Dạy học Có nhiều cách định nghĩa về khái niệm dạy học nhưng chung quy lại thì ta có thể hiểu dạy học là một quá trình bao gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi sinh viên Sư phạm trước khi ra trường và đồng thời đó cũng là dấu hiệu để kết thúc quá trình bốn năm theo học tại ngôi trường Đại học này
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, chỉ dẫn hết sức tận tình của thầy giáo Đàm Văn Thọ - người đã hướng dẫ trực tiếp Bên cạnh đó, tôi còn nhận được sự quan tâm rất lớn của các thầy cô trong khoa cũng như các bạn trong lớp Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ tận tình của thầy cô và các bạn đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Do bước đầu làm nghiên cứu khoa học nên bản thân tôi còn thiếu kinh nghiệm
vì vậy mà khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của quý thầy cô, các bận sinh viên để khóa luận ngày càng hoàn thiện hơn
Sinh viên Nguyễn Thị Lệ Quyên
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục viết tắt
A PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lí do chọn đề tài 7
2 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Giả thuyết khoa học 8
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 8
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 9
7.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 9
7.3 Phương pháp quan sát 9
7.4 Phương pháp phân tích tổng hợp 9
8 Cấu trúc đề tài 9
B PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC MỸ THUẬT THEO PHƯƠNG PHÁP ĐAN MẠCH 10
1.1 Một số khái niệm về dạy học Mỹ thuật theo PP Đan Mạch 10
1.1.1 Dạy học 10
1.1.2 Dạy học Mỹ thuật 10
1.1.3 Phương pháp Đan Mạch trong dạy học Mỹ thuật 10
1.1.3.1 Phương pháp 10
1.1.3.2 Khái niệm về phương pháp dạy học 11
1.1.3.3 Phương pháp Đan Mạch 11
1.2 Những định hướng và mục tiêu GDMT ở bậc Tiểu học trong đổi mới giáo dục: 11
1.2.1 Những định hướng GDMT ở bậc Tiểu học: 11
1.2.2 Mục tiêu GDMT ở bậc Tiểu học: 12
1.3 Một số vấn đề về PP dạy học Mỹ thuật theo PP Đan Mạch: 13
1.3.1 Mục tiêu 13
Trang 41.3.2 Nội dung chương trình 14
1.3.3 Các quy trình Mỹ thuật 14
1.3.4 Hình thức tổ chức của lớp học 15
1.4 Đặc điểm tâm lí HS lớp 1 15
1.4.1 Đặc điểm về chú ý 15
1.4.2 Đặc điểm về tri giác 16
1.4.3 Đặc điểm về ngôn ngữ 16
CHƯƠNG 2 : TÌM HIỂU DẠY MỸ THUẬT THEO PP ĐAN MẠCH Ở LỚP 1 17
2.1 Những vấn đề về dạy Mỹ thuật theo PP Đan Mạch 17
2.1.1 Quan điểm của SAEPS về PP giảng dạy Mỹ thuật theo hướng đổi mới của Đan Mạch 17
2.1.2 Những năng lực được hình thành và phát triển thông qua quá trình học Mỹ thuật: 18
2.1.2.1 Năng lực trải nghiệm 20
2.1.2.2 Năng lực kỹ năng và kỹ thuật 20
2.1.2.3 Năng lực biểu đạt 21
2.1.2.4 Năng lực phân tích và diễn giải 21
2.1.2.5 Năng lực giao tiếp và đánh giá 21
2.1.3 Đánh giá HS theo Thông tư 22 trong đổi mới giáo dục bậc Tiểu học 22
2.1.3.1 Nguyên tắc, nội dung đánh giá HS trong HĐGD Mỹ thuật 23
2.1.3.2 Tổng hợp đánh giá HS 24
2.2 Khái quát về xây dựng kế hoạch và tổ chức các quy trình dạy - học Mỹ thuật theo PP Đan Mạch ở lớp 1 25
2.2.1 Tính tương tác giữa các hình thức học tập: 25
2.2.2 Tích hợp các quy trình dạy - học Mỹ thuật: 25
2.2.3 Vai trò của giáo viên 26
2.2.4 Lập kế hoạch quy trình dạy - học Mỹ thuật 27
2.3 Các quy trình dạy - học Mỹ thuật theo PP Đan Mạch lớp 1 27
2.3.1 Quy trình: Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu chuyện 28
2.3.1.1 Mục tiêu 29
2.3.1.2 Các hoạt động chính 29
2.3.2 Quy trình: Vẽ biểu cảm 36
2.3.2.1 Mục tiêu 37
2.3.2.2 Các hoạt động chính: 38
Trang 52.3.3.1 Mục tiêu: 40
2.2.3.2 Các hoạt động: 40
2.3.4 Quy trình: Xây dựng cốt truyện 44
2.3.4.1 Mục tiêu 45
2.3.4.2 Các hoạt động chính 45
2.3.5 Quy trình: Tạo hình 3D, 2D – tiếp cận theo chủ đề 49
2.3.6 Quy trình: Quy trình Điêu khắc - Nghệ thuật tạo hình không gian (Nghệ thuật sắp đặt/ hoạt cảnh/ biểu diễn và sắm vai) 53
2.3.7 Quy trình: Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn 53
2.3.8 Các phương pháp liên kết HS với tác phẩm 54
2.3.8.1 Chụp ảnh 54
2.3.8.2 Diễn theo tranh 54
2.3.8.3 Sắm vai 55
2.3.8.4 Sơ đồ tƣ duy 55
2.3.8.5 Phê bình Mỹ thuật 55
2.3.8.6 Phỏng vấn 55
2.3.8.7 Thám tử 55
2.3.8.8 Sổ ghi chép: 56
2.3.8.9 Tìm các tác phẩm đối lập 56
2.3.8.10 Tam giác: 56
2.4 Lập kế hoạch dạy học theo chủ đề môn Mỹ thuật lớp 1 ở Tiểu học 56
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
1 Kết luận 64
2 Kiến nghị 64
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: thiết kế giáo án mẫu
Phụ lục 2: ảnh số sản phẩm mỹ thuật của học sinh lớp 1 theo phương pháp Đan Mạch TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đất nước chúng ta đã và đang ngày càng đổi mới, phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kinh tế phát triển kéo theo nhiều vấn đề nảy sinh, trong đó giáo dục và đào tạo là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu cần được đổi mới nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội Chính vì điều đó mà giáo dục Việt Nam hiện nay đang không ngừng tìm kiếm, áp dụng những phương pháp dạy học tích cực trong tất cả các môn học nhằm giúp học sinh chủ động nắm bắt tri thức Một trong những môn học có khả năng kích thích trí tượng tượng, óc sáng tạo và tư duy linh hoạt của học sinh hiện nay có thể kể đến đó là môn Mỹ thuật
