MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH TIỀU HỌC THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4, 5.. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở khảo sát
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Giáo viên hướng dẫn : ThS Lê Sao Mai
Sinh viên thực hiện : Võ Thị Tường Vi
Lớp : 14STH
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo hương dẫn: ThS Lê Sao Mai, giảng viên khoa Giáo dục tiểu học, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Em xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm, các thầy cô giáo khoa Giáo dục tiểu học cùng toàn thể các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
đã trang bị những kiến thức, tận tình chỉ bảo em trong suốt những năm học qua Cảm ơn các bạn trong lớp 14STH đã động viên, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài này
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo và các học sinh ở trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ đã phối hợp để giúp em có nguồn tư liệu thực tế trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
Sau cùng, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2018
Sinh viên
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 7
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học Error! Bookmark not defined 5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5.1 Đối tượng nghiên cứu 3
5.2 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 4
7.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết 4
7.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết 4
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng Anket 4
7.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm 4
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học 4
8 Cấu trúc đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 6
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Một số vấn đề chung về từ Hán Việt 6
1.1.1 Khái niệm từ Hán Việt 6
1.1.2 Đặc điểm từ Hán Việt 6
1.1.2.1 Đặc điểm về ngữ nghĩa – phong cách 6
1.1.2.1 Đặc điểm về cấu tạo 8
1.2 Vị trí, nhiệm vụ và phương pháp dạy học phân môn tập đọc 9
1.2.1 Vị trí 9
Trang 41.2.2 Nhiệm vụ 10
1.2.3 Quy trình dạy học phân môn Tập đọc 11
1.3 Việc rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh Tiểu học thông qua phân môn tập đọc 12
1.4 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi Tiểu học 13
1.4.1 Đặc điểm nhân cách 13
1.4.1.1 Tình cảm 13
1.4.1.2 Ý chí 13
1.4.2 Đặc điểm nhận thức 13
1.4.2.1 Tri giác 13
1.4.2.2 Chú ý 14
1.4.2.3 Trí nhớ 14
1.4.2.4 Tư duy 14
1.4.2.5 Tưởng tượng 15
1.4.2.6 Ngôn ngữ 15
Tiểu kết chương 1 16
CHƯƠNG 2 16
THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC TỪ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 VÀ LỚP 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 17
2.1 Mục đích điều tra 17
2.2 Đối tượng điều tra 17
2.3 Phương pháp điều tra 17
2.4 Nội dung điều tra 17
2.4.1 Nội dung điều tra giáo viên 17
2.4.2 Nội dung điều tra học sinh 18
2.5 Kết quả điều tra 18
2.5.1 Kết quả điều tra giáo viên 18
2.5.2 Kết quả điều tra học sinh 26
Tiểu kết chương 2 30
Chương 3 31
Trang 5MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH TIỀU HỌC THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC TRONG CHƯƠNG
TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4, 5 31
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 31
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Error! Bookmark not defined 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu của bài học 32
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi 32
3.2 Một số biện pháp nhằm rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh Tiều học thông qua phân môn Tập đọc trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5 33
3.2.1 Hướng dẫn học sinh cách giải nghĩa từ Hán Việt 33
3.2.2 Thiết kế trò chơi dạy học từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc 36
Tiểu kết chương 3 42
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Nhận xét, đánh giá của giáo viên về ý nghĩa của việc dạy và rèn cho học sinh
sử dụng từ Hán Việt cho học sinh 19 Bảng 2: Nhận xét, đánh giá của giáo viên về khả năng nhận biết từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc của học sinh lớp 4 và lớp 5 20 Bảng 3: Những lỗi học sinh thường mắc phải khi làm các bài tập về Hán Việt 20 Bảng 4: Các phương pháp dạy học từ Hán Việt cho học sinh trong phân môn Tập đọc
và mức độ sử dụng 22 Bảng 5: Hình thức tổ chức dạy học trong dạy học từ Hán Việt 23 Bảng 6: Nguyên nhân học sinh gặp khó khăn khi học từ Hán Việt 23 Bảng 7: Những khó khăn của giáo viên trong việc dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc 24
Bảng 8: Thái độ học từ Hán Việt của học sinh 27
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện sự cần thiết của việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ Hán Việt cho học sinh 19 Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện thái độ của học sinh đối với việc học từ Hán Việt 27
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vay mượn từ vựng là hiện tượng ngôn ngữ học xã hội phổ biến của mọi
ngôn ngữ Dường như không có ngôn ngữ nào mà trong hệ thống từ vựng của mình lại không có hiện tượng vay mượn Vì thế, tiếng Việt không thể tách khỏi quy luật chung này Như ta đã biết, sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Hán đã có từ rất sớm, gắn với hàng nghìn năm Bắc thuộc Người Việt đã tiếp nhận và Việt hoá một số lượng lớn các từ ngữ gốc Hán để làm giàu thêm tiếng nói của mình Do trải qua quá trình tiếp xúc với tiếng Hán từ lâu đời, bằng nhiều “con đường” và qua nhiều giai đoạn khác nhau, nên mỗi giai đoạn đều để lại những “dấu tích” trong tiếng Việt Đặc biệt là ở giai đoạn từ thời Đường (thế
kỉ VIII – thế kỉ X) trở về sau, một số lượng lớn lớp từ ngữ tiếng Hán đã du nhập vào tiếng Việt và được người Việt đọc theo âm chuẩn Trường An của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình, được gọi là từ Hán Việt Từ Hán Việt là kết quả của cả một quá trình tiếp xúc ngôn ngữ
Ở bậc Tiểu học, một trong những mục tiêu của môn Tiếng Việt là cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, trong đó có cung cấp vốn từ là mục tiêu quan trọng Ngay từ lớp một, từ Hán Việt có mặt ở các môn học, từ các bài tập đọc ở môn Tiếng Việt đến các bài học về lịch sử, địa lí, xã hội,… Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học cũng có nội dung riêng dạy mở rộng vốn từ Hán Việt Nội dung này thường tập trung ở phân môn Luyện từ và câu và đến lớp bốn, lớp năm thì chính thức được dạy thành từng bài cụ thể Vì thế, việc tìm hiểu các từ Hán Việt trong sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt cũng như trong các SGK khác là cần thiết, góp phần vào việc dạy và học cũng như biên soạn SGK ở bậc Tiểu học
