1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5

98 135 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn “Luyện tập văn kể chuyện ở tiểu học” NXB Giáo dục 2001 đã đưa ra các phương pháp chung đối với từng kiểu bài kể chuyện và phần luyện tập gắn với từng đề bà

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Đà Nẵng, tháng 1/2018

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục đích nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học 5

7 Cấu trúc của đề tài 5

PHẦN NỘI DUNG 6

Chương 1 6

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cở lí luận 6

1.1.1 Khái quát chung về năng lực 6

1.1.1.1 Khái niệm năng lực 6

1.1.1.2 Các năng lực cần hình thành cho học sinh tiểu học 7

1.1.1.3 Năng lực kể chuyện của học sinh tiểu học 11

1.1.1.4 Năng lực kể chuyện của học sinh tiểu học 13

1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học 14

1.1.2.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 5 14

1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 5 14

1.1.3 Một số vấn đề về phân môn Kể chuyện 15

1.1.3.1 Mục tiêu của phân môn Kể chuyện 15

1.1.3.2 Vị trí của phân môn Kể chuyện 15

1.1.3.3 Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện 16

1.1.3.4 Các dạng bài kể chuyện 17

1.1.3.5 Các phương pháp dạy học phân môn Kể chuyện 18

Trang 3

1.1.3.6 Cấu trúc chương trình phân môn Kể chuyện ở lớp 5 28

1.2 Thực trạng năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5 33

1.2.1 Khái quát về quá trình khảo sát điều tra thực trạng 33

1.2.1.1 Mục đích điều tra 33

1.2.1.2 Nội dung điều tra 34

1.2.1.3 Phương pháp điều tra 34

1.2.1.4 Kết quả điều tra 34

Chương 2 50

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN 50

NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 5 50

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 50

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học 50

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 50

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm 50

2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của học sinh 51

2.2 Các biện pháp dạy học môn Kể chuyện nhằm nâng cao năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5 51

2.2.1 Tạo hứng thú kể chuyện cho học sinh 51

2.2.2 Hướng dẫn học sinh đọc, cảm thụ câu chuyện 60

2.2.3 Hướng dẫn học sinh xác định đúng giọng điệu cơ bản của câu chuyện 62

2.2.4 Hướng dẫn học sinh lựa chọn lời kể phù hợp với nội dung câu chuyện 63

2.2.5 Hướng dẫn học sinh kể chuyện kết hợp với cử chỉ, ngữ điệu, điệu bộ phù hợp 65

2.2.5.1 Hướng dẫn học sinh kể chuyện kết hợp với ngữ điệu 65

2.2.5.2 Hướng dẫn học sinh kể chuyện kết hợp với cử chỉ, điệu bộ 66

2.2.6 Yêu cầu nghe và ghi nhớ câu chuyện 67

Chương 3 69

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69

Trang 4

3.1 Mục đích thực nghiệm 69

3.2 Đối tượng thực nghiệm 69

3.3 Chuẩn bị thực nghiệm 69

3.3.1 Nội dung thực nghiệm 69

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 69

3.3.3 Tiêu chí thực nghiệm 69

3.4 Tiến hành thực nghiệm 70

3.5 Kết quả thực nghiệm 71

PHẦN KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 79

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất với cô giáo hướng dẫn: Thạc sĩ Võ Thị Bảy, giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã trang bị kiến thức, tận tình chỉ bảo em trong ba năm học Cảm ơn gia đình, bạn bè và các bạn trong lớp 14STH đã động viên, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu

Mặc dù đã cố gắng nhưng vì kinh nghiệm cũng như năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài của chúng em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 1 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Lê Hồng Thuy

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay đòi hỏi những con người có đủ năng lực, trí tuệ để góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Chính vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ hang đầu cần được quan tâm và đầu tư nhiều hơn Trong hệ thống giáo dục quốc

dân Việt Nam, có thể nói bậc Tiểu học đóng vai trò là nền tảng ban đầu vô cùng cần thiết nên cần được chú trọng, chăm lo để các em có vốn kiến thức vững

chắc làm cơ sở cho những bậc học sau

Chương trình ở tiểu học bao gồ nhiều phân môn khác nhau, trong đó môn Tiếng Việt là một trong hai môn chủ đạo Việc dạy học môn Tiếng Việt ở trường

tiểu học với tư cách là dạy tiếng mẹ đẻ luôn là vấn đề được quan tâm chú ý Môn học này là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và phát triển tư duy, giúp các em thành thạo bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết – điều kiện và phương tiện cần thiết để học tập và giao tiếp Ở Việt Nam, Tiếng Việt chiếm 40% trong chương trình Tiểu học Điều này chứng tỏ đây là môn học có vị trí vô cùng quan trọng, là cơ sở để học sinh có thể giao tiếp

Do đó, để đáp ứng được mục tiêu của dạy học phân môn Kể chuyện và môn Tiếng Việt nói riêng, giáo viên phải có được năng lực kể chuyện tốt Bởi khi dạy học môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Kể chuyện, giáo viên là người

Trang 8

kể mẫu, sau đó hưỡng dẫn, chỉnh sửa lại cách kể chuyện cho học sinh Thông qua cách kể mẫu của giáo viên, học sinh nắm được cách kể chuyện một cách hấp dẫn cùng với sự biểu hiện của các yếu tố phi ngôn ngữ, sâu xa hơn là hình thành

và phát triển ở các em năng lực cảm thụ văn học

Tuy nhiên, năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5 vẫn chưa đáp ứng được các mục tiêu do phân môn Kể chuyện đặt ra Giáo viên còn lúng túng, chưa ý thức được đúng tầm quan trọng của phân môn, chưa phát huy hết khả năng trong việc tiếp cận các phương pháp, hình thức dạy học mới Bên cạnh đó còn một số vấn đề liên quan đến người học Chính vì vậy, để đáp ứng được những mục tiêu của phân môn, phát huy được ở học sinh những năng lực cần thiết, nâng cao chất lượng giáo dục thì việc nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5 là điều cấp thiết

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5” để tìm hiểu, nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đọc và kể chuyện văn học là một loại hình nghệ thuật đã có từ lâu đời

Nó xuất hiện cả trwosc khi con người tìm ra chữ viết Điều này được chứng minh bằng một kho tàng văn học khổng lồ mà các bậc tiền nhân để lại cho chúng ta Kể chuyện đã ddwwocj đưa vào chương trình giảng dạy trong trường tiểu học Nó đã được các em đón nhận rất hào hứng vì đây là một môn học lí thú Tuy nhiên để giảng dạy tốt phân môn, người giáo viên cần có những hiểu biết một số các lí luận cơ bản về phương pháp và kĩ thuật dạy phân môn này Xuất phát từ những yêu cầu trên, các nhà khoa học đã nghiên cứu về vấn đề này

Đầu tiên trong số đó, chúng ta phải nhắc đến là quyển “Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ” của MK Bogliuxkaia.V.V Sepstenkô do Lê Đức Mẫn dịch

Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập đến ba vấn đề lớn là: nghệ thuật đọc văn học và những thủ thuật khi đọc, kể chuyện văn học và phương pháp đọc, kể chuyện văn học cho học sinh Bàn về nghệ thuật đọc văn học, tác giả chủ yếu nói đến tầm quan trọng của nghệ thuật đọc văn học: “Nhiệm vụ của người đọc là giúp cho người nghe nhìn thấy cái đã nghe được, làm cho những bức tranh và

Trang 9

những hình ảnh tương ứng nổi lên chân thực và đập vào mắt, gợi lên những tình cảm và cảm xúc nhất định” Bàn về thủ thuật đọc, ông phân tích một số thủ thuật

cơ bản sau: thanh điệu cơ bản, ngữ điệu, tính logic trong đọc truyện, cách ngắt giọng, nhịp điệu, cường độ của giọng và tư thế, nét mặt, cử chỉ

Trong cuốn “Dạy học Kể chuyện ở trường tiểu học” (NXB Giáo dục

2006) của Chu Huy, theo tác giả, nhu cầu kể chuyện của học sinh tiểu học là rất lớn Ngoài việc xác định vị trí, nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Kể chuyện, ông còn đề ra phương pháp và kĩ thuật lên lớp với những bài soạn mẫu rất cụ thể

Các tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Trí trong giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2” đã đề cập đến vấn đề phương pháp dạy học Kể chuyện các

tác giả đã vạch ra mục đích quan trọng và ý nghĩa thiết thực của việc dạy học Kể chuyện Đồng thời, các tác giả cũng đã xây dựng cách thức tổ chức cũng như các hoạt động chủ yếu trong tiết Kể chuyện Đặc biệt, các tác giả đã nhấn mạnh đến việc rèn kĩ năng nghe và kể cho học sinh

Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn “Luyện tập văn kể chuyện ở tiểu học”

