 60% tổng lượng chất thải nên đã gây ô nhiễm nguồn nước
Người dân xả rác thải sinh hoạt xuống sông, biển