1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Nhóm 9 ô nhiễm nước và giải pháp khắc phục

34 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 8,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc ô nhiễm nguồn nước có rất nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do sự tác động của con người tới môi trường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái, các loài

Trang 1

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

BÀI BÁO CÁOMÔN HỌC : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Ô NHIỄM NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

GVHD: Lê Quốc Tuấn

Trang 2

Lời mở đầu

Nước là nhân tố đầu tiên mà các nhà thám hiểm tìm kiếm khi ra ngoài vũ trụ tìm sự sốngcủa các hành tinh khác ngoài trái đất, vì nước là nhân tố rất quan trọng quyết định sự sống Ởtrên Trái đất của chúng ta, nước là tài nguyên, là vật liệu quan trọng nhất của loài người và visinh vật Trên bề mặt Trái đất nước chiếm 97% nhưng trong đó nước ngọt dùng cho sinh hoạtsản xuất chỉ chiếm 3% Lượng nước ngọt rất ít ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng và có nguy cơ bjcạn kiệt

Việc ô nhiễm nguồn nước có rất nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất

là do sự tác động của con người tới môi trường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái,

các loài vi sinh vật, con người cũng nằm trong số đó Do vậy đề tài " ô nhiễm nước và giải pháp khắc phục" với mục tiêu giới thiệu sơ lược về hiện trạng ô nhiễm nước trên thế giới và nước ta,

hậu quả,nguyên nhân gây ô nhiễm nước và đưa ra giải pháp khắc phục Từ đó muốn kêu gọitừng người dân và xã hộ cùng chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này, cũng chính là bảo

vệ chúng ta và thế hệ mai sau để hành tinh này luôn là Hành tinh xanh.

Trang 3

I.TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ 3

I.1Tài nguyên nướ 3

I.2Vai trò của nước 5

II.NHẬN THỨC CHUNG VỀ Ô NHIỄM NƯỚC 6

II.1Khái niệm ô nhiễm nước 6

II.2Thực trạng ô nhiễm nước hiện nay 7

II.2.1Thực trạng ô nhiễm nước trên thế giới 7

II.2.2Thực trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam 11

II.3Nguyên nhân ô nhiễm nước 13

II.4Các loại ô nhiễm nước 20

II.4.1Ô nhiễm sinh học 21

II.4.2Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ 22

II.4.3Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp 23

II.4.4Ô nhiễm vật lý 28

II.5 Ảnh hưởng đến hệ sinh thái và con người 30

II.5.1Hệ sinh thái 30

II.5.2Sức khỏe và đời sống của con người 31

III.GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 31

III.1Đối với nhà nước 31

III.2Đối với người dân 32

Trang 4

I TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ

I.1 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào

những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công

nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt

Theo ước tính, tổng lượng nước trên trái đất vào khoảng 1.386 triệu km3, tuy nhiên, trên 96% số đó là nước mặn Trong số hơn 3% nước ngọt còn lại, 68% lại tồn tại dạng băng và sông băng; 30% là nước ngầm Nguồn nước mặt như nước trong các sông hồ, chỉ chiếm khoảng 93.100km3 Đây là những nguồn nước chủ yếu mà con người sử dụng hàng ngày

Bản đồ phân bổ nước trên trái đất:

Nguồn: USGS

Một số sự thật về nước trên trái đất:

 Nếu gom toàn bộ nước trên trái đất lại, bất kể dạng gì (hơi nước, băng, nước trong cơthể ) thành một khối cầu thì khối cầu này sẽ có đường kính 1385km, tức là ngắn hơn khoảng300km so với khoảng cách từ TPHCM tới Hà Nội (Wikipedia) Tổng khối lượng nước này là 1386triệu km3

 Mỗi ngày có khoảng 1170km3 nước bốc hơi lên bầu khí quyển

 Có khoảng 12900 km3 nước luôn luôn tồn tại dưới dạng hơi nước trên bầu khí quyểncủa chúng ta Nếu toàn bộ lượng nước này rơi xuống thì bề mặt trái đất sẽ bị ngập khoảng 1"(2,5cm)

 Nếu đem toàn bộ nước trên trái đất đổ vào Mỹ thì quốc gia này sẽ ngập khoảng 145km

 68% lượng nước sạch đang nằm trong băng và sông băng

Trang 5

tích 1250km3, tức 1/1000000 tổng lượng nước.