Trong chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, từ Hán Việt ở phân môn Tập đọc không được đưa vào nội dung dạy chính thức như trong phân môn Luyện từ và câu Tuy nhiên, trong phân môn Tập đọc, từ Hán Việt chiếm một số lượng khá lớn, nhưng chỉ một số từ được giải nghĩa trong phần chú thích Vì vậy
Trang 9việc giải nghĩa từ Hán Việt lồng ghép và các tiết Tập đọc sẽ giúp học sinh khắc sâu nghĩa và phát triển kĩ năng sử dụng từ
Chính vì những lí do trên, với tư cách là những người giáo viên tiểu học
tương lai, chúng tôi xin lựa chọn đề tài: “Rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh lớp 4 và lớp 5 thông qua phân môn Tập đọc” để nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu về từ vựng tiếng Việt nói chung và từ Hán Việt nói riêng là một vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách giáo khoa, sách tham khảo chuyên khảo nghiên cứu về từ Hán Việt trên nhiều khía cạnh khác nhau, tất cả đều đi đến mục đích chung nhất là giữ gìn sự trong sáng vá phát huy được vốn từ tiếng Việt, đáp ứng tốt những yêu cầu của thời đại Có thể điểm qua một vài những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học - Bộ GD&ĐT
- Dự án phát triển Giáo viên Tiểu học có một phần nội dung về chủ đề từ Hán Việt: Cung cấp kiến thức và phương pháp dạy học từ Hán Việt cho Giáo viên tiểu học
Hoàng Trọng Canh chủ biên - Chuyên đề từ Hán Việt Chuyên đề không chỉ giải thích những vấn đề cơ bản về từ Hán Việt có tính nâng cao và chuyên sâu mà còn hướng dẫn sinh viên những kĩ năng và phương pháp dạy học từ Hán Việt cần thiết theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học
Đào Duy Anh - Từ điển Hán Việt - NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm
2001 Cung cấp một số lượng từ Hán Việt và giải nghĩa, để giáo viên và học sinh tham khảo
Phan Ngọc - Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt - NXB Đà Nẵng, năm 1991 Cung cấp cho giáo viên và học sinh một số mẹo để giải nghĩa từ Hán Việt
Đặng Đức Siêu - Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông - NXB Giáo dục, năm 2001 Đề ra các biện pháp giúp học sinh phổng thông học tốt từ Hán Việt
Trang 10Như vậy, có thể thấy việc tìm hiểu về từ Hán Việt, giải nghĩa từ Hán Việt
và hiệu quả sử dụng từ Hán Việt đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Tuy nhiên, nghiên cứu về “rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh lớp và lớp 5 thông qua phân môn Tập đọc” thì chưa có công trình chuyên biệt
nào nghiên cứu đến Những công trình, kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích và là tiền đề cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát thực trạng về việc rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt ở
chương trình tiếng Việt tiểu học lớp 4 và lớp 5, đề ra biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh tiểu học thông qua phân môn Tập đọc nhằm góp phần bồi dưỡng vốn từ Hán Việt, từ đó nâng cao kĩ năng sử từ Hán
Việt cho các em
4 Giả thuyết khoa học
Để việc giảng dạy Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4, 5 đạt hiệu quả, chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh thông qua phân môn Tập đọc phù hợp thực tiễn và có tính khoa học, giúp nâng cao khả năng học và sử dụng từ Hán Việt cho học sinh
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh lớp 4 và lớp 5 thông qua phân môn Tập đọc
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình dạy và học từ Hán Việt cho học sinh lớp 4 và lớp 5 thông qua
phân môn Tập đọc của giáo viên và học sinh trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 và lớp 5
Trang 11- Khảo sát thực trạng việc rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 và lớp 5
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 và lớp 5
Trong các nhiệm vụ trên thì nhiệm vụ đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4
và lớp 5 là nhiệm vụ chủ yếu
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
7.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết
Nghiên cứu và tham khảo một số tài liệu, bài viết về rèn kĩ năng sử dụng
từ Hán Việt cho học sinh đặc biệt là ở trường Tiểu học nhằm làm sáng tỏ một số
vấn đề lí luận về rèn luyện kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh tiểu học 7.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết
Phân loại và hệ thống các nội dung từ Hán Việt một cách cụ thể, dễ hiểu phù hợp với trình độ tiếp thu và khả năng thực hiện của học sinh tiểu học
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng Anket
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra bằng anket, trao đổi trực tiếp với giáo viên và học sinh lớp 4 và lớp 5 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Thành phố Đà Nẵng nhằm tìm hiểu các hình thức, phương pháp dạy học của giáo viên
và khả năng nắm bắt từ Hán Việt của học sinh
7.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Dự giờ các tiết dạy học Tập đọc để tìm hiểu thái độ, khả năng nắm bắt về
từ Hán Việt của các em và những khó khăn của giáo viên khi dạy học từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc ở lớp 4, 5
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Số liệu thu thập hợp từ phiếu điều tra sẽ được tổng hợp và xử lý Sau đó trình bày, tính toán các kết quả có được để có thể khái quát thực trạng rèn luyện
kĩ năng sử dụng từ Hán Việt của học sinh Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ
Trang 128 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài được triển khai phần nội dung
gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng việc dạy và học từ Hán Việt cho học sinh lớp 4 và lớp 5 thông qua phân môn Tập đọc
Chương 3: Một số biện pháp nhằm rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh lớp 4 và lớp 5 thông qua phân môn Tập đọc
Trang 13NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Một số vấn đề chung về từ Hán Việt
1.1.1 Khái niệm từ Hán Việt
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “từ Hán Việt”, có thể kể đến
một số quan điểm tiêu biểu sau:
Tác giả Nguyễn Như Ý (2003) đã định nghĩa về từ Hán Việt trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” như sau : “Từ tiếng Việt có nguồn gốc
từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán” Với định nghĩa này tác giả đã nêu ra được nguồn gốc của từ Hán Việt, và
các quy luật yếu tố tạo ra từ Hán Việt
Trong “Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông” (Đặng Đức Siêu, 2001) định nghĩa: “Từ Hán Việt là kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ − văn hóa Việt Hán diễn ra hàng ngàn năm, trong đó chủ trương “chủ động” và “Việt hóa” là đường hướng chủ đạo, bộc lộ rõ tài chí thông minh sáng tạo của tổ tiên ta” Định nghĩa này được tác giả áp dụng cho bậc học trung
học phổ thông
