Các biện pháp dạy học môn lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5 .... - Thực nghiệm sư phạ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LỚP 4, 5
Giáo viên hướng dẫn : ThS TRẦN THỊ KIM CÚC
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ DIỂM CHIÊU Lớp : 14STH
Đà Nẵng, tháng 1/2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất với cô giáo hướng
dẫn: Thạc sĩ Trần Thị Kim Cúc, giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã trang bị kiến thức, tận tình chỉ bảo em trong bốn năm học Cảm ơn gia đình, bạn bè và các bạn trong lớp 14STH đã động viên, giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận Mặc dù đã cố gắng nhưng vì kinh nghiệm cũng như năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên khóa luận của chúng em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và các bạn khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2018 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Diểm Chiêu
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng 1: Mức độ thích học môn Lịch sử của học sinh 33 Bảng 2: Mức độ hứng thú của học sinh khi học môn Lịch sử 33 Bảng 3: Mức độ thường xuyên kể những cuộc khởi nghĩa, kháng chiến của
nhân dân ta mà em được học cho mọi người nghe 34 Bảng 4: Mức độ biết được những nội dung sau khi học xong loại bài diễn
biến, chiến lược, tiến công, khởi nghĩa của một cuộc khởi nghĩa 35 Bảng 5: Mức độ trao đổi với người khác về diễn biến những cuộc khởi
nghĩa, ý nghĩ của các chiến dịch, tiến công của nhân dân ta 36 Bảng 6: Mức độ tham gia vào các bài học kháng chiến, chiến dịch, tấn công,
khởi nghĩa của nhân dân ta 36 Bảng 7: Nhận thức của học sinh khi học bộ môn Lịch sử 37 Bảng 8: Các phương pháp dạy học GV sử dụng trong môn Lịch sử 38 Bảng 9: Các hình thức dạy học được GV sử dụng trong bộ môn Lịch sử 39 Bảng 10: Những thuận lợi mà GV thường gặp trong dạy học bộ môn Lịch
sử 39 Bảng 11: Những khó khăn mà GV thường gặp trong môn Lịch sử 40 Bảng 12: Những nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong dạy học môn Lịch
sử 41 Bảng 3.1 – số lớp – số HS và GV tham gia TN 60 Bảng 3.3 – Bảng đánh giá bài kiểm tra của lớp TN 62
Biểu đồ 3.1- Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm của lớp TN (4/6) và lớp ĐC
(4/5) 63 Biểu đồ 3.2- Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm của lớp TN (5/6) và lớp ĐC
(5/5) 64
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3.1 Mục đích nghiên cứu 2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Khách thể nghiên cứu 3
4.3 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
5.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát 4
5.2.2 Phương pháp quan sát 4
5.2.3 Phương pháp thực nghiệm sự phạm 4
5.2.4 Phương pháp thống kê, phân loại 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Kết cấu của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỐI VỚI LOẠI BÀI KHỞI NGHĨA, KHÁNG CHIẾN, CHIẾN THẮNG, CHIẾN DỊCH, PHẢN CÔNG VÀ TIẾN CÔNG TRONG PHẦN LỊCH SỬ LỚP 4, 5 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Khái quát chung về dạy học Lịch sử ở lớp 4, 5 6
1.1.1.1 Đặc trưng của bộ môn Lịch sử lớp 4, 5 6
1.1.1.2 Ý nghĩa, vai trò của bộ môn Lịch sử lớp 4,5 7
1.1.1.3 Mục tiêu của dạy học Lịch sử lớp 4, 5 8 1.1.1.4 Các loại bài trong chương trình sách giáo khoa lịch sử ở lớp 4, 5 9
Trang 61.1.1.5 Đặc điểm về cách trình bày sách giáo khoa lịch sử lớp 4, 5 13
1.1.2 Khái quát về loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử của học sinh lớp 4, 5 14
1.1.2.1 Mục tiêu dạy học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử của học sinh lớp 4, 5 14
1.1.2.1 Mục đích chung của dạy học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử của học sinh lớp 4, 5 15
1.1.2.2 Nội dung của loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5
16
1.1.2 Đặc điểm của học sinh tiểu học 17
1.1.2.1 Đặc điểm về tâm sinh lí 17
1.1.2.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 17
1.1.2.3 Một số phương pháp dạy học trong môn Lịch sử ở Tiểu học 21
1.1.2.4 Hình thức tổ chức dạy học 29
1.2 Cơ sở thực tiễn 32
1.2.1 Mục đích khảo sát 32
1.2.2 Tiêu chí khảo sát 32
1.2.3 Đối tượng khảo sát 32
1.2.4 Địa bàn khảo sát 32
1.2.5 Nội dung khảo sát 32
1.2.6 Kết quả khảo sát 33
Chương 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC CHO HỌC SINH LỚP4, 5 43
2.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 43
2.2 Các biện pháp dạy học môn lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5 43
2.2.1 Sơ đồ tư duy 43
2.2.1.1 Mục đích, ý nghĩa 43
2.2.1.2 Cách thực hiện 44
Trang 72.2.2 Ứng dụng CNTT vào dạy học Lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch, phải công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học
sinh lớp 4, 5 50
2.2.2.1 Mục đích, ý nghĩa 50
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 Các cơ sở để tiến hành thực nghiệm 59
3.2 Mục đích thực nghiệm sư phạm 59
3.3 Chuẩn bị thực nghiệm sư phạm 60
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 60
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 60
3.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 61
3.4.1 Lớp thực nghiệm 61
3.4.2 Lớp đối chứng 61
3.5 Kết quả và đánh giá kết quả thực nghiệm 62
3.5.1 Xử lí kết quả thực nghiệm 62
3.5.2 So sánh các lớp ĐC 62
3.5.3 Nhận xét: 64
KẾT LUẬN 66
1 Kết luận 66
2 Kiến nghị 66
3 Hướng nghiên cứu tiếp của đề tài 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 68
PHỤ LỤC 69
PHỤ LỤC 1: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 69
PHỤ LỤC 2: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 75
PHỤ LỤC 3: PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN 84
PHỤ LỤC 4: PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN HỌC SINH 88
PHỤ LỤC 5: PHIẾU THỰC NGHIỆM 1 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Trong bất kì thời đại nào, giáo dục vẫn luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng bởi mục tiêu của giáo dục chính là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và đặc biệt là hướng con người đến "chân - thiện - mỹ”
Bậc tiểu học là bậc học nền tảng tạo cơ sở ban đầu cho việc giáo dục toàn diện góp phần hình thành nhân cách học sinh Cùng với các môn học như Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Địa lí… Lịch sử góp phần rất lớn vào việc bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, giáo dục tình yêu quê hương đất nước cho học sinh Kiến thức lịch sử có tác dụng to lớn trong giáo dục các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ truyền thống Đây là bộ môn có sứ mệnh giúp cho các em nhận thức chính mình, quá trình dân tộc hình thành, phát triển, Môn học không chỉ cho các em kiến thức lịch sử, mà còn đem đến cho các em cả một tâm hồn đẹp
đẽ đó là sự biết ơn đối với những người đã hy sinh cho tổ quốc, cho sự yên bình của chúng ta hôm nay
Chương trình Lịch sử lớp 4,5 có nhiều loại bài để giúp HS nắm được kiến thức lịch sử của dân tộc Trong đó, loại bài chiến dịch, chiến công, chiến lược chiếm một tỉ lệ khá lớn Với loại bài này, học sinh nắm được các vấn đề cơ bản như nguyên nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch hay cuộc tiến công Đây là loại bài mà đòi hỏi các em không chỉ nắm nội dung của bài mà các em phải có khả năng tường tường thuật miêu tả những nét chính của cuộc khởi nghĩa hay chiến dịch đã học Từ đó giúp các em
có thái độ biết ơn những người đã làm nên những sự kiện vĩ đại của lịch sử dân tộc và có ý thức bảo vệ những thành quả của cách mạng
Nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đối với loại bài khởi nghĩa, chiến công,
chiến dịch cho học sinh lớp 4, lớp 5, chúng tôi chọn đề tài: Nâng cao hiệu quả
dạy học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch, phản công và tiến công trong Lịch sử lớp 4, 5
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu đề tài
- Trong cuốn “Tự nhiên – xã hội và phương pháp dạy học tự nhiên – xã hội” tập 1- Nhà xuất bản giáo dục, do Lê Văn Trưởng chủ biên giúp chúng ta nắm được và lựa chọn các phương pháp phù hợp khi dạy học các loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử lớp 4,5
- Trong cuốn: “Phương pháp dạy học các môn học về tự nhiên và xã hội” Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, do Nguyễn Thị Thấn chủ biên, nhằm giúp cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản, thiết thực về: các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu có hệ thống theo dòng thời gian lịch sử của Việt Nam
từ buổi đầu dựng nước cho tới nay, bước đầu hình thành cho các em các kĩ năng cần thiết