Nhiều người cho rằng, Mỹ thuật là một môn học không quan trọng nên ít được đầu tư, chú trọng,… Tuy nhiên, đây là một môn học rất cần thiết trong việc hình thành
và phát triển nhận thức, nhân cách cho học sinh một cách toàn diện, đặc biệt là đối với lứa tuổi Tiểu học Nó không chỉ góp phần phát triển năng khiếu, nâng cao khả năng thẩm mĩ, sáng tạo, mà còn giúp các em có cái nhìn sâu sắc hơn về thế giới quan, phát triển tư duy linh hoạt ở học sinh… Chính vì vậy, nhiệm vụ của nhà giáo dục là phải tìm ra được những phương pháp có khả năng phát triển được tối đa những mặt tích cực của môn học này Đan Mạch là quốc gia đứng thứ hai trên thể giới về giáo dục
Hệ thống giáo dục và đào tạo ở Đan Mạch là một hệ thống toàn diện, có chất lượng cao và hoạt động hiệu quả Việc áp dụng phương pháp Đan Mạch vào dạy học Mỹ thuật không chỉ góp phần học hỏi được những thành tựu tiến bộ của nước bạn mà còn đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học môn Mỹ thuật nói riêng Thông qua phương pháp Đan Mạch, học sinh có thể thoải sức sáng tạo, không
bị gò bó trong một khuôn khổ nhất định Có thể nói, đây là một phương pháp rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1 Do đó, việc tìm hiểu dạy Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch ở học sinh lớp 1 là việc làm cần thiết
Tuy nhiên, phương pháp Đan Mạch vẫn còn khá mới mẻ với cả giáo viên và học sinh hiện nay Nhiều giáo viên còn chưa nắm vững được nội dung cũng như cách tiến hành dạy học theo phương pháp này đồng thời cũng chưa linh hoạt trong việc phối hợp với các hình thức dạy học khác nhau để phát huy được tối đa những mặt
Trang 8thuận lợi cũng như khắc phục những hạn chế của phương pháp Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu về phương pháp này còn khá hạn chế cho nên việc tìm kiếm tài liệu của giáo viên còn gặp nhiều khó khăn Để giải quyết vấn đề này, nhà trường và đặc biệt là giáo viên dạy Mỹ thuật cần phải tìm hiểu rõ những ưu, khuyết điểm của phương pháp, xác định được nội dung và hình thức tổ chức phù hợp để việc dạy học
Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch mang lại hiệu quả tốt nhất
Chính vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu dạy
học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch ở lớp 1”
2 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn Mỹ thuật ở Tiểu học
2.2 Đối tượng nghiên cứu: PP Đan Mạch trong dạy học môn Mỹ thuật ở Tiểu học
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tôi tập trung tìm hiểu về dạy học môn Mỹ thuật theo PP Đan Mạch, thông qua đó đưa ra một số kiến nghị để góp phần hoàn thiện PP Đan Mạch cho HS Tiểu học
4 Giả thuyết khoa học
- Nếu GV tìm hiểu về PP dạy học Mỹ thuật mới thì sẽ nắm bắt được phương pháp và hiệu quả giáo dục chắc chắn sẽ cao
- Nếu GV biết cách vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tế khi tổ chức các quy trình Mỹ thuật theo PP mới của SAEPS sẽ kích thích sự tư duy, sáng tạo của HS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về lí luận liên quan đến dạy học Mỹ thuật theo PP Đan Mạch ở lớp 1
- Tìm hiểu về cách lên kế hoạch giảng dạy theo PP Đan Mạch ở lớp 1
- Đề xuất một số ý kiến góp phần hoàn thiện PP Đan Mạch trong dạy học Mỹ thuật ở Tiểu học
6 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu là:
- Tìm hiểu quá trình dạy và học bộ môn Mỹ thuật theo PP Đan Mạch ở lớp 1
- Tìm hiểu những vấn đề cơ bản thường gặp, những tình huống, ưu điểm, hạn chế qua quá trình dạy và học bộ môn Mỹ thuật ở lớp 1
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 97.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phạm vi nghiên cứu
7 PP nghiên cứu
B Phần nội dung gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận về dạy học Mỹ thuật theo PP Đan Mạch
Chương 2: Tìm hiểu dạy Mỹ thuật theo PP Đan Mạch ở lớp 1
C.Phần kết luận và kiến nghị
Phụ lục
Danh mục những tài liệu tham khảo
Trang 10B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC MỸ THUẬT THEO PHƯƠNG
PHÁP ĐAN MẠCH 1.1 Một số khái niệm về dạy học Mỹ thuật theo PP Đan Mạch
1.1.1 Dạy học
Có nhiều cách định nghĩa về khái niệm dạy học nhưng chung quy lại thì ta có thể hiểu dạy học là một quá trình bao gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực
tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học
1.1.2 Dạy học Mỹ thuật
Nói đến Mỹ thuật là nói đến cái đẹp Cái đẹp được tạo ra nhằm phục vụ cho nhu cầu đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người Đây là loại hình nghệ thuật ra đời từ rất sớm, bằng sự khai thác tác dụng của các yếu tố không gian như hình khối, đường nét, màu sắc, làm phương tiện để diễn đạt và truyền cảm
Nói một cách chung nhất, Mỹ thuật là nghệ thuật tạo ra cái đẹp, là nghệ thuật của thị giác được biểu hiện trên mặt phẳng và của không gian như: hình khối, màu sắc, đường nét, đậm nhạt, sáng tối… với nhiều chất liệu đa dạng mà chúng ta có thể dùng được
Như vậy dạy học Mỹ thuật là quá trình GV sử dụng các PP dạy học để lên kế hoạch tổ chức dạy học nhằm giáo dục thẩm mĩ cho các HS Cung cấp cho các em những hiểu biết ban đầu về môn Mỹ thuật, hình thành và củng cố các kĩ năng cần thiết
để HS hoàn thành bài tập trong chương trình Bồi dưỡng năng lực quan sát, phân tích, phát triển trí tuệ, phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo, góp phần hình thành nhân cách người lao động mới
1.1.3 Phương pháp Đan Mạch trong dạy học Mỹ thuật