Những quan điểm trên đều đúng, bởi chúng xuất phát theo nhiều khía cạnh, góc nhìn và cách giải quyết khác nhau Từ những quan điểm này chúng tôi
có thể phát biểu một cách khái quát về từ Hán Việt như sau:
Từ Hán Việt là những từ người Việt vay mượn của tiếng Hán, được đọc theo cách đọc Hán Việt và nhập vào kho từ vựng tiếng Việt
1.1.2 Đặc điểm từ Hán Việt
1.1.2.1 Đặc điểm về ngữ nghĩa – phong cách
a Hoạt động ngữ nghĩa của các yếu tố Hán Việt
Từ Việt gốc Hán nói chung, từ Hán Việt nói riêng khi trở thành từ của Tiếng Việt, chúng chịu sự tác động của quy luật tiếng Việt trong đó có hoạt
Trang 14động ngữ nghĩa Do vậy, so với tiếng Hán, diện mạo ngữ nghĩa của từ Hán Việt trong tiếng Việt cũng có nhiều thay đổi, theo những hướng khác nhau để đáp ứng nhu cầu hành chức của tiếng Việt
- Hoạt động thu hẹp nghĩa: Nhiều yếu tố Hán khi đi vào tiếng Việt, tiếng Việt chỉ tiếp nhận một số nghĩa nào đó chứ không tiếp nhận tất cả nghĩa vốn có
của nó Ví dụ: Từ tảo trong tiếng Hán nghĩa là sáng sớm, nhưng vào tiếng Việt
có nghĩa là sớm (tảo hôn) Cước trong tiếng Hán có nghĩa là chân, bàn chân, vào tiếng Việt có nghĩa là chân (của núi) (vùng sơn cước)
- Hoạt động mở rộng, phát triển thêm nhiều nghĩa mới : Một số yếu tố tiếng Hán đi vào tiếng Việt, bên cạnh nghĩa gốc như trong tiếng Hán, còn được
mở rộng, phát triển thêm nghĩa mới Ví dụ: can (gan) vốn có nghĩa chỉ một bộ phận cơ thể, sang tiếng Việt có thêm nghĩa là sự dũng cảm Khám, ngoài nghĩa
coi, xem, trong tiếng việt còn có nghĩa là lục soát với thái độ nghi ngờ
- Hoạt động chuyển, biến đổi nghĩa: Có một số từ tiếng Hán khi trở thành yếu tố, hoặc từ Hán Việt trong tiếng Việt, chúng chuyển nghĩa rất xa hoặc
thay đổi hẳn nghĩa so với nghĩa trong tiếng Hán Ví dụ: bồi hồi trong tiếng hán
có nghĩa là “đi đi lại lại”, vào tiếng Việt lại có nghĩa là “xao xuyến, xốn xang
không yên trong lòng” ( lòng bồi hồi)
b Giá trị phong cách của từ Hán Việt
Tìm hiểu giá trị phong cách từ Hán Việt tức là chúng ta đi tìm hiểu khả năng biểu đạt của chúng Từ Hán Việt có một số giá trị phong cách sau:
- Từ Hán Việt tạo sắc thái tao nhã, hoặc tránh gây ấn tượng ghê rợn cho
người nghe Ví dụ về việc lựa chọn giữa các từ : xác chết (thuần Việt) - thi hài (Hán Việt), thiêu (thuần Việt) – hỏa táng (Hán Việt),…
- Từ Hán Việt tạo sắc thái trang trọng đặc biệt phù hợp với các trường hợp giao tiếp, nghi lễ Trong một số trường hợp đặc biệt ta không thể dùng từ thuần Việt mà bắt buộc phải dùng từ Hán Việt để biểu đạt một khái niệm, một
nội dung nào đó Ví dụ : Chỉ có thể nói (viết) “ Quốc gia độc lập”, “Ngày Quốc
tế phụ nữ” mà không thể nói (viết) “Nước đứng một mình”, “Ngày Quốc tế đàn bà",… Do sắc thái trang trọng của từ Hán Việt mà người Việt Nam thích dùng
Trang 15từ Hán Việt đặt tên cho địa danh, cho người Ví dụ, địa danh: Thăng Long, Hội An,…; tên người : Lạc Long Quân, Hùng Vương, Nghĩa, Vân, Nguyệt,…
- Từ Hán Việt tạo ra sắc thái trừu tượng, cổ kính, giúp ta cảm nhận được hình ảnh của thế giới khái niệm im lìm, bất động, góp phần tạo sắc thái cổ khi
tạo hình ảnh, nhân vật, cuộc sống xã hội xưa.Ví dụ: các từ hoàng hôn, viễn phố,
cô thôn, lữ thứ,…( Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan); ngục quan, phiếu trát, tử tù,…( Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân)
1.1.2.1 Đặc điểm về cấu tạo
a Cấu tạo từ đơn tiết Hán Việt
Đây là lớp từ cấu tạo chỉ một tiếng được dùng tự do trong Tiếng Việt Đại bộ phận từ đơn tiết trong tiếng Việt là danh từ Ví dụ các từ chỉ bộ
phận cơ thể: đầu, não, tủy, chỉ người: quan, dân, ông, bà,…chỉ động vật: phượng, lân, hổ, báo,… chỉ cây cối: tùng, bách, táo, lê, chỉ kết quả của hoạt động tinh thần: nhân, nghĩa, lễ, trí,…
Từ đơn tiết Hán Việt là động từ hoặc tính từ trong tiếng Việt không
nhiều, chỉ khoảng trên 200 từ Ví dụ: ẩn (kín), ban (thưởng), bẩm (cụ), biên ( thư),…lòng (thiện), (có) hiếu, (sợ) khiếp,…
b Cấu tạo từ đa tiết Hán Việt
- Cấu tạo từ ghép:
Từ ghép chính phụ (phân nghĩa): có 2 loại Chiếm số lượng lớn nhất là
loại có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau Ví dụ: quốc kì, nhân loại, lương tâm, học sinh, dân quyền,… Loài từ ghép chính phụ có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau như trật tự từ thuần Việt,có số lượng ít hơn: đa tài,
vô tâm, quyết chiến, phóng đại,…
Từ ghép đẳng lập (hợp nghĩa): Từ ghép hợp nghĩa Hán Việt có cấu tạo như từ ghép hợp nghĩa thuần Việt, các yếu tố trong từ có vai trò ngữ pháp ngang nhau, nghĩa của chúng cùng chỉ một phạm trù (hoặc cùng chỉ một sự vật, hoặc cùng chỉ một hoạt động, hoặc cùng chỉ một tính chất), nằm trong một trường nghĩa, có quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, liên quan với nhau, hoặc trái nghĩa nhau, vì vậy mà nghĩa của chúng hợp lại tạo cho từ có nghĩa khái quát, tổng
Trang 16hợp.Ví dụ các từ có cấu tạo từ các yếu tố đồng nghĩa hoặc liên quan với nhau về
nghĩa trong một trường: bằng hữu, cơ hàn, diễm lệ, lương thiện,…; các từ được cấu tạo từ các yếu tố có quan hệ trái nghĩa: chiến bại, động tĩnh, lợi hại, thị phi, sinh tử,…
- Cấu tạo từ láy:
Từ láy trong vốn tiếng Việt tuyệt đại đa số là từ thuần Việt
Trong lớp từ đa tiết Hán Việt, có một số từ, giữa các âm tiết có hình thức âm thanh được láy lại, và nếu xét theo đồng đại, các yếu tố trong từ đều
không có nghĩa thực nên các từ đó được xem là từ láy Ví dụ: phảng phất, do dự, xán lạng, bàng hoàng, hồ đồ,…
Một số từ song tiết Hán Việt khác tuy có hình thức ngữ âm giống từ láy nhưng vì các yếu tố trong từ đều có nghĩa, chúng kết hợp với nhau theo quy tắc ghép nghĩa vì vậy không nên ghép chúng vào loại từ láy như một số sách hiện
nay Đó là các từ như ; quyến luyến, linh tinh,liên lụy, lâm li, liên lạc, tư lự,…
- Cấu tạo từ Hán Việt bằng phương thức rút gọn:
Trong lớp từ đa tiết Hán Việt, có một số ít từ tạo ra do phương thức rút gọn, nói tắt
Ví dụ : hồng tuyết cầu – hồng cầu, mĩ nghệ thuật- mĩ thuật, vật lí học – vật lí,
1.2 Vị trí, nhiệm vụ và phương pháp dạy học phân môn tập đọc
1.2.1 Vị trí
Như chúng ta đã biết môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm
vụ vô vùng quan trọng đó là hình thành 4 kỹ năng: Nghe - nói - đọc - viết cho học sinh Môn Tiếng Việt có nhiều phân môn khác nhau, trong đó có phân môn Tập đọc Đây là phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng “đọc”, một trong những kỹ năng quan trọng của học sinh ở bậc tiểu học Kỹ năng “đọc” có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Khi học sinh đọc tốt
Trang 17viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn Từ
đó học sinh mới hoàn thành được năng lực giao tiếp của mình