 Nước mặn chiếm 96,54% tổng nước trên trái đất

Nước trái đất luôn vận động và chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ thể lỏngsang thể hơi rồi thể rắn và ngược lại Vòng tuần hoàn nước đã và đang diễn ra từ hàng tỉ năm vàtất cả cuộc sống trên trái đất đều phụ thuộc vào nó, trái đất chắc hẳn sẽ là một nơi không thểsống được nếu không có nước

I.2 Vai trò của nước

I.2.1 Đối với hệ sinh thái

Nước có ảnh hưởng quyết định đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết Năng lượngmặt trời sưởi ấm không đồng đều các đại dương đã tạo nên các dòng hải lưu trên toàn cầu Dòng hải lưu Gulf Stream vận chuyển nước ấm từ vùng Vịnh Mexico đến Bắc Đại Tây Dương làmảnh hưởng đến khí hậu của vài vùng châu Âu

Nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi trường của các quá trình sinh hóa cơ bản như quang hợp

Nhà triết học người Hi LạpEmpedocles đã coi nước là một trong bốn nguồn gốc tạo ra vật chất (bên cạnh lửa, đất và không khí) Nước cũng nằm trong Ngũ Hành của triết học cổ Trung Hoa

I.2.2 Đối với con người

Nước được sử dụng trong công nghiệp từ lâu như là nguồn nhiên liệu (cối xay nước, máy hơi nước, nhà máy thủy điện), Như là chất trao đổi nhiệt

Đối với sức khỏe của con người, nước chiếm khoảng 60-70% trọng lượng của cơ thể,

nước phân phối ở khắp nơi như máu, cơ bắp, não bộ, phổi, xương khớp Con người có thể

Trang 6

chịu đựng đói ăn trong vài tháng, nhưng thiếu nước trong dăm ba ngày là đã có nhiều nguy

cơ tử vong Nước giữ nhiều vai trò rất quan trọng trong cơ thể, dưới đây là vài thống kê:

- Duy trì nhiệt độ trung bình của cơ thể, như nước trong bộ tản nhiệt của xe ô tô, máy bay

- Chuyên chở chất dinh dưỡng và ôxy nuôi tất cả tế bào

- Giúp chuyển hóa thực phẩm ra năng lượng, cần thiết cho các chức năng cơ thể

- Giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng

- Loại bỏ các chất thải của cơ thể qua hệ tiết niệu, da, ruột, hơi thở

- Bao che các cơ quan sinh tử trong cơ thể, tránh tổn thương do sự cọ xát, va chạm

- Bảo vệ các khớp xương, tránh viêm sưng, đau nhức vì nước là chất nhờn làm cho khớp

cử động trơn tru

- Làm ẩm không khí để sự hô hấp dễ dàng, tránh dị ứng, ho khan

- Phòng chống sự đóng cục máu ở các động mạch của tim, não, giảm nguy cơ tai biến tim

II NHẬN THỨC CHUNG VỀ Ô NHIỄM NƯỚC

II.1 Khái niệm ô nhiễm nước

Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lí-hóa học –sinh học của nước ,với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng ,rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và qui mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất

Ngoài ra ô nhiễm nước còn được định nghĩa là sự thay đổi thành phần và chất lượng không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau ,vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật

Nước trong tự nhiên tồn tai dưới nhiều hình thức khác nhau:nước ngầm ,nước ở các song

hồ ,tồn tại ở thể hơi trong không khí Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác ,mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên.Nước ô nhiễm thường là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu

Trang 7

con người đối với chất lượng nước ,làm nhiễm bản chất và gây nguy hiểm cho con người ,cho công nghiệp ,nông nghiệp ,cho động vật nuôi và các loài hoang dã.”

Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, dưới tốc độ phát triển như hiện nay con người vô tình làm ô nhiễm nguồn nước bằng các hóa chất,chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp Các đơn vị

cá nhân sử dụng nước ngầm dưới hình thức khoan giếng, sau khi ngưng không sử dụng không bịt kín các lỗ khoan lại làm cho nước bẩn chảy lẫn vào làm ô nhiễm nguồn nước ngầm Các nhà máy xí nghiệp xả khói bụi công nghiệp vào không khí làm ô nhiễm không khí, khi trời mưa, các chất ô nhiễm này sẽ lẫn vào trong nước mưa cũng góp phần làm ô nhiễm nguồn nước

II.2 Thực trạng ô nhiễm nước hiện nay:

II.2.1 Thực trạng ô nhiễm nước trên thế giới

Nước, bao gồm cả nước ngọt và nước mặn, là nhu cầu thiết yếu đối với sản xuất và cuộc sống Nước do thiên nhiên ban tặng, là nguồn tài nguyên vô tận và quốc gia nào cũng có Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế và xã hội, gia tăng dân số, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu khiến nguồn "vàng trắng" trở thành một vấn đề báo động toàn cầu

Nhiều quốc gia, kể cả một số nước thuộc vùng nhiệt đới, thiếu nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt Không ít nước rất khốn khổ vì quá nhiều nước, như lũ lụt, lở đất Có những lúc, tại một

số nước trong khi vùng này bị khô hạn, vùng khác phải lo thoát nước đi Kinh tế, đời sống và xã hội phát triển thì nhu cầu về nước càng nhiều Trong khi, nguồn nước bị ô nhiễm ngày càng nguy hiểm Sự biến đổi khí hậu toàn cầu làm đảo lộn việc "phân phối" nguồn nước tự nhiên Nước biển dâng cao do băng tan đe doạ các vùng ven biển, thậm chí "xóa sổ" một số quốc đảo Những tai nạn trong khai thác dầu khí, vận tải trên biển gây ô nhiễm nước biển Những cơn

"hồng thủy", "thủy triều đen", "thủy triều đỏ" xuất hiện nhiều hơn và tác hại của chúng nghiêm trọng hơn Ðây đó đã xảy ra mâu thuẫn và xung đột tranh giành nguồn nước Khoa học kỹ thuật hiện đại tạo ra những nguồn năng lượng thay cho than đá và dầu mỏ nhưng chưa tìm ra chất

Trang 8

gì sử dụng thay nước ngọt Một số quốc gia giàu có đã xây dựng nhà máy lọc nước biển thành nước ngọt nhưng cũng chỉ ở mức độ giới hạn vì vô cùng tốn kém.

Tại các diễn đàn ở Xtốc-khôm, đại diện nhiều nước châu Phi báo động về thảm cảnh khan hiếm nước tại lục địa này Nguồn nước ở đây vừa rất thiếu, lại rất thừa và bị ô nhiễm nặng nề

do rác thải và sử dụng các chất hóa học vô tội vạ Rất nhiều nước lãng phí nguồn tài nguyên này

do không có khả năng và kế hoạch "tích trữ nước"

Tổ chức FAO cảnh báo, trong 15 năm tới sẽ có gần hai tỷ người phải sống trong tình trạng bị thiếu nước FAO đã kêu gọi cộng đồng quốc tế sử dụng an toàn nguồn nước thải của các đô thị cho nông nghiệp

Trang 9

Đợt thủy triều đỏ xảy ra dọc bờ biển La Jolla, California.

Hình ảnh chú chim ó biển bị nhiễm dầu

Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ

và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước

Trang 10

Các nhà máy thi nhau đổ nước thải vào sông Dương Tử

Nguồn: http://gocomay.wordpress.com/2011/06/13/630-h%E1%BA%ADu-khu%E1%BA

%A5t-nguyen/

Thống kê của UNICEF tại khu vực Nam và Đông Á cho thấy chất lượng nước ở khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ em Tình trạng ô nhiễm a-sen (thạch tín) và flo (fluoride) trong nước ngầm đang đe dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50 triệu người dân trong khu vực

Tại diễn đàn của Trẻ em thế giới về nước tổ chức tại Mehico ngày 21/3, UNICEF cho biết

400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống vì không có nước sạch

Trang 11

Nước sạch trở thành hàng hóa như dầu mỏ, khí đốt

Nguồn:

http://ns.mard.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Tin-Quoc-te/Nuoc-sach-tro-thanh-hang-hoa-nhu-dau-mo-khi-dot-19959

II.2.2 Thực trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại

Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các đô thị chưađông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều nơi với các mức độ nghiêm trọng khác nhau

+ Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, dùng để tưới lúa và hoa màu Việc sử dụng nông dược và phân bón hoá học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn.+ Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành có một loại nước thải khác nhau Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến Sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số Khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hoá chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt… xuống Sông Hồng làm nước bị

Trang 12

nhiễm bẩn đáng kể Khu công nghiệp Biên Hoà và TP.HCM tạo ra nguồn nước thải công nghiệp

và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận

+ Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do tăng dân số và các đô thị Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước ta

+ Nước ngầm cũng bị ô nhiễm, do nước sinh hoạt hay công nghiệp và nông nghiệp việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm mặn và nhiễm phèn xảy ra ở những vùng ven biển Sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long, ven biển miền Trung…

Nguồn nước ô nhiễm có thể do con người

Nguồn:

http://123.25.71.107:82/hoidap/vi/news/Trai-dat-tuoi-dep/Vi-sao-noi-con-nguoi-cung-la-mot-nguon-o-nhiem-10121/

Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000

m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thugom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời

Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP

Nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đáng lưu ý là hệ thống hồ trong côngviên Yên Sở Đây được coi là thùng chứa nước thải của Hà Nội với hơn 50% lượng nước thải của

Trang 13

tiêu Điều kiện sống của họ cũng bị đe dọa nghiêm trọng vì nhiều khu vực trong công viên là nơi nuôi dưỡng mầm mống của dịch bệnh.

Cá chết trắng sông do ô nhiễm nguồn nước ở Hà Nam

Nguồn:http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/574892/ha-nam-%C2%A0ca-chet-hang-loat-o-nhiem-nghiem-trong.html#ad-image-0

Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu

tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%) Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nướcASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)

II.3 Nguyên nhân ô nhiễm nước

Nước bị ô nhiễm là do quá trình sinh hoạt của con người còn chưa ý thức được tầm quan trọng của nước ,xả rác ra các ao hồ ,sông suối làm ô nhiễm dòng nước ,thậm chi họ còn sinh hoạt trên một dòng sông Và các khu công nghiệp thương xuyên thải chất thải ra bên ngoài khi

ấy oxy trong nước giảm đột ngột,các khí độc tăng lên ,tăng độ đục của nước ,gây suy thoái thủy vực

 Ô nhiễm tự nhiên:là do mưa ,tuyết tan ,bão, lũ lụt…,hoặc do các sản phẩm sống của sinhvật và kể cả xác chết của chúng

Cây cối, sinh vật chết đi , chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ

Trang 14

Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm hoặc

theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn

Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong

hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác, và cuốn theo

các loại hoá chất trước đây đã được cất giữ

Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ

hoặc do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải Công nhân thu dọn lân cận các

công trường kỹ nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất

Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt, ) có thể rất

nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu

Ô nhiễm nước do lũ lụt Ô nhiễm nước do sạt lở đất

 Ô nhiễm nhân tạo:

*Từ sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của các cộng đồng dân cư như: khu vực đô thị, trung tâm thương mại, khu vực vui chơi giải trí, cơ quan công sở,… Các thành phần ô nhiễm chính đặc trưng thường thấy ở nước thải sinh hoạt là BOD5, COD, Nitơ và Phốt pho Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt đó

Trang 15

người bao gồm các nhóm chính là virus, vi khuẩn, nguyên sinh bào và giun sán.

Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy

sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn

và vi trùng Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng

các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác nhau Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao

Nước thải đô thị : là loại nước thải tạo thành do sự

gộp chung nước thải sinh hoạt, nước thải vệ sinh và nước thải của các cơ sở thương mại, công nghiệp nhỏ trong khu đô thị Nước thải đô thị thường được thu gom vào

hệ thống cống thải thành phố, đô thị để xử lý chung Thông thường ở các đô thị có

hệ thống cống thải, khoảng 70% đến 90% tổng lượng nước sử dụng của đô thị sẽ trở thành nước thải đô thị và chảy vào đường cống Nhìn chung, thành phần cơ bản của

nước thải đô thị cũng gần tương tự nước thải sinh hoạt Ở các khu đô thị, trung bình mỗi ngày thải ra 20.000 tấn chất thải rắn nhưng chỉ thu gom và đưa ra các bãi rác được trên 60% tổng lượng chất thải nên đã gây ô nhiễm nguồn nước Theo kết quả xét nghiệm mẫu nước tại bãi rác Nam Sơn (Hà Nội) và một bãi rác ở tỉnh Lạng Sơn cho thấy, tất cả các mẫu nước thải từ bãi rác đều có vi khuẩn Coliform cao gấp hàng trăm lần tiêu chuẩn cho phép