(NXB Giáo dục 2001) đã đưa ra các phương pháp chung đối với từng kiểu bài

kể chuyện và phần luyện tập gắn với từng đề bài cụ thể, những hình thức kể chuyện khác nhau…

Như vậy, có thể nói, đã có nhiều tác giả quan tâm tìm hiểu vấn đề dạy học phân môn Kể chuyện trong chương trình tiểu học Nhưng hầu hết các tác giả mới chỉ đề cập đến phương pháp dạy học phân môn Kể chuyện nói chung, trình

là tiền đề lý luận để chúng tôi có thể kế thừa và xác định hướng đi đúng cho công trình nghiên cứu của đề tài

Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi đi sâu nghiên cứu thực tiễn nhằm

đề xuất biện pháp nâng cao năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5, nhằm bồi dưỡng cho các em có được những kĩ thuật kể chuyện góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Kể chuyện nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung

Trang 10

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cở sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích, đề tài đề ra các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

- Tìm hiểu năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp dạy học phân môn Kể chuyện nhằm nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy và học phân môn Kể chuyện của giáo viên và học sinh lớp

5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian nghiên cứu: Giáo viên dạy khối lớp 5 và học sinh lớp 5

trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

- Về nội dung nghiên cứu: Năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu cơ sở về mặt tâm lý học, nội dung dạy

học và những vấn đề lí luận có liên quan đến nội dung dạy – học phân môn Kể

chuyện ở tiểu học

- Nghiên cứu thực tế: Điều tra thực trạng năng lực kể chuyện của học sinh

lớp 5 bằng cách sử dụng phiếu anket và dự giờ các tiết dạy học kể chuyện của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi

- Phương pháp quan sát: Quan sát học sinh khi các em kể chuyện nhằm

tìm hiểu khả năng diễn đạt, mức độ nắm vững nội dung câu chuyện cũng như những cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, sự tự tin của các em khi kể chuyệnn và quan sát

giờ dạy phân môn Kể chuyện

Trang 11

- Thực nghiệm sư phạm: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn năng lực

kể chuyện của học sinh lớp 5, chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính đúng đắn và khả thi của giả thuyết khoa học

- Hệ thống các phương pháp liên ngành khác: Trong quá trình nghiên

cứu, chúng tôi còn kết hợp với các phương pháp liên ngành khác như: Phương pháp phân tích – tổng hợp; so sánh – đối chiếu; thống kê – mô tả

6 Giả thuyết khoa học

Nếu việc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5 đạt được hiệu quả cao sẽ là tài liệu tham khảo cho giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Biện pháp nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cở lí luận

1.1.1 Khái quát chung về năng lực

1.1.1.1 Khái niệm năng lực

Trong TLH, năng lực là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên cứu

tích cực Theo Từ điển tâm lí học của Nguyễn Văn Lí và Lê Quang Sơn: các vấn

đề về năng lực có lịch sử nghiên cứu từ lâu và cho đến nay còn chưa giải quyết đến tận cùng TLH về năng lực có thể chia thành các lĩnh vực sau:

1.TLH phát triển năng lực, 2 Tâm – sinh học phát triển năng lực, 3 TLH đại cương năng lực, 4 TLH sai biệt năng lực, 5 TLH chuẩn đoán năng lực

Trong TLH hiện đại, năng lực được xác định như các đặc điểm tâm lý – cá thể quyết định sự thành công việc thực thi hoạt động hoặc một loạt hoạt động, không đem lại tri thức về thói quen, kỹ xảo nhưng đảm bảo sự dễ dàng và nhanh chóng việc học những phương thức và các thủ pháp mới về hoạt động

Trong đề tài chúng tôi sử dụng khái niệm năng lực của Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [14]

Cấu trúc của năng lực:

Năng lực bao gồm những năng lực chung và những năng lực chuyên biệt Trong đó, năng lực là tổ hợp độc đáo những thuộc tính của cá nhân, là sự kết hợp của nhiều thuộc tính cá nhân với nhau Những thuộc tính của cá nhân bao gồm cả những đặc điểm tâm lí (tư duy, trí tuệ, các đặc điểm của trí nhớ, chú ý, tưởng tượng, cảm xúc,…) và có những đặc điểm giải phẫu sinh lí (những đặc điểm của hệ thần kinh, cơ bắp…) Có thể nói gần như toàn bộ thuộc tính của cá nhân đều giúp cá nhân thực hiện hoạt động Nói như vậy không có nghĩa năng lực là toàn bộ những thuộc tính của cá nhân mà chỉ có những thuộc tính phù hợp với yêu cầu của hoạt động và trực tiếp góp phần làm cho hoạt động đó đạt kết quả cao

Trang 13

Năng lực có mối quan hệ chặt chẽ với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Để phát triển một năng lực nào đó thì con người cần có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định Nhưng cũng cần nhớ rằng, năng lực chỉ có quan hệ chặt chẽ với tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo chứ không phải là một Có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, chưa phải

là đã có năng lực Trong cấu trúc của năng lực có mặt cả các phẩm chất tâm lí cá nhân như cá đức tính, thái độ, cảm xúc, tính cách,…

Giống với cấu trúc trên, trong công trình nghiên cứu “Acompetency – Based model for developing human resource professionals”, (2005) để xướng một mô hình có tính công cụ trong xác định cấu trúc của năng lực cụ thể Năng lực cụ thể (tiếng anh – competency) hay năng lực thực hiện, còn được gọi là năng lực chuyên môn nghề nghiệp hoặc năng lực hành nghề, được cấu trúc từ 3 thành phần và cũng được thể hiện qua bộ 3 các tiêu chí Đó là 1) kiến thức (knowledge), 2) kỹ năng (skill), 3) các phẩm chất cá nhân (Traits)

1.1.1.2 Các năng lực cần hình thành cho học sinh tiểu học

a Năng lực tự quản, tự phục vụ

Thực hiện được một số việc phục vụ cho sinh hoạt của bản thân như vệ sinh thân thể, ăn, mặc; một số việc phục vụ cho học tập như chuẩn bị đồ dùng học tập ở lớp, ở nhà; các việc theo yêu cầu của GV, làm việc cá nhân, làm việc theo sự phân công của nhóm, lớp; bố trí thời gian học tập, sinh hoạt ở nhà; chấp hành nội quy lớp học; cố gắng tự hoàn thành công việc

b Năng lực giao tiếp

- Bước đầu biết đặt ra mục đích giao tiếp và hiểu được vai trò quan trọng

của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp

- Khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp; nhận ra được bối cảnh

giao tiếp, đặc điểm, thái độ của đối tượng giao tiếp

- Diễn đạt ý tưởng một cách tự tin; thể hiện được biểu cảm phù hợp với

đối tượng và bối cảnh giao tiếp

c Năng lực hợp tác

Trang 14

- Chủ động đề xuất mục đích hợp tác khi được giao các nhiệm vụ; xác

định được loại công việc nào có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp

- Biết trách nhiệm, vai trò của mình trong nhóm ứng với công việc cụ thể;

phân tích nhiệm vụ của cả nhóm để nêu được các hoạt động phải thực hiện, trong đó tự đánh giá được hoạt động mình có thể đảm nhiệm tốt nhất để tự đề xuất cho nhóm phân công

- Nhận biết được đặc điểm, khả năng của từng thành viên cũng như kết

quả làm việc nhóm; dự kiến phân công từng thành viên trong nhóm các công việc phù hợp

- Chủ động và gương mẫu hoàn thành phần việc được giao, góp ý điều

chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; chia sẻ, khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm

- Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động chung của nhóm;

nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm

d Năng lực tự học

- Xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được

mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện

- Lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp; thực hiện các

cách học: Hình thành cách ghi nhớ của bản thân; phân tích nhiệm vụ học tập để lựa chọn được các nguồn tài liệu đọc phù hợp: các đề mục, các đoạn bài ở SGK, sách tham khảo, internet; lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt với đề cương chi tiết, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khóa; ghi chú bài giảng của

GV theo các ý chính; tra cứu tài liệu ở thư viện nhà trường theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập

- Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện

các nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự

hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập

e Năng lực giải quyết vấn đề

Trang 15

- Phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện và nêu được tình

huống có vấn đề trong học tập

- Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề; đề

xuất được giải pháp giải quyết vấn đề

- Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không

phù hợp của giải pháp thực hiện

f Năng lực sáng tạo

- Đặt câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng; xác định và làm rõ

thông tin, ý tưởng mới; phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau

- Hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải

pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các giải pháp đề xuất

- Suy nghĩ và khái quát hoá thành tiến trình khi thực hiện một công việc

nào đó; tôn trọng các quan điểm trái chiều; áp dụng điều đã biết vào tình huống tương tự với những điều chỉnh hợp lý