Đối với học sinh tiểu học, nhờ biết đọc các em có điều kiện học các môn khác trong chương trình Mỗi bài tập đọc là một bức tranh nhỏ về cuộc sống, con người, thời đại Các em càng đọc càng thêm hiểu biết về con người, về đất nước ta trong quá khứ, hiện tại và nhiều nước trên thế giới, càng thêm tin yêu con người và cuộc sống tương lai Từ đó hướng các em tới cái đẹp, biết rung động trước vẻ đẹp của ngôn ngữ, của hình tượng nghệ thuật đẹp, hành vi đẹp của các nhân vật Từ sự rung động nội tâm, bài tập đọc đã mang đến cho các em những tình cảm đạo đức cao cả: tình yêu đối với cuộc sống và con người tình yêu gia đình, bạn bè, yêu quê hương đất nước
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc đó chính là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh Nói cách khác, thông qua việc dạy học phải làm cho học sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc là có ích lợi cho các em trong cả cuộc đời Phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển
Trang 18Vì việc học không không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh những nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đòi sống và kiến thức văn học cho học sinh Đọc một cách có ý thức sẽ tác động tích cực tới ngôn ngữ
và tư duy của người đọc Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng
ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em suy nghĩ một cách logic cũng như tư duy có hình ảnh… Dạy đọc không chỉ giáo dục tư tưởng, đạo đức
mà còn giáo dục tính cách, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh
Như vậy, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
1.2.3 Quy trình dạy học phân môn Tập đọc
a Kiểm tra bài cũ
b Bài mới
- Giới thiệu bài mới : Có thể dùng hình ảnh, đặt câu hỏi nêu vấn đề,…để gây hứng thú, tạo nhu cầu đọc bài ở học sinh
- Luyện đọc lần thứ nhất :
Giáo viên đọc mẫu toàn bài, đọc chuẩn: đọc đúng, rõ ràng, trôi chảy, đọc
đủ lớn, nhanh vừa phải và diễn cảm Cho học sinh đọc thầm
Cho học sinh đọc nối tiếp câu lần thứ nhất (đọc thành tiếng)
Luyện đọc từ khó: Giáo viên đọc mẫu, phân tích Học sinh luyện đọc từ khó ( cá nhân, cả lớp)
Cho học sinh đọc nối tiếp câu lần thứ 2
Đọc đoạn kết hợp giải nghĩa từ: Giáo viên hướng dẫn học sinh chia đoạn Giáo viên giải nghĩ từ khó.Cho học sinh đọc đoạn ( cá nhân, nhóm)
- Tìm hiểu bài:Cho học sinh đọc từng đoạn và trả lời câu hỏi Giáo viên chốt ý
- Luyện đọc lần hai (đọc diễn cảm): Giáo viên đọc mẫu Hướng dẫn học sinh đọc ngắt, nghỉ, và nhấn giọng.Học sinh lắng nghe, đọc diễn cảm (cá nhân)
- Củng cố, dặn dò
Trang 191.3 Việc rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt cho học sinh Tiểu học thông qua phân môn tập đọc
Các từ Hán Việt đều có mặt trong các bài tập đọc Như vậy, đầu tiên phân môn Tập đọc rèn luyện cho học sinh đọc đúng, đọc nhanh và đọc diễn cảm các
từ Hán Việt Sau đó là đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu), nghĩa là lúc này, học sinh sẽ được tìm hiểu nghĩa của các từ Hán Việt có trong bài đọc, từ đó biết các sử dụng chính xác và hiệu quả
Sau mỗi bài tập đọc đều có phần chú thích và giải nghĩa Đây chính là cở
sở để giáo viên giúp học sinh tìm hiểu các từ Hán Việt có trong bài hoặc củng cố những từ Hán Việt học sinh đã được học
Ví dụ trong bài tập đọc sách giáo khoa lớp 4: Tiếng cười là liều thuốc bổ
có phần chú thích và giải nghĩa:
- Thống kê: thu thập số liệu về một hiện tượng, sự việc hay tình hình
nào đó
- Thư giãn: (cơ bắp) ở trạng thái thả lỏng, tạo nên cảm giác thoải mái
- Sản khoái: khoan khoái dễ chịu
- Điều trị: chữa bệnh
Giáo viên cũng có thể giải nghĩa các từ Hán Việt mới xuất hiện trong bài trong nhóm bài tập làm rõ nghĩa của ngôn ngữ văn bản đây chính là nhóm bài tập yêu cầu giải nghĩa từ, làm rõ nghĩa của từ, câu, đoạn, bài, hình ảnh, chi tiết
Ví dụ: bài tập yêu cầu giải nghĩa từ:
- Em hiểu hộp thư mật dung để làm gì? (Hộp thư mật – TV5 tập 2)
- Hãy giải nghĩa của những cách nói sau:
+ Ước “không còn mùa đông”
+ Ước “hóa trái bom thành trái ngon”
(Nếu chúng mình có phép lạ - TV4 tập 1)
Ngoài ra, trong quá trình tìm hiểu nội dung của văn bản, nếu giáo viên thấy có xuất hiện thêm từ Hán Việt nào mới thì ghi lại và giải nghĩa cho các em
để mở rộng thêm vốn từ
Trang 201.4 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi Tiểu học
1.4.1 Đặc điểm nhân cách
1.4.1.1 Tình cảm
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư
Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui
chột năng khiếu của trẻ
1.4.1.2 Ý chí
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở giáo viên sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ
1.4.2 Đặc điểm nhận thức
1.4.2.1 Tri giác
Trang 21Ở lứa tuổi cuối của bậc Tiểu học, quá trình tri giác có những biến đổi quan trọng Tri giác của học sinh tiểu học đi từ tính đại thể ít đi sâu vào chi tiết
và mang tính không chủ định Học sinh đã có khả năng nhìn thấy nhiều chi tiết trong cùng một đối tượng và nắm bắt được những dấu hiệu chủ yếu, quan trọng của đối tượng đó Tuy nhiên, tri giác ở lứa tuổi này cũng bắt đầu mang tính xúc cảm Các em chỉ thích quan sát sự vật, hiện tượng nào gần gũi, trực tiếp gây xúc cảm, tác động mạnh mẽ đến mình Vì vậy, cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực đối với các em
1.4.2.2 Chú ý
Chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có chú ý chưa mạnh Chú ý không chủ định của học sinh Tiểu học phát triển nhờ những thứ mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường
Do quá trình ức chế phát triển còn yếu, tính hưng phấn còn cao nên chú ý của các em còn bị phân tán, các em dễ quên những điều cô giáo dặn cuối buổi học,
bỏ sót chữ cái trong từ, trong câu…
1.4.2.3 Trí nhớ
Đối với học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – logíc Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Trong sự phát triển tư duy ở học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp và sau đó chuyển dần sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp
1.4.2.4 Tư duy
Tư duy là hạt nhân của hoạt động trí não, kỹ năng này bắt đầu phát triển
từ giai đoạn ấu thơ Tư duy của học sinh Tiểu học mang đậm màu sắc xúc cảm
và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động.Các phẩm chất tư duy của các em chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học Giáo viên cần dạy cho các em cách suy luận có căn cứ khách
Trang 22quan, phán đoán, phải có dẫn chứ thực tế, kết luận phải có tính chất đúng đắn logic, suy nghĩ có mục đích
1.4.2.5 Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững
và dễ thay đổi
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này
bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Qua đây, giáo viên phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt
ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức
lý tính của mình một cách toàn diện
1.4.2.6 Ngôn ngữ
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Trang 23Giáo viên phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể
kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí, Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu một số vấn đề về từ Hán Việt như nguồn gốc và các đặc điểm về ngữ nghĩa, phong cách và cấu tạo của từ Hán Việt
Chúng tôi cũng đã tìm hiểu và xác định được vị trí và nhiệm vụ của phân môn tập đọc và vai trò, vị trí của việc giảng dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc ở chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học Hiểu được tâm lí của học sinh khi học từ Hán Việt Từ đó làm cơ sở vững chắc để chúng tôi có thể thực hiện quá trình khảo sát dễ dàng và chính xác hơn
CHƯƠNG 2
Trang 24THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC TỪ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 VÀ LỚP 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
2.1 Mục đích điều tra
Thu thập thông tin để tìm hiểu thực trạng việc dạy và học từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 và lớp 5 Từ đây đề xuất một số biện pháp nhằm rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 và lớp 5
2.2 Đối tượng điều tra
Đề tài khảo sát 160 học sinh lớp 4, 5 và 12 giáo viên đang làm công tác chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, TP Đà
Nẵng, cụ thể là:
- Khối lớp 4: 80 học sinh và 6 giáo viên
- Khối lớp 5: 80 học sinh và 6 giáo viên
2.3 Phương pháp điều tra
- Sử dụng phương pháp điều tra bằng anket đối với giáo viên dạy phân môn Tập đọc và học sinh khối lớp 4 và lớp 5
- Dự giờ các tiết dạy học Tập đọc ở lớp 4 và lớp 5
- Lấy ý kiến của 6 giáo viên dạy phân môn Tập đọc ở lớp 4 và lớp 5
- Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của học sinh lớp 4 và lớp 5 trong
phân môn Tập đọc về từ Hán Việt
2.4 Nội dung điều tra
2.4.1 Nội dung điều tra giáo viên
- Nhận xét, đánh giá của giáo viên về khả năng nhận biết từ Hán Việt của học sinh
- Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh
Trang 25- Những phương pháp thường dùng khi dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh
- Những khó khăn thường gặp của giáo viên khi dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh
Những nội dung điều tra được thể hiện cụ thể qua phiếu khảo sát giáo viên ở phần phụ lục
2.4.2 Nội dung điều tra học sinh
- Thái độ của học sinh khi học từ Hán Việt
- Tìm hiểu về khả năng nhận biết và giải nghĩa từ Hán Việt của học sinh
- Tìm hiểu về khả năng vận dụng từ Hán Việt của học sinh
- Tìm hiểu về quá trình học từ Hán Việt của học sinh
Những nội dung điều tra được thể hiện cụ thể qua phiếu khảo sát học sinh
ở phần phụ lục
2.5 Kết quả điều tra
2.5.1 Kết quả điều tra giáo viên
Được sự cho phép của nhà trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, xin ý kiến của 12 giáo viên đang trực tiếp làm công tác giảng dạy phân môn Tập đọc lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Thành phố Đà Nẵng thông qua phiếu điều tra (xem phụ lục) Kết quả thu được như sau:
Câu 1: Theo thầy (cô), việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ Hán Việt có ý nghĩa như thế nào?
Mức độ Cần thiết Bình thường Không cần thiết
Trang 26Tỉ lệ 91,7% 8,3% 0%
Bảng 1: Nhận xét, đánh giá của giáo viên về ý nghĩa của việc dạy và rèn cho
học sinh sử dụng từ Hán Việt
Từ bảng trên, ta vẽ được biểu đồ như sau:
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện sự cần thiết của việc dạy và rèn cho học sinh sử
dụng từ Hán Việt
(Đơn vị %)
Nhận xét: Như vậy, dựa vào kết quả biểu đồ 1, có thể thấy: Có 91,7% số
giáo viên đều đồng tình cho rằng việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ Hán Việt là cần thiết; 8,3% số giáo viên cho rằng bình thường và 0% cho rằng không cần thiết Kết quả cho thấy phần lớn các giáo viên đều hiểu được tầm quan trọng của việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ Hán Việt trong nhà trường Tiểu học
và đồng ý việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ Hán Việt là rất cần thiết, cần được quan tâm và chú trọng
Câu 2: Theo thầy (cô), khả năng nhận biết từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc của học sinh lớp 4, 5 được đánh giá ở mức độ nào?
91,7%
8,3%
Cần thiết Bình thường Không cần thiết
Trang 27Mức độ Giỏi Khá Trung bình Yếu
Bảng 2: Nhận xét, đánh giá của giáo viên về khả năng nhận biết từ Hán
Việt trong phân môn Tập đọc của học sinh lớp 4 và lớp 5
Nhận xét: Kết quả khảo sát ở bảng trên cho thấy: Có 8,3% số giáo viên
cho rằng khả năng nhận biết từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc của học sinh lớp 4, 5 đạt mức độ giỏi; 58,4% giáo viên chọn mức độ khá; 25% giáo viên chọn mức độ trung bình và 1% giáo viên chọn mức độ yếu Như vậy, có thể thấy khả năng nhận biết Hán Việt trong phân môn Tập đọc của học sinh lớp 4, 5 phần lớn chỉ đạt ở mức độ khá, mức độ giỏi chỉ chiếm số ít Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những học sinh chưa có khả năng nhận biết từ Hán Việt
Câu 3: Khi học những văn bản tập đọc có chứa từ Hán Việt, học sinh thường mắc phải những lỗi nào?
Chưa nhận biết được từ Hán Việt 6/12 50%
như sau:Có 6/12 giáo viên (chiếm 50%) cho rằng học sinh mắc lỗi chưa nhận
Trang 28biết được từ Hán Việt Lỗi tìm sai từ Hán Việt có 8/12 giáo viên (chiếm 66,7%) Lỗi hiểu sai nghĩa của từ Hán Việt có 6/12 giáo viên (chiếm 50%) Có 9/12 giáo viên (chiếm 75%) cho rằng học sinh chưa biết vận dụng từ Hán Việt vào sử dụng ngôn ngữ như đặt câu, kể chuyện, Ngoài ra, các thầy (cô) còn nêu thêm một số lỗi mà học sinh mắc phải như nhầm lẫn từ Hán Việt với từ thuần Việt, không tạo ra được từ từ yếu tố Hán Việt đã cho, Qua một số tiết dự giờ, chúng tôi thấy được nguyên nhân ban đầu dẫn đến kết quả trên là do số lượng từ Hán Việt trong các văn bản tập đọc tương đối nhiều nhưng học sinh chỉ nắm được một vài từ Hán Việt nằm trong phần chú giải khiến học sinh nắm kiến thức chưa chắc và chưa có thời gian để luyện tập nhằm khắc sâu hơn kiến thức cũng như vận dụng vào thực hành ngôn ngữ tiếng Việt
Như vậy, theo kết quả thống kê ý kiến của giáo viên cho thấy rằng học sinh mắc lỗi chưa biết vận dụng từ Hán Việt vào sử dụng ngôn ngữ như đặt câu,
kể chuyện, chiếm tỉ lệ cao nhất Bên cạnh đó, học sinh còn mắc các lỗi như chưa nhận biết được từ Hán Việt, hiểu sai nghĩa của từ Hán Việt, sử dụng từ Hán Việt chưa hợp lí, nhầm lẫn từ Hán Việt với từ thuần Việt, Từ đây, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng dạy và học từ Hán Việt cho học sinh thông qua phân môn Tập đọc: cung cấp các biện pháp giải nghĩa từ Hán Việt cho học sinh và thiết kế môn số trò chơi giúp giải nghĩa, sử dụng từ Hán Việt có trong các văn bản Tập đọc Từ đó học sinh khắc sâu thêm nội dung bài học nói chung và từ Hán Việt nói riêng
Câu 4: Thầy (cô) thường sử dụng những phương pháp dạy học nào trong khi dạy từ Hán Việt ở phân môn Tập đọc và mức độ sử dụng phương pháp đó ra sao?