Ở nhiều vùng , phân người và nước thải sinh hoạt không được xử lý mà quay

trở lại vòng tuần hoàn của nước Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô

nhiễm môi trường Nước thải không được xử lý chảy vào sông rạch và ao hồ gây

thiếu hụt oxy làm cho nhiều loại động vật và cây cỏ không thể tồn tại

Hầu hết các sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có dân cư đông đúc và nhiều các khu công nghiệp lớn này đều bị ô nhiễm Phần lớn lượng nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra các sông ở khuvực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3 và chỉ có 10% được xử lý) đều không được xử lý

mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn tại Vùng Châu thổ Sông Hồng và

Trang 16

Sông Mê Kông Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ sở sản xuất như các lò mổ và ngay cả bệnh viện (khoảng 7000 m3 mỗi ngày, và chỉ có 30% là được xử lý) cũng không được trang bị hệ thống xử

lý nước thải

Các bãi rác là nơi chứa đựng sự ô nhiễm rất cao, nếu không được thu dọn, xử

lý triệt để thì nước từ các bãi rác theo nước mưa, chảy vào các ao hồ gần khu dân

cư, hoặc thấm vào nguồn nước ngầm gây ô nhiễm

Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ Môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện cho thấy lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng và vi sinh tăng cao tại các rạch, cống và các điểm xả nằm quanh trạm bơm Hòa Phú, đặc biệt là nhánh sông Thị Tính nằm ở thượng nguồn trạm bơm Hòa Phú Riêng vùng cửa sông Thị Tính, hàm lượng nồng độ amoniac trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép

 Từ các hoạt động công nghiệp: Nước thải công nghiệp: là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải Khác với nước thải sinh

hoạt hay nước thải đô thị, nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể

Hiện nay, trong tổng số 134 khu công nghiệp, khu chế xuất đã đi vào hoạt động ở nước ta mới chỉ có 1/3 khu công nghiệp, chế xuất có hệ thống xử lý nước thải Nhiều nhà máy vẫn dùng công nghệ cũ, có khu công nghiệp thải ra 500.000 m3 nước thải mỗi ngày chưa qua xử lý Chất lượng nước thải công nghiệp đều vượt quá nhiều lần giới hạn cho phép Đặc biệt là nước thải các ngành công nghiệp nhộm, thuộc da, chế biến thực phẩm, hóa chất có hàm lượng các chất gây ô nhiễm cao, không được xử lý thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước đã làm cho nguồn nước bị ô nhiễm nặng

Trang 17

Báo cáo mới nhất của Bộ Tài nguyên & Môi trường cho thấy, trung bình mỗi ngày có tới 240.000m³ nước thải từ các khu công nghiệp (KCN) được xả thẳng ra môi trường, chưa qua xử

lí, gây ra tình trạng ô nhiễm trầm trọng tại nhiều nơi Khiếu nại, tố cáo về môi trường tăng lên từng ngày, đứng thứ hai chỉ sau đất đai

60% khu công nghiệp ở Việt Nam đã có hệ thống xử lí nước thải tập trung (HTXLNTTT), tuynhiên do vận hành hệ thống này khá tốn kém nên không ít KCN “ngại” vận hành, vẫn xả thải trựctiếp ra môi trường Đến tháng 12/2012,

trong số 179 KCN đang hoạt động, chỉ có 143 KCN đã vận hành hoặc đang xây dựng

HTXLNTTT, trong đó chỉ có 84 KCN đã hoàn thành việc đấu nối nước thải từ tất cả các cơ sở sản xuất

Tổng lượng nước thải theo công suất thiết kế từ HTXLNTTT của 143 KCN này là

592.000m³/ngày đêm, trong khi thực tế lượng nước thải đang được xử lí chỉ là 362.450m³/ngày đêm, tức là các HTXLNTTT chỉ hoạt động trên 61% công suất

Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn

Ngày đăng: 24/10/2019, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w