- Trong cuốn “Biểu tượng Lịch sử với học sinh Tiểu học” của tác giả Trần Văn Hưu, trường trung học Sư phạm Thanh Hóa đã tìm hiểu về một số biện pháp trong dạy học các loại bài sự kiện, nhân vật
Tuy nhiên, các tài liệu chỉ tập trung khai thác ở mức độ tổng thể và khái quát chứ chưa tiến hành phân tích một cách hoàn chỉnh, hệ thống Các tác giả đã
đề cập đến các loại bài như bài có nội dung về tình hình chính trị - kinh tế, văn hóa – xã hội, bài có nội dung về các nhân vật lịch sử, bài có nội dung đề cập đến cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công, loại bài ôn tập, tổng kết Ở các loại bài này, tác giả có đưa ra các phương pháp khái quát, chung chung, chưa đi sâu vào từng loại bài, từng nội dung, đặc biệt là loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch, phản công và tiến công, trong khi
đó đây là loại bài rất quan trọng trong dạy học lịch sử Vì vậy việc đi sâu nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tìm hiểu loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch, phản công và tiến công trong phần Lịch sử lớp 4, 5, từ đó đề xuất
Trang 10một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đối với loại bài này cũng như dạy học Lịch sử ở Tiểu học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích, đề tài đề ra các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học
- Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử đối với học sinh lớp 4, 5
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng hiệu quả của việc xây dựng các biện pháp dạy học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử đối với học sinh lớp 4, 5
4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy - học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn Lịch sử của học sinh lớp 4, 5
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến nội dung dạy – học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong phần Lịch sử lớp 4, 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
-Sử dụng phiếu anket
-Dự giờ các tiết dạy học học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong phần Lịch sử của học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
5.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát học sinh trong giờ học môn Lịch sử để tìm hiểu thái độ học tập, khả năng tiếp thu bài của các em.Đồng thời quan sát quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh trong việc hình thành kiến thức lịch sử
5.2.3 Phương pháp thực nghiệm sự phạm
Xây dựng phiếu thực nghiệm, để kiểm nghiệm hiệu quả dạy học lịch sử
phiếu thực nghiệm sẽ phát ở hai lớp: lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, để so sánh, đối chiếu kết quả
5.2.4 Phương pháp thống kê, phân loại
Xử lí số liệu đã thu thập được
6 Giả thuyết khoa học
Nếu tìm hiểu được thực trạng dạy học và đề xuất một số biện pháp dạy học phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả dạy học đối với loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5 và sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học
Trang 127 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học đối với loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong phần Lịch sử lớp 4, 5
Chương 2: Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học đối với loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong phần Lịch sử lớp 4, 5
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13PHẦN NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỐI VỚI LOẠI BÀI KHỞI NGHĨA, KHÁNG CHIẾN, CHIẾN THẮNG, CHIẾN DỊCH, PHẢN CÔNG VÀ TIẾN CÔNG TRONG PHẦN LỊCH SỬ
LỚP 4, 5 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái quát chung về dạy học Lịch sử ở lớp 4, 5
1.1.1.1 Đặc trưng của bộ môn Lịch sử lớp 4, 5
- Thứ nhất, lịch sử là những gì đã diễn ra và tồn tại khách quan trong quá khứ Do đó không thể phán đoán, suy luận, tưởng tượng để nhận thức lịch sử, cũng không thể quan sát trực tiếp những sự việc đã xảy ra, bởi nó là cái đã qua
và không thể tái diễn
Muốn nhận thức được lịch sử, con người phải thông qua những dấu tích của quá khứ, những chứng cứ về sự tồn tại lịch sử, dựng lại hình ảnh của sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử một cách cụ thể, rõ nét
- Thứ hai, nhận thức lịch sử phải thông qua những “dấu tích” của quá khứ
(di tích, đồ vật, hiện vật, tranh ảnh), bởi vậy trong dạy học Lịch sử không thể không cho HS quan sát những hình ảnh đó
- Thứ ba, học tập lịch sử không chỉ để hình dung được hình ảnh của quá
khứ mà điểu cốt yếu là phải hiểu lịch sử, nắm được bản chất, ý nghĩa của sự kiện, hiện tượng lịch sử Trên cơ sở đó hình thành khái niệm, rút ra bài học lịch
sử, những kết luận cần thiết
- Thứ tư, HS Tiểu học đôi khi không thể hiểu được những kiến thức trừu
tượng nếu GV chỉ bằng giảng giải, cắt nghĩa Nhưng các em có thể hiểu được những kiến thức thông qua tổ chức các trò chơi lịch sử như đánh trận, đóng vai… có thể nói, học tập bằng hành động là một kiểu học tập cơ bản Ví dụ đóng vai đoạn đối thoại giữa anh Tư Lê với Nguyễn Tất Thành, đoạn Dương Văn Minh đầu hàng quân giải phóng…
Trang 141.1.1.2 Ý nghĩa, vai trò của bộ môn Lịch sử lớp 4,5
Đây là môn học đóng vai trò là cơ sở quan trọng bậc nhất để trang bị một
hệ thống kiến thức về cội nguồn dân tộc, về các thành quả xây dựng và bảo vệ đất nước, về các giá trị tiêu biểu của truyền thống, văn hóa dân tộc và nhân loại Lịch sử tạo niềm tin cho học sinh qua các bằng chứng chứng xác thực (không phải bằng mệnh lệnh)
Lịch sử cung cấp cho học sinh những kinh nghiệm quý báu về cách xử lý tình huống thông minh của người xưa trong cuộc sống, nhất là trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
Lịch sử là bộ môn khoa học, về mặt văn hóa nó gắn liền với hình hài đất nước, đó là dòng sông, bến nước, sân đình, cây đa, giếng nước, lũy tre làng, là gia đình, tổ tiên
Lịch sử nuôi dưỡng thế hệ con người Việt Nam, giáo dục góp phần hình thành cái tâm, tính cần cù, chăm chỉ, sáng tạo, yêu thương đùm lẫn nhau, gắn tình yêu gia đình, làng xóm với quê hương đất nước
Lịch sử là quá khứ, là nơi chứa đựng giá trị văn hóa, là nguồn dữ liệu để tham chiếu kinh nghiệm cha ông vào sự phát triển hôm nay
Học lịch sử còn để biết giá trị của ngày hôm nay và từ đó biết ý nghĩa của thành ngữ “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” Để từ đó, bồi dưỡng các giá trị của truyền thống của dân tộc, nhất là chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập tự cường, tinh thần nhân ái ; từ đó xây dựng phẩm chất và bản lĩnh con người Việt Nam
Bộ môn Lịch sử có một ý nghĩa, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục, hình thành nhân cách, lòng yêu nước cho HS Ngoài ra, môn học sẽ cung cấp những kiến thức để HS có thể nhận thức về truyền thống dân tộc của con người, có thái độ trân trọng, biết ơn và có những việc làm tri ân đối với các bậc “khai quốc công thần”, các vĩ nhân, danh nhân, các anh hùng, liệt sĩ Là môn
Trang 15học có thể truyền cảm, thôi thúc các thế hệ hậu sinh phấn đấu vươn lên sao cho xứng đáng với sự mong đợi, kỳ vọng của các thế hệ cha ông
1.1.1.3 Mục tiêu của dạy học Lịch sử lớp 4, 5
Mục tiêu của dạy học Lịch sử lớp 4, 5
sử đối với xã hội
- Về kĩ năng:
Bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng:
+ Quan sát các sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ sách giáo khoa và các nguồn tài liệu khác
+ Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn những thông tin để giải đáp
+ Nhận biết các sự kiện, bảng thống kê
+ Trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bài viết
+ Vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn
- Về thái độ: Góp phần bồi dưỡng và phát triễn ở học sinh những thái độ và thói quen:
+ Ham học hỏi, tìm hiểu để biết về môi trường xung quanh các em
+ Yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước
Trang 16+ Tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử, văn hóa của quê hương đất nước
1.1.1.4 Các loại bài trong chương trình sách giáo khoa lịch sử ở lớp 4, 5
a Loại bài cung cấp kiến thức mới
- Bài học có nội dung về tình hình chính trị - kinh tế, văn hóa – xã hội
Dạng bài này có nhiều ở Lịch sử lớp 5, nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội nước ta sau mỗi thời kì (giai đoạn) nhất định Để dạy tốt dạng bài này, giáo viên cần thực hiện trình tự bài giảng theo các ý cơ bản sau:
+ Phải mô tả được tình hình nước ta (cuối thời kì hay sau thời kì nào đó ) như thế nào? (tình cảnh đất nước; chính quyền; cuộc sống nhân dân? )
+ Trong tình cảnh đó, chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì? Làm như thế nào?
+ Kết quả của việc làm đó ra sao?
Ví dụ, với bài 12 “Vượt qua tình thế hiểm nghèo”, giáo viên phải giúp học
sinh nắm được:
- Tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám như thế nào?
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để giải quyết nạn đói, nạn khó khăn về tài chính, nạn dốt và nạn ngoại xâm?
- Kết quả của những biện pháp đó (từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm)
Trên cơ sở của những ý cơ bản đó, giáo viên vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt từng bài cụ thể để đảm bảo mục tiêu bài học
- Bài học có nội dung về các nhân vật lịch sử
Trong phần Lịch sử không giới thiệu tiểu sử của các nhân vật lịch sử, mà thông qua cuộc đời hoạt động và sự nghiệp của các nhân vật để làm sáng tỏ những sự kiện cơ bản của lịch sử dân tộc Ví dụ như: “Bình Tây Đại nguyên soái” Trương Định bất chấp lệnh bãi binh của triều đình ở lại cùng nhân dân chống giặc (1862); hay Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước vào đầu thế kỉ XX… Như vậy, nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự
Trang 17kiện lịch sử Giáo viên phải biết khai thác tốt các sự kiện lịch sử để làm nổi bậc lên các công lao to lớn của các anh hùng dân tộc
Khi giảng dạy những bài về nhân vật lịch sử, giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:
- Mỗi một bài đều có hình ảnh nhân vật lịch sử để giúp học sinh biết được diện mậu cũng như hình thức bên ngoài của nhân vật
- Khi trình bày về nhân vật, phải cho học sinh biết nhân vật lịch sử đó là người như thế nào?
- Phải miêu tả cụ thể và tường thuật những hoạt động của họ để làm cơ sở cho việc đánh giá khách quan công lao của các nhân vật đó đối với lịch sử
- Trên cơ sở khai thác các nội dung đó, giáo viên tiến hành giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử một cách tự nhiên
Ví dụ như bài: “Bình Tây Đại nguyên soái” Trương Định
Để dạy tốt bài này, trước hết giáo viên phải phân ra ý chính của bài, trên cơ
sở đó tổ chức cho học sinh tìm hiểu Cụ thể đối với bài này, giáo viên khắc họa những ý cơ bản sau:
+ Trương Định là người như thế nào? (xem đoạn thông tin tham khảo trong SGK trang 11 để giới thiệu, miêu tả, khắc họa hình ảnh nhân vật.)
+ Khi nhận được lệnh bãi binh của triều đình, Trương Định có những boăn khoăn suy nghĩ gì?
+ Trước những suy nghĩ đó, nghĩa quân và dân chúng đã làm gì?
+ Trương Định đã làm gì để đáp lại lòng tin yêu của nhân dân?
- Bài học có nội dung đề cập đến cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công, tiến công
Loại bài này chiếm tỉ lệ khá cao trong chương trình và SGK Lịch sử Với loại bài này, GV phải cho HS nắm được những vấn đề sau:
+ Nguyên nhân (hoặc hoàn cảnh) dẫn đến cuộc khởi nghĩa/ cuộc kháng chiến/ chiến dịch
Trang 18+ Diễn biến cuộc khởi nghĩa/ kháng chiến/ chiến dịch…
+ Kết quả và ý nghĩa
Hầu hết các bài đều có bản đồ, lược đồ GV phải hướng dẫn HS xác định
và mô tả được vị trí, khu vực, địa bàn nơi diễn ra cuộc khởi nghĩ/ kháng chiến/ chiến dịch…, đặc biệt là phải trình bày được diễn biến trên lược đồ
Bài tập ôn tập, tổng kết
Đây không phải là loại bài cung cấp kiến thức mới mà là loại bài học nhằm
hệ thống hóa và củng cố lại những kiến thức đã học cho học sinh sau mỗi một học kì (giai đoạn lịch sử), giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc, toàn diện hơn, đồng thời chuẩn bị tốt cho kiểm tra thi
cử
Để dạy tốt các bài này, mở đầu bài học, GV nêu nhiệm vụ cần phải giải quyết của bài rồi tiến hành tổ chức cho HS làm việc dưới sự lãnh đạo của GV Trong tiến trình bài học , GV phải thu hút tất cả HS vào công việc, phát huy cao nhất tính tích cực của HS trong việc trao đổi những câu hỏi mà GV đặt ra, thực hiện các công việc như vẽ sơ đồ, lập bảng niên biểu, thống kê tìm các dẫn chứng… Đây là yêu cầu quan trọng để phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn
Thông thường, đối với loại bài ôn tập, tổng kết, GV vân dụng tổng hợp nhiều phương pháp (phân tích, tổng hợp, khái quát hóa) kết hợp với vấn đáp – tìm tòi, tổ chức làm việc theo nhóm cho học sinh Tùy từng nội dung cụ thể trong bài mà GV lựa chọn phương pháp cho phù hợp
Ví dụ trong bìa Lịch sử 5: Bài 11 – Ôn tập: Hơn tám mươi năm chống Pháp xâm lược và đô hộ (1858-1945)
- Mở đầu, GV nêu: “Năm 1858, thực dân Pháp tấn công vào Đà Nẵng, mở đầu quá trình xâm lược nước ta Kể từ đó, nhân dân Việt Nam phải sống dưới ách thống trì của thực dân Pháp suốt gần một thế kỉ Ngay từ khi Pháp xâm lược, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên chống giặc, nhưng đều thất bại Đầu thế kỉ
Trang 19XX, với lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc sâu sắc, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945 giành độc lập, tự do cho dân tộc Cách mạng mùa thu năm 1945 đã chấm dứt hơn 80 năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, mở ra một trang sử mới cho nước nhà Nhìn lại trang sử đau thương nhưng vẻ vang đó để chúng ta nhớ lại những mốc thời gian, những sự kiện lịch sử tiêu biểu từ năm 1858 đến năm 1945 là nhiệm vụ của bài học này
Tiếp đó, GV nêu câu hỏi để HS suy nghĩ và tập trung vào giải quyết vấn đề:
+ Các mốc lịch sử quan trọng từ năm 1858 đến năm 1945?
+ Những sự kiện lịch sử và những nhân vật tiêu biểu nhất từ năm 1858 đến năm 1945?
+ Ý nghĩa của những sự kiện lịch sử tiêu biểu?
- Theo từng nội dung đó, GV hướng dẫn HS làm việc, giải quyết các nhiệm
vụ bài học:
+ Về nội dung thứ nhất, GV hướng dẫn HS kẻ trục thời gian từ 1858 đến
1945, sau đó yêu cầu học sinh tìm và điền các mốc thời gian quan trọng (cụ thể
là các năm 1858, 1911, 1930, 1945)
+ Về nội dung thứ hai, GV có thể chia lớp thành các nhóm, yêu cầu HS tìm các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của thời kì này Điều này có tác dụng lôi cuốn các em vào các công việc và kết quả làm việc của các nhóm sẽ bổ cung được nội dung đầy đủ
Sau khi HS trình bày kết quả, GV tổng hợp ý kiến và chốt lại những sự kiện sau:
Năm 1858: Thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta
Nửa cuối thế kỉ XIX: Phong trào chống Pháp của Trương Định và phong trào Cần Vương
Trang 20Đầu thế kỉ XX: Phong trào Đông du của Phan Bội Châu
Năm 1911: Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước
Ngày 3 tháng 2 năm 1930: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Ngày 19 tháng 8 năm 1945: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, Cách mạng tháng Tám thành công
Ngày 2 tháng 9 năm 1945: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập
- Về nội dung thứ ba, GV định hướng cho HS thảo luận ý nghĩa của hai sự kiện: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cách mạng tháng Tám
- Cuối cùng, cho HS làm bài tập, trả lời các câu hỏi 1 và 3 trong SGK để hoàn thiện bài học
Tóm lại, mỗi loại bài có những cách dạy riêng, GV phải biết lựa chọn cho phù hợp với nội dung của bài và phải biết kết hợp với nhiều phương pháp khác trong một giờ dạy Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp là một trong những yếu tố mang lại hiệu quả cao của giờ học
1.1.1.5 Đặc điểm về cách trình bày sách giáo khoa lịch sử lớp 4, 5
a Về thiết kế sách giáo khoa
- Kênh chữ đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp các thông tin cần thiết
và việc hướng dẫn các hoạt động học tập
Trang 21- Kênh hình bao gồm tranh ảnh, lược đồ, Không đơn thuần chỉ là nhiệm
vụ minh họa mà còn đóng vai trò quan trọng như là nguồn thông tin chính của một số bài học
c Đặc điểm trình bày một số bài học trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 4,5
Mỗi bài học trong Sách giáo khoa Lịch sử gồm 5 phần:
- Tên bài học
Đầu tiên là ở mỗi bài học là tên bài được viết chữa in hoa, to, rõ ràng
- Phần cung cấp thông tin
Bao gồm hệ thống kênh hình và kênh chữ
+ Phần câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập sau phần cung cấp thông tin
Sau phần cung cấp kiến thức sẽ có những câu hỏi để học sinh tìm hiểu, phân tích, tổng hợp thông tin
+ Phần cung cấp kiến thức trọng tâm của bài
Đây là phần tóm tắt các kiến thức trọng tâm của bài học bằng những câu văn, đoạn văn ngắn gọn, đầy đủ nội dung quan trọng, được đóng khung, là phần học sinh cần nắm bắt và ghi nhớ
+ Phần bài tập, câu hỏi
Được trình bày dưới dạng câu hỏi tự luận hoặc bài tập trắc nghiệm đặt ở cuối bài học Nó giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá mức độ hiểu bài của mình
Và thông qua câu trả lời của học sinh, giáo viên sẽ thu được thông tin tín hiệu ngược từ học sinh, từ đó kịp thời sửa chữa, bổ sung kiến thức cho các em
1.1.2 Khái quát về loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử của học sinh lớp 4, 5
1.1.2.1 Mục tiêu dạy học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử của học sinh lớp 4, 5
Học xong loại bài này, HS biết và hiểu:
Trang 22- Thời gian, địa điểm diễn ra các cuộc khời nghĩa, chiến thắng, chiến dịch…
- Những nét chính về diễn biến và ý nghĩa của các thắng lợi đó
HS có khả năng: tường thuật, miêu tả những nét chính của cuộc khởi nghĩa hay chiến dịch đã học
HS có thái độ biết ơn những người đã làm nên những sự kiện vĩ đại của lịch
sử dân tộc và có ý thức bảo vệ những thành quả của cách mạng
1.1.2.1 Mục đích chung của dạy học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử của học sinh lớp 4, 5
Đối với loại bài này không chỉ giúp các em nắm nội dung của bài mà hướng dẫn cho các em có kỹ năng tường thuật, miêu tả những nét chính của cuộc khởi nghĩa hay chiến dịch đã học
Từ đó giúp các em có thái độ biết ơn những người đã làm nên những sự kiện vĩ đại của lịch sử dân tộc và có ý thức bảo vệ những thành quả của cách mạng
Ví dụ: Qua bài học “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” giúp các em nắm được nội dung chính của bài, hiểu được ý nghĩa mà bài học mang lại như: Đây là trận tiêu diệt lớn nhất của Quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và can thiệp Mỹ, đánh bại “kế hoạch Nava” của thực dân Pháp, tạo điều
kiện đi đến quyết định ký hiệp định Giơnevơ (21/7/1954) Kết thúc 9 năm cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam, góp phần cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, đây cũng là thắng lợi chung của các dân tộc nhỏ yếu trên thế giới trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do Chiến thắng
này cũng chứng minh chân lý của thời đại “Một dân tộc dù nhỏ bé, nếu biết
quyết tâm, đoàn kết chiến đấu và có một đường lối đúng thì có thể đánh bại được bất cứ tên đế quốc sừng sỏ nào”
Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, một đất nước nhỏ bé đã đánh bại một đất nước thực dân hùng mạnh Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt
Trang 23Nam, đồng thời cũng là thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ trên toàn thế giới Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã bảo vệ và phát triển thành quả của cách mạnh tháng Tám, giải phóng hoàn toàn Miền Bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, đưa cách mạng Việt Nam bước sang một giai đoạn mới Miền Bắc tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa và Miền Nam tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, hoàn thành độc lập dân tộc, dân chủ và thống nhất đất nước
Chiến thắng cũng đã giúp các em biết ơn những thành quả Cách mạng, các
em biết quý trọng những vị anh hùng đã hi sinh mình vì độc lập, hạnh phúc của đất nước, từ đó các em biết trân trọng, giữ gìn và góp phần phát triển đất nước
1.1.2.2 Nội dung của loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5
- Đối với lớp 4
2 Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo (Năm
Trang 24- Đối với lớp 5
1.1.2 Đặc điểm của học sinh tiểu học
1.1.2.1 Đặc điểm về tâm sinh lí
HS Tiểu học đang trong thời kì hoàn thiện phát triển các cơ quan trong cơ thể Khả năng điều khiển các hoạt động tâm lí của bản thân các em còn thấp như: không ngồi lâu, khả năng tập trung chú ý thấp
Đa số các em đều thích phương tiện trực quan sinh động, hấp dẫn, nhiều hình dạng, màu sắc đẹp mắt
Các em mang tính cách hiếu động, thích bắt chước hành vi, cử chỉ, lời nói của người lớn, của các nhân vật trong phim… Và có tính ham học hỏi, luôn tò
mò, thắc mắc về những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, luôn đặt câu hỏi: vì sao, tại sao?