Mức độ Phương pháp
Thường xuyên Thỉnh
thoảng Không bao giờ
Trang 29Bảng 4: Các phương pháp dạy học từ Hán Việt cho học sinh trong phân
môn Tập đọc và mức độ sử dụng
Nhận xét: Khi dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh,
giáo viên thường sử dụng các phương pháp dạy học với mức độ cụ thể như sau:
- Phương pháp trực quan được 8,33% giáo viên sử dụng ở mức độ thường xuyên, 8,33% giáo viên thỉnh thoảng sử dụng và có tới 83,34% không sử dụng phương pháp này trong khi dạy từ Hán Việt cho học sinh
- Không giáo viên nào lựa chọn sử dụng phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp trò chơi
- Phương pháp thực hành, luyện tập không có giáo viên sử dụng ở mức độ thường xuyên, có 8,33% giáo viên sử dụng ở mức độ thỉnh thoảng và 91,67% giáo viên không sử dụng phương pháp này trong khi dạy từ Hán Việt cho học sinh
- Phương pháp thuyết giảng, trình bày được 91,67% giáo viên sử dụng ở mức độ thường xuyên, 8,33% giáo viên sử dụng ở mức độ thỉnh thoảng và không có giáo viên nào không sử dụng phương pháp này khi dạy cho học sinh
Như vậy, phần lớp giáo viên sử dụng phương pháp thuyết giảng, trình bày khi dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh Phương pháp trực quan và phương pháp thực hành luyện tâp là phương pháp mà giáo viên sử dụng còn hạn chế Bên cạnh đó, phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp trò
Phương pháp trực quan 1/12 8,33% 1/12 8,33% 10/12 83,34% Phương pháp thảo luận nhóm 0/12 0% 0/12 0% 12/12 100% Phương pháp trò chơi 0/12 0% 0/12 0% 12/12 100% Phương pháp thực hành luyện
Phương pháp thuyết giảng,
trình bày 11/12 91,67% 1/12 8,33% 0/12 0%
Trang 30chơi không được giáo viên nào sử dụng Nguyên nhân ban đầu là: thời gian còn hạn chế, việc giải nghĩa từ Hán Việt chỉ là một bước nhỏ trong phần giải nghĩa
từ khó nên giáo viên còn chưa quan tâm để đưa ra nhiều phương pháp dạy hiệu quả khác
Câu 5 Thầy (cô) thường sử dụng những hình thức dạy học nào trong khi dạy từ Hán Việt phân môn Tập đọc?
Hình thức tổ chức dạy học Số lượng Tỉ lệ
Bảng 5: Hình thức tổ chức dạy học trong dạy học từ Hán Việt
Nhận xét: Khi dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh thì
phần lớn giáo viên đều sử dụng hình thức dạy học cá nhân ( chiếm 100% ), hình thức dạy học theo lớp có 1/12 giáo viên sử dụng ( chiếm 8,33% ) và không có giáo viên nào sử dụng hình thức dạy học theo nhóm Nguyên nhân vì thời gian ít
và giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết giảng khi dạy học từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh
Câu 6: Theo thầy (cô), những nguyên nhân nào dẫn đến việc học sinh trong lớp của mình gặp khó khăn trong việc học từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc?
Do đặc điểm trí tuệ của học sinh 4/12 33,3%
Do chưa biết phân biệt và hiểu nghĩa của từ 10/12 83,3%
Do học sinh chưa được thực hành thường
Bảng 6: Nguyên nhân học sinh gặp khó khăn khi học từ Hán Việt
Trang 31Nhận xét: Theo ý kiến của các giáo viên thì những nguyên nhân được thu
lại cụ thể như sau: Có 33,3% giáo viên cho rằng nguyên nhân học sinh gặp khó khăn khi học từ Hán Việt là do đặc điểm trí tuệ của các em; 83,3% giáo viên cho
là do học sinh chưa biết phân biệt và hiểu nghĩa của từ và 66,7% giáo viên cho
là do học sinh chưa được thực hành thường xuyên Ngoài ra, một số giáo viên còn cho biết một số nguyên nhân khác khiến học sinh gặp khó khăn khi học từ Hán Việt đó là do học sinh không có hứng thú khi học từ Hán Việt, học sinh chưa tự tin khi tham gia phát biểu xây dựng bài
Câu 7: Những khó khăn của thầy (cô) đối với việc dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh là gì?
Học sinh chưa hứng thú với việc học từ Hán Việt 5/12 41,67% Thiết kế các dạng bài tập, trò chơi về từ Hán Việt khó
Tư liệu dạy học về từ Hán Việt còn hạn chế 11/12 91,7% Thời lượng cho một tiết dạy Tập đọc không đủ để
giáo viên dạy và thực hành từ Hán Việt cho học sinh 10/12 83,3%
Bảng 7: Những khó khăn của giáo viên trong việc dạy từ Hán Việt trong
phân môn Tập đọc
Nhận xét: Theo ý kiến của các giáo viên thì những khó khăn khi dạy từ
Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh cụ thể như sau:
- 41,67% giáo viên cho rằng học sinh chưa hứng thú với việc học từ Hán Việt do đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học (chú ý của học sinh chưa cao,
dễ bị phân tán sự tập trung) và do việc giải nghĩa từ Hán Việt chủ yếu được giáo viên sử dụng phương pháp thuyết giảng, trình bày đơn thuần nên học sinh chưa hứng thú
Trang 32- 91,7% giáo viên cho rằng thiết kế các dạng bài tập, trò chơi về từ Hán Việt phù hợp để sử dụng trong phân môn Tập đọc khó và mất nhiều thời gian Lí
do là phần giải nghĩa từ ít thời gian, phần tập đọc, luyện đọc tốn nhiều thời gian
- 91,7% giáo viên cho rằng tư liệu dạy học về từ Hán Việt còn hạn chế
- 83,3% giáo viên cho rằng thời lượng cho một tiết dạy không đủ để giáo viên hướng dẫn từ Hán Việt cho học sinh
- Ngoài ra, một số giáo viên còn cho biết vài khó khăn khác mà giáo viên gặp phải khi dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc đó là do chưa tạo được hứng thú cho học sinh, học sinh chưa nhận thấy được tầm quan trọng của việc học từ Hán Việt
Câu 8 Theo thầy (cô), cần phải có những biện pháp nào để giúp nâng cao hiệu quả dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh?