1.1.3.1 Phương pháp
Phương pháp là cách thức là con đường hành động để đạt tới mục đích nhất định
Trang 111.1.3.2 Khái niệm về phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức hành động của GV trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động đạt được mục tiêu dạy học
Phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay đang chuyển từ dạy học truyền thống sang các PP dạy học tích cực
1.1.3.3 Phương pháp Đan Mạch
Phương pháp dạy học Đan Mạch là PP dạy theo chương trình sách giáo khoa
Mỹ thuật mới theo đó GV tổ chức hoạt động lấy HS làm trung tâm, coi trọng khâu thực hành nhằm “đánh thức” năng lực sẵn có của HS, phát triển khả năng tư duy, logic cho các em HS tiếp thu bài giảng một cách sâu sắc và nhẹ nhàng, thoãi mái
Sách giáo khoa Mỹ thuật mới được xây dựng trên chương trình Hỗ trợ GDMT cấp Tiểu học của Đan Mạch và theo đó yêu cầu GV xây dựng các HĐDH theo 7 quy trình mới, gồm: Vẽ cùng nhau và sáng tạo câu chuyện; vẽ biểu cảm; Vẽ theo nhạc; Xây dựng cốt truyện, tạo hình 3D, tiếp cận chủ đề - tạo hình từ vật tìm được; Nghệ thuật sắp đặt, hoạt cảnh, biểu diễn và sắm vai; Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn, vẽ chân dung biểu đạt, tạo sản phẩm Mỹ thuật từ những vật liệu tìm được…
1.2 Những định hướng và mục tiêu GDMT ở bậc Tiểu học trong đổi mới giáo dục:
1.2.1 Những định hướng GDMT ở bậc Tiểu học:
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã đưa ra định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo như sau:
Thứ nhất, Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
Thứ hai, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn
đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung,
PP, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo
Trang 12dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học
Thứ ba, phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Thứ tư, phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng
Thứ năm, đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo
Thứ sáu, chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa
và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo
Thứ bảy, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước
Đối với bậc Tiểu học nói chung cũng như môn Mỹ thuật nói riêng cũng theo những định hướng đó mà không ngừng đổi mới
1.2.2 Mục tiêu GDMT ở bậc Tiểu học:
Luật Giáo dục điều 24.2 đã ghi: "PP giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng PP tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS" Đồng thời còn nêu
Trang 13rõ: “Mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp cho HS những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách một con người, chuẩn bị tốt cho các em về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và lao động để HS tiếp tục học lên trung học hoặc đi vào cuộc sống tùy theo nhu cầu và nguyện vọng bằng những hình thức thích hợp”
Điều này khẳng định giáo dục thẩm mĩ trong trường Tiểu học là một nội dung
có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các mặt giáo dục khác, tạo nên sự hoàn thiện trong việc phát triển nhân cách của HS Chính vì vậy việc giáo dục và bồi dưỡng cho HS có trình độ văn hoá thẩm mĩ phổ thông là hết sức cần thiết
1.3 Một số vấn đề về PP dạy học Mỹ thuật theo PP Đan Mạch:
Từ năm 2014, với sự hỗ trợ của chương trình “Hỗ trợ GDMT TH” (Support to Art Education in Primary School hay còn gọi tắt là SAEPS) của Đan Mạch, chúng ta
đã thực hiện phát triển và thử nghiệm những PP dạy học theo hướng đổi mới của Đan Mạch Dự án được triển khai bắt đầu từ năm 2010 nhưng phải mất một thời gian dài
để xây dựng chương trình, PP sư phạm phù hợp, chuẩn bị tài liệu giảng dạy, giảng dạy thí điểm, nghiệm thu và hoàn thiện chương trình Giữa năm 2014 PP đổi mới chính thức được phổ cập rộng rãi trên cả nước
Dự án này nhằm truyền cảm hứng cho GV dạy Mỹ thuật để hỗ trợ HS phát triển khả năng tiếp thu thẩm mĩ và sáng tạo, bằng cách khuyến khích các em trải nghiệm, sáng tạo, bày tỏ, hợp tác và giao tiếp với nhau qua các hoạt động Mỹ thuật thực tế Thông qua hoạt động thực tế, HS tự mình làm giàu cách biểu đạt, phân tích, đánh giá, lựa chọn và nhận thức để hình thành, phát triển những năng lực ở cá nhân Cùng lúc với việc phát triển những năng lực này, HS cũng có thể phát triển các giác quan, các kĩ năng sống, kinh nghiệm và khả năng giải quyết vấn đề, các năng lực hợp tác, khả năng tự học và tự đánh giá
1.3.1 Mục tiêu
Mục tiêu chính của PP này nhằm giúp HS hình thành và phát triển các năng lực:
+ Năng lực trải nghiệm: Cho các em được làm việc với những chủ đề liên quan
đến kinh nghiệm đã có của bản thân
Trang 14+ Năng lực kỹ năng và kỹ thuật thông qua các hoạt động : Vẽ cùng nhau, chân
dung biểu đạt, vẽ theo nhạc, tạo hình từ vật tìm được, xây dựng cốt truyện (xây dựng bối cảnh câu chuyện)
+ Năng lực biểu đạt: Có nghĩa là HS ứng dụng ngôn ngữ Mỹ thuật để diễn đạt
sự trải nghiệm và thái độ của bản thân
+ Năng lực phân tích và trình bày: Thông qua các hoạt động trình bày về tác
phẩm của mình, tham gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện tác phẩm
+ Năng lực giao tiếp và đánh giá: HS tham gia giao tiếp, thảo luận và đánh giá
tất cả các hoạt động trong tiết Mỹ thuật, đánh giá những gì đã làm được, có như mong muốn hay không?