- Hứng thú, tự do trong suy nghĩ; chủ động nêu ý kiến; không quá lo lắng

về tính đúng sai của ý kiến đề xuất; phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến khác

g Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

- Sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác

nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng

- Xác định được thông tin cần thiết để thực hiện nhiệm vụ học tập; tìm

kiếm được thông tin với các chức năng tìm kiếm đơn giản và tổ chức thông tin phù hợp; đánh giá sự phù hợp của thông tin, dữ liệu đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra; xác lập mối liên hệ giữa kiến thức đã biết với thông tin mới thu thập được

và dùng thông tin đó để giải quyết các nhiệm vụ học tập và trong cuộc sống

h Năng lực sử dụng ngôn ngữ

Trang 16

- Nghe hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các bài đối thoại, chuyện

kể, lời giải thích, cuộc thảo luận; nói chính xác, đúng ngữ điệu và nhịp điệu, trình bày được nội dung chủ đề thuộc chương tŕnh học tập; đọc hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các văn bản, tài liệu ngắn; viết đúng các dạng văn bản về những chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân ưa thích; viết tóm tắt nội dung chính của bài văn, câu chuyện ngắn;

- Phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu; hiểu từ vựng thông dụng được thể

hiện trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ, thông qua các ngữ cảnh có nghĩa; phân tích được cấu trúc và ý nghĩa giao tiếp của các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh, câu cảm thán, câu khẳng định, câu phủ định, câu đơn, câu ghép, câu phức, câu điều kiện

i Năng lực tính toán

- Sử dụng được các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) trong học tập và

trong cuộc sống; hiểu và có thể sử dụng các kiến thức, kĩ năng về đo lường, ước tính trong các tình huống quen thuộc

- Sử dụng được các thuật ngữ, kí hiệu toán học, tính chất các số và của

các hình hình học; sử dụng được thống kê toán học trong học tập và trong một

số tình huống đơn giản hàng ngày; hình dung và có thể vẽ phác hình dạng các đối tượng, trong môi trường xung quanh, nêu được tính chất cơ bản của chúng

- Hiểu và biểu diễn được mối quan hệ toán học giữa các yếu tố trong các

tình huống học tập và trong đời sống; bước đầu vận dụng được các bài toán tối

ưu trong học tập và trong cuộc sống; biết sử dụng một số yếu tố của logic hình thức để lập luận và diễn đạt ý tưởng

- Sử dụng được các dụng cụ đo, vẽ, tính; sử dụng được máy tính cầm tay

trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày; bước đầu sử dụng máy vi tính để tính toán trong học tập

Từ các phẩm chất và năng lực chung, mỗi môn học xác định những phẩm chất, và năng lực cá biệt và những yêu cầu đặt ra cho từng môn học, từng hoạt động giáo dục

Trang 17

1.1.1.3 Năng lực kể chuyện của học sinh tiểu học

a Khái niệm kể chuyện

Hiện nay có nhiều tác giả định nghĩa về kể chuyện như sau:

Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Kể là nói có đầu có đuôi cho

người khác biết”

Theo tác giả Đào Ngọc – Nguyễn Quang Ninh: “Kể chuyện là hình thức

trình bày lại câu chuyện bằng lời kể một cách hấp dẫn, sáng tạo, giàu ngữ điệu

và có sự phối hợp diễn xuất qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của người kể một cách

tự nhiên”

Theo “Phương pháp dạy học Tiếng việt ở Tiểu học II” của GS.TS Lê Phương Nga: Khi ở vị trí một thuật ngữ, kể chuyện bao hàm bốn phạm trù ngữ

nghĩa sau:

- Chỉ loại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình, loại

hình kịch) – còn gọi là truyện hoặc tiểu thuyết

- Chỉ tên một phương nói trong diễn giảng

- Chỉ tên một loại văn thuật chuyện trong môn Tập làm văn

- Chỉ tên một phân môn được học ở các lớp trong trường tiểu học

Ở phạm trù ngữ nghĩa a) văn kể chuyện là văn trong truyện hoặc trong

tiểu thuyết Do đó, đặc điểm của văn kể chuyện cũng là đặc điểm của truyện Đặc trưng cơ bản của truyện là tình tiết, tức là có sự việc đang xảy ra, đang diễn biến, có nhân vật với ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách riêng

Ở phạm trù ngữ nghĩa b) kể chuyện là một phương pháp trực quan sinh

động bằng lời nói Khi cần thay đổi hình thức diễn giảng nhằm thu hút sự chú ý của người nghe, người ta cũng xen kẽ phương pháp kể chuyện Với các môn khoa học tự nhiên, kể chuyện thường được dùng trong phần kể về tác giả, miêu

tả quá trình phát minh, sáng chế, quá trình phản ứng hóa học…

Ở phạm trù ngữ nghĩa “văn kể chuyện” là một loại văn mà học sinh phải được luyện tập diễn đạt bằng miệng hoặc bằng viết thành bài theo những quy tắc nhất định Vì tính chất phổ biến và ứng dụng rộng rãi của loại hình văn miêu tả, văn nghị luận

Trang 18

Ở phạm trù ngữ nghĩa d) kể chuyện là một môn học ở các lớp tiểu học

trường phổ thông Có nguời hiểu đơn giản kể chuyện chỉ là kể chuyện dân gian,

kể chuyện cổ tích Thực ra không hẳn như vậy, kể chuyện ở đây bao gồm việc

kể nhiều loại truyện khác nhau, kể cả truyện cổ và kể truyện hiện đại, nhằm mục đích giáo dưỡng, giáo dục, rèn kĩ năng nhiều mặt của một con người

Sở dĩ có thể xác định “kể chuyện” là một thuật ngữ vì nó có một kết cấu

âm tiết ổn định, một phạm trù ngữ nghĩa (còn gọi là khái niệm) nhất định Lâu nay, thuật ngữ kể chuyện vẫn được dùng với ý nghĩa kể một câu chuyện bằng lời, kể cả câu chuyện có hình thức hoàn chỉnh, được in trên sách báo

Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng các tác giả vẫn có quan điểm chung về khái niệm kể chuyện Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái

niệm kể chuyện của tác giả Đào Ngọc – Nguyễn Quang Ninh: “Kể chuyện là hình thức trình bày lại câu chuyện bằng lời kể một cách hấp dẫn sáng tạo giàu ngữ điệu và có sự phối hợp diễn xuất qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của người kể một cách tự nhiên”

b Vai trò của năng lực kể chuyện đối với học sinh tiểu học

b1 Kể chuyện là cơ sở để học sinh cảm thụ tác phẩm văn học

Bằng cách thể hiện giọng kể, ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ khi kể chuyện, người nghe như lôi cuốn vào câu chuyện của các em, cảm nhận được những sắc thái, tình cảm của các hình tượng trong câu chuyện ấy Nhưng nêu mất đi những yếu tố đó, câu chuyện trở nên nhàm chán, gây mất hứng thú cho người nghe Do

đó, hoạt động kể chuyện của học sinh là một trong những phương tiện giúp các

em cảm thị tác phẩm văn học một cách tốt nhất, trong đó, người giáo viên đóng vai trò vô cùng quan trọng

b2 Kể chuyện là phương tiện giáo dục đạo đức và thẩm mỹ

Giáo dục thẩm mỹ là giáo dục cho các em cảm nhận được những cái hay, cái đẹp trong tự nhiên và cuộc sống hằng ngày và cả trong nghệ thuật

Khi kể chuyện, người ta thường sử dụng những lời hay ý đẹp, ngôn ngữ sinh động, khúc chiết phù hợp với ngữ cảnh Chính vì vậy, để kể chuyện tốt, truyền đạt được những thông điệp mà câu chuyện muốn gửi gắm đến các em,

Trang 19

người giáo viên cần sử dụng từ ngữ chuẩn xác kết hợp với cử chỉ điệu bộ phù hợp để truyền tải một cách sinh động nhất có thể

Thông qua việc cảm nhận cái hay, cái đẹp trong câu chuyện, các em thêm yêu quý các hình tượng, nhân vật, từ đó, hình thành trong các em những cảm xúc thẩm mỹ tích cực, bồi dưỡng tâm hồn và hình thành những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp

Từ việc giáo viên kể cho các em nghe những câu chuyện, khơi gợi trong các em trí tưởng tượng phong phú, mở ra cho các em một chân trời rộng lớn với bao cảnh vật thiên nhiên phong phú, sinh động, gần gũi và thân thộc

Tiếp xúc với những câu chuyện cổ tích, các em được học thêm những bài học làm người, đối nhân xử thế Các em thêm yêu các nhân vật trong truyện, đồng cảm với những số phận đáng thương, hướng các em đến cái đẹp, cái thiện trong mỗi câu chuyện

b3 Phát triển tính tích cực sáng tạo cho học sinh

Kể chuyện cũng góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Để có thể kể lại được câu chuyện, các em phải hóa thân vào các nhân vật trong câu chuyện, biết được mình sẽ kể những gì, lựa chọn ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ phù hợp để diễn đạt chúng Như vậy, học sinh không chỉ đơn thuần là người kể lại câu chuyện mà còn là người nghệ sĩ “phiên dịch” tác phẩm bằng chính lời kể của mình Điều này đòi hỏi sự nổ lực tích cực sáng tạo ở các em Vì vậy, giáo viên cần tạo mội điều kiện để khơi gợi tiềm năng sáng tạo ở các em

1.1.1.4 Năng lực kể chuyện của học sinh tiểu học

- Sau khi nghe thầy/cô giáo kể 2, 3 lần một câu chuyện phù hợp với trình

độ và đặc điểm lứa tuổi, các em phải nắm được nội dung chính của câu chuyện

và dựa vào trí nhớ, vào các tranh minh họa trong SGK, các câu hỏi dưới tranh,

kể lại được từng đoạn và toàn bộ câu chuyện

- Hình thành cho các em kĩ năng độc thoại và hội thoại Trong độc thoại

có thêm yêu cầu học sinh kể bằng lời của mình, kể lại câu chuyện theo lời của một nhân vật, kể thêm nhiều chi tiết sáng tạo Trong hội thoại có thêm yêu cầu

Trang 20

dựng lại câu chuyện đã học theo vai, sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…)

- Học sinh phải có kĩ năng tìm kiếm truyện để kể lại các truyện đã nghe,

đã đọc Học sinh còn phải kể lại được câu chuyện đã chứng kiến hoặc tham gia 1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học

1.1.2.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 5

a Về tư duy

Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, chủ yếu dựa vào đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Nhưng nhờ ảnh hưởng của việc học tập, đến giai đoạn lớp 4, 5, học sinh tiểu học dần chuyển

từ nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Điều này tạo khả năng hình thành những so sánh, khái quát đầu tiên, xây dựng những suy luận sơ đẳng ở học sinh Trên cơ sở đó, các em dần dần học tập được các khái niệm, quy tắc khoa học

Hoạt động phân tích tổng hợp ở học sinh lớp 4, 5 đang dần phát triển Các

em có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn với đối tượng

đó như học sinh lớp 1, 2

b Về trí nhớ

Đối với học sinh lớp 4, 5, các em đang chuyển dần từ trí nhớ trực quan sinh động sang trí nhớ từ ngữ, logic “Thực nghiệm về trí nhớ cho thấy nếu học sinh tiểu học ghi nhớ một tài liệu mà biết trước tài liệu cần cho thời gian sắp tới thì tài liệu đó sẽ được ghi nhớ lâu hơn, nhanh hơn và chính xác hơn”

1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 5

Ngôn ngữ của học sinh tiểu học phát triển mạnh mẽ về ngữ âm, từ ngữ, và ngữ pháp

Về ngôn ngữ viết, các em đã nắm được một số quy tắc cơ bản khi viết, tuy nhiên, các em còn viết sai ngữ pháp

Vốn từ của các em đã ngày càng phong phú, chính xác và giàu hình ảnh Điều này có được là nhờ sự tham gia nhiều hoạt động, tiếp xúc rộng rãi với những người xung quanh và được tiếp thu tri thức qua các môn học

Trang 21

1.1.3 Một số vấn đề về phân môn Kể chuyện

1.1.3.1 Mục tiêu của phân môn Kể chuyện

Kể chuyện là một phân môn dạy học lý thú, hấp dẫn và có vị trí quan trọng trong dạy học môn Tiếng Việt Cùng thực hiện mục tiêu chung của môn Tiếng Việt, phân môn Kể chuyện đặt ra những mục tiêu cụ thể sau:

a Phát triển kĩ năng nói và nghe cho học sinh:

- Kĩ năng độc thoại: tập dựng lại câu chuyện theo các vai khác nhau, sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…)

- Kĩ năng nghe: theo dõi được câu chuyện bạn kể để kể tiếp hoặc nêu ý kiến bổ sung, nhận xét

b Củng cố, mở rộng và tích cực hóa vốn từ ngữ, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, nâng cao sự cảm nhận về hiện thực đời sống thông qua nội dung câu chuyện

c Bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, trau dồi hứng thú đọc và kể chuyện, đem lại niềm vui tuổi thơ trong hoạt động học tập

Như vậy, chúng ta có thể thấy, quán triệt quan điểm giao tiếp, việc dạy học phân môn Kể chuyện cũng đặt mục tiêu phát triển kĩ năng sử dụng Tiếng Việt lên hàng đầu, đặc biệt chú trọng kĩ năng nói Mục tiêu này được thể hiện rất

rõ trong việc lựa chọn các câu chuyện kể, ở cách lựa chọn sử dụng các hình thức

tổ chức dạy học, sử dụng các phương pháp hướng dẫn học sinh tham gia kể chuyện

1.1.3.2 Vị trí của phân môn Kể chuyện

Thích nghe kể chuyện là một đặc điểm của trẻ em Từ thuở lên hai, ba tuổi, trẻ em đã say mê nghe kể chuyện Nhiều người không bao giờ quên những

kỉ niệm về các buổi tối nghe kể chuyện Puskin từng tâm sự “Buổi tối, tôi nghe

kể chuyện cổ tích và lấy việc đó bù đắp những thiếu sót trong sự giáo dục đáng nguyền của mình Mỗi truyện cổ tích ấy mới đẹp đẽ làm sao, mỗi truyện là một bài ca” Lớn lên các em đi học, biết chữ, có thể đọc được truyện nhưng không giảm hứng thú nghe kể chuyện Phân môn Kể chuyện trong chương trình Tiểu học trước tiên đáp ứng được yêu cầu trên của trẻ

Trang 22

Cũng như phân môn Tập làm văn, Kể chuyện có vị trí đặc biệt quan trọng trong dạy học tiếng mẹ đẻ, trước hết về hành động kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như nghe, nói, đọc, viết trong hoạt động giao tiếp

Khi nghe thầy cô giáo kể chuyện, học sinh đã tiếp nhận tác phẩm văn học

ở dạng lời nói có âm thanh Khi học sinh kể chuyện là các em đã tái sản sinh hay sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói

Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được cả sức mạnh của văn học Các tác phẩm văn học có tác động lớn đến tâm hồn và cảm xúc của các em, đem lại những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh “Truyện cổ tích gắn liền với cái đẹp góp phần phát triển các cảm xúc thẩm mĩ mà thiếu chúng không thể

có tâm hồn cao thượng, lòng mẫn cảm chân thành trước nỗi bất hạnh, đau đớn

và khổ ải của con người Nhờ có truyện cổ tích, trẻ nhận thức thế giới không chỉ bằng trí tuệ mà còn bằng trái tim Và trẻ em không phải chỉ có nhận thức mà còn đáp lại sự kiện, hiện tượng của thế giới xung quanh, tỏ thái độ của mình với điều thiện, điều ác” Vì vậy, truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ Sự hiểu biết về cuộc sống, về con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ nghèo đi nếu không có phân môn Kể chuyện trong nhà trường

Với vai trò của hành động kể và sản phẩm truyện, phân môn Kể chuyện có vị trí rất quan trọng trong dạy học môn Tiếng Việt

1.1.3.3 Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện

Phân môn Kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện

ở trẻ em, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe nói Đồng thời phát triển

tư duy và bồi dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho học sinh

Trước hết, phân môn Kể chuyện phát triển kĩ năng nói cho học sinh Giờ

kể chuyện rèn cho các em kĩ năng nói trước đám đông dưới dạng độc thoại thành đoạn bài theo phong cách nghệ thuật với các thủ thuật hấp dẫn người nghe, để có thể điều khiển được giọng kể phù hợp với diễn biến từng loại truyện khác nhau Đồng thời với kĩ năng nói, các kĩ năng nghe, đọc, kĩ năng ghi chép

Trang 23

cũng được phát triển Học sinh được sống trong thế giới của các nhân vật, thâm nhập vào các tình tiết của truyện, tiếp xúc với nghệ thuật ngôn từ kể chuyện, từ

đó tư duy hình tượng và cảm xúc thẩm mĩ của các em cũng được phát triển thêm

Phân môn Kể chuyện góp phần tích lũy vốn sống, vốn văn học cho học sinh Học sinh được tiếp xúc với tác phẩm văn học qua giờ Kể chuyện Suốt bậc Tiểu học các em được nghe và tham gia kể hàng trăm câu chuyện với nhiều thể loại khác nhau Đó là những tác phẩm văn học có giá trị của Việt Nam và thế giới, từ truyện cổ dân gian đến truyện hiện đại Nhờ đó, vốn văn học sinh được tích lũy dần Đó là những hành trang quý giá sẽ theo các em trong suốt cuộc đời mình

Không chỉ thế, giờ Kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khơi gợi trí tưởng tượng của học sinh Các em tìm thấy trong truyện từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, những số phận, những cuộc đời muôn màu muôn vẻ và đặc biệt là cách cư xử của con người trong những trường hợp khác nhau… Nói cách khác, truyện kể đã làm tăng vốn hiểu biết về thế giới và xã hội loài người

từ xưa đến nay cho học sinh

Thông qua các câu chuyện kể, trí tưởng tượng của học sinh ngày cành phong phú hơn Và trí tưởng tượng là một trong những yếu tố cần thiết cho sự sáng tạo của mỗi con người Lê Nin cho rằng: “Thật là bất công nếu nghĩ rằng

óc tưởng tượng chỉ cần thiết cho người làm thơ, ngay cả trong toán học cũng cần

có tưởng tượng, ngay cả việc phát minh ra phép tính vi phân và tích phân cũng

sẽ không thể nào có được nếu thiếu óc tưởng tượng Óc tưởng tượng là một phẩm chất vô cùng quý giá”

Trang 24

trình bày thành tranh hoặc tranh kèm lời dẫn giải ngắn gọn trong SGK Câu chuyện được thầy, cô kể cho học sinh nghe, rồi học sinh kể lại Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài này còn có mục đích là rèn

kĩ năng nghe Ở nhiều bài còn có thêm điểm tựa để nhớ truyện là tranh minh họa

và gợi ý dưới tranh

Kiểu bài kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc yêu cầu học sinh phải tự sưu tầm trong sách báo hoặc trong đời sống hằng ngày (nghe người thân hoặc ai đó kể) để kể lại Kiểu bài này trước đây chỉ có trong giờ Tập làm văn Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ Kể chuyện còn có mục đích kích thích học sinh ham đọc sách

Kiểu bài kể lại câu chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia yêu cầu học sinh kể lại những chuyện người thật, việc thật có trong cuộc sống xung quanh

mà các em đã biết, đã thấy, cũng có khi chính các em là nhân vật của câu chuyện Kiểu bài này trước đây chỉ có trong giờ Tập làm văn Các bài kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia rất đa dạng vì chúng gắn với các chủ điểm trong SGK Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài

kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia có mục đích rèn cho học sinh thói quen quan sát, ghi nhớ, xây dựng cốt truyện

So với các câu chuyện ở lớp 2, 3 thì các chuyện ở lớp 4, 5 có độ dài lớn hơn, tình tiết phức tạp hơn, nội dung sâu sắc hơn Những câu chuyện này nói về những phẩm chất tốt đẹp mà con người cần phải rèn luyện gắn với các chủ điểm học tập

1.1.3.5 Các phương pháp dạy học phân môn Kể chuyện

Để dạy học phân môn Kể chuyện lớp 5 một cách có hiệu quả, thực hiện tốt các mục tiêu của môn học, trong đó có mục tiêu cơ bản là hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, đặc biệt là kĩ năng nói cho học sinh, người

GV cần vận dụng và phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh vào hoạt động giao tiếp Tiêu biểu có các phương pháp sau:

Trang 25

a Phương pháp thực hành giao tiếp

Phương pháp thực hành giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào các hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt Qua thực hành giao tiếp, học sinh nhận biết được những quy tắc sử dụng tiếng Việt trong thực tiễn giao tiếp và vận dụng ngay những điều đã học vào thực tế sử dụng ngôn ngữ của bản thân, từ đó, các em có hứng thú học tập và học tập có hiệu quả Phương pháp này có tác dụng khắc sâu kiến thức, rèn luyện các kĩ năng và là phương pháp chủ yếu để phát triển lời nói cho mỗi học sinh Vì thế, phương pháp này đặc biệt hiệu quả trong phân môn Kể chuyện theo hướng phát triển kĩ năng nói cho học sinh

Thực hành giao tiếp trong giờ Kể chuyện là thực hành luyện nói, luyện kể Phương pháp này đòi hỏi GV phải tạo điều kiện cho mỗi học sinh ở các trình độ khác nhau ít nhiều đều được thực hành nói về nội dung câu chuyện và kể chuyện bằng nhiều hình thức: kể chuyện trước lớp, kể chuyện cho bạn ngồi bên, kể chuyện trong nhóm, về nhà tiếp tục kể lại câu chuyện cho người thân…

Để vận dụng phương pháp thực hành giao tiếp một cách có hiệu quả trong dạy học Kể chuyện, người GV cần tuân thủ các bước sau:

- Nêu rõ mục tiêu của bài học

- Nêu rõ nhiệm vụ học sinh cần làm bằng cách giúp các em nắm được yêu cầu, cách thực hiện của từng bài tập

- Hướng dẫn các em nắm vững câu chuyện (nội dung, diễn biến, các nhân vật…) và vận dụng các kĩ năng kể chuyện (nhấn giọng, đổi giọng, kéo dài giọng khi kể) sử dụng một vài động tác hoặc điệu bộ (nét mặt, cử chỉ…) minh họa cho diễn biến câu chuyện để kể lại câu chuyện theo đúng yêu cầu của bài tập

- Tổ chức cho học sinh kể chuyện trong nhóm để các em tập dượt, rèn luyện các kĩ năng kể chuyện, đảm bảo kể thành công khi kể trước lớp

- Tổ chức nhận xét, đánh giá lời kể của học sinh Uốn nắn, sửa cho các em

về cách diễn đạt (dùng từ, đặt câu), cách thể hiện (giọng điệu, nét mặt, cử chỉ,…) giúp các em kể tốt hơn ở những giờ học sau

Trang 26

Ví dụ minh họa phương pháp thực hành giao tiếp trong dạy học Kể chuyện lớp 5: Khi dạy bài kể chuyện “Lý Tự Trọng” (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 9), sau khi đã giúp học sinh nắm được yêu cầu đề bài tập, GV tổ chức cho học sinh nói về nội dung các bức tranh, tập kể từng đoạn câu chuyện dựa vào tranh với các bạn trong nhóm, trình bày câu chuyện trước lớp, phân vai dựng lại câu chuyện trong nhóm và trước lớp Thông qua các hoạt động này, học sinh được luyện nói, luyện kể, được sử dụng vốn tiếng Việt và những kĩ năng đã biết để diễn đạt, trình bày bài kể, qua đó phát triển lời nói một cách tự nhiên, hiệu quả

b Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học, trong đó học sinh được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp để cùng thảo luận, giải quyết một vấn đề dặt ra Đây là một phương pháp hữu hiệu để thực hiện dạy học phát huy tính tính cực của học sinh

Thảo luận nhóm giúp các em rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, khả năng hợp tác, khả năng thích ứng và khả năng độc lập suy nghĩ Thông qua thảo luận nhóm, các em có thể cùng làm với nhau trong một thời gian nhất định Mặt khác, thảo luận nhóm còn giúp các em nhút nhát, khả năng diễn đạt kém,… có điều kiện rèn luyện, tập dượt, từ đó khẳng định bản thân trong sự sự hấp dẫn của hoạt động nhóm Tuy nhiên, không nên lạm dụng hình thức thảo luận nhóm, chỉ với những vấn đề có độ khó tương đối, cần sự hợp tác của nhiều người mới cho học sinh thảo luận nhóm

Trong phân môn Kể chuyện, phương pháp thảo luận nhóm được áp dụng rất nhiều và mang lại hiệu quả cao Ở lớp 5, hầu như trong tất cả các tiết Kể chuyện, các em đều được thảo luận nhóm để thực hiện yêu cầu bài tập, thực hành kể trong nhóm, phân vai dựng lại câu chuyện

Để vận dụng một cách có hiệu quả phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học phân môn Kể chuyện lớp 5 theo hướng phát triển kĩ năng nói cho học sinh, người GV cần chú ý thực hiện theo các bước sau:

- Nêu rõ mục đích thảo luận nhóm

- Nêu rõ yêu cầu thảo luận nhóm

Trang 27

- Các nhóm tiến hành thảo luận, thực hiện nhiệm vụ được giao (thực hiện yêu cầu bài tập)

- Các nhóm hoặc đại diện các nhóm lên trình bày bài kể

- Tổ chức nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm

Ví dụ: Tổ chức cho học sinh kể lại toàn bộ câu chuyện “Tiếng vĩ cầm ở

Mĩ Lai” (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 45)

Ở bài tập này, thảo luận nhóm được áp dụng ở bước tổ chức cho học sinh tập kể từng đoạn truyện Mục đích của việc thảo luận nhóm là tạo điều kiện cho tất cả các em đều được thực hành kể Với bài tập này, yêu cầu học sinh làm việc nhóm 4 Học sinh sẽ nối tiếp nhau kể từng đoạn của câu chuyện với các bạn trong nhóm, hết một lượt kể, lại quay lại từ đoạn 1, nhưng thay đổi người kể… Mỗi học sinh đều phải kể lại nội dung của tất cả các đoạn

Sau khi học sinh đã tập kể trong nhóm, GV tổ chức cho 2 - 3 nhóm đại diện kể lại câu chuyện trước lớp hoặc tổ chức thi kể hoặc tổ chức thi kể chuyện trước tiếp sức giức các nhóm (Các nhóm cử đại diện, mỗi đại diện kể một đoạn truyện Đại diện nhóm nào kể hay nhất là nhóm ấy thắng) Cuối cùng tổ chức cho học sinh nhận xét bài kể của các bạn về các mặt: Nội dung (Kể đủ ý chưa?

Kể có đúng trình tự không?); Diễn đạt (Nói đã thành câu chưa? Dùng từ thích hợp chưa? Đã biết kể bằng lời của mình chưa? (không phải là kể theo kiểu đọc văn bản)); Cách thể hiện (Kể có tự nhiên không? Đã biết phối hợp lời kể với điệu bộ, nét mặt, cử chỉ chưa? Giọng kể như thế nào?) Cần động viên, khen ngợi kịp thời những học sinh, nhóm học sinh kể hay, tự nhiên, sinh động

c Phương pháp trò chơi

Đây là một trong những phương pháp mới được áp dụng rất nhiều trong dạy học hiện nay Trò chơi không chỉ để thư giãn, giải trí, làm cho tiết học thêm sinh động, hấp dẫn, bớt khô khan mà còn giúp học sinh củng cố kiến thức, rèn luyện các kĩ năng học tập, tạo cơ hội giao lưu, hợp tác cùng bạn bè trong nhóm, trong tổ, trong lớp Đây là một hình thức “học mà chơi, chơi mà học” rất hiệu quả

Phân môn Kể chuyện là một phân môn rất thích hợp để tổ chức trò chơi học tập cho học sinh Khi dạy học Kể chuyện ở lớp 5, GV có thể cho học sinh

Trang 28

chơi những trò chơi như: Nhìn tranh, kể đoạn; “Nối dây” kể chuyện; Bắt lỗi kể sai; Thi tài kể hay… Phân vai dựng lại câu chuyện cũng có thể coi là một trò chơi hấp dẫn, lí thú đối với học sinh

Các trò chơi trên có thể được tổ chức trong giờ học (khi thực hiện yêu cầu bài tập, khi củng cố, ôn tập,…) hoặc trong các hoạt động ngoại khóa

Để trò chơi trở thành một phương pháp dạy học Kể chuyện hiệu quả, người GV khi tổ chức cho học sinh chơi cần tuân thủ các bước sau:

- Nêu tên trò chơi, ý nghĩa, tác dụng của trò chơi, mục đích chơi

- Phổ biến luật chơi một cách rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu GV cũng cần lưu ý chỉ nên tổ chức những trò chơi có cách chơi đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện

- Tổ chức cho học sinh tham gia chơi

- Đánh giá, bình chọn, khen thưởng cá nhân, nhóm xuất sắc Tổng kết, tổ chức rút kinh nghiệm

Ví dụ:

Với bài tập 1, trang 9, Tiếng Việt 5, tập 2: “Dựa theo lời kể của cô giáo (thầy giáo) và các tranh vẽ dưới đây, hãy kể lại từng đoạn câu chuyện” (câu chuyện “Chiếc đồng hồ”), sau khi giúp học sinh nắm vững yêu câu bài tập, tổ chức cho học sinh tập kể trong nhóm xong, GV có thể cho các em chơi trò chơi

“Nhìn tranh kể đoạn” Tổ chức trò chơi ở bài tập này vừa rèn kĩ năng kể chuyện cho các em, vừa tạo tính thi đua, kích thích các em hứng thú học tập

Nếu được tổ chức đúng lúc, đúng chỗ, đúng nội dung và đúng cách như vậy, chắc chắn phương pháp trò chơi sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc dạy học

Kể chuyện theo hướng chú trọng phát triển kĩ năng nói cho học sinh

d Phương pháp dạy học trực quan

Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp dạy học trong đó GV sử dụng các phương tiện trực quan (tranh ảnh, mô hình, vật thật, băng hình…) để tổ chức, hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến thức, kĩ năng của môn học Phương tiện trực quan trong dạy kể chuyện chính là hệ thống tranh ảnh minh họa cho câu chuyện, ngoài ra đó còn là lời kể mẫu, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…của GV (hoặc của học sinh)

Trang 29

Phương pháp trực quan được áp dụng rất nhiều trong dạy học Tiếng Việt

ở bậc Tiểu học hiện nay bởi nó phù hợp với đặc điểm nhận thức, tâm lí của các

em Học sinh tiểu học rất thích xem tranh và nhận thức của các em cũng gắn bó với những sự vật, hiện tượng cụ thể Vì vậy áp dụng phương pháp trực quan trong dạy học ở bậc Tiểu học sẽ giúp các em dễ hiểu, dễ nhớ, nhớ lâu, phát triển năng lực chú ý, quan sát, kích thích hứng thú, óc tò mò khoa học trong các em Tuy nhiên, cần sử dụng trực quan đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ, nếu không,

sẽ dễ làm học sinh phân tán chú ý, không tập trung vào nội dung cơ bản của bài học, ngoài ra còn có thể hạn chế khả năng tư duy trừu tượng của các em

Phương pháp trực quan là một trong những phương pháp áp dụng rất hữu hiệu trong dạy học Kể chuyện theo tranh và khi GV hoặc học sinh kể mẫu câu chuyện

Tranh minh họa trong dạy học Kể chuyện vừa giúp học sinh có những biếu tượng cụ thể về nhân vật, hành động, diễn biến,… của truyện, vừa làm

“điểm tựa” cho học sinh ghi nhớ diễn biến câu chuyện, phục vụ cho việc tái hiện nội dung và dễ dàng kể lại câu chuyện Khi sử dụng tranh minh họa để thực hiện bài tập kể chuyện theo tranh, GV cần lưu ý:

- Cần yêu cầu học sinh thực sự quan sát tranh để nhớ nội dung, nắm chắc cốt truyện trước khi kể Hệ thống tranh minh họa trong SGK đủ giúp học sinh thực hiện tốt yêu cầu của bài tập Tuy nhiên, nếu có điều kiện, GV cũng có thể phóng to các tranh trong SGK để hướng dẫn cả lớp cùng nhìn tranh trên bảng khi nghe hướng dẫn làm bài Các tranh phóng to này cần đáp ứng đúng chi tiết, đúng màu sắc trong SGK, có kích thước vừa đủ để học sinh đều có thể quan sát được Cần treo tranh ở điều kiện thuận lợi khi thực hiện các bài tập có yêu cầu sắp xếp các bài tập lại cho đúng thứ tự các tranh đã bị đảo lộn Với những bài này, GV có thể yêu cầu học sinh lên bảng sắp xếp lại trật tự đúng của các tranh minh họa đã cho Nếu không có tranh cỡ to, có thể phô tô tranh trong SGK thành một số bộ cỡ nhỏ như quân bài để học sinh sắp xếp lại Tuy nhiên, không nên cho rằng phải có

hệ thống tranh to mới dạy kể chuyện tốt Mặt khác, dù đã có tranh to vẫn cần hướng dẫn học sinh quan sát các tranh nhỏ trong SGK Bằng cách quan sát gần và

Trang 30

quan sát cá nhân như vậy, học sinh sẽ nhận được nhiều chi tiết trong tranh để tập

kể, góp phần tăng cường cá thể hóa hoạt động của từng em

- Khi hướng dẫn học sinh kể lại truyện, GV nên cho xuất hiện từng tranh minh họa cho từng đoạn truyện để học sinh quan sát, tưởng tượng, tìm lời diễn đạt cho một ý, một đoạn nội dung do tranh gợi ra Cuối cùng GV mới cho xuất hiện toàn bộ các tranh theo thứ tự diễn biến câu chuyện để học sinh tập kể toàn

Vì nếu học sinh chỉ kể theo quan sát những hình ảnh trong tranh thì không thành một đoạn truyện

+ Tranh minh họa đoạn 1 của bài kể chuyện “Lớp trưởng lớp tôi” (Tiếng Việt 5, tập 2, trang 112) được vẽ rất cụ thể và sát nội dung GV có thể hướng dẫn học sinh dựa theo tranh, kể theo một trong ba cách sau:

• Cách 1 (kể đơn giản, ngắn gọn, theo sát tranh minh họa):

Ví dụ: Đây là hình ảnh Vân lớp trưởng và ba bạn nam là Lâm “voi”, Quốc

“lém”, tôi, ba người họ đang chê Vân thấp bé, ít nói, học không giỏi

• Cách 2 (kể có đầu có cuối nhưng không kĩ như văn bản):

Ví dụ: Vân được bầu làm lớp trưởng, ba bạn Lâm “voi”, Quốc “lém”, tôi cùng nhau bình luận về Vân, cả bọn chê Vân vừa gầy vừa thấp bé, lại ít nói mà chẳng học giỏi hơn ai

Trang 31

• Cách 3 (kể khá sáng tạo)

Ví dụ: Đầu năm, Vân được bầu làm lớp trưởng lớp tôi Không hài lòng về Vân cho lắm nên đến cuối giờ học, ba bạn Lâm “voi”, Quốc “lém”, tôi túm tụm nhau dưới gốc cây bàng bàn luận sôi nổi Đứa thì bảo lớp trưởng gì đâu mà vừa gầy vừa thấp bé, chẳng có tí dáng nào, đứa kia thì bảo lớp trưởng đáng ra phải nhanh nhẩu, mồm mép, đằng này lại ít nói Còn tôi thì nghĩ rằng lớp trưởng phải học giỏi,

ít ra phải đứng hạng nhất, nhì của lớp, trong khi Vân học chẳng hơn gì tôi

- Khi học sinh nối tiếp nhau kể chuyện trong nhóm hoặc trước lớp, nếu có

em còn lúng túng, GV có thể đặt câu hỏi gợi ý gắn với nội dung từng tranh

Ví dụ: Có thể đặt câu hỏi với hai tranh minh họa hai đoạn truyện 1, 2 của câu chuyện “Nhà vô địch” (Tiếng Việt 5, tập 2, trang 139) như sau:

+ Hưng Tồ, Dũng Béo, Tuấn Sứt đã nhảy qua hố như thế nào? (tranh 1) + Tôm Chíp có thân hình như thế nào? Mọi người đã khích bác Tôm Chip như thế nào? (tranh 2)

Tóm lại, khi sử dụng tranh minh họa để dạy học Kể chuyện, GV cần giúp học sinh khai thác kĩ tranh, phát huy tối đa những ưu thế của phương tiện trực quan sinh động này

Một phương tiện trực quan nữa vô cùng quan trọng trong dạy học Kể chuyện, đó chính là ngôn ngữ, giọng kể, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ… của GV Mỗi khi gặp những dạng bài tập mới hoặc khó khiến học sinh lúng túng, GV có thể giúp học sinh bằng cách kể mẫu một lần theo đúng yêu cầu bài tập Và chính bài

kể lúc này của GV là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của tiết học Tiết học Kể chuyện sẽ sinh động, hấp dẫn hơn, học sinh sẽ hào hứng tham gia tập kể, hào hứng trình diễn câu chuyện hơn nếu người GV truyền được hứng thú đến học sinh thông qua bài kể của mình Để làm được điều này, người GV cần phải nhớ truyện, thuộc truyện và biết truyền tải nội dung một cách truyền cảm, sinh động bằng ngôn ngữ, ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…phù hợp với tình huống truyện và đặc điểm tính cách, tâm trạng… của nhân vật Tuy nhiên, người GV không phải là người biểu diễn nghệ thuật và tiết Kể chuyện không phải là tiết xem biểu diễn nghệ thuật nên việc kể mẫu của người GV là cần đúng

Trang 32

mức: kể có nghệ thuật diễn cảm, kể rành mạch các tình tiết, ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu GV chỉ làm mẫu một phần của bài tập, dành thời gian tổ chức cho học sinh thực hành kể chuyện Và trong quá trình học sinh tập kể, ánh mắt, cử chỉ động viên, khích kệ, sự dẫn dắt tài tình, khéo léo của người GV sẽ góp phần tạo nên thành công của học sinh, cũng chính là thành công của giờ Kể chuyện

e Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp dạy học trong đó GV cho học sinh thực hành làm thử một số hoạt động nào đó nhằm mô phỏng nội dung bài học Phương pháp này nhằm hình thành ở học sinh khả năng giao tiếp, khả năng thích ứng với tình huống giao tiếp đã biết và tình huống giao tiếp mới, tạo cho các em hứng thú học tập, làm nảy sinh trong các em óc sáng tạo, mặt khác giúp các em nắm chắc bài và nhớ lâu hơn

Phương pháp đóng vai là phương pháp đặc trưng trong dạy học phân môn

Kể chuyện Phương pháp này được sử dụng khi giúp các em dựng lại câu chuyện đã học theo lối phân vai Việc đóng vai rèn cho học sinh kĩ năng kể chuyện theo lối “diễn kịch”, “đóng hoạt cảnh” biết phối hợp nhịp nhàng với các bạn trong nhóm, giúp các em trao dồi trí tưởng tượng và khả năng diễn tả tính cách của nhân vật bằng thái độ, cử chỉ, hành động và lời nói, qua đó nâng cao năng lực cảm thụ truyện Đồng thời, qua hoạt động đóng vai của học sinh, GV

sẽ phát hiện và có hình thức bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu kể chuyện, đóng kịch, phục vụ cho các hoạt động ngoại khóa

Khi sử dụng phương pháp đóng vai để dạy Kể chuyện theo hướng phát triển kĩ năng nói cho học sinh lớp 5, người GV cần tiến hành các bước sau:

- Nêu rõ mục đích, yêu cầu của việc đóng vai

- Tổ chức cho học sinh phân vai, dựng lại câu chuyện:

+ Lần 1: GV cùng một nhóm học sinh dựng lại câu chuyện làm mẫu GV nói lời người dẫn chuyện (người dẫn chuyện thường là người nói nhiều nhất), mỗi học sinh nói một lời của một nhân vật

+ Lần 2: Một nhóm học sinh dựng lại câu chuyện Mỗi học sinh nói lời một nhân vật, lời người dẫn chuyện cũng do một học sinh nói

Trang 33

+ Lần 3: Học sinh tự hình dung từng nhóm luyện tập, các em tự phân công lời thoại và tập cách diễn xuất sao cho ăn ý, nhịp nhàng GV đi đến các nhóm để hướng dẫn, giúp đỡ các em (nếu cần)

+ Cuối cùng các nhóm thi phân vai dựng lại câu chuyện trước lớp Cả lớp bình chọn những học sinh, những nhóm học sinh kể chuyện hấp dẫn, sinh động nhất GV tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc đóng vai của các em

Ngoài ra, để các em dựng chuyện được sinh động, hấp dẫn hơn nếu có điều kiện, GV có thể cho bài trí sân khấu, sử dụng đạo cụ và trang phục thích hợp

Ví dụ: Hướng dẫn học sinh phân vai, dựng lại câu chuyện “Nhà vô địch” (Tiếng việt 5, tập 2, trang 139)

Mục đích của bài tập này là giúp học sinh biết tham gia cùng các bạn dựng lại câu chuyện theo vai Mỗi học sinh phải đóng vai một nhân vật trong truyện để kể lại câu chuyện theo lời của ai đó, nhân vật đó

Ở bài này sau khi đã nêu rõ mục đích, yêu cầu của bài tập, GV sẽ tổ chức học sinh thành nhóm 5 để tiến hành phân vai dựng lại câu chuyện: “Nhà vô địch”, một em đóng vai người dẫn chuyện, một em đóng chị Hà, một em đóng vai Hưng Tồ, một em đóng vai Dũng Béo, một em đóng vai Tôm Chip GV cần lưu ý học sinh cách thể hiện điệu bộ, giọng nói của từng vai:

- Người dẫn chuyện: giọng hào hứng, phấn khởi

- Chị Hà: điềm tĩnh, chững chạc

- Hưng Tồ: vẻ tự đắt

- Dũng Béo: giọng dí dỏm

Sau đó, tổ chức học sinh dựng lại câu chuyện theo các bước đã nói trên

Để học sinh dựng lại chuyện được hấp dẫn hơn, GV có thể sử dụng cờ cho học sinh đóng vai chị Hà cầm

Như vậy, việc đổi mới nội dung, hình thức tổ chức dạy học, hình thức câu hỏi, bài tập của phân môn Kể chuyện hiện nay đã đặt ra yêu cầu phải đối mới phương pháp dạy học của GV GV cần sử dụng những phương pháp dạy học mới như phương pháp trò chơi, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp nêu vấn đề… đồng thời kết hợp với phương pháp truyền thống (phương pháp trực

Trang 34

quan, phương pháp giảng giải) theo tinh thần mới sao cho phát huy cao nhất tính tích cực chủ động của học sinh Cần vận dụng, phối hợp nhiều phương pháp một cách linh hoạt, hợp lí nhằm khai thác có hiệu quả, ưu thế của từng phương pháp, đảm thực hiện mục tiêu bài học, môn học: không chỉ cung cấp kiến thức môn học, rèn luyện kĩ năng cho học sinh mà còn giúp học sinh biến những kiến thức,

kĩ năng đó trở thành công cụ để học tập, giao tiếp

1.1.3.6 Cấu trúc chương trình phân môn Kể chuyện ở lớp 5

Phân môn Kể chuyện lớp 5, chương trình Tiểu học mới gồm có 35 tiết, trong đó có 4 tiết ôn tập, với 31 văn bản kể chuyện xoay quanh 10 chủ điểm Cụ thể như sau:

Kể một câu chuyện về các anh hùng danh nhân của nước ta

Trang 18, tập 1

3

Kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia

Kể việc làm tốt góp phần xây dựng quê hương đất nước của một người mà em biết

Trang 28, tập 1

Tiếng vĩ cầm ở Mĩ Lai Trang 40,

tập 1

5

Kể chuyện

đã nghe, đã đọc

Kể một câu chuyện ca ngợi hòa bình chống chiến tranh

Trang 48, tập 1

Trang 35

6

Kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia

Chọn một trong hai đề: Kể một câu chuyện em đã chứng kiến hoặc một việc

em đã làm thể hiện tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; Nói về một nước mà em được biết qua truyền hình, phim ảnh

Trang 57, tập 1

Cây cỏ nước Nam Trang 68,

tập 1

8

Kể chuyện

đã nghe, đã đọc

Kể một câu chuyện nói về quan hệ giữa con người với thiên nhiên

Trang 79, tập 1

9

Kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia

Kể chuyện về một lần em được đi thăm cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở nơi khác

Trang 88, tập 1

Người đi săn và con nai Trang 107,

tập 1

12

Kể chuyện

đã nghe, đã đọc

Kể một câu chuyện có nội dung môi trường

Trang 116, tập 1

Trang 36

13

Kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia

Chọn một trong hai đề: Kể một việc làm tốt của em hoặc mọi người xung quanh

để bảo vệ môi trường; Kể

về một hành động dũng cảm bảo vệ môi trường

Trang 127, tập 1

Kể một câu chuyện nói về những người đã góp sức mình chống lại đói nghèo lạc hậu vì hạnh phúc của nhân dân

Trang 147, tập 1

16

Kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia

Kể một buổi sum họp đầm

ấm trong gia đình

Trang 157, tập 1

17

Kể chuyện

đã nghe, đã đọc

Kể một câu chuyện về những người biết sống đẹp, biết mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho những người xung quanh

Trang 168, tập 1

Trang 37

cô kể trên lớp

20

Kể chuyện

đã nghe, đã đọc

Kể một câu chuyện về những tấm gương sống và làm việc theo pháp luật, theo nếp sống văn minh

Trang 19, tập 2

21

Kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia

Chọn một trong các đề bài sau: Kể một việc làm của những công dân nhỏ thể hiện ý thức bảo vệ các công trình công cộng, các di tích lịch sử, văn hóa; Kể một việc làm thể hiện ý thức chấp hành luật giao thông;

Kể một một việc làm thể hiện lòng biết ơn các thương binh, liệt sĩ

Trang 29, tập 2

Ông Nguyễn Khoa Đăng Trang 40,

tập 2

23

Kể chuyện

đã nghe, đã đọc

Kể một câu chuyện về những người đã góp sức mình bảo vệ trật tự an ninh

Trang 49, tập 2

24

Kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia

Kể một việc làm tốt góp phần bảo vệ trật tự an ninh nơi làng xóm, phố phường

Trang 60, tập 2

Nhớ nguồn 25 Kể chuyện Vì muôn dân Trang 73,

Trang 38

đã nghe thầy

cô kể trên lớp

tập 2

26

Kể chuyện

đã nghe, đã đọc

Kể một câu chuyện về truyền thống hiếu học hoặc truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam

Trang 82, tập 2

27

Kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia

Chọn một trong hai đề bài sau: Kể một câu chuyện trong cuộc sống nói lên truyền thống tôn sư trọng đạo của người Việt Nam;

Kể một kỉ niệm về thầy giáo hoặc cô giáo của em qua đó thể hiện lòng biết ơn của em đối với thầy cô

Trang 92, tập 2

Kể về một phụ nữ anh hùng hoặc một phụ nữ có tài

Trang 120, tập 2

31

Kể chuyện

đã được chứng kiến

Kể một việc làm tốt của bạn

em

Trang 129, tập 2

Trang 39

hoặc tham gia

Kể một câu chuyện nói về gia đình, nhà trường, xã hội chăm sóc, giáo dục trẻ em hoặc trẻ em thực hiện bổn phận với gia đình, nhà trường, xã hội

Trang 148, tập 2

34

Kể chuyện

đã được chứng kiến hoặc tham gia

Chọn một trong hai đề bài sau: Kể một câu chuyện em biết về một gia đình, nhà trường hoặc xã hội chăm sóc, bảo vệ thiếu nhi; Kể về một lần em cùng các bạn trong lớp hoặc chi đội tham gia công tác xã hội

Trang 156, tập 2

Ôn tập HKII 35

1.2 Thực trạng năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5

1.2.1 Khái quát về quá trình khảo sát điều tra thực trạng

1.2.1.1 Mục đích điều tra

Việc chúng tôi nghiên cứu thực trạng trong đề tài này nhằm tìm hiểu về năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Từ cơ sở đó, chúng tôi xây dựng các biện pháp

nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5

Trang 40

1.2.1.2 Nội dung điều tra

Chúng tôi tiến hành điều tra năng lực kể chuyện của học sinh với những nội dung sau:

- Tìm hiểu nhận thức của học sinh về phân môn Kể chuyện

- Tìm hiểu về những thuận lợi và khó khăn trong quá trình kể chuyện của học sinh

- Tìm hiểu năng lực kể chuyện của học sinh

- Tìm hiểu những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của giáo viên

- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy học phân môn

Kể chuyện của giáo viên

1.2.1.3 Phương pháp điều tra

Khi điều tra, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp dùng phiếu điều tra (phiếu Anket): Chúng tôi đã phát

phiếu điều tra để trưng cầu ý kiến của 259 học sinh khối lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

- Phương pháp điều tra khảo sát bằng bài tập: Chúng tôi đã yêu cầu học sinh kể lại trước lớp một câu chuyện mà em đã học trong chương trình lớp 5 để xác định được thái độ, nội dung câu chuyện mà học sinh đã kể lại được cũng như các kĩ thuật kể chuyện mà các em đã sử dụng Ở bước này, chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát, ghi băng hình để đánh giá năng lực kể chuyện của học sinh

- Phương pháp quan sát: quan sát học động kể chuyện của học sinh lớp 5 trong giờ khảo sát và thực nghiệm

1.2.1.4 Kết quả điều tra

a Thực trạng năng lực kể chuyện của học sinh

Để tìm hiểu sự yêu thích khi học tiết Kể chuyện của học sinh, chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Em có thích học tiết Kể chuyện không?” và thu được kết quả như sau:

Ngày đăng: 24/10/2019, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê A, Thành Thị Yên Mỹ, Nguyễn Trí, Lê Phương Nga, Cao Đức Tiến (1999),Phương pháp dạy học Tiếng Việt, tập 1. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt, tập 1
Tác giả: Lê A, Thành Thị Yên Mỹ, Nguyễn Trí, Lê Phương Nga, Cao Đức Tiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
[2] Lê A, Nguyễn Trí, Lê Phương Nga (2000), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Trí, Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Sách GV, SGK Tiếng Việt 5, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách GV, SGK Tiếng Việt 5
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[5] Chu Huy (2000), Dạy kể chuyện ở trường tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy kể chuyện ở trường tiểu học
Tác giả: Chu Huy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[6] Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga (2000), Trò chơi học tập Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập Tiếng Việt
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[7] Mai Ngọc Luông, Lý Minh Tiên (2006), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Mai Ngọc Luông, Lý Minh Tiên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[8] Nguyễn Văn Lũy, Lê Quang Sơn (2009), Từ điển tâm lý học, NXB Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Văn Lũy, Lê Quang Sơn
Nhà XB: NXB Việt Nam
Năm: 2009
[9] Lê Phương Nga, Đăng Kim Nga (2007),Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, NXB Giáo dục, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga, Đăng Kim Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[10] Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (2000), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[12] Lê Phương Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 2, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 2
Nhà XB: NXB ĐHSP
[13] Đào Ngọc, Nguyễn Công Ninh, Rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, xuất bản lần thứ 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
[14] Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, NXB khoa học xã hội Trung tâm từ điển học và Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB khoa học xã hội Trung tâm từ điển học và Hà Nội
[15] Nguyễn Quang Uẩn (2008), Giáo trình tâm lí học đại cương, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2008
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư 30 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w