Nhận xét: Đối với câu hỏi này, chúng tôi nhận được nhiều ý kiến đóng
góp quý báu của các giáo viên như tăng thời lượng thực hành từ Hán Việt, kết hợp trò chơi học tập để tạo hứng thú cho học sinh, xây dựng nhiều bài tập ngắn hấp dẫn học sinh (như thi tìm từ , đố mẹo, ), ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy,
Trang 33Nhận xét chung:
Qua thời gian khảo sát, tìm hiểu giáo viên ở trường Tiểu học, chúng tôi nhận thấy rằng nhà trường đã có sự quan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn có hiệu quả Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, các buổi dạy đánh giá trong tổ chuyên môn, các buổi tập huấn cho giáo viên Qua những buổi sinh hoạt chuyên môn, các giáo viên có thể trao đổi ý kiến, kinh nghiệm cho nhau Từ đó nâng cao hiểu biết cho mỗi giáo viên Tất cả các giáo viên đều được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo, Nhà trường cũng tạo điều kiện trang bị các phương tiện dạy học hiện đại như ti vi, máy chiếu để giáo viên có thể dạy bằng giáo án điện tử Đối với việc dạy từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc, hầu hết giáo viên đã dạy đúng theo chương trình Một số giáo viên đã sử dụng những phương pháp dạy học mới, kết hợp nhiều hình thức dạy học tạo được hứng thú học tập cho học sinh và ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy giúp phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập: Thời gian còn hạn chế, việc giải nghĩa từ Hán Việt chỉ là một bước nhỏ trong phần giải nghĩa từ khó nên giáo viên còn chưa quan tâm để đưa ra nhiều phương pháp dạy hiệu quả khác Phần lớp giáo viên sử dụng phương pháp thuyết giảng, trình bày đơn thuần nên học sinh chưa hứng thú Một số giáo viên còn lúng túng khi giải thích nghĩa của
từ Hán Việt Việc chọn lựa các hình thức dạy học chưa phù hợp với đối tượng học sinh, chưa phù hợp với bài dạy nên dẫn đến tình trạng học sinh nhàm chán Một vài giáo viên chưa nhanh nhạy trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm Với một số giáo viên có tuổi đời, tuổi nghề cao nên phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào tiềm thức khó thay đổi hoặc thay đổi chậm Việc tiếp cận vấn đề lí luận chung về đổi mới phương pháp còn gặp khó khăn, lúng túng Đôi khi điều kiện giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, các tài liệu tham khảo phục
vụ việc giảng dạy từ Hán Việt cho học sinh chưa phong phú
Trang 34Đối với đề tài này, chúng tôi xây dựng 2 phiếu điều tra dành cho 80 học sinh lớp 4 và 80 học sinh lớp 5 Kết quả thu được như sau:
Câu 1: Em có thích học từ Hán Việt không?
Bảng 8: Thái độ học từ Hán Việt của học sinh
Từ bảng trên, ta có được biểu đồ như sau:
Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện thái độ của học sinh đối với việc học từ Hán
Nhận xét: Qua biểu đồ trên, có thể thấy rằng số học sinh thích học từ Hán
Việt chiếm 75%, số học sinh cảm thấy bình thường khi học từ Hán Việt chiếm 15% và 10% số học sinh không thích học từ Hán Việt Như vậy, đa số học sinh đều thích và quan tâm đến việc học từ Hán Việt Học sinh nhận thức được tầm
Trang 35quan trọng của việc học từ Hán Việt Do đó, việc đưa ra các biện pháp giúp học
sinh học tốt từ Hán Việt là vô cùng cần thiết
Câu 2 : Cho các câu văn sau:
- “Suốt cuộc dạo chơi kì thú đó, du khách sẽ cảm thấy như lạc vào thế giới của nghệ thuật chạm khắc và kiến trúc cổ đại”
( Trích “Ăng-co Vát” - TV4 tập 2)
- “Ngày 16-7-1945,nước Mĩ chế tạo được bom nguyên tử Hơn nửa tháng sau, chính phủ Mĩ quyết định ném cả hai quả bom mới chế xuống Nhật Bản”
(Trích “Những con sếu bằng giấy”- tr36/ SGK TV5 Tập 1)
Em hãy tìm những từ Hán Việt có trong các câu văn sau?
Nhận xét: Qua các bài làm của học sinh trên phiếu cho thấy em nhận biết
được nhiều nhất là 5 từ, ít nhất là 2 từ Tỉ lệ học sinh nhận ra từ Hán Việt còn thấp, chiếm khoảng 40,65% , tỉ lệ các em xác định nhầm lẫn từ Hán Việt còn khá cao, chiếm khoảng 59,35% Đây là một con số lớn cho thấy khả năng nhận biết từ Hán Việt của học sinh còn thấp, nhiều từ có số lượng học sinh nhận ra thấp hoặc thậm chí không nhận ra, chưa kể một số ít những từ mà học sinh tìm đúng còn do chọn ngẫu nhiên Vì vốn từ Hán Việt vay mượn từ giai đoạn trước được đồng hóa, Việt hóa sâu sắc nên nếu không nắm kĩ có thể bị nhầm lẫn là từ thuần Việt
Câu 3: Em hãy giải nghĩa các từ Hán Việt mà em đã tìm được ở câu 2?
Nhận xét: : Qua khảo sát, nhận thấy rằng khả năng giải nghĩa các từ Hán
Việt của học sinh còn hạn chế Một số em tuy tìm được ra từ Hán Việt nhưng lại không hiểu nghĩa của từ đó Nguyên nhân ban đầu là do học sinh ít được thực hành nên việc vận dụng từ Hán Việt còn chưa linh hoạt, bên cạnh đó vốn từ của các em còn hạn chế dẫn đến việc giải nghĩa của từ còn gặp khó khăn
Câu 4: Em hãy chọn một trong những từ Hán Việt vừa tìm được ở câu 2 và đặt câu với từ đó?
Trang 36Nhận xét: Qua bài làm của học sinh trên phiếu cho thấy rằng tuy các em
đã nhận biết được từ Hán Việt nhưng khi áp dụng vào đặt câu thì nhiều em vẫn còn lúng túng Đa phần các em đã viết được câu với từ Hán Việt, nhiều em đặt câu khá hay, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều em đặt câu còn lủng củng, đặt câu không có nghĩa, câu văn ngắn ngủn mà còn sai lỗi chính tả Nguyên nhân ban đầu là do các em chưa hiểu đúng nghĩa của từ dẫn đến việc đặt câu sai, lủng củng,
Câu 5:Em hãy tìm các từ có các tiếng sau: nhân, dũng, sơn, thủy, quốc?
Qua điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau : trong các yếu tố đã cho học sinh tìm được nhiều nhất là 5 từ và ít nhất là 1 từ Hầu hết các em tìm được các yếu tố đã cho, số lượng các em tìm được từ đã cho là khá cao Trong những
yếu tố đã cho, yếu tố nhân, dũng là hai yếu tố các em tìm được nhiều nhất Bên
cạnh đó có một bộ phận học sinh tìm được từ ngữ chiếm yếu tố đã cho nhưng
không phải là từ Hán Việt, như : lọ sơn, nhân bánh… Có thể nói rằng,các em
tìm được từ chứa những tiếng đã cho khá nhiều và đây đúng là những yếu tố gần gũi, quen thuộc với các em Tuy nhiên một số từ em vẫn tìm từ sai Điều này là
do trong các từ Hán Việt và các yếu tố Hán Việt có hiên tượng đồng âm, nhiều nghĩa nên các em dễ nhầm lẫn
Nhận xét chung: Trong quá trình dự giờ và thông qua phiếu khảo sát,
chúng tôi đã nhận thấy những mặt tích cực và hạn chế của học sinh trong quá trình học từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc
Về mặt tích cực: Từ Hán Việt xuất hiện thường xuyên trong các bài tập đọc mà các em được học, nhất là trong phần chú giải Nên trong qua trình giải nghĩa từ khó ở các tiết Tập đọc các em đã nắm được một số từ Hán Việt cơ bản
Bên cạnh mặt tích cực, vẫn còn tồn tại một số yếu tố khiến học sinh chưa học tốt về từ Hán Việt:
Trang 37- Thứ nhất do giáo viên chưa nắm và quán triệt được vị trí quan trọng của việc dạy tiếng Việt nói chung và từ Hán Việt nói riêng trong phân môn Tập đọc, chưa thấy được vị trí vai trò của từ Hán Việt trong hệ thống của từ Hán Việt
- Thứ hai do học sinh hầu như không có hứng thú học tập, quan tâm, yêu thích, tìm hiểu và muốn học về lớp từ Hán Việt này
- Thứ ba do trình độ học sinh không đồng đều, quen cách học thụ động máy móc theo khuân mẫu, học sinh luôn bị phụ thuộc vào giáo viên nên khả năng linh hoạt, chủ động sáng tạo của học sinh chưa được phát huy triệt để Có thể nói điều đó đã làm giảm hiệu quả trong việc giúp đỡ học sinh hiểu đúng, hiểu sâu về từ Hán Việt
- Có một số từ Hán Việt đã xuất hiện ở các phân môn khác, xuất hiện lại trong phân môn Tập đọc nhưng do thời gian ít nên các em chưa nhớ Những từ này không xuất hiện trong phần chú giải Vì vậy giáo viên có thể dựa vào văn bản, từ đó đưa ra những câu hỏi, trò chơi phù hợp để học sinh ôn lại và khắc sâu
Tiểu kết chương 2
Ở chương 2, chúng tôi đã tìm hiểu và trình bày thực trạng về việc dạy và học từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4, 5 tai trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Thành phố Đà Nẵng Kết quả cho thấy rằng: việc dạy và học từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc lớp 4, 5 còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau
Việc tìm hiểu thực trạng sẽ làm cơ sở cho việc nghiên cứu và xây dựng một số bài tập rèn kĩ năng sử dụng từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4, 5
Trang 38Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 VÀ LỚP 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN
TẬP ĐỌC
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Học tập tích cực, độc lập, sáng tạo có ảnh hưởng đến sự phát triển hứng thú và tự giác Niềm hứng thú thực sự biểu hiện ở sự bền bỉ, kiên trì và sáng tạo trong công việc và giải quyết các vấn đề một cách độc lập Để phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên cần:
- Thừa nhận, tôn trọng, hiểu, đồng cảm với nhu cầu, mục đích cá nhân của học sinh Đạt được độ tin cậy, tạo sức thu hút, thuyết phục, kích thích động cơ bên trong của học sinh
- Chống gò ép, nuôi dưỡng tính sẵn sàng, tính tích cực ý chí của người học để đạt mục đích học tập và phát triển cá nhân
- Tổ chức những tình huống có vấn đề đòi hỏi học sinh phải quan sát, dự đoán, nêu giả thuyết, tranh luận giữa những ý kiến trái ngược khi giải quyết vấn
đề
- Dạy học ở mức độ phù hợp với học sinh Một nội dung quá dễ hoặc quá khó sẽ không gây được hứng thú Cần biết dẫn dắt học sinh tìm thấy cái mới, có thể tự mình kiến tạo được tri thức, cảm thấy càng tự tin vào chính khả năng của bản thân
- Tạo ra không khí thuận lợi cho lớp học, có sự giao tiếp thuận lợi giữa thầy và trò, giữa trò và trò bằng cách kết hợp tổ chức các hoạt động học tập trong lớp học theo cá nhân và hợp tác
- Tạo ra tình huống chứa một số điều kiện xuất phát rồi yêu cầu học sinh
đề xuất càng nhiều giải pháp càng tốt Việc đánh giá tính sáng tạo được căn cứ vào tính mới mẻ, tính độc đáo và tính hữu ích của các giải pháp
Trang 39Nguyên tắc này đòi hỏi việc dạy học từ Hán Việt phải hướng vào tính tích cực của học sinh, phải để các em tự chiếm lĩnh tri thức và ghi nhớ chúng một cách chủ động, hiệu quả, học bằng giao tiếp và từ đó áp dụng vào giao tiếp hằng ngày Nếu dạy học từ Hán Việt bằng các biện pháp giải nghĩa từ thông qua các bài tập đọc thì phải được tổ chức dưới dạng thực hành, tất cả học sinh đều được làm việc và phát huy tối đa khả năng của mình Nếu dạy học từ Hán Việt thông qua hệ thống các trò chơi thì phải phát huy khả năng giao tiếp của học sinh, làm cho các em tự tin, chủ động và tham gia hết mình
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu của bài học
Mục tiêu bài học là cái đích cuối cùng mà cả giáo viên và học sinh hướng tới Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó thì phải dựa trên nội dung dạy học cụ thể của từng bài, từng tiết học Chính vì thế, biện pháp giảng dạy phải được xây dựng gắn liền với nội dung dạy học về từ Hán Việt trong phân môn Tập đọc ở lớp 4, 5 Cụ thể, các thông tin, bài tập hay trò chơi đưa ra phải chứa đựng các nội dung kiến thức liên quan, rõ ràng về từ Hán Việt Thông qua đó, học sinh dễ dàng nắm vững kiến thức cũng như được rèn luyện các kĩ năng cần thiết
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi
Dạy học vừa sức có nghĩa là trong quá trình dạy học phải tạo nên những khó khăn vừa sức, những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra phải tương ứng với giới hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất Dạy học vừa sức không có nghĩa là sức học sinh đến đâu thì dạy đến đó, mà bao giờ cũng đề ra những khó khăn mà dưới sự chỉ đạo của giáo viên, người học bằng sự nỗ lực của mình cũng đều khắc phục được Dạy học như vậy mới đảm bảo đi trước sự phát triển, thúc đẩy sự phát triển của học sinh
Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh Mỗi độ tuổi gắn liền với sự trưởng thành của những cơ quan trong cơ thể và những chức năng của các cơ quan đó, cũng như với sự tích lũy những kinh nghiệm về mặt nhận thức và về mặt xã hội, với loại hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó Lứa tuổi thay đổi thì nhu cầu trí tuệ và hứng thú nhận thức của trẻ cũng