1.3.2 Nội dung chương trình
Điểm nổi bật của PP dạy học này là GV có thể chủ động theo từng nội dung
tiết dạy mà kết hợp nhiều kỹ thuật trong một bài dạy Nội dung chương trình GDMT theo PP mới không theo trình tự các bài như chương trình hiện hành, mà GV căn cứ vào đó để xây dựng các chủ đề cho phù hợp Mỗi chủ đề tạo thành một quy trình Mỹ thuật tương tác và tích hợp giữa 5 nội dung: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Tập nặn tạo dáng, Thường thức Mỹ thuật Mỗi chủ đề sẽ lồng ghép giáo dục nhiều mục
tiêu và được thực hiện ít nhất là 2 tiết, nhiều nhất là 5 tiết hoặc cũng có thể hơn
1.3.3 Các quy trình Mỹ thuật
Trên cơ sở lý thuyết giáo dục và giảng dạy Mỹ thuật, GV sẽ tổ chức dạy cho các em học Mỹ thuật qua các hoạt động: Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc, Vẽ biểu đạt, tạo hình 3D từ các vật tìm được, Xây dựng cốt truyện Thông qua các hoạt động tạo hình
sẽ khơi gợi và phát huy được năng khiếu thẩm mỹ vốn có ở trẻ, gây hứng thú cho các
em trước cái đẹp, tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mỹ của HS trong cuộc sống Hoạt động GDMT còn góp phần đem lại nhận thức mới, niềm vui, hứng thú và sáng tạo học tập cho trẻ Việc sử dụng nền nhạc trong các hoạt động Mỹ thuật cũng tạo cho HS hứng thú, không khí lớp học vui vẻ, thân thiện
Trang 151.3.4 Hình thức tổ chức của lớp học
Hình thức tổ chức lớp học chủ yếu là thực hành theo nhóm, cần không gian rộng để HS có thể vận động và di chuyển Có nơi trưng bày tranh, sản phẩm để HS dễ dàng quan sát, nhận xét, đánh giá
1.4 Đặc điểm tâm lí HS lớp 1
Đối tượng của cấp Tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi HS Tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình Trẻ
em ở lứa tuổi Tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm
lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ
Do đó, HS Tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội HS Tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh Chính vì vậy mà việc tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lí của HS là rất quan trọng, nhất là đối với HS lớp 1 bởi môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập
1.4.1 Đặc điểm về chú ý
Đối với HS Tiểu học nói chung và HS lớp 1 nói riêng, chú ý có chủ định (tức chú ý có ý thức, chú ý vào việc học tập) của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định (chú ý tự do) chiếm
ưu thế hơn chú ý có chủ định Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, dễ bị phân tán bởi những âm thanh, sự kiện khác ngoài nội dung học tập Trẻ thường quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,… Thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dài tối đa từ 25 đến 30 phút Do đó, ở lớp 1, GV thường sử
Trang 16dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của HS
1.4.2 Đặc điểm về tri giác
Tri giác của HS lớp 1 mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không
ổn định, tri giác thường gắn với hình ảnh trực quan Vì vậy, chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác Còn đối với trí tưởng tượng, tưởng tượng của HS lớp 1 đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng nhiều Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi Qua đây, các nhà giáo dục và cha mẹ cần phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các
em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện
1.4.3 Đặc điểm về ngôn ngữ
Hầu hết HS Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Mặc khác, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được
sự phát triển trí tuệ của trẻ Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng…
Trang 17CHƯƠNG 2 : TÌM HIỂU DẠY MỸ THUẬT THEO PP ĐAN MẠCH Ở LỚP 1 2.1 Những vấn đề về dạy Mỹ thuật theo PP Đan Mạch
2.1.1 Quan điểm của SAEPS về PP giảng dạy Mỹ thuật theo hướng đổi mới của Đan Mạch
Theo SAEPS, HS được coi như những người đồng sáng tạo nên văn hóa và tri thức được thể hiện bằng suy nghĩ và sự sáng tạo của các em Chính vì vậy PPGD Mỹ thuật mới tập trung vào các quy trình học tập, liên kết các bài học và kiến thức, giúp
HS có thể trải nghiệm, khám phá, suy nghĩ và thể hiện được cảm xúc, trí tưởng tượng của mình Các em dưới sự hướng dẫn và tổ chức hoạt động của GV sẽ trực tiếp tham gia và trải nghiệm các hoạt động, khi đó các em sẽ:
- Tự mình sáng tác và thử chất liệu màu mình chọn
- Biểu đạt suy nghĩ và ý kiến của mình trong quá trình thực hiện tác phẩm cũng như tự tin tự trình bày các ý tưởng, cảm xúc đó với bạn bè, thầy cô
- Tự nhận thức, phân tích và đánh giá các lựa chọn, ý tưởng của mình
- Nhận thức cuộc sống vì các trải nghiệm thực tế cuộc sống sẽ giúp tạo cảm hứng và gợi cảm hứng biểu đạt, suy nghĩ, ý tưởng cho trẻ
Hình 1:Mô hình về hình tháp học tập
Mô hình về hình tháp học tập (Hình 1) lấy từ các phòng thí nghiệm quốc gia về đào tạo tại Bethel, Main (Mĩ), hình tháp này giải thích về khối lượng lĩnh hội (tri thức đọng lại) sau các quá trình học khác nhau
Trang 18Theo hình tháp này, HS nắm được nhiều kiến thức nhất (75%) khi tự thực hành, tự trải nghiệm và (90%) khi dạy lại, chỉ lại kiến thức cho người khác hay áp dụng ngay kiến thức vừa học, từ đó cho thấy việc học tập bằng trải nghiệm và ứng dụng sáng tạo dẫn tới tiếp thu nhiều tri thức hơn, đây là chủ đích chính của PPGD Mỹ thuật theo hướng đổi mới của Đan Mạch