1.1.2.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
a Đặc điểm tri giác
Tri giác của HS Tiểu học nói chung và HS lớp 4, 5 nói riêng thường mang tính tổng thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định Vì vậy, các em
Trang 25chưa phân biệt chính xác các đối tượng, sự vật, hiện tượng, các em dễ mắc sai lầm, có khi còn nhầm lẫn, lẫn lộn
Đến cuối bậc Tiểu học, tri giác mới có tính chủ định HS biết thu xếp kế hoạch học tập, vui chơi và bắt đầu mang tính xúc cảm
Các em thường tri giác đầu tiên vào đặc điểm, dấu hiệu nổi bậc của sự vật, hiện tượng… đã gây cảm xúc, ấn tượng cho mình
Khả năng tri giác về không gian, thời gian của HS còn nhiều hạn chế Về tri giác độ lớn các em thường gặp khó khăn khi quan sát các vật có kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ
Tri giác của HS thường gắn với hoạt động, hành động thực tiễn HS sẽ có tri giác sự vật, hiện tượng khi các em có thể: cầm, nắm, tháo, gỡ, tận mắt nhìn thấy, nghe thấy
Tri giác không tự thân nó phát triển được trong quá sống và học tập, khi tri giác trở thành một hoạt động có mục đích, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hành động có phân tích, có phân hóa, thì tri thức sẽ mang tính chủ định, có định hướng và có tổ chức Người GV có vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển tri giác của học sinh, hướng dẫn các em quan sát, xem xét, phân tích
và phát hiện những thuộc tính, bản chất của sự vật, hiện tượng
b Đặc điểm chú ý
Chú ý có chủ định của HS Tiểu học còn yếu, chú ý chủ định chiếm ưu thế Các em thường chú ý, tập trung vào những sự việc có tính nổi bậc, mới mẻ, gây bất ngờ
Sự tập trung chú ý của HS lớp 1,2 còn yếu và thiếu tính bền vững Điều này
có nguyên nhân ở chổ quá trình ức chế ở não còn yếu, do đó các em chưa thể tập trung lâu và chú ý dễ bị phân tán trong quá trình học tập Nhiều công trình n19ghiên cứu chú ý cho thấy HS Tiểu học chỉ có thể tập trung và duy trì chú ý liên tục trong khoảng 30-35 phút
Trang 26Ở giai đoạn cuối bậc Tiểu học, các em hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình, chú ý có chủ định phát triển dần
Khi GV sử dụng phương tiện trực quan như: tranh ảnh, mô hình, lược đồ, mẫu vật… trong giờ học thì dễ dàng thu hút sự chú ý của học sinh
c Đặc điểm tư duy
V.I Lê Nin đã diễn tả bản chất của sự nhận thức qua quy luật: “Từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng và tư duy trừu tượng đến thực tiễn… Do
đó con đường nhận thức hiện thực khách quan và nhận thức chân lí”
Tư duy của HS Tiểu học cũng phát triển theo quy luật đó Ở giai đoạn này
tư duy cụ thể là chủ yếu, mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể mà các em quan sát, nhận thức được, thường là những đặc tính bên ngoài (màu sắc, kích thước, hình dáng ) chưa chú trọng những thuộc tính và bản chất bên trong của sự vật Nhớ quá trình học tập mà tư duy của các em dần phát triển, hình thành được khái niệm khoa học một cách đầy đủ, đúng đắn, chuyển từ tu duy cụ thể sang tư duy trừu tượng
Vì vậy, GV cần tổ chức hoạt động học tập hợp lí cho HS để phát triển tư duy cho các em
Trang 27e Đặc điểm trí nhớ
Giai đoạn đầu Tiểu học (lớp 1,2,3) HS có khuynh hướng nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiều những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập
Sang giai đoạn bậc Tiểu học cùng với việc hình thành các biện pháp ghi nhớ, trí nhớ chủ định của các em phát triển và mang lại hiệu quả trong học tập hơn là trí nhớ không chủ định
Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sự hấp dẫn của nội dung tài liệu học tập, mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú học tập của các em…
h Đặc điểm tưởng tượng
Tưởng tượng là một trong những nhận thức quan trọng, tưởng tượng của học sinh phát triển không đầy đủ, chính xác thì nhất định gặp khó khăn trong quá trình học tập, lĩnh hội tri thức Khả năng tưởng tượng của học sinh phát triển khi vác em có nhiều vốn kiến thức và kinh nghiệm sống phong phú Ở cuối bậc Tiểu học tưởng tượng của học sinh càng gần với thực tế hơn và các em biết cách biểu đạt những sự vật, hiện tượng mà mình tưởng tượng bằng hình ảnh, tranh vẽ, ngôn ngữ
Tuy nhiên, hình ảnh của tưởng tượng còn chưa bền vững, dễ thay đổi, chi phối khi có một tác động vào nhận thức của HS
Trong quá trình giảng dạy, GV cần lưu ý tưởng tượng góp phần phát triển trí sáng tạo của HS, nhớ có tưởng tượng mà HS có thể, khái quát, phát họa bức tranh về cuộc sống tạo thêm động cơ để kích thích tính tìm tòi khám phá những điều mới mẻ trong quá trình học tập
g Nhu cầu nhận thức
Trong những năm đầu của Tiểu học, nhận thức của học sinh phát triển rất
rõ nét, đặc biệt là như cầu tìm hiểu thế giới xung quanh của các em Đầu tiên,
Trang 28xuất hiện như cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, những biểu tượng riêng biệt, sau đó xuất hiện và quan hệ phụ thuộc giữa các sự kiện, hiện tượng
1.1.2.3 Một số phương pháp dạy học trong môn Lịch sử ở Tiểu học
a Phương pháp dạy học dùng lời
Trong dạy học Lịch sử nói chung và dạy học lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4,5 nói riêng, việc truyền đạt có ý nghĩa rất quan trọng vì lời nói giữ vai trò chủ đạo đối với vai trò của GV và học tập của HS Việc trình bày không chỉ được thực hiện phương pháp thông tin – tái hiện nhằm khôi phục hình ảnh quá khứ mà còn giúp HS nhận thức sâu sắc những sự kiện, trình bày những suy nghĩ, hiểu biết trong nghiên cứu, tìm tòi
Lịch sử là những việc đã diễn ra và tồn tại khách quan trong quá khứ Do
đó, không thể phân đoán, suy luận, tưởng tượng để nhận thức lịch sử cũng không thể quan sát trực tiếp những sự việc đã xảy ra Vì vậy, muốn nhận thức được lịch sử thì con người phải thông qua những dấu tích của quá khứ, những chứng cứ về sự tồn tại của các sự việc để tái tạo lịch sử, dựng lại hình ảnh của các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử một cách cụ thể, rõ nét GV sử dụng phương pháp truyền miệng thông qua lời nói sinh động giàu hình ảnh để tái tạo lịch sử
Trình bày miệng có nhiều cách tiến hành, nhiều phương pháp cụ thể để HS hiểu biết đầy đủ, có hệ thống các sự kiện lịch sử đã diễn ra như tường thuật, miêu tả, kể chuyện lịch sử mà những sự kiện, biến cố lịch sử đã hiện lên với đầy
đủ tính cụ thể và đầy kịch tính của nó, đem đến cho HS những cảm xúc mạnh
mẽ không thể nào quên
- Tường thuật
Tường thuật là cách trình bày miệng quan trọng nhằm tái hiện ở HS những
sự kiện, biến cố lịch sử quan trọng đã xảy ra với đầy đủ tính cụ thể của nó
Trang 29- Miêu tả
Miêu tả là trình bày lại đặc trưng của một sự vật, một sự kiện lịch sử để nêu lên những nét bản chất chủ yếu, cấu tạo bên trong cũng như bên ngoài của chúng Khác với tường thuật, miêu tả không có chủ đề mà chỉ có đối tượng cụ thể cần trình bày Khi dạy Lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5,
GV thường sử dụng phương pháp miêu tả để khắc họa bức tranh toàn vẹn về đối tượng được trình bày Khi miêu tả, GV lựa chọn những chi tiết tiêu biểu nhất, đủ
để dựng lại một quá khứ một cách đúng đắn, khách quan
Miêu tả là dựa vào những tài liệu khoa học, chính xác nhằm tạo cho HS những hình ảnh lịch sử cụ thể, chân thực và có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm đối với HS Vì vậy, khi miêu tả đòi hỏi GV phải đảm bảo tính khách quan khoa học đồng thời phải trình bày rõ ràng đối với đối tượng được miêu tả
- Kể chuyện
Kể chuyện là phương pháp trong đó GV dùng chính ngôn ngữ của mình làm sống lại trước mặt HS hình dáng, đặc điểm, ngôn ngữ, cử chỉ của nhân vật lịch sử hay một sự kiện lịch sử điển hình xảy ra tỏng quá khứ Phương pháp Kể chuyện được sử dụng đối với những bài có tình tiết liên quan với nhau theo trình
tự thời gian Chẳng hạn như các cuộc khởi nghĩa…
Phương pháp Kể chuyện tạo nên một bức tranh sinh động về những biến
cố, những nhân vật lịch sử có tác dụng gây hững thú cho học sinh Việc kể chuyện góp phần phát triển ở trẻ em sự tưởng tượng, tái tạo
Để việc sử dụng phương pháp kể chuyện có hiệu quả, GV cần có các kĩ thuật thích hợp:
- Biết rõ xuất xứ, nội dung, thời gian và không gian xảy ra câu chuyện Khi
kể chuyện, GV dùng ngôn ngữ của mình dẫn dắt câu chuyện sao cho gây được
sự hứng thú đối với HS nhưng không được phép kể sai sự kiện, nhân vật lịch sử, thời gian cũng như diễn biến của sự kiện lịch sử, nắm vững cốt truyện, phương
Trang 30pháp dự kiến, cách diễn đạt về lời nói, ngữ điệu, nhịp điệu, cử chỉ, điệu bộ sẽ thể hiện khi kể GV có thể phân chia câu chuyện thành từng phần, chuẩn bị sơ đồ, biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh cho phù hợp với từng nội dung để minh họa cho nội dung câu chuyện Đồng thời dự kiến được hình thức dẫn chuyện để tạo tâm thế
và gây hứng thú, kích thích trí tò mò của HS
GV không nên kể một lần, sau đó yêu cầu HS kể lại mà GV nên phân chia câu chuyện thành các tình tiết theo tình tự trước, sau rồi kể từng phần theo nội dung từng ý đã chuẩn bị trước Sau mỗi phần kể, GV đặt câu hỏi để giúp HS nhận thức được nội dung của từng phần Khi kết thúc câu chuyện của giáo viên,
HS đã có một dàn bài của câu chuyện Dựa vào đó, HS có thể kể lại nội dung của câu chuyện
Khi nêu các câu hỏi, GV dành thời gian cho HS thảo luận hoặc có thời gian
kể lại câu chuyện Khi các nhóm trả lời được tất cả các câu hỏi do GV nêu ra tức
là HS đã nắm được dàn ý của câu chuyện Dựa vào đó, các nhóm cử đại diện kể trước lớp
Trong quá trình học sinh kể chuyện, GV yêu cầu các em kể lại câu chuyện theo ngôn ngữ của mình, các em có thể thêm bớt các tình tiết sao cho hấp dẫn nhưng không được sai sự thật Như vậy, cùng một lúc GV vừa là người dẫn chuyện vừa là người tổ chức, dẫn dắt học sinh nắm vững cốt truyện
b Phương pháp dạy học trực quan
Do lịch sử là những gì xảy ra trong quá khứ, không thể trực tiếp quan sát được nên phương pháp dạy học trực quan có ý nghĩa rất quan trọng Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp sử dụng phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Trong dạy học Lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5 thì phương pháp trực quan có vai trò vô cùng quan trọng, giúp tái hiện lại các trận
Trang 31đánh một cách trực quan nhất, từ đó các em sẽ dễ dàng hình dung được những trận chiến ác liệt mà dân ta đã trải qua
- Các loại đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5
+ Đồ dùng trực quan quy ước, bao gồm: bản đồ lịch sử, biểu đồ, sơ đồ, niên biểu,… Loại đồ dùng này tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng, khi phản ánh những mặt chất lượng và số lượng của quá trình lịch sử Nó là phương tiện để cụ thể hóa sự kiện lịch sử
+ Đồ dùng trực quan tạo hình, bao gồm: các loại phục chế mô hình, sa bàn, tranh ảnh lịch sử… như tranh ảnh về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, mô hình về trận Bạch Đằng… Nó có khả năng khôi phục lại những hình ảnh của những con người, biến cố, sự kiện lịch sử một cách cụ thể, sinh động và khá xác thực
Ngoài ra, do sự phát triển của khoa học kĩ thuật nên việc áp dụng các phương tiện khoa học kĩ thuật vào giảng dạy ngày càng tăng như sử dụng video, máy chiếu, radio… chúng được gọi là những phương tiện nghe, nhìn
Song những phương tiện trực quan này không thể thay thế cho vai trò của người GV Vì vậy, vấn đề đặt ra là người GV phải biết phối hợp sử dụng các phương tiện trực quan một cách phù hợp và đạt hiệu quả
- Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan dạy học lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5
+ Căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bài học để lựa
chọn đồ dùng trực quan thích hợp Vì vậy cần xây dựng một hệ thống các đồ dùng trực quan phong phú, phản ánh trung thực sự vật, hiện tượng phù hợp với bài học
+ Tùy theo yêu cầu của mỗi bài học và loại đồ dùng trực quan mà có cách
sử dụng khác nhau Tùy vào yêu cầu của nội dung bài giảng, có thể phối hợp sử
Trang 32dụng nhiều loại đồ dùng trực quan nhưng tránh lạm dụng, không nên chỉ chú trọng một loại đồ dùng trực quan nào Chỉ sử dụng khi nào cần, không đưa vào trước và cũng không để quá lâu nhằm tránh sự phân tán chú ý của học sinh, không biến thiết bị dạy học thành vật trang trí GV cần chọn vị trí thích hợp để đặt các đồ dùng trực quan nhằm đảm bảo sự quan sát đầy đủ, rõ ràng và nếu cần
HS có thể dễ dàng tiếp cận đồ dùng trực quan
+ Phát huy tính tích cực của HS khi sử dụng đồ dùng trực quan (không chỉ
để cụ thể hóa kiến thức mà còn đi sâu vào phân tích sự kiện) Phải đảm bảo phát triển óc quan sát; khả năng quan sát nhanh, chính xác và độc lập; tích cực phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, rút ra những kết luận cần thiết
+ Kết hợp lời nói sinh động với việc trình bày các đồ dùng trực quan Đồng thời rèn luyện khả năng thực hành tường thuật trên bản đồ, miêu tả hiện vật cho học sinh
Phương pháp trực quan là một phương pháp quan trọng trong dạy học Lịch
sử nói chung và loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5 nói riêng Dạy học trực quan bao gồm quan sát và trình bày trực quan, trong đó HS phải tiến hành quan sát dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên hay tự tiến hành quan sát một cách khoa học các phương tiện trực quan GV luôn theo dõi, kiểm tra sự thu nhận của HS, giúp HS phân tích, nêu kết luận khái quát về sự kiện được phân tích trên bản đồ, lược đồ… điều đó có nghĩa là GV phải là người chỉ ra con đường, cách thức cho HS quan sát các phương tiện trực quan
c Phương pháp thảo luận nhóm
Trong dạy học nói chung, muốn có những người năng động, sáng tạo, có năng lực hợp tác, có khả năng làm việc đồng đội, cần tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập theo nhóm, mang tính tập thể Bởi vậy, tổ chức dạy học theo nhóm được sử dụng như một xu thế phổ biến trong các trường phổ thông Tiết dạy Lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và
Trang 33tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5 có nhiệm vụ giúp HS nắm được Nguyên nhân (hoặc hoàn cảnh)dẫn đến cuộc khởi nghĩa/ cuộc kháng chiến/ chiến dịch Diễn biến, kết quả cuộc khởi nghĩa/ kháng chiến/ chiến dịch… từ đó rút ra ý nghĩa Trong nhiều trường hợp, khi tổ chức cho HS phân tích, đánh giá các sự kiện lịch sử, có thể nêu ra nhiều ý kiến khác nhau xuất phát từ những cơ
sở khác nhau để HS lựa chọn hoặc nêu ý kiến của mình Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm để HS trình bày kết quả thảo luận của mình, động viên HS mạnh dạn bày tỏ và bảo vệ ý kiến riêng của mình, đồng thời biết lắng nghe ý kiến của người khác, hiểu biết, chia sẻ kết luận và cơ sở lập luận của bạn, biết cách hợp tác công việc với các bạn
- Tác dụng của việc thảo luận nhóm
Thông qua tìm tòi, thảo luận trong nhóm, các ý kiến, kinh nghiệm, ý nghĩ, thái độ của mỗi cá nhân HS được bộc lộ, ý thức tổ chức kỉ luật, tinh thần tương trợ trong học tập phát triển, HS được tự do trao đổi, học tập lẫn nhau Kĩ năng nhận thức có được do phải giải thích, trao đổi để cùng nhau giải quyết vấn đề
Kĩ năng xã hội cũng được phát triển thông qua làm việc và giao tiếp cùng nhau
- Các bước tiến hành thảo luận nhóm
GV chia thành một số nhóm và mỗi nhóm được giao một hay một số nhiệm
vụ cụ thể, có yêu cầu về nội dung, thời gian, cách làm,… sau khi các nhóm thảo luận xong, GV tổ chức cho HS báo cáo kết quả trước lớp cụ thể phương pháp thảo luận nhóm được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị thảo luận:
+ Yêu cầu HS đọc trước nội dung bài, một phần của bài học hoặc tìm hiểu thông tin, tư liệu liên quan
+ Chia nhóm, cử trưởng nhóm Trong mỗi nhóm phải có HS giỏi, khá, trung bình, HS hiếu động, trầm lặng… Có nhiều cách chia nhóm như: đặt tên, đánh số, chia theo từng bàn, dùng giấy màu, kí hiệu, hình ảnh tượng trưng…
Bước 2: Giao nhiệm vụ cho các nhóm
Trang 34Nhiệm vụ phải rõ ràng, đảm bảo cho tất cả HS đều hiểu GV yêu cầu HS thảo luận nhưng phải giữ trật tự
Bước 3: Thảo luận
+ HS thảo luận theo nhóm bằng cách trao đồi, bàn bạc, phân tích, đưa ra dẫn chứng…
+ Trong quá trình HS thảo luận nhóm, GV quan sát, hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời nếu các em gặp khó khăn gì trong giải quyết vấn đề
Bước 4: Tổng kết thảo luận
+ Đại diện nhóm trình bày trước lớp kết quả thảo luận của nhóm mình + Các nhóm khác hoặc các thành viên trong nhóm nêu câu hỏi, bổ sung ý kiến Nếu có câu hỏi thắc mắc, GV chưa nên giải đáp ngay mà nên đặt ra câu hỏi gợi ý thảo luận hoặc chỉ cho HS hướng suy nghĩ để các em tìm ra câu trả lời + GV nhận xét, kết luận chung
- Yêu cầu khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm
+ Tùy vào nội dung để chọn số lượng HS trong nhóm hợp lí, không nên
để HS di chuyển chỗ ngồi quá nhiều gây mất trật tự trong lớp học
+ GV là người đóng vai trò dẫn dắt, duy trì thảo luận, giao nhiệm vụ cho các nhóm rõ ràng; gợi ý, giải thích những chỗ HS chưa sáng tỏ, khích lệ những
HS rụt rè tham gia thảo luận nhóm
+ Không lạm dụng những HS giỏi, nhanh nhẹn tham gia như vậy sẽ loại bỏ
số đông HS ra khỏi quá trình suy nghĩ, hoạt động và vô tình tôn vinh một số HS giỏi, khá
Thảo luận nhóm là phương pháp tích cực, mang lại hiệu quả cao trong dạy và học Trong đó, tất cả học sinh phải trao đổi với nhau và đưa ra ý kiến của mình Muốn đạt được hiệu quả trong tổ chức dạy học nhóm thì GV phải có sự quan sát và gợi ý, hướng dẫn, khuyến khích các em GV phải tổ chức các cuộc thảo luận của các em theo chiều hướng trở thành cuộc thảo luận của các em theo
Trang 35chiều hướng trở thành các cuộc tranh luận giữa HS với HS GV chỉ đóng vai trò
là người hướng dẫn các em trong quá trình thảo luận nhóm
d Phương pháp vấn đáp
Vấn đáp là phương pháp dạy học trong đó GV khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để HS trả lời nhằm gợi mở cho các em sáng tỏ những vấn đề mới, tự khai thác những kiến thức mới bằng sự hiện những điều đã học những kinh nghiệm
đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm giúp HS củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa những tri thức đã tiếp thu đã tiếp thu được, nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp HS tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức của bản thân
Phương pháp vấn đáp nếu được vận dụng linh hoạt và khéo léo thì sẽ đạt được kết quả cao:
- Điều khiển quá trình hoạt động tư duy của HS, kích thích các em tích cực suy nghĩ để tìm ra cách giải quyết cho vấn đề được GV đặt ra
- Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt những sự kiện, những hiện tượng, những nhân vật lịch sử một cách chính xác, đầy đủ và khoa học
- Giúp GV tiếp thu tín hiệu ngược từ HS một cách nhanh chóng để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy, có những phương pháp phù hợp với từng đối tượng
HS Đồng thời, qua đó HS cũng kịp thời tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình
Tuy nhiên, muốn đạt hiệu quả cao thì trong quá trình sử dụng phương pháp vấn đáp, bên cạnh những câu hỏi đóng thì GV phải đưa ra câu hỏi gợi mở để HS trả lời theo hiểu biết của các em Như vậy, sẽ kích thích được suy nghĩ của HS
và tạo hứng thú cho các em trong quá trình học tập Bên cạnh đó, GV cũng phải đảm bảo một số yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp vấn đáp như sau:
- Cần đặt câu hỏi cho mọi đối tượng HS chứ không nêu ra cho một cá nhân nào Sau khi nêu ra câu hỏi thì GV phải để thời gian cho HS suy nghĩa và chờ câu trả lời của HS trong một thời gian hợp lí Khi HS trả lời xong, GV yêu cầu
Trang 36những HS khác nhận xét, bổ sung, sữa chữa câu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn, qua đó kích thích được hoạt động chung của cả lớp
- Khi học sinh trả lời, GV cần lắng nghe Nếu cần thiết có thể đặt thêm một
số câu hỏi phụ, câu hỏi gợi ý để tìm ra đáp án cho câu trả lời chính
- Cần có thái độ bình tĩnh khi nghe HS trả lời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang cũng không tán dương HS quá mức
- Không chỉ chú ý đến kết quả trả lời của HS mà cả cách diễn đạt câu trả lời của các em, tập cho HS cách diễn đạt chính xác, rõ ràng, logic Đó là điều quan trọng để phát triển tư duy logic của HS Không được bỏ qua những câu trả lời cụt ngũn mà cần kết hợp sửa lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi phát âm cho HS
- Cần sử dụng mọi biện pháp khuyến khích HS mạnh dạn nêu thắc mắc và khéo léo sử dụng những thắc mắc đó để nêu lên tình huống có vấn đề thu hút toàn lớp tham gia thảo luận để giải quyết vấn đề đó Qua đó góp phần lấp lỗ hổng những sai lầm hoặc hiểu chưa chính xác nội dung bài học của HS
1.1.2.4 Hình thức tổ chức dạy học
Cũng như các tiết dạy khác, tiết dạy lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5 được tổ chức dưới nhiều hình thức nhằm phát huy tính tích cực của HS, giúp HS hiểu bài một cách nhanh nhất
a Dạy học trong lớp
Ý nghĩa
Hoạt động tích cực của mỗi cá nhân mới là cơ sở của sự hình thành toàn bộ
cá nhân HS Vì vậy phải coi trọng cá thể hóa học tập Dạy học cá nhân là một hình thức coi trọng việc cá thể hóa học tập, tôn trọng đặc tính riêng của mỗi học sinh, tạo ra sự bình đẳng về cơ hội để các em có thể phát triển tùy theo năng lực
và sở trường của mình Đồng thời, hình thức dạy học này cũng rèn cho các em phương pháp, thói quen tự học và tự làm việc Cũng thông qua đó, GV có thể
Trang 37nắm được trình độ học tập của mỗi HS để có phương pháp dạy học cụ thể đối với từng đối tượng HS
Cách thức tổ chức
- GV tổ chức cho HS làm việc với đồ dùng học tập như tranh ảnh, bản đồ, lược đồ… để thu thập những kiến thức cần phải nắm hay giải quyết các bài tập, nhiệm vụ do GV đặt ra Trong quá trình HS làm việc, GV có thể giúp đỡ, sữa chữa, góp ý, hướng dẫn cho các em Tuy nhiên, cần hạn chế những lời nói làm phân tán sự chú ý tập trung của HS Để hình thức dạy học cá nhân đạt hiệu quả thì đòi hỏi GV phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học cần thiết
Làm việc với phiếu học tập phiếu học tập gồm có: phiếu bài tập, phiếu giao việc và phiếu thực hành Để sử dụng hình thức dạy học này một cách hiệu quả đòi hỏi người GV phải nắm vững cách biên soạn phiếu học tập Đó là phải xác định được trường hợp cụ thể để sử dụng phiếu học tập, nội dung của phiếu học tập phải sát với kiến thức bài học, trình bày phiếu phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu
b Dạy học theo nhóm nhỏ
Là hình thức GV chia HS thành các nhóm từ 2 đến 5 em tùy theo nội dung bài học và số lượng đồ dùng dạy học mà GV chuẩn bị Mỗi nhóm cử một nhóm trưởng để phân công nhiệm vụ và theo dõi hoạt động của các thành viên trong nhóm GV giao nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn các em làm việc
Trang 38Cách thức tổ chức
- GV chia lớp thành các nhóm nhỏ Trong nhóm bao gồm HS giỏi, khá, HS hiếu động và cả HS trầm lặng Mỗi nhóm số lượng HS hợp lí với yêu cầu của
GV để tránh tình trạng chỉ một số em tích cực còn lại các khác có ý dựa dẫm, ỷ lại, không làm việc
- GV phải có sự chuẩn bị kĩ kế hoạch dạy học cũng như dự kiến những tình huống có thể xảy ra và phương án xử lí khi HS làm việc nhóm
- GV giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng, đảm bảo tất cả HS trong lớp đều nghe
rõ và hiểu nhiệm vụ của mình
- Trong quá trình HS làm việc theo nhóm, GV theo dõi từng nhóm, giúp
đỡ, hướng dẫn kịp thời, đảm bảo tất cả HS đều được làm việc
- Tạo không khí thi đua giữa các nhóm để khuyến khích HS học tập Khi giảng dạy lịch sử, hình thức dạy học theo nhóm nhỏ được sử dụng phổ biến Nó thường được sử dụng kèm theo các phương pháp như: thảo luận, đóng vai…
c Dạy học theo lớp
Đây là hình thức dạy học cơ bản, phổ biến trong dạy học lấy GV làm trung tâm Trong hình thức dạy học này, hoạt động chính của GV là truyền thụ cho HS những kiến thức đã chuẩn bị sẵn sàng bằng lời, phương tiện dạy học hay các dạng câu hỏi, bài tập,… Dạy học theo lớp giúp GV có thể dễ dàng quản lí lớp,
HS không phải di chuyển nhiều trong lớp, GV dễ nắm bắt từng hoạt động của
HS Còn HS thì hoạt động chính của các em là nắm bắt, thông hiểu, ghi nhớ và tái hiện lại bài học ở hình thức dạy học này, GV làm việc nhiều, HS ít hoạt động Do vậy, việc học của HS diễn ra thụ động, hiệu quả học tập không cao Vì thế hình thức dạy học này không được áp dụng suốt cả tiết học mà nó chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn vào những lúc thích hợp của tiết dạy như đầu tiết, giữa hoặc cuối tiết để kiểm tra bài cũ, giới thiệu mục tiêu bài mới, đặt vấn đề, giao nhiệm vụ cho HS, mở rộng kiến thức, tổng kết nội dung bài học Phương pháp chủ yếu được sử dụng ở hình thức này là truyền đạt Do đó, GV cần phải nói to,
rõ ràng, ngắn gọn mà đầy đủ thông tin cần cung cấp cho học sinh tốc độ vừa
Trang 39phải kết hợp với đồ dùng học tập cần thiết Trong quá trình truyền đạt, GV cần thường xuyên quan sát, gợi ý, trao đổi ý kiến, khích lệ các em bộc lộ những hiều biết của mình để trả lời câu hỏi của GV
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục đích khảo sát
Tôi tiến hành khảo sát để tìm hiểu hiệu quả dạy học bộ môn Lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5
1.2.2 Tiêu chí khảo sát
Chúng tôi khảo sát hiệu quả dạy học lịch sử của học sinh lớp 4, 5 dựa trên những tiêu chí sau đây:
- Dựa vào cấu trúc, chương trình của môn Lịch sử lớp 4, 5
- Dựa vào năng lực đạt được của học sinh khi học phân môn Lịch sử:
+ Học sinh phải nắm được nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa, cuộc kháng chiến, chiến lược, chiến công…
+ Các em phải có kỹ năng tường thuật, miêu tả những nét chính của cuộc khởi nghĩa hay chiến dịch đã học
+ Các em phải có thái độ biết ơn những người đã làm nên những sự kiện vĩ đại của lịch sử dân tộc và có ý thức bảo vệ những thành quả của cách mạng
1.2.3 Đối tượng khảo sát
Tôi tiến hành khảo sát 156 học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
1.2.4 Địa bàn khảo sát
Tôi tiến hành khảo sát trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
1.2.5 Nội dung khảo sát
Thực trạng học lịch sử của học sinh và dạy lịch sử của giáo viên ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Trang 401.2.6 Kết quả khảo sát
a Thực trạng học lịch sử của học sinh lớp 5
Để tìm hiểu hiệu quả dạy học bộ môn Lịch sử loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5, tôi đã sử dụng phiếu anket để khảo sát được 156 học sinh khối lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng và đã thu được kết quả như sau:
Để tìm hiểu sự yêu thích khi học tiết Lịch sử của học sinh, tôi đưa ra câu hỏi: “Em có thích học tiết Lịch sử không?” và thu được kết quả như sau:
Bảng 1: Mức độ thích học môn Lịch sử của học sinh
Mức độ
Số lượng Tỉ lệ %
Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
Để tìm hiểu sự hứng thú của học sinh khi học môn Lịch sử, tôi đưa ra câu hỏi: “Em có hứng thú khi học Lịch sử không?” và thu được kết quả như sau:
Bảng 2: Mức độ hứng thú của học sinh khi học môn Lịch sử
Mức độ