Một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng nhận diện và sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ cho học sinh lớp 4, 5 trong phân môn Luyện từ và câu.. Nhận thấy việc
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho học
sinh lớp 4, 5 thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu
GVHD : ThS Lê Sao Mai
SVTH : Nguyễn Thị Thùy Nhung
Trang 22
LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo
hương dẫn: ThS Lê Sao Mai, giảng viên khoa giáo dục Tiểu học, trường Đại học
Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá
trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Em xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm, các
thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học cùng toàn thể các thầy cô giáo trong trường
Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã trang bị những kiến thức, tận tình chỉ bảo em trong
suốt những năm học qua Cảm ơn các bạn trong lớp 14STH đã động viên, giúp đỡ
em trong quá trình nghiên cứu đề tài này Em xin cảm ơn các thầy cô giáo và các
học sinh ở trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ đã phối hợp để giúp em có nguồn tư
liệu thực tế trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài Là một sinh viên bước đầu
làm quen với việc nghiên cứu khóa luận, do kinh nghiệm còn hạn chế và còn nhiều
bỡ ngỡ nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn
thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2018 Sinh viên
Nguyễn Thị Thùy Nhung
Trang 33
MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Ý nghĩa việc dạy và rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa của học sinh 27 Bảng 2.2: Nhận xét của giáo viên về khả năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa của học sinh lớp 4, 5 28 Biểu đồ 2.1: Biểu đồ nhận xét của GV về khả năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa HS lớp 4,5 28 Bảng 2.3: Nhận xét mức độ mắc lỗi của học sinh lớp 4,5 khi nhận biết biện pháp tu
từ so sánh, nhân hóa 29 Bảng 2.4: Các phương pháp dạy học trong giảng dạy biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa của giáo viên 30 Bảng 2.5: Tỉ lệ mức độ sử dụng phương pháp các phương pháp dạu học biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa của giáo viên 30 Bảng 2.6: Hình thức dạy học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong phân môn Luyện từ và câu 32 Bảng 2.7: Đánh giá của GV về nguyên nhân dẫn đến khó khăn của học sinh khi sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa 32 Bảng 2.8: Nhận xét của GV về mức độ đạt hiệu quả khi dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ 33 Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ mức độ dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ 34 Bảng 2.9: Mức độ lồng ghép các câu ca dao, tục ngữ khi giảng cho học sinh 35 Bảng 2.10: Nguyên nhân dẫn đến việc học sinh ít thuộc các câu ca dao tục ngữ 35 Bảng 2.11: Khó khăn của GV khi dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua
ca dao tục ngữ 36 Biểu đồ 2.3: Mức độ hứng thú của học sinh khi học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa 38
Trang 44
Bảng 2.12: Mức độ hứng thú của học sinh khi học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa 38 Bảng 2.13: Mức độ học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh 39 Bảng 2.14: Mức độ học sinh nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa 39 Bảng 2.15: Mức độ học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyên từ và câu 39 Bảng 2.16: Mức độ hứng thú và dễ hiểu khi học về biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu 40 Bảng 2.17: Mức độ nhận biết, vận dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu của học sinh lớp 4,5 40
Trang 55
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lí do chọn đề tài 7
2 Lịch sử vấn đề 8
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Giả thuyết khoa học 10
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
7 Phương pháp nghiên cứu 10
8 Cấu trúc đề tài 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 12
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 Một số vấn đề chung của biện pháp tu từ 12
1.2 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu .14
1.3 Việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu .17
1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học .20
1.5 Tiểu kết 22
Chương 2 24
THỰC TRẠNG VIỆC RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH VÀ NHÂN HÓA CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA CA DAO, TỤC NGỮ TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU .24
2.1 Mục đích điều tra 24
2.2 Đối tượng điều tra 24
2.3 Phương pháp điều tra 24
2.4 Nội dung điều tra 24
2.5 Kết quả điều tra 25
2.6 Tiểu kết 40
Chương 3: 41
XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ NHẰM RÈN KĨ NĂNG 41
PHÁT HIỆN VÀ SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH VÀ NHÂN HÓA THÔNG QUA CA DAO TỤC NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 41
TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU .41
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 41
Trang 66
3.2 Một số yêu cầu trong việc xây dựng bài tập .42
3.3 Một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng nhận diện và sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ cho học sinh lớp 4, 5 trong phân môn Luyện từ và câu .45
3.4 Tiểu kết 58
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 61
1 Thống kê ca dao, tục ngữ có sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong chương trình tiếng việt ở tiểu học .61
2 Sưu tầm một số câu ca dao tục ngữ có sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa .63
3 Phiếu điều tra học tập của học sinh (lớp 4, 5) 66
4 Phiếu trưng cầu ý kiến của giáo viên .72
Trang 7Trong chương trình học từ lớp 2 đến lớp 5, biện pháp tu từ đóng vai trò quan trọng trong việc rèn luyện các kĩ năng sử dụng vốn từ cũng như khả năng cảm thụ văn học của các em Biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng khéo léo các đơn vị
từ vựng (trong phạm vi của một câu hay một chỉnh thể) có khả năng đem lại hiệu quả tu từ do mối quan hệ qua lại giữa các đơn vị từ vựng trong ngữ cảnh rộng Việc dạy học các biện pháp tu từ có ýnghĩa vô cùng quan trọng, bởi nó giúp người học biết cách sử dụng ngôn từcó hiệu quả cao Ngôn từ được dùng không chỉ đảm bảo tính thông báo thông tin mà còn mang tính nghệ thuật, thẩm mĩ và biểu đạt tình cảm Việc học các biện pháp tu từ không chỉ giúp người học cảm thụđược cái hay, cái đẹp trong văn bản nghệ thuật mà còn ham muốn tạo ra cái hay, cái đẹp bằng ngôn từ
Thế nào là so sánh, nhân hóa? Cách nhận biết hai biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa đã được dạy và học ở lớp 3 Tuy nhiên hai biện pháp tu từ này được sử dụng nhiều nhất trong các bài tập làm văn chương trình lớp 4, lớp 5.Khi học sinh được học những kiến thức về sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong văn miêu tả, cảm nghĩ hay trong thơ ca các em sẽ nhận thấy cái hay, cái đẹpchứa đựng trong từng cách so sánh, nhân hóa một sự vật Từ đó, các em sẽ biết sử dụng các biện pháp tu từ sao cho đúng, cho hay để viết văngợi hình, gợi cảm và sinh động hơn Thực tế cho thấy khả năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhânhóa khi viết văn hay trong giao tiếp của học sinh Tiểu học còn nhiều hạn chế Các bài văn viết của học sinh thường ít sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa hoặc cósử dụng thì cũng chưa hay, chưa phù hợp hoặc hiệu quả chưa cao Vì vậy, lời văn của các em thường khô khan, câu văn thiếu hình ảnh, đơn điệu, chỉ mang tính liệt kê,
mô tả… Bên cạnh đó, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh
sử dụng các biện pháp tu từ này trong bài văn miêu tả.Chưa khai thác triệt để vai trò của các biện pháp tu từ để học sinh có thể sử dụng khi làm văn Không chỉ là văn viết so sánh, nhân hóa còn được sử dụng trong văn nói, hai biện pháp tu từ trên giúp cho lời ăn tiếng nói hằng ngày trở nên đa dạng, sinh động hơn
Trang 88
So sánh và nhân hoá là hai biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong khi nói
và viết văn bản Về cách thức nói (truyền miệng) và viết ta có thể liên hệ đến một thể loại văn học cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho học sinh rèn luyện và phát triển kĩ năng sử dụng các biện pháp tu từ này đó chính là văn học dân gian, cụ thể hơn chính là ca dao tục ngữ Có thể nói, ca dao tục ngữ rất quen thuộc đối với mỗi chúng ta trong cuộc sống hàng ngày, đó là vốn sống vốn kinh nghiệm của cha ông để lại Bên cạnh ý nghĩa về mặt giáo dục cho con cháu đời sau