Theo SAEPS, quá trình tiếp nhận thẩm mĩ chỉ thực hiện được khi HS tự trải nghiệm các hoạt động sáng tạo Mỹ thuật, các em tự học trong quá trình các em làm và học lần nữa khi các em trao đổi, thể hiện ý tưởng với GV, với bạn bè khi biểu đạt suy nghĩ và ý tưởng của mình Có như vậy, các kiến thức, tri thức thẩm mĩ mà các em thu được sẽ được ghi nhớ sâu hơn, khả năng phân tích và đánh giá, thể hiện của các em cũng được nâng cao hơn
Bên cạnh Mô hình về hình tháp học tập, PPGD Mỹ thuật theo quy trình còn dựa vào học thuyết về trí tuệ con người của Howard Gardner và lí thuyết về các kiểu học của vợ chồng nhà nghiên cứu Dunn (Mĩ) Hai học thuyết này cùng khẳng định rằng: dựa vào các hình thức trí tuệ khác nhau mà chúng ta có các kiểu học khác nhau
PPGD Mỹ thuật dựa vào các học thuyết đó đặt mục tiêu xây dựng quá trình hoạt động học tập phù hợp (vì ưu thế trí tuệ của trẻ em khác nhau dẫn đến các kiểu học tập khác nhau) GV là người quan sát, nắm bắt các ưu thế, kiểu học tập của HS khác nhau để từ đó linh động xây dựng hoạt động giảng dạy sao cho các em có thể phát huy khả năng học tập của mình Để làm được điều này, GV cũng cần dựa vào những khả năng, thế mạnh của mình để tìm ra các phương hướng xây dựng bài giảng
Nhà tâm lý học Howard Gardner đã định nghĩa: Trí tuệ là tập hợp cốt lõi của các hoạt động xử lý thông tin Trí tuệ là sức mạnh và khả năng giải quyết các vấn đề hay sáng tạo ra sản phẩm có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa
Trang 19Howard Gardner năm 1985 đã chỉ ra các thiên hướng trí tuệ như sau:
Trí tuệ ngôn ngữ: là khả năng sử dụng ngôn ngữ, lời nói là thế mạnh của trẻ Thể hiện ở chổ người học thích thuyết trình, thể hiện cảm xúc bằng lời nói
Trí tuệ Âm nhạc: là khả năng nhận biết các giai điệu và âm thanh, nhạy cảm với âm nhạc và nhịp điệu Biểu hiện là người học thích hát, gõ nhịp,thích chơi nhạc và nhớ các giai điệu
Trí tuệ logic - toán học: là khả năng sử dụng các con số và nhận biết các mô hình trừu tượng Biểu hiện là người học thích suy nghĩ, làm việc với các con số; giải quyết các vấn đề bằng logic toán học
Trí tuệ thị giác - không gian: là khả năng hình dung các đồ vật, các chiều không gian Biểu hiện là người học thích các hoạt động Mỹ thuật, thủ công và thích
vẽ, tạo hình
Trí tuệ vận động: là sự nhanh nhạy của cơ thể và khả năng điều khiển các vận động Biểu hiện là người học thích nhảy múa, thể thao, gửi các thông điệp bằng cơ thể
Trí tuệ liên kết các cá nhân: là khả năng giao tiếp và quan hệ giữa người này với người khác Biểu hiện là người học dễ kết bạn, thích các trò chơi hợp tác, thích làm việc theo nhóm
Trí tuệ nội tâm: là những trạng thái nội tâm, tinh thần, tự suy nghĩ và nhận thức Biểu hiện là người học thích nghĩ về các cảm xúc, suy nghĩ của bản thân; thích hiểu rõ về cách sử trí và giải quyết các vấn đề
Hình 2: Sơ đồ thiên hướng trí tuệ
Trang 20Từ năm 1985 H Gardner cũng chỉ ra các lĩnh vực khác như: Tự nhiên, văn hóa,
và Trí tuệ toàn cầu Trí tuệ được phát triển thông qua rất nhiều phương pháp học tập khác nhau Thông qua tiếp xúc, nghiên cứu với nhiều HS, nhà nghiên cứu đã chỉ
ra rằng: có những HS học tốt nhất thông qua đọc và ghi chép, những em khác thích hoạt động thông qua hình ảnh, có em lại thích các hoạt động hình thể hoặc hoạt động âm nhạc, có những HS thích giải quyết vấn đề một mình trong khi nhiều em khác lại thích thảo luận với các bạn khác.Vấn đề ở đây là, GV phải đảm bảo HS được học tập phù hợp với lứa tuổi, hình thức học tập mà các em ưa thích cũng như các loại trí tuệ ưu thế của mỗi HS
Từ những thiên hướng trí tuệ đó, ta sẽ đưa ra được những năng lực cần hình thành ở HS như sau:
Năng lực trải nghiệm và trình bày kinh nghiệm của mình thông qua tác phẩm
Mỹ thuật
Năng lực tạo ra những sản phẩm Mỹ thuật, hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm trên kênh thông tin đã được lựa chọn
Năng lực biểu đạt ý kiến, ấn tượng và cảm giác của các em
Năng lực phân tích và diễn giải sự lựa chọn của mình trong suốt quy trình
Năng lực giao tiếp và đánh giá quy trình, kết quả, tác phẩm Mỹ thuật đạt được
từ nghệ thuật thị giác
2.1.2.1 Năng lực trải nghiệm
GDMT giúp cho HS có được những trải nghiệm để gợi mở cảm giác, cách nhìn nhận, sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và phát triển sức sáng tạo, biểu đạt của HS Bên cạnh đó, một môi trường học tập thân thiện, tạo cảm hứng sẽ hỗ trợ việc dạy và học Mỹ thuật một cách hiệu quả
GV có thể đưa vào các quy trình dạy - học Mỹ thuật những hoạt động giúp HS
tư duy như tổ chức tham quan, kể chuyện, khách mời đến chia sẻ những trải nghiệm của bản thân họ về chủ đề liên quan, xem tranh ảnh, hoặc tổ chức các trò chơi phù hợp với từng lớp học
2.1.2.2 Năng lực kỹ năng và kỹ thuật
GDMT giúp cho HS phát triển ngôn ngữ không gian và trí thông minh thị giác Trong quá trình học, HS được tiếp cận với các ngôn ngữ Mỹ thuật khi các em thực
Trang 21hành và đồng thời hiểu được cách sử dụng đường nét, hình khối, kích cỡ, bố cục, màu sắc trong từng nội dung bài học Từ đó, các em thực hành hiệu quả các hình thức:
2D: Hình ảnh phẳng: Bức phác họa, ảnh, bức tranh, cắt dán, đồ họa
3D: Hình ảnh không gian 3 chiều: Điêu khắc, sắp đặt và kiến trúc
4D: Hình ảnh không gian 4 chiều: Video, kịch và hoạt cảnh
GV là người lựa chọn và giới thiệu các kỹ thuật, chất liệu, công cụ, dụng cụ cho từng hoạt động thực hành của HS Vì vậy, đòi hỏi người GV phải có kỹ năng và kiến thức từ đó sử dụng các kỹ năng, kiến thức đó của mình nhằm hỗ trợ và trang bị cho mỗi HS tìm ra cách giải quyết tốt nhất của các em trong suốt quy trình
2.1.2.3 Năng lực biểu đạt
GDMT giúp HS có khả năng khám phá ra nặng lực của mình thông qua mỗi bài học cũng như trải nghiệm những niềm vui thích khi tạo ra những sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc sắc của mình Từ đó, HS có thể sử dụng ngôn ngữ
Mỹ thuật để biểu đạt suy nghĩ, thái độ, ý tưởng của các em trong mỗi buổi học Mỹ thuật
Trong các quy trình dạy - học Mỹ thuật sáng tạo, GV phải luôn chỉ ra cho HS thấy rằng sẽ có vô vàn cách thức biểu đạt khác nhau chứ không phải chỉ có một cách duy nhất
2.1.2.4 Năng lực phân tích và diễn giải
GDMT kích thích cho HS cảm giác tò mò khi tìm hiểu về một nội dung mới mẽ cũng như quá trình sáng tạo Từ sự tò mò ấy, GV sẽ hình thành cho HS thói quen tìm hiểu một vấn đề hay một tác phẩm nghệ thuật thông qua sự phân tích các khía cạnh của vấn đề đó, từ đó dùng lời lẽ để diễn giải những gì mà mình vừa tìm hiểu được Đồng thời GV phải giúp cho các em từng bước làm quen và sử dụng các khái niệm trong quá trình diễn giải
2.1.2.5 Năng lực giao tiếp và đánh giá
GDMT giúp HS có thể giao tiếp với nhau cũng như cùng nhau thảo luận và giải
mã những thông tin mang tính hình ảnh như: tin tức, quảng cáo hoặc hoạt động giải trí… HS sẽ thảo luận và đánh giá các hoạt động tại lớp học Trong suốt quy trình, GV
và HS có thể thảo luận mục đích và kết quả qua từng bước sáng tạo từ đầu cho đến khi
có sản phẩm cuối cùng Sau mỗi quy trình, GV và HS sẽ đánh giá chất lượng của mỗi
Trang 22sản phẩm được tạo ra cũng như hiệu quả xuyên suốt quá trình học tập Từ đó mà hình thành năng lực giao tiếp, đánh giá cho HS
Cùng lúc với việc phát triển những kỹ năng nói trên, HS cũng có thể phát triển các giác quan, các kỹ năng sống, các năng lực hợp tác, kinh nghiệm và khả năng giải quyết vấn đề, năng lực tự học và tự đánh giá
2.1.3 Đánh giá HS theo Thông tư 22 trong đổi mới giáo dục bậc Tiểu học
Đánh giá HS Tiểu học trong hoạt động GDMT là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của HS; tư vấn, hướng dẫn, động viên HS; nhận xét về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của HS Tiểu học thuộc lĩnh vực Mỹ thuật
MỤC ĐÍCH:
Đánh giá HS trong HĐGD Mỹ thuật nhằm:
- Giúp GV điều chỉnh, đổi mới PP, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của HS để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa
ra nhận định đúng về những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi HS để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học
- Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ
- Giúp cha mẹ HS tham gia vào đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục HS
- Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới PP dạy học, PP đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục
Đánh giá liên tục nhằm:
- Xác nhận sự tiến bộ của HS trong quá trình dạy và học
- Giúp GV có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình học
- Cải thiện khả năng hợp tác và tương tác giữa thầy cô với HS
- Báo cáo cho phụ huynh HS sự tiến bộ của các em
Trang 23GV và HS đánh giá và ghi lại sự tiến bộ bằng cách sử dụng nhật ký, hồ sơ hoàn toàn
có thể sử dụng các bức ảnh chụp trong quy trình và kết quả cuối cùng
2.1.3.1 Nguyên tắc, nội dung đánh giá HS trong HĐGD Mỹ thuật
Về nguyên tắc, nội dung đánh giá HS trong HĐGD Mỹ thuật phải dựa trên nguyên tắc, nội dung đánh giá HS tại thông tư 22/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Tuy nhiên trong đánh giá HĐGD Mỹ thuật cần lưu ý một số điểm sau đây:
Đối với đánh giá thường xuyên:
- Đánh giá thường xuyên đối với HĐGD Mĩ thuật là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện, của HS, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các hoạt động giáo dục MT, trong đó bao gồm cả quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng ở nhà trường, gia đình và cộng đồng
- Trong đánh giá thường xuyên đối với HĐGD Mĩ thuật, giáo viên ghi những nhận xét đáng chú ý nhất vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục, những kết quả HS
đã đạt được hoặc chưa đạt được; biện pháp thể giúp HS vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ; các biểu hiện cụ thể về sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS; những điều cần đặc biệt lưu ý để giúp cho quá trình theo dõi, giáo dục đối với cá nhân, nhóm HS trong học tập, rèn luyện
- Yêu cầu của đánh giá thường xuyên đối với Hoạt động giáo dục MT:
GV đánh giá: Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của
bài học, của mỗi hoạt động mà HS phải thực hiện trong bài học, GV cần tiến hành một số việc như sau:
+ Quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm
vụ của HS, nhóm HS theo tiến trình dạy học;
+ Nhận xét bằng lời nói trực tiếp với HS hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở của HS
về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được; mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của HS;
+ Quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của HS; áp dụng biện pháp cụ thể
để kịp thời giúp đỡ HS vượt qua khó khăn Do năng lực của HS không đồng đều nên có thể chấp nhận sự khác nhau về thời gian, mức độ hoàn thành nhiệm vụ;