về tình cảm trong cuộc sống, về kinh nghiệm trong lao động sản xuất, về các hiện tượng trong tự nhiên,…Ca dao tục ngữ càng mang tính nghệ thuật rất cao bởi những hình ảnh, ngôn từ và các biện pháp tu từ được ông cha ta sử dụng Trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học, ca dao tục ngữ có mặt hầu hết chương trình ở các khối lớp Các em được làm quen với việc viết bài văn miêu tả (là chủ yếu) nên việc hình thành cho các em sử dụng câu văn hay hợp logic và mang tính nghệ thuật cao rất quan trọng Các biện pháp tu từ không được dạy riêng thành một bài học mà chỉ được giáo viên giảng giải khi bắt gặp trong các bài tập đọc hoặc các câu trong phân môn Luyện từ và câu nên việc này rất khó để giúp các em hiểu và nâng cao việc sử dụng biện pháp tu từ vào câu văn cho phù hợp Nhận thấy việc phân bố ca dao tục ngữ vào chương trình môn Tiếng Việt khá phổ biến, kết hợp với mong muốn có những biện pháp để giúp cho học sinh phát triển được việc sử dụng biện pháp tu từ trong văn nói lẫn văn viết sao cho phổ biến hơn và hiệu quả hơn, chúng tôi quyết
định thực hiện đề tài : “Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân
hóa cho học sinh lớp 4, 5 thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ
và câu.” để giúp cho học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học môn Tiếng
Việt đạt hiệu quả hơn
dụng của nó khá đầy đủ và chi tiết trên phương diện lí thuyết Trên phương diện
thực hành nó được cụ thể hóa trong cuốn “300 bài tập phong cách học Tiếng Việt”
Tác giả Cù Đình Tú cũng đã đề cập, nghiên cứu về các biện pháp tu từ so sánh
nhân hóa trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, NXB
Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong trường Tiểu học cũng được dùng khá phổ biến, đặc biệt trong giao tiếp và viết văn miêu tả Biện pháp tu từ so sánh và
Trang 9tổ chức của so sánh, nhân hóa (sđd, tr.56 - 58) Ngoài ra, các biện pháp tu từ so
sánh nhân hóa còn được nghiên cứu trong các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Một số sinh viên khoa Ngữ Văn và khoa Giáo dục Tiểu học đã thực hiện nghiên cứu đề tài có liên quan đến so sánh và nhân hóa, ví dụ như:
- Rèn kĩ năng cảm nhận biện pháp nhân hóa trong các bài thơ cho học sinh lớp 4, 5 Nguyễn Thị Thu Hà sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học trường đại học sư phạm Hà nội 2 (2016)
- Tìm hiều khả năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4, các dạng bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu
từ so sánh và nhân hóa
Mặc dù có nhiều tác giả nghiên cứu về so sánh, nhân hóa Cũng như có nhiều tác giả nghiên cứu về ca dao tục ngữ nhưng chưa một công trình nghiên cứu hay tác giả nào đề cập đến vấn đề kết hợp dạy rèn kĩ năng so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ Đề tài của chúng tôi có tiếp thu và chọn lọc những thành tựu của nhà nghiên cứu đi trước, đồng thời cũng vận dụng những kiến thức lí luận để tìm hiểu
về kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho học sinh lớp 4, 5 thông qua ca dao, tục ngữ
3 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng dạy và học biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu của học sinh và giáo viên lớp 4, 5, chúng tôi đề xuất các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu và xây dựng các bài tập bổ trợ nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh nhân hóa cho học sinh lớp 4, 5 thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa cho học sinh lớp 4, 5
Trang 1010
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa cho học sinh lớp 4, 5 thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu
5 Giả thuyết khoa học
Thông qua việc khảo sát,thống kê, phân loại các câu ca dao tục ngữ có sử dụng biên pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong SGK Tiếng Việt tiểu học Khảo sát, trưng cầu ý kiến của học sinh, giáo viên trường Tiểu học, chúng tôi đã xây dựng và thiết
kế một số bài tập rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa cho học sinh Tiểu học Đề tài này sẽ là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên và học sinh Tiểu học trong quá trình dạy và học môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác có liên quan
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài này có các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu khái quát những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa, ca dao, tục ngữ Tác dụng của việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện
từ và câu cho học sinh lớp 4, 5
- Tìm hiểu về thực trạng dạy học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, , đồng thời tìm hiểu dạy và học biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa trong phân môn Luyện từ và câu thông qua ca dao tục ngữ được sử dụng như thế nào ở trường tiểu học
- Đề xuất một số biện pháp nhằm rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, cụ thể như sau:
Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến
đề tài
Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Thống kê việc sử dụng biện pháp tu
từ trong ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu_ SGK Tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5 Khảo sát, thống kê trưng cầu ý kiến của giáo viên và học sinh về việc dạy và học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4, 5
Trang 1111
Phương pháp phân tích chứng minh: Làm rõ ý nghĩa và giá trị biểu cảm của biện
pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong ca dao tục ngữ
Phương pháp tổng hợp khái quát
8 Cấu trúc đề tài
- Phần mở đầu gồm: Lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên cứu,
đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc đề tài
- Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Khảo sát thực trạng việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so
sánh, nhân hóa cho học sinh lớp 4, 5 thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu
Chương 3: Xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm rèn kĩ năng phát hiện và sử
dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho học sinh lớp 4, 5 thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu
- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 121.1.1 Khái niệm biện pháp tu từ
Hiện nay, có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về vấn đề khái niệm biện pháp tu từ, có thể kể các tác giả tiêu biểu sau:
Theo Đinh Trọng Lạc: “Biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng các đơn vị lời nói trong giới hạn của một đơn vị thuộc bậc cao hơn” (Đinh Trọng Lạc, 300 bài tập phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1995, tr.5)
Phan Phương Dung quan niệm: “Biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ” (Phan Phương Dung, Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, 2007, tr.106)
Tuy nhiên, chúng tôi chọn định nghĩa của Đinh Trọng Lạc để làm căn cứ, cơ
sở lý luận để nghiên cứu đề tài:“Biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng một cách khéo léo trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là trung hòa hay tu từ trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ” (Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học Tiếng Việt, NXB GD Hà Nội.)
1.1.2 Các biện pháp tu từ đặc trưng được sử dụng trong chương trình Tiểu học
1.1.2.1 So sánh
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới
mẻ về đối tượng.”
Mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố:
Yếu tố 1: Yếu tố được hoặc bị so sánh
Trang 1313
Yếu tố 2: Yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động
Yếu tố 3: Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh
Yếu tố 4: Yếu tố đƣợc đƣa ra làm chuẩn để so sánh
- Trong phân môn Chính tả, Tiếng Việt 4, tập 1, Tr.105:
Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
Trỏ lối sang mùa hè
Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu
Thắp mùa đông ấm những đêm thâu.”
Trang 1414
từ ngữ biểu đạt thuộc tính, dấu hiệu của con người, làm cho đối tượng được miêu
tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình”
Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật,…bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người Nhân hóa có tác dụng làm cho các sự vật trở nên sống động gần gũi với con người Nhân hóa hay nhân cách hóa là một biến thể của ẩn dụ, ở đó người ta chuyển đổi ý nghĩa của các từ ngữ chỉ thuộc tính của con người sang đối tượng không phải con người Có người cho nhân hóa thực ra là nhân vật hóa, tức là cách biến mọi vật thành nhân vật đối thoại hay như là một nhân vật của mình Nhân hóa
là gọi hoặc tả về tính nết hoạt động con vật cây cối, đồ vật,…bằng những từ ngữ vốn dùng để gọi và tả người
Ngoài ra, còn có cách nhân hóa: trò chuyện, xưng hô với sự vật như đối với người; các nhân vật sự vật tự xưng
Ví dụ:
-Trong phân môn Tập đọc, Tiếng Việt 3, tập 1, Tr.116:
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”
(Tố Hữu) -Trong phân môn Luyện từ và câu, Tiếng Việt 5, tập 1, Tr.109:
“Tiếng hót dìu dặt của Họa Mi giục các loài chim dạo lên những khúc nhạc tưng bừng, ca ngợi núi sông đang đổi mới.”
1.2 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
1.2.1 Vị trí
Phân môn Luyện từ và câu là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng ở trường tiểu học Các kiến thức và kỹ năng về sử dụng từ và câu còn được tích hợp trong các phân môn còn lại của môn Tiếng Việt và cả trong các môn học khác ở trường tiểu học Vị trí quan trọng của phân môn này được qui định bởi tầm quan
Trang 1515
trọng của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ Từ là một đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ Muốn nắm được một ngôn ngữ nào đó đầu tiên là phải nắm được vốn từ Nếu như không làm chủ được vốn từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng được ngôn ngữ đó như một công cụ để học tập và giao tiếp
Ngoài ra, vốn từ ngữ của một con người càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ ngữ của người đó càng lớn, khả năng diễn đạt của người đó càng chính xác, tinh tế bấy nhiêu Vì vậy, dạy luyện từ cho HS tiểu học là phải làm giàu vốn từ ngữ cho HS, phải chú trọng "số lượng từ, tính đa dạng và tính năng động của từ"
Tuy nhiên, từ không phải là đơn vị trực tiếp sử dụng trong giao tiếp Muốn giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau con người phải sử dụng một đơn vị ngôn ngữ tối thiểu và cơ bản là câu Nếu không nắm được các qui tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ thì con người cũng không thể sử dụng được ngôn ngữ
đó làm công cụ để giao tiếp Vì vậy, dạy từ ngữ cho HS phải gắn liền với dạy câu, dạy các qui tắc kết hợp từ thành câu, qui tắc sử dụng câu nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao…Những điều phân tích trên đã cho ta thấy ý nghĩa quan trọng của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học
-Tích cực hoá vốn từ (luyện tập sử dụng từ): là giúp HS biến những từ ngữ tiêu cực (những từ ngữ hiểu nghĩa nhưng không sử dụng trong khi nói, viết) thành những từ ngữ tích cực, được sử dụng thường xuyên trong giao tiếp hàng ngày
-Văn hoá hoá vốn từ: là giúp HS loại bỏ khỏi vốn từ những từ ngữ không văn hoá, tức là những từ ngữ thông tục hoặc sử dụng sai phong cách
Mặt khác, còn phải cung cấp cho HS một số khái niệm lý thuyết cơ bản và
sơ giản về từ vựng học như về cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ về nghĩa để HS
có cơ sở nắm nghĩa từ một cách chắc chắn và biết hệ thống hoá vốn từ một cách có
ý thức
Trang 1616
Phân môn này phải tổ chức cho HS thực hành để rèn luyện các kỹ năng cơ bản về ngữ pháp như kỹ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kỹ năng sử dụng các dấu câu, kỹ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp mục đích nói, tình huống lời nói để đạt hiệu quả giao tiếp cao, kỹ năng liên kết các câu để tạo thành đoạn văn, văn bản Để thực hiện tốt các nhiệm vụ thực hành, phân môn Luyện từ và câu phải cung cấp cho HS một số khái niệm, một số qui tắc ngữ pháp cơ bản, sơ giản và tối cần thiết: bản chất của từ loại, thành phần câu, dấu câu, các kiểu câu, qui tắc sử dụng câu trong giao tiếp và các phép liên kết câu Bên cạnh đó, qua phân môn này còn giúp HS tiếp thu một số qui tắc chính tả như qui tắc viết hoa, qui tắc sử dụng dấu câu
Ngoài các nhiệm vụ kể trên, phân môn Luyện từ và câu phải chú trọng việc rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mỹ cho HS
1.2.3 Phương pháp dạy Luyện từ và câu
- Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là một cách học tạo điều kiện cho HS luyện tập khả năng mạnh dạn đưa ra các cách làm bài; giúp học sinh rèn kĩ năng phân tích bài tập và tìm câu trả lời đúng; thay đổi vị thế của HS trong lớp từ vị thế thụ động, tiếp thu thông tin một chiều trở thành vị thế chủ động tiếp thu thông tin đa chiều Qua thảo luận, ngôn ngữ và năng lực tư duy của HS trở nên linh hoạt
Phương pháp thảo luận nhóm rất phù hợp với các bài dạy thuộc kiểu câu Ai làm gì? Phương pháp này tạo không khí học tập sôi nổi, tạo môi trường thuận lợi cho việc vận dụng kĩ năng sử sự ghi nhớ thông tin mà giáo viên đã truyền đạt của
HS
Mỗi một bài tập yêu cầu khác nhau và sự biến đổi công thức đòi hỏi phải có
sự hiểu biết kiến thức Chính vì vậy, cần sự vận dụng một cách khéo léo và linh hoạt
Phương pháp thảo luận nhóm sẽ giúp học sinh tìm ra được câu trả lời tốt nhất, sinh động nhất thông qua trí tuệ tập thể Học sinh bên cạnh được củng cố được kiến thức, hứng thú học tập cũng được tăng cường
- Phương pháp trò chơi học tập
Là phương pháp trò chơi sư phạm trong dạy học môn Tiếng Việt, được hiểu
là hình thức học tập môn Tiếng Việt theo hứng thú vui chơi, dựa trên những bài tập trắc nghiệm
Trang 1717
Việc giải quyết vấn đề bài tập đặt ra nhằm để HS lĩnh hội, củng cố, vận dụng kiến thức, kĩ năng sử dụng các cách làm bài hay đã được học, những kinh nghiệm sống đã được tích lũy vào các bài tập một cách tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo
Trong thực tế dạy học, các phương pháp trên không hoàn toàn tách biệt nhau Mỗi phương pháp có những ưu điểm và yếu điểm riêng, người giáo viên cần biết vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo mới có thể thu được hiệu quả mong muốn
1.3 Việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu
1.3.1 Khái niệm ca dao, tục ngữ
a Ca dao
Ca dao là những bài hát ngắn, thường là 3, 4 câu, cũng có một số ít những ca
dao dài Những bài ca dao thường có nguồn gốc dân ca
b Tục ngữ
Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, gồm những câu nói ngắn gọn, có vần điệu, có hình ảnh, dễ nhớ, dễ thuộc, có chức năng đúc kết kinh nghiệm và tri giác lâu đời của nhân dân về thiên nhiên, sản xuất, về con người và xã hội
1.3.2 Việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu
Trong chương trình SGK Tiếng Việt Tiểu học, ca dao tục ngữ được phân bố
ở tất cả các lớp Những hình ảnh trong ca dao tục ngữ thường sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa Những hình ảnh này thường gần gũi, quen thuộc với cuộc sống thường ngày của các em Vì vậy, trong quá trình dạy cho học sinh nhận biết hai biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa, những bài tập vận dụng thông qua ca dao tục ngữ không chỉ được giới hạn trong SGK mà còn được GV mở rộng thêm từ kho tàng ca dao tục ngữ dân gian Việt Nam Từ đó, học sinh dễ dàng nắm được kiến thức bài học một cách chặt chẽ và sâu sắc hơn Để biết được việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu nói riêng và chương trình Tiểu học nói chung như thế nào, cần phải làm rõ nội dung này qua từng khối lớp:
Đối với chương trình Tiếng Việt lớp 3, việc nhận biết biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa và bước đầu sử dụng vào việc dùng từ đặt câu là một trong những nội dung yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 Cơ
sở ban đầu của việc dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa được bắt đầu từ việc: tìm các từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm của sự vật trong câu văn, câu thơ,
Trang 1818
đoạn văn, đoạn thơ; tìm những sự vật hay hoạt động, đặc điểm của sự vật được so sánh, nhân hóa với nhau Từ đó học sinh nhận biết được hình ảnh so sánh, nhân hóa, dấu hiệu của sự so sánh,nhân hóa và các kiểu so sánh, nhân hóa
Một trong những bài tập thực hành ở phân môn Luyện từ và câu lớp 3 giúp cho học sinh nhận biết biện pháp so sánh và nhân hóa chính là các bài tập có chứa các câu ca dao, tục ngữ
cụ để giúp các em viết văn miêu tả, kể chuyện… và học tiếp lên các lớp trên
Trong chương trình SGK Tiếng Việt lớp 4, ca dao tục ngữ chủ yếu phân bố
ở phân môn Luyện từ và câu Với đặc thù của phân môn Luyện từ và câu là trang
bị những kiến thức cơ bản về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt để các em học tốt các môn học khác Bởi vậy, việc bồi dưỡng và nâng cao hiểu biết về từ và câu, kĩ năng
sử dụng Tiếng Việt văn hóa, góp phần kích thích sự phát triển tư duy, hoàn thiện nhân cách cho học sinh Ca dao tục ngữ chính là nguồn ngữ liệu cần thiết để giúp các em nâng cao kiến thức không chỉ về từ ngữ mà còn về mặt ngữ pháp chính là
kĩ năng phân tích các biện pháp tu từ Đa số nội dung dạy Luyện từ và câu ở lớp 4
là mở rộng vốn từ theo chủ điểm Bên cạnh việc giúp cho học sinh hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong chủ điểm đang học, các bài tập trong phân môn này còn có nhiều hình thức kết hợp vừa cung cấp vốn từ vừa luyện tập về ngữ pháp Đặc biệt
là việc sử dụng các câu ca dao tục ngữ phù hợp với từng chủ điểm vào bài tập, giúp cho các em có thể nâng cao về mặt vốn từ, ngữ pháp mà còn có thể lồng ghép để dạy cho các em về các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa
Ví dụ: Các bài tập có sử dụng ca dao tục ngữ làm ngữ liệu
- Bài tập 1, Luyện từ và câu,TV4, Tr.6, tập 1:
Câu tục ngữ dưới đây có bao nhiêu tiếng?
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Trang 1919
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
- Bài tập 3, Luyện từ và câu, TV4, Tr.11, tập 2:
Tìm trong các câu tục ngữ dưới đây những câu ca ngợi tài trí của con người:
a “Người ta là hoa đất.”
b “Chuông có đánh mới kêu.”
c “Đèn có khêu mới tỏ.”
d “Nước lã mà vã nên hồ
Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.”
Trong chương trình SGK Tiếng Việt lớp 5, ca dao tục ngữ phân bố nhiều ở phân môn Luyện từ và câu mà còn ở phân môn Tập đọc Điều này giúp cho học sinh có điều kiện tiếp xúc nhiều với ca dao, tục ngữ hơn Không chỉ thông qua các bài tập thực hành ở phân môn Luyện từ và câu mà ở phân môn Tập đọc học sinh sẽ được tìm hiểu kĩ về nội dung, nghệ thuật trong bài hơn Việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh nhân hóa lúc này thực sự cần thiết để giúp học sinh hiểu hơn về nội dung của bài Tuy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong chương trình Tiểu học không đưa ra các khái niệm, định nghĩa nhưng thông qua các bài tập thực hành lớp 3, lớp 4 thì học sinh lớp 5 đã nắm được thế nào là so sánh, nhân hóa Biết được so sánh, nhân hóa được sử dụng khi nào, dấu hiệu nhận biết… Với HS lớp 5 việc rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ giúp HS nắm vững về cách sử dụng các biện pháp trên Đặc biệt là các em
có thể áp dụng để làm bài tập làm văn Học sinh vận dụng được biện pháp so sánh, nhân hóa thông qua ca dao, tục ngữ để viết văn sẽ làm cho bài văn sinh động, phong phú, hấp dẫn hơn
Ví dụ:
- Cái cò cái vạc cái nông Sao mày giẫm lúa nhà ông, hỡi cò?
Không không, tôi đứng trên bờ
Mẹ con cái diệc đổ ngờ cho tôi
Chẳng tin, ông đến mà coi
Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia
(Bài tập 2, LTVC 5, Tr.93, tập 1)
Trang 20và yêu cầu các em vẽ lại thì thấy các em không nhận thấy được nhiều chi tiết Các
em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm dễ nhầm lẫn Ví dụ: Các em khó phân biệt cây mía với cây sậy, hình có năm cạnh với có sáu cạnh…
Ở các lớp đầu bậc Tiểu học, tri giác của các em thường gắn với những hành động và hoạt động thực tiễn của các em Vì vậy, tất cả các hình thức tri giác trực quan bằng sự vật, bằng hình ảnh và bằng lời nói cần được sử dụng trong các giờ lên lớp ở bậc Tiểu học
1.4.1.2 Chú ý
Chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế so với chú ý có chủ định Những kích thích có cường độ mạnh vẫn là một trong những mục tiêu thu hút sự chú ý của trẻ Chú ý có chủ định đang phát triển mạnh so với tri thức được mở rộng ngôn ngữ phong phú, tư duy phát triển Các em còn được rèn luyện về những phẩm chất ý chí như tính kế hoạch tính kiên trì nhẫn nại, tính mục đích, tính độc lập… Sự tập trung chú ý và tính bền vững của chú ý ở học sinh đang phát triển nhưng chưa bền vững là do quá trình ức chế phát triển còn yếu, tính hưng phấn còn cao Do vậy, chú ý của các em còn bị phân tán, các em dễ quên những điều cô giáo dặn cuối buổi học, bỏ sót chữ cái trong từ, trong câu… học sinh lớp 1,2 thường chỉ tập trung chú ý khoảng 20-25 phút, lớp 3, 4 khoảng từ 30-35 phút
Khối lượng chú ý của học sinh Tiểu học không lớn lắm, thường chỉ hạn chế 2,3 đối tượng trong cùng một thời gian Khả năng phân phối chú ý bị hạn chế nhiều
do chưa hình thành được nhiều kĩ năng, kĩ xảo trong học tập Sự chuyển chú ý của học sinh Tiểu học nhanh hơn người lớn tuổi vì quá trình hưng phấn và ức chế của chúng rất linh, rất nhạy cảm Khả năng chú ý của học sinh Tiểu học còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập, nếu nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm ddefu không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung của chú ý
1.4.1.3 Trí nhớ
Trí nhớ của học sinh Tiểu học còn mang tính trực quan – hình tượng và được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ loogic Các em nhớ và gìn giữ chính xác những
Trang 2121
sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, khái niệm, những lời giải thích dài dòng Học sinh đầu cấp thường có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu được những mối liên
hệ, ý nghĩa của những tài liệu học tập đó nên các em thường học thuộc tài liệu học tập theo đúng câu, từng chữ mà không sắp xếp lại để diễn đạt theo lời lẽ của mình Nhiều HS Tiểu học còn chưa biết tổ chức ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng sơ đồ logic và dựa vào các điểm tựa đề ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn ý tài liệu cần ghi nhớ, không biết chia tài liệu cần ghi nhớ ra từng phần nhỏ, không biết dùng sơ đồ, hình vẽ,… để ghi nhớ Các em thường ghi nhớ một cách máy móc, ghi nhớ theo trang Nếu được hướng dẫn thì trẻ mới biết cách ghi nhớ tài liệu một cách hợp lí, biết lập dàn ý để ghi nhớ, khuynh hướng nhớ từng câu, từng chữ giảm dần, ghi nhớ ý nghĩa tăng lên
1.4.1.4 Tư duy
Tư duy của trẻ mới đến trường mang tính trực quan cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những sự vật, hiện tượng cụ thể Tư duy của học sinh Tiểu học còn mang tính cảm xúc Trẻ dễ xúc cảm với những điều được suy nghĩ Giáo viên cần dạy cho các em cách suy luận có căn cứ khách quan, phán đoán, phải có dẫn chứ thực tế, kết luận phải có tính chất đúng đắn logic, suy nghĩ có mục đích Sự phát triển tư duy logic là một khâu quan trọng trong sự phát triển trí tuệ của học sinh Tiểu học Mặt khác khi nội dung và phương pháp dạy học được thay đổi tương ứng với nhau thì trẻ em có thể sẽ được một số đặc điểm tư duy hoàn toàn khác
1.4.1.5 Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh Tiểu học so với trẻ mẫu giáo phát triển và phong phú hơn Tố Hữu nói: “Ở lứa tuổi này, hòn đất cũng biến thành con người, đây là lứa tuổi thơ mộng rất giàu tưởng tượng” Tuy nhiên, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức, xa rời thực tế Càng về cuối cấp thì tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn, càng phản ánh đúng đắn và đầy đủ thực tế khách quan hơn
Tưởng tượng của các em học sinh nhỏ là tính trực quan, cụ thể Đối với lớp
3, lớp 4 tính trực quan cụ thể của tưởng tượng đã giảm đi, vì tưởng tượng của các
em đã dựa vào ngôn ngữ
Tưởng tượng sáng tạo của học sinh Tiểu học biểu hiện khá rõ rệt trong khi các em làm thơ, vẽ tranh và trong khi kể chuyện Nhưng nhược điểm trong sản phẩm tưởng tượng của các em là chủ đề còn nghèo nàn, hành động phát triển không nhất quán, xa sự thật Vì vậy, giáo viên phải thông qua con đường học tập,
Trang 2222
vui chơi và lao động mà phát triển óc tưởng tượng sáng tạo cho các em, cần chú ý hướng học sinh tránh những tưởng tượng ngông cuồng, xa thực tế nhưng không làm hạn chế tính sáng tạo của trẻ trong quá trình tưởng tượng
1.4.2 Đặc điểm về nhân cách
1.4.2.1 Tình cảm
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lí, nhân cách của mỗi người Đối với học sinh Tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ nhận thức và thúc đẩy trẻ em hoạt động Tình cảm học sinh Tiểu học được hình thành trong đời sống và trong quá trình học tập của các em Tình cảm của học sinh Tiểu học có những đặc điểm sau:
- Đối tượng gây ra xúc cảm cho các em thường là những sự vật cụ thể sinh động
- HSTH rất dễ xúc cảm và khó kiềm chế cảm xúc của mình
Tình cảm của HSTH mong manh chưa bền vững, chưa sâu sắc, dễ thay đổi, chưa ổn định Cuối bậc Tiểu học xuất hiện những tình cảm mới như: tình cảm tập thể, tình cảm đạo đức, tình cảm trách nhiệm
1.4.2.2 Ý chí
Việc hình thành năng lực hành động ý chí được bắt đầu từ tuổi thơ khi mà đứa trẻ tiến hành những hành động có sự khắc phục khó khăn HSTH chưa có khả năng đạt mục đích xa và phức tạp cho hành động của mình Chưa có khả năng tự lập chương trình hành động Do ý chí chưa được phát triển đầy đủ nên trẻ chưa biết theo đuổi một mục đích lâu dài được đề ra, chưa kiên trì khắc phục khó khăn và trở ngại
Các phẩm chất ý chí như tính độc lập, tính tự kiềm chế còn thấp nên trẻ trông chờ nhiều vào sự giúp đỡ của người khác khi thực hiện hành động HSTH rất
dễ bắt chước những hành động của người khác Tính bột phát ngẫu nhiên đôi khi thể hiện trong hành động ý chí của các em
Trang 23Ca dao, tục ngữ được học sinh tiếp xúc ngay từ lớp 1,2 Vì thế nên ca dao, tục ngữ rất gần gũi với các em, dễ nhận diện, dễ sử dụng Nhận thấy việc phân bố
ca dao tục ngữ vào chương trình môn Tiếng Việt khá phổ biến, kết hợp với mong muốn có những biện pháp để giúp cho học sinh phát triển được việc sử dụng biện pháp tu từ trong văn nói lẫn văn viết sao cho phổ biến hơn và hiệu quả hơn, chúng
tôi quyết định thực hiện đề tài : “Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và
nhân hóa cho học sinh lớp 4, 5 thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu.” để giúp cho học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học
môn Tiếng Việt hiệu quả hơn
Trang 2424
Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH VÀ NHÂN HÓA CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA CA DAO,
TỤC NGỮ TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
2.1 Mục đích điều tra
Việc khảo sát thực trạng rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa cho học sinh Tiểu học lớp 4, 5 thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu, nhằm tìm hiểu mức độ hiểu và vận dụng các biện pháp tu từ so sánh nhân hóa của học sinh trong việc học và sử dụng Tiếng Việt Từ đó, xây dựng một số bài tập bổ trợ việc dạy và học biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua sử dụng ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu đạt hiệu quả cao
2.2 Đối tượng điều tra
Đề tài khảo sát 328 học sinh lớp 4, 5 và 12 giáo viên đang công tác chủ nhiệm
và giảng dạy lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, T.P Đà Nẵng, cụ thể:
- Khối lớp 4: 163 học sinh, 06 giáo viên
- Khối lớp 5: 165 học sinh, 06 giáo viên
2.3 Phương pháp điều tra
Để thực hiện việc khảo sát này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp như sau:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu anket (phiếu hỏi): phát phiếu điều tra đối với học sinh lớp 4, 5 và giáo viên dạy phân môn Luyên từ và câu
- Phương pháp quan sát, dự giờ: quan sát, dự giờ giáo viên dạy hướng dẫn học
sinh làm các bài tập liên quan đến biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong các câu
ca dao, tục ngữ ở SGK Tiêng Việt Tiểu học trong phân môn Luyện từ và câu
- Phương pháp tổng hợp, phỏng vấn GV và HS về việc dạy và học biện pháp tu
từ so sánh nhân hóa thông qua các câu ca dao, tục ngữ
2.4 Nội dung điều tra
2.4.1 Đối với giáo viên
- Nhận xét, đánh giá của giáo viên về khả năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa của học sinh
- Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc dạy biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh
Trang 25- Giáo viên có thường sử dụng ngữ liệu là ca dao tục ngữ để dạy biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh
- Nguyên nhân khiến học sinh ít thuộc ca dao tục ngữ Việt Nam
- Theo giáo viên, dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh có cần thiết không?
Những nội dung điều tra được thể hiện cụ thể qua phiếu khảo sát giáo viên
ở phần mục lục
2.4.2 Đối với học sinh
- Thái độ của học sinh khi được học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa
- Tìm hiểu về khái niệm nhận biết và sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa của học sinh
- Tìm hiểu về khái niệm vận dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa của học sinh
- Tìm hiểu về qui trình học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa của học sinh Những nội dung điều tra được thể hiện cụ thể qua phiếu điều tra học tập của học sinh (lớp 4, 5) ở phần mục lục
2.5 Kết quả điều tra
Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra cho 163 học sinh lớp 4 và 165 học sinh lớp 5 cùng 12 cô giáo giảng dạy phân môn Luyện từ và câu, kết quả thu được như sau:
2.5.1 Kết quả khảo sát giáo viên
Được sự cho phép của nhà trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát xin ý kiến của 12 giáo viên đang là giáo viên chủ nhiệm giảng dạy 2 khối lớp 4 và 5 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ Phiếu khảo sát gồm 11 câu hỏi kết quả, thu được như sau:
Trang 2626
Câu 1: Theo thầy (cô) việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa có ý nghĩa như thế nào?
Bảng 2.1: Ý nghĩa việc dạy và rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân
hóa của học sinh
Nhận xét:
Theo ý kiến của giáo viên thì mức độ cần thiết của việc dạy và rèn kĩ năng
sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa của học sinh là 83.34%, mức độ bình thường là 16.67% và mức độ không cần thiết là 0% Dựa vào kết quả thu được trên
ta thấy biện pháp so sánh và nhân hóa đóng vai trò khá quan trọng đối với học sinh Tiểu học Kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa tốt sẽ giúp học sinh phát triển về khả năng ngôn ngữ, giao tiếp cũng như viết văn
Câu 2: Theo thầy (cô), khả năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh nhân hóa của học sinh lớp 4, 5 được đánh giá ở mức độ nào?
Bảng 2.2: Nhận xét của giáo viên về khả năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh,
nhân hóa của học sinh lớp 4, 5
Từ bảng ta vẽ được biểu đồ sau:
Trang 2727
Nhận xét:
Nhƣ vậy, dựa vào biểu đồ 3 ta thấy hầu nhƣ giáo viên điều nhận xét mức độ nhận biết biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa của học sinh chỉ ở mức khá (chiếm 83,345%), mức độ giỏi và trung bình ngang nhau (chiếm 8.33%), không có mức
độ yếu Học sinh lớp 4, 5 hầu nhƣ đều nhận biết đƣợc thế nào là so sánh, nhân hóa nhƣng để vận dụng đƣợc các biện pháp này trong giao tiếp và hành văn các em cần phải rèn luyện thêm nhiều hơn nữa
Câu 3: Khi làm các bài tập về biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, học sinh thường
Trang 2828
Mặc dù được học về so sánh, nhân hóa ở chương trình lớp 3 nhưng hầu như học sinh lớp 4,5 vẫn mắc nhiều lỗi khi sử dụng 2 biện pháp này Tỉ lệ chưa nhận biết được biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa chiếm 16.67%%, số liệu này cho thấy học sinh hầu như nhận biết được biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa Những bài tâp đơn giản như gạch chân dưới từ so sánh, hình ảnh so sánh hay tìm các hình ảnh nhân hóa trong câu học sinh hầu như đều làm Bên cạnh đó, vẫn còn một vài em làm chưa đúng Tỉ lệ học sinh sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa chưa hợp lí chiếm 66.67% Học sinh chọn hình ảnh đối tượng so sánh và nhân hóa chưa hợp lí chiếm 8.33% Tỉ lệ chưa biết vận dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa vào trong học tập môn Tiếng Việt và sử dụng ngôn từ chiếm cao nhất 83.33% Như vậy, số học sinh sử dụng thành thạo hai biện pháp tu từ từ so sánh và nhân hóa theo đánh giá của giáo viên là còn hạn chế Các em còn mắc nhiều lỗi khi vận dụng vào viết văn hoặc giao tiếp Học sinh tuy đã nắm được lí thuyết về biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa nhưng trong thực tế sử dụng và vận dụng còn hạn chế do ít được luyện tập, thực hành, vốn từ còn hạn chế cũng ảnh hưởng đến việc tìm từ, hình ảnh so sánh, nhân hóa
Câu 4: Thầy (cô) thường sử dụng những phương pháp dạy học nào khi dạy so sánh, nhân hóa cho học sinh Tiểu học?
Bảng 2.4: Các phương pháp dạy học trong giảng dạy biện pháp tu từ so sánh và
nhân hóa của giáo viên
Các phương pháp PP trực
quan
PP thảo luận nhóm
PP trò chơi
PP luyện tập thực hành PP khác
Bảng 2.5: Tỉ lệ mức độ sử dụng phương pháp các phương pháp dạu học biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa của giáo viên
hóa chưa hợp lí
Chưa biết vận dụng
biện pháp tu từ so sánh,
nhân hóa vào trong học
tập môn Tiếng Việt và
sử dụng ngôn từ
Trang 29Phương pháp trực quan được 100% GV sử dụng khi giảng dạy biện pháp tu
từ so sánh, đây là phương pháp phổ biến dễ dàng sử dụng, dễ khắc sâu kiến thức cho học sinh Tiểu học nhất Chẳng hạn muốn học sinh nhận biết biện pháp so sánh
trong câu “Khi nở, cánh hoa mai xòe ra mịn màng như lụa”, GV cần đưa hình ảnh
hoa mai và dải lụa (có thể chiếu trên slide) để từ đó các em nhìn thấy rõ nét tương đồng (sự mịn màng) giữa hoa mai và dải lụa Khi đó kiến thức về so sánh sẽ được khắc sâu với học sinh hơn Về tỉ lệ mức độ thường xuyên sử dụng phương pháp này chiếm 75%, thỉnh thoảng chiếm 25%, tỉ lệ không bao giờ chiếm 0% Điều này cho thấy giáo viên chú trọng đầu tư tiết dạy, có sự chuẩn bị kĩ trước khi đến lớp
Sử dụng phương pháp trực quan thường xuyên sẽ giúp học sinh có hứng thú khi học hơn
Phương pháp thảo luận nhóm chiếm 66.67%, tỉ lệ cho thấy GV cũng có chú
ý vận dụng các phương pháp khác nhau khi giảng dạy so sánh và nhân hóa Phương pháp thảo luận nhóm rèn học sinh tính kỉ luật, đoàn kết và quan trọng hết
là tính đồng đội cùng nhau tiến bộ Nhưng phương pháp thảo luận nhóm cần nhiều thời gian, không gian nên vì thế GV còn hạn chế khi sử dụng phương pháp này Về mức độ sử dụng thường xuyên chiếm 66.67%, thỉnh thoảng chiếm 33.33%, không bao giờ chiếm 0% Mức độ sử dụng thường xuyên của phương pháp thảo luận nhóm ít hơn so với phương pháp trực quan (ít hơn 8.33%) Tuy nhiên, giáo viên vẫn tích cực thay đổi nhiều phương pháp dạy học, trong đó phương pháp học theo nhóm được nhiều giáo viên lựa chọn Bởi phương pháp này mang lại tính hiệu quả cao Nâng cao tinh thần đồng đội, làm việc nhóm
Trang 3030
Phương pháp trò chơi chiếm tỉ lệ 66.67%, phương pháp trò chơi luôn tạo
hứng thú cho học sinh Vừa học vừa chơi nên kiến thức về so sánh, nhân hóa được học sinh tiếp thu một cách nhẹ nhàng, dễ dàng được ghi nhớ Tuy nhiên để sử dụng phương pháp này cần có sự chuẩn bị của GV cũng như cần nhiều thời gian để tham gia Chính vì vậy, phương pháp này không được giáo viên lựa chọn 100%
Về tỉ lệ mức độ sử dụng thường xuyên chiếm 0%, mức độ thỉnh thoảng chiếm 83.33%, không bao giờ chiếm 16.67% Dựa vào kết quả thu được ta thấy, phương pháp trò chơi không được giáo viên sử dụng nhiều Mặc dù phương pháp này đem lại hiệu quả cao, học sinh hứng thú khi học nhưng phương pháp trò chơi đòi hỏi nhiều thời gian chuẩn bị cũng như dạy của giáo viên Trong quá trình tham gia trò chơi nhiều em còn ồn, mất trât tự Chính vì vậy, việc thường xuyên sử dụng phương pháp trò chơi gặp nhiều khó khăn Đối với những lớp mức độ tiếp thu còn hạn chế thì việc sử dụng phương pháp trò chơi gần như không kịp thời gian
Phương pháp luyện tập thực hành chiếm 100%, đây là phương pháp đo mức
độ hiểu biết của học sinh chính xác nhất Thông qua các bài tập thực hành về so sánh, nhân hóa GV có thể biết mức độ hiểu bài của học sinh Từ đó có điều chỉnh phù hợp trong quá trình giảng dạy Về tỉ lệ mức độ sử dụng thường xuyên phương pháp thực hành cũng chiếm 100% Trong tất cả các tiết dạy Luyện từ và câu giáo viên luôn sử dụng bài tập để kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh Phần bài tập trong SGK sau mỗi bài học được giáo viên yêu cầu học sinh làm để củng cố kiến thức về biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa cho học sinh
Các phương pháp khác GV không ghi vào phần ý kiến vì vậy chúng tôi không đề cập đến
Câu 5: Thầy (cô) thường sử dụng hình thức dạy học nào trong khi dạy biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa trong phân môn Luyện từ và câu?
Bảng 2.6: Hình thức dạy học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong phân môn
Trang 3131
nhân để kiểm tra mức độ tiếp thu bài của học sinh, với hình thức dạy học cá nhân này chiếm 66.67% Nhiều giáo viên cũng lựa chọn hình thức dạy học theo nhóm để dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong phân mon Luyện từ và câu Giáo chia nhóm để học sinh cùng nhau tìm hiểu bài, cùng nhau thảo luận để trả lời phiếu học tập,… Hình thức này giúp học sinh biết làm việc với nhóm, tăng tính đoàn kết, biết nhường nhịn trong tập thể, tự học hỏi lẫn nhau,…Các hình thức dạy học hầu như được giáo luân phiên thay đổi để dạy Giúp học sinh không nhằm chán khi học, phát triển tối đa tư duy, sáng tạo của học sinh
Các hình thức khác giáo viên không có ý kiến nên chúng tôi không đề cập đến
Câu 6: Theo thầy (cô), những nguyên nhân nào dẫn đến việc học sinh trong lớp của mình gặp khó khăn trong việc sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa?
Bảng 2.7: Đánh giá của GV về nguyên nhân dẫn đến khó khăn của học sinh khi sử
dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa
Nhận xét:
Biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa được đưa vào chương trình SGK Tiếng Việt
3, học sinh chỉ nhận biết biện pháp tu từ so sánh khi trong câu xuất hiện các từ so
sánh: như, bằng, giống, tựa,…Về định nghĩa cụ thể Thế nào là so sánh? các em sẽ
được học ở chương trình phổ thông Biện pháp tu từ nhân hóa cũng tương tự, các
em chưa được học định nghĩa cụ thể, chính vì vậy đối với một số học sinh yếu kém
so sánh, nhân hóa vẫn là một khái niệm trừu tượng , mơ hồ Theo đánh giá của giáo viên thì nguyên nhân dẫn đến việc học sinh gặp khó khăn khi sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa là do đặc điểm trí tuệ (chiếm 66.67%), học sinh không nhớ được kiến thức cũ ( đã học năm lớp 3) Một số học sinh còn mơ hồ chưa phân biệt được so sánh, nhân hóa (chiếm 33.33%) Các em nắm lý thuyết được thế nào là so sánh, nhân hóa nhưng trong cụ thể làm bài tập hoặc vận dụng sử dụng thì chưa đạt hiệu quả Nếu không có sự hướng dẫn trước của giáo viên thì gần như học sinh không thể tìm ra các hình ảnh so sánh, nhân hóa ở những bài tập đầu tiên Bên cạnh đó bảng khảo sát đã ghi nhận được một số góp ý của giáo viên về nguyên nhân dẫn đến việc học sinh gặp khó khăn khi sử dụng biện pháp tu từ so sánh nhân hóa như sau: Ở lớp 3 các em chỉ được tiếp xúc với biện pháp tu từ so
Nguyên nhân Đặc điểm về trí tuệ Chưa biết phân biệt so sánh, nhân hóa
Trang 3232
sánh và nhân hóa thông qua các bài tập cụ thể trong phân môn Luyện từ và câu
Ngoài những bài tập đó, chương trình dạy học không bắt buộc yêu cầu các em phải
ứng dụng so sánh nhân hóa trong viết văn hay giao tiếp…Đến lớp 4 các em mới
được nhắc lại về kiến thức so sánh nhân hóa một lần nữa thông qua các bài tập
trong phân môn Luyện từ và câu Chính vì tính không xuyên suốt, liên tục mà một
số học sinh không còn nhớ về đặc điểm so sánh nhân hóa là gì? khiến việc dạy và
học của thầy trò trở nên khó khăn hơn
Câu 7: Theo thầy (cô) việc dạy biện pháp tu từ so sánh nhân hóa thông qua ca dao
tục ngữ có đạt hiệu quả?
Bảng 2.8: Nhận xét của GV về mức độ đạt hiệu quả khi dạy biện pháp tu từ so
sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ
Nhận xét:
Theo nhận xét của GV thì mức độ dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa đạt hiệu
quả là 50%, rất hiệu quả là 33.33%, không hiệu quả là 16.67% Dạy biện pháp tu
33.33%
50%
16.67%
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ mức độ dạy biện pháp tu từ so sánh,
nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ
Rất hiệu quả Hiệu quả Không hiệu quả
Trang 3333
từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu được GV đánh giá cao về chất lượng Học sinh không còn nhàm chán với kiến thức khô khan từ lí thuyết đến bài tập Thông qua ca dao tục ngữ GV có thể sáng tạo được nhiều phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh hứng thú với môn học hơn Ca dao tục ngữ Việt Nam rất phong phú về đề tài nội dung, các em không chỉ
tò mò, thích thú về từ ngữ trong ca dao mà còn thích thú về những nội dung chứa đựng trong ca dao tục ngữ Thế giới xung quanh các em trở nên mới lạ, các em sẽ ham học hỏi, tìm tòi sáng tạo hơn Từ đó, nội dung bài học về so sánh, nhân hóa không còn áp lực đối với học sinh Học sinh học vì yêu thích, ham học hỏi chứ không còn gượng ép Tuy nhiên, một số GV vẫn cho rằng việc dạy biện pháp tu từ
so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyên từ và câu vẫn chưa đạt hiệu quả Số lượng ca dao tục ngữ của học sinh rất hạn chế không đủ cung cấp tư liệu để các em có thể tìm tòi đưa ra ví dụ, phân tích Đây được xem là lí do chính của việc dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu vẫn chưa đạt hiệu quả
Câu 8: Thầy (cô) có thường xuyên lồng ghép các câu ca dao, tục ngữ khi giảng cho học sinh không?
Bảng 2.9: Mức độ lồng ghép các câu ca dao, tục ngữ khi giảng cho học sinh
Nhận xét:
Từ bảng số liệu thu được, ta nhận thấy mức độ lồng ghép các câu ca dao, tục ngữ khi giảng dạy của GV còn hạn chế Theo khảo sát tỉ lệ thỉnh thoảng chiếm 83,33%, tỉ lệ thường xuyên chỉ chiếm 16.67%, không có tỉ lệ không bao giờ Nghĩa
là trong quá trình dạy học GV vẫn giới thiệu cho các em biết về kho tàng ca dao, tục ngữ dân gian Việt Nam Tuy nhiên mức độ thường xuyên thì chưa có Xét về đặc điểm trí nhớ của trẻ tiểu học thì các em mau nhớ nhưng cũng nhanh quên Nếu
có bài tập liên quan, GV nhắc đến những câu ca dao, tục ngữ thì học sinh chỉ nhớ ngay tại thời điểm đó Về sau các em sẽ nhanh quên, không khắc sâu kiến thức để vận dụng Kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam là vô cùng phong phú, nó được đúc kết từ kinh nghiệm của ông cha ta để lại Chính vì thế mà ca dao tục ngữ không chỉ hay về câu vần mà còn hay ở nội dung Ca dao, tục ngữ dạy cho học sinh nhiều điều hay về cuộc sống Nếu GV biết vận dụng đưa ca dao, tục ngữ vào giảng dạy hay giao tiếp với các em thì học sinh sẽ dễ khắc sâu, ghi nhớ nội dung của những
Mức độ Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Trang 3410 câu) Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng trên? Theo như đánh giá nhận xét của GV thì 100% là do các em chưa chịu tìm tòi học hỏi, học sinh còn thụ động, lười nhác 50% là do hiện nay các em ít sử dụng ca dao, tục ngữ trong giao tiếp nhiều nên các em nghĩ không cần thiết phải biết đến Một số khác cho rằng: Vốn hiểu biết về xã hội về thế giới xung quanh của các em còn hạn chế, hay những câu
ca dao tục ngữ các em ít nghe trong khi giao tiếp nên các em không biết đến Dù lí
do nào thì theo nhìn nhận khách quan, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do ý thức học tập tiếp thu của các em Để các em có hứng thú tự giác trong học tập, tự tìm tòi học hỏi thì đòi hỏi GV cần có nhiều phương pháp dạy tạo hứng thú cho học sinh
Câu 10: Những khó khăn của thầy (cô) đối với việc dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua các câu ca dao tục ngữ cho học sinh là gì?
Vốn kiến thức về ca dao tục ngữ của các
em còn hạn chế, vì vậy
Không đủ thời gian
Trang 3535
Bảng 2.11: Khó khăn của GV khi dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua
ca dao tục ngữ
Có ba nguyên nhân chính dẫn đến những khó khăn khi thầy cô dạy biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa cho học sinh Tiểu học Trong đó nguyên nhân về vốn kiến thức ca dao tục ngữ của các em còn hạn chế, gây khó khăn khi lồng ghép để dạy
chiếm 100% Như bảng 8: Nguyên nhân dẫn đến việc học sinh ít thuộc các câu ca dao tục ngữ, chúng ta cũng thấy vốn kiến thức về ca dao, tục ngữ của học sinh
Tiểu học hiện nay vẫn còn rất hạn chế Việc dạy biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình dạy và học Vấn đề về thời gian cũng chiếm tỉ lệ 100% trong những nguên nhân gây khó khăn trên Thời gian 35 phút cho một tiết học đối với mức độ tiếp thu của học sinh Tiểu học là phù hợp Tuy nhiên trong 35 phút GV không thể truyền tải đầy đủ nội dung kiến thức tiết học sau đó làm bài tập luyện tập cũng như mở rộng kiến thức thêm về ca dao, tục ngữ Chưa kể việc mở rộng vốn tri thức về ca dao, tục ngữ đòi hỏi GV phải tìm tòi chuẩn bị trước khi đến lớp Bản thân người GV phải tự trau dồi cho mình kho tàng về ca dao tục ngữ Việt Nam Song song với 2 nguyên nhân chính trên, lí do học sinh quá hiếu động, không tập trung khi thầy cô giáo giảng bài cũng chiếm 41,67% Đặc điểm tâm sinh
lí lứa tuổi này rất hiếu động vì vậy đây cũng là lí do không thể tránh khỏi
Câu 11: Theo thầy (cô), cần phải có những biện pháp nào để giúp nâng cao hiệu quả dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ?
Bổ sung kiến thức về ca dao tục ngữ với nhiều chủ điểm khác nhau chohọc
sinh
Hướng dẫn để các em nắm kĩ kiến thức về so sánh, nhân hóa
Bổ sung chương trình dạy về ca dao tục ngữ Việt nam ở các tiết Tiếng Việt tăng cường
khi thầy cô giáo giảng bài
rất khó để dạy lồng ghép như trên
Tỉ lệ 41.67% 100% 100%
Trang 3636
Theo đánh giá của giáo viên việc dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu là cần thiết, vừa tạo sự hứng thú, nội dung mới lạ khiến học sinh có hứng thú tìm tòi học hỏi hơn Trong chương trình Tiểu học học sinh hầu như chỉ tiếp xúc với hai biện pháp tu từ chính
là so sánh và nhân hóa Không chỉ dừng ở mức nhận biết, học sinh cần biết vận dụng hai biện pháp này trong viết văn, giao tiếp, trò chuyện khiến câu văn hay lời
ăn tiếng nói trở nên hay hơn, sinh động hơn, giàu ý nghĩa hơn Để các em có thể học tốt hai biện pháp tu từ này, GV nên sử dụng là ngữ liệu ca dao, tục ngữ để dạy kiến thức, bài tập cho học sinh Ca dao, tục ngữ gần gũi với đời sống hằng ngày, các em dễ thuộc và ghi nhớ Nhận thấy được mức độ quan trọng, sự cần thiết của dạy biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao, tục ngữ trong phân môn Luyên từ và câu, GV đã đề ra một số biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy và học biện pháp tu từ so sánh nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ: Bổ sung kiến thức về
ca dao tục ngữ với nhiều chủ điểm khác nhau cho học sinh để các em dễ dàng khai thác các yếu tố so sánh, nhân hóa hơn không bị hạn chế trong những câu trong SGK Không chỉ vậy, bổ sung vốn từ về ca dao tục ngữ sẽ giúp học sinh cảm nhận được sự phong phú của kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam Từ đó thêm tự hào và yêu quí bản sắc văn hóa dân tộc mình hơn Song song với đó GV cần hướng dẫn kĩ các em nội dung kiến thức về biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa Học sinh phải nắm được dấu hiệu, đặc điểm của so sánh, nhân hóa để áp dụng làm bài tập cũng nhu vận dụng trong làm tập làm văn và giao tiếp Chương trình dạy học môn Tiếng Việt cần được bổ sung dạy mở rộng về ca dao tục ngữ Việt Nam trong các tiết Tiếng Việt tăng cường để GV có thời gian hướng dẫn kĩ hơn về nội dung dạy cũng như học sinh có thời gian để tiếp thu kiến thức
2.5.2 Kết quả khảo sát học sinh
Được sự cho phép của nhà trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát điều tra 163 học sinh lớp 4 và 165 học sinh lớp 5 đang học tập tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc
Huệ Phiếu khảo sát gồm 11 câu hỏi kết quả, thu được như sau:
Câu 1: Em có thích học biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa không?
Trang 37Dựa vào kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh khi học biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa, ta thấy học sinh chưa thật sự hứng thú khi học hai biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong phân môn Luyện từ và câu Tỉ lệ mức độ thích chỉ chiếm 33.15%, mức độ bình thường chiếm 50.91%, mức độ không thích chiếm 15.94% Học sinh không hứng thú với những lí thuyết khô khan, những bài tập luyện tập nhàm chán Điều này đòi hỏi giáo viên cần thay đổi phương pháp dạy học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong phân môn Luyện từ và câu Vì vậy rèn
kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao, tục ngữ sẽ tạo hứng thú mới lạ cho học sinh
Câu 2: Các từ nào sau đây xuất hiện trong câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh?
Bảng 2.13: Mức độ học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh
Mức độ Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
Trang 3838
Học sinh hoàn thành bài tốt chiếm 87.80%, điều này cho thấy học sinh nhận biết tốt về biện pháp tu từ so sánh, các từ so sánh Số học sinh hoàn thành bài chiếm 10.06%, học sinh làm bài sau đó sửa lại đáp án đúng đƣợc xếp vào mức hoàn thành Số học sinh này còn phân vân đáp án, phân vân các từ so sánh, kiến thức về biện pháp so sánh chƣa nắm vững Tỉ lệ chƣa hoàn thành chiếm 2.14%, đây là số học sinh chọn đáp án chƣa đúng Các em chƣa nắm rõ biện pháp tu từ so sánh
Câu 3: Câu nào sau đây nêu đúng đặc điểm của biện pháp tu từ nhân hóa?
Bảng 2.14: Mức độ học sinh nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa
Mức độ Hoàn thành tốt Hoàn thành Chƣa hoàn thành
Câu 4: Các em có được học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyên từ và câu không?
Bảng 2.15: Mức độ học biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục
ngữ trong phân môn Luyên từ và câu
Câu 5: Các em có thấy hứng thú và dễ hiểu khi học về biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu hay không?
Bảng 2.16: Mức độ hứng thú và dễ hiểu khi học về biện pháp tu từ so sánh, nhân
hóa thông qua ca dao tục ngữ trong phân môn Luyện từ và câu