Trang 24+ Hàng tuần, GV lưu ý đến những HS có nhiệm vụ chưa hoàn thành; giúp đỡ kịp thời để HS biết cách hoàn thành;
+ Khi nhận xét, GV cần đặc biệt quan tâm động viên, khích lệ, biểu dương, khen ngợi kịp thời đối với từng thành tích, tiến bộ giúp HS tự tin vươn lên;
HS tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn:
+ HS tự đánh giá ngay trong quá trình hoặc sau khi thực hiện từng nhiệm vụ học tập, hoạt động giáo dục khác, báo cáo kết quả với GV;
+ HS tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập trong các hoạt động giáo dục MT; thảo luận, hướng dẫn, giúp đỡ bạn hoàn thành nhiệm vụ
Cha mẹ HS tham gia đánh giá: Cha mẹ học sinh được khuyến khích phối hợp
với giáo viên và nhà trường động viên, giúp đỡ HS học tập, rèn luyện; GV hướng dẫn cách thức quan sát, động viên các hoạt động của HS hoặc cùng HS tham gia các hoạt động; trao đổi với GV các nhận xét, đánh giá HS bằng các hình thức phù hợp, thuận tiện nhất như lời nói, viết thư
Đánh giá thường xuyên sự hình thành và phát triển năng lực của HS đối với HĐGD
Mỹ thuật thông qua các biểu hiện hoặc hành vi như sau:
Khả năng thực hiện các công việc phục vụ cho học tập
Khả năng giao tiếp, hợp tác
Khả năng tự học và giải quyết vấn đề
2.1.3.2 Tổng hợp đánh giá HS
Trong dạy học MT thực hiện đánh giá định kì theo 4 thời điểm / năm học:
Giữa HK 1 - Cuối HK 1 - Giữa HK 2 - Cuối HK 2
- Kết quả đánh giá theo 3 mức độ: Hoàn thành tốt - Hoàn thành - Chưa hoàn thành
- GV không phải ghi nhận xét hàng tháng cho từng HS vào “Sổ theo dõi chất lượng giáo dục”
- Tại thời điểm giữa và cuối mỗi học kì, GV ghi kết quả đánh giá vào Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục HS của lớp
- GV lượng hoá đánh giá học tập môn MT của HS, bằng các Chỉ báo / Tiêu chí trong “Bảng tham chiếu” khi đánh giá thường xuyên ở mỗi kì đánh giá
Trang 25Như vậy, khâu đánh giá HS là hết sức quan trọng, mỗi GV cần phải tìm hiểu và nắm rõ cách thức để không bị lúng túng và hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục của
Đối với PP này, việc tổ chức hình thức dạy học theo nhóm là quan trọng nhất Bên cạnh đó, để đạt được hiệu quả cao trong quá trình dạy học thì người GV cần phải biết phối hợp giữa hình thức đó với các hình thức khác như ngoài trời, tham quan, trò chơi…
2.2.2 Tích hợp các quy trình dạy - học Mỹ thuật:
Tích hợp các quy trình dạy - học Mỹ thuật là sự phối hợp, đan xen các quy trình dạy trong phân môn Mỹ thuật vào mỗi chủ đề học một cách hợp lí, hiệu quả Thực hiện tích hợp các quy trình dạy - học Mỹ thuật :
- Là xây dựng dựa trên những gì HS đã biết, và những gì liên quan đến sở thích, mối quan tâm của các em Từ đó, HS có thể chủ động hơn trong quá trình học tập
- Nhằm hướng HS trở thành những người chủ động giải quyết vấn đề
- Nhằm tạo điều kiện cho HS sáng tạo, kiến tạo, hình ảnh hoá và giao tiếp
- Nhằm hình thành cho HS những kĩ năng cần thiết như: Tính toán, viết, đọc, nói, trình bày và làm việc cùng nhau…
Trong quá trình dạy, GV giúp HS nhớ lại những kiến thức, kỷ niệm, óc tưởng tượng,… đồng thời tạo cho các em cơ hội chia sẻ những gì các em đã biết khi trình bày về sở thích, mối quan tâm, mơ ước hay ý tưởng cá nhân GV cần chọn những chủ
đề phù hợp với HS để tạo cho các em trí tò mò, từ đó các em sẽ tham gia thực sự vào quá trình học
Trang 262.2.3 Vai trò của giáo viên
GV là người có trách nhiệm tạo ra môi trường an toàn và tự tin cho HS, ở đó các em có thể tự mình tham gia vào quá trình học tập, qua đó mà có được những hiểu biết và kỹ năng mới mà trước đó chưa có
Bên cạnh đó, GV còn là nhà thiết kế, nhà sáng tạo và có kỹ năng tổ chức, sử dụng và phối hợp linh hoạt các hoạt động dạy GV còn là người lựa chọn và bao quát được toàn bộ hoạt động trên lớp dựa trên những kiến thức nền tảng cũng như có khả năng giải quyết những gì phát sinh trong quá trình học GV phải là một “giám đốc dự án”, một “doanh nhân” và chính là một “nhạc trưởng” trong các quá trình học tập của các em
Để có thể lên kế hoạch và tổ chức tốt một tiết dạy học Mỹ thuật, GV cần phải
đi tìm câu trả lời cho hàng loạt có câu hỏi:
- Mục tiêu tổng thể nào cần đạt?
- Bắt đầu quy trình thế nào?
- Tài liệu nào phù hợp?
- Làm thế nào có thể kết nối các hoạt động lại với nhau một cách logic?
- Đánh giá thế nào?
Trong quá trình tổ chức dạy học, các thầy cô là người điều khiển quá trình và tạo điều kiện cho HS phát triển nội dung bài học bằng các câu hỏi mở và khuyến khích các em chia sẻ những kinh nghiệm sẵn có của mình Điều này tạo ra nền tảng cần thiết để giúp các em kiến tạo được quy trình học tập của mình bằng cách liên hệ những điều đã biết với những điều sẽ học HS chuẩn bị những câu trả lời từ các câu hỏi liên quan đến các nội dung bài học bằng ngôn ngữ Mỹ thuật của tác phẩm để tham gia và làm chủ câu chuyện theo nội dung tác phẩm GV có trách nhiệm giáo dục nghệ thuật cũng như giáo dục qua nghệ thuật cho HS GV có thể thực hiện giảng dạy một mình đơn lẻ hoặc hợp tác với các thầy cô khác
Một môi trường học tập hứng khởi sẽ tạo ra một quá trình dạy hiệu quả giúp cho việc học tập của các em thành công GV có thể sử dụng các hình thức khác nhau như: bản đồ tư duy, giải quyết vấn đề, học tập theo chức năng, kể chuyện, hoạt động tích hợp nhiều môn học, đi thực tế hoặc hoạt động dự án…
Trang 272.2.4 Lập kế hoạch quy trình dạy - học Mỹ thuật
Việc lập kế hoạch cho các quy trình dạy – học Mỹ thuật nhằm giúp GV có thể nắm được nội dung quy trình và linh hoạt hơn trong việc tích hợp giữa các quy trình
đó trong mỗi chủ đề bài dạy Các quy trình dạy - học Mỹ thuật theo chủ đề phải phù hợp với kinh nghiệm cá nhân, tâm lý lứa tuổi, và kiến thức của HS
Quy trình giảng dạy hiệu quả và thành công phụ thuộc rất nhiều vào mối quan
hệ giữa HS và các thầy cô Ngoài ra còn có các yếu tố khác như PP giảng dạy, mục đích, thiết bị và những đồ vật xung quanh Nó cũng phụ thuộc vào sự tham gia của
HS, cha mẹ, thầy cô và cả ban giám hiệu
Khi GV lập kế hoạch và tổ chức một quy trình dạy - học Mỹ thuật, GV có thể lập kế hoạch cho từng hoạt động hoặc cho toàn quy trình – có thể ngắn hoặc dài GV
sẽ kết nối các quy trình với nhau tạo ý nghĩa như một dải các mắc xích được móc nối vào thành một sợi dây Trong đó, kết thúc hoạt động này sẽ là mở đầu cho các hoạt động tiếp theo Mục đích lớn nhất là HS học được cách làm thế nào để tự học
Thước đo cho sự thành công của GV là HS có thể phát triển khả năng tự học Trong quy trình dạy - học Mỹ thuật tích hợp GV và HS cùng nhau tạo ra mô hình học tập khi họ:
- Bắt đầu từ những cái đã biết
- Thiết kế và tìm câu trả lời cho những câu hỏi mở
- Tạo ra những cảm xúc mới trong điều kiện học tập thực tế
- Lấy nguồn cảm hứng và kiến thức từ nhiều nguồn
- Điều chỉnh linh hoạt những hình thức thể hiện phù hợp với kiến thức và
- trải nghiệm mới
- Tổng kết và đánh giá những gì HS vừa làm
Chính vì vậy mà việc lập kế hoạch cho các quy trình dạy là việc hết sức quan trọng nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy – học Mỹ thuật
2.3 Các quy trình dạy - học Mỹ thuật theo PP Đan Mạch lớp 1
Theo tài liệu giảng dạy môn Mỹ thuật theo PP Đan Mạch thì ta có thể thấy được quá trình dạy – học được diễn ra theo 7 quy trình:
Quy trình 1: Vẽ ký họa dáng (người/vật) - Quy trình: Vẽ cùng nhau và sáng tạo
các câu chuyện
Trang 28 Quy trình 2: Vẽ theo mẫu (chân dung /vật thể) - Quy trình: Vẽ biểu cảm
Quy trình 3: Vẽ trang trí (Làm bìa sách, bưu thiếp, giấy mời…) - Quy trình
Trang trí và vẽ tranh qua âm nhạc
Quy trình 4: Hình ảnh các nhân vật được xé, cắt dán, tạo hình 3D để tạo một
chủ đề có cốt truyện - Quy trình: Xây dựng cốt truyện
Quy trình 5: Các hình khối được tạo ra từ vật tìm được, dây thép, đất nặn, giấy bồi… và được kết nối với nhau trong một không gian nhất định - Quy trình:
Tạo hình 3D tiếp cận theo chủ đề
Quy trình 6: Các nhân vật được tạo hình từ các vật dụng tìm được và câu
chuyện được phát triển theo chủ đề - Quy trình: Điêu khắc - Nghệ thuật tạo
hình không gian (Nghệ thuật sắp đặt/ hoạt cảnh/ biểu diễn và sắm vai)
Quy trình 7: Tạo hình các con rối và tạo ra một buổi trình diễn ấn tượng - Quy
trình: Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn
2.3.1 Quy trình: Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu chuyện
Trong GDMT, HS được phát triển không ngừng và có sự khác biệt ở mỗi em
về khả năng quan sát, trí tưởng tượng, trí nhớ, cách nhìn nhận về con người, con vật,
đồ vật về hình dáng, đặc điểm, cấu trúc, tỉ lệ HS được kích thích khi làm nững việc phù hợp với khả năng của bản thân cũng như trải nghiệm với người khác như: những thành viên trong gia đình, bạn bè và thậm chí những người mới quen biết, với con vật yêu thích, đồ vật thân quen… HS dễ bị ảnh hưởng thông qua tiếp xúc với sự vật, hiện tượng xung quanh thông qua các kênh thông tin như: ti vi, tạp chí, sách vở, truyện tranh, quảng cáo, internet và các tác phẩm điêu khắc công cộng…
Dần dần HS nhận biết được những cách thức thể hiện hình ảnh con người khác nhau về hình dáng, cấu trúc, tỉ lệ như: phác họa con người, biểu cảm của nhân vật, biểu tượng người khái quát HS có thể hiểu được:
Con người theo cách nhìn hiện thực, được tạo nên bởi các hình dáng tự nhiên sẵn
Trang 29Cuối cùng, HS sẽ hiểu rằng những miêu tả về con người khác nhau cũng có những chức năng khác nhau Ví dụ như để tuyên truyền từ các bức tranh, xây dựng phim tài liệu hoặc biểu cảm thẩm mĩ
2.3.1.1 Mục tiêu
Thông qua quy trình GDMT này HS sẽ phát triển được khả năng:
Biến những quan sát về con người, đồ vật thành tranh vẽ;
Nhận biết và phân biệt được đặc điểm và đặc tính của các loại vật liệu vẽ khác nhau như: bút chì, bút dạ, sáp màu ;
Hợp tác và hoạt động theo nhóm, cặp;
Vẽ và trải nghiệm hiệu ứng màu sắc;
Tạo ra những câu chuyện ấn tượng phù hợp với chủ đề bài học;
Hiểu và biểu đạt được ý nghĩa của câu chuyện của chính các em và của các bạn khác
2.3.1.2 Các hoạt động chính
Hoạt động 1: Vẽ theo quan sát
MỤC TIÊU: GV giúp HS biết:
• Quan sát và sử dụng tất cả các giác quan;
• Cảm nhận và quan sát hoạt động cơ thể (đối với con người) hoặc hình dáng các đồ vật;
• Quan sát tỉ lệ và kích thước các bộ phận trên cơ thể hoặc đồ vật
KẾT QUẢ: Cuối hoạt động này HS có khả năng:
• Tạo dáng mô phỏng các hoạt động để các bạn ký họa (đối với vẽ người);
• Vẽ phác họa được bộ phận cơ thể; hình dáng của đồ vật một cách nhanh và ấn tượng;
• Quan sát tỉ lệ của các bộ phận trên cơ thể hoặc đồ vật
TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN
Bước 1: Quan sát mẫu
Đối với các bài vẽ người thì việc tạo dáng một cách phong phú sẽ gây hứng thú học tập, mở rộng giúp cho HS nâng cao hiểu biết về những tình huống sự kiện từ đời sống hàng ngày của các em HS tự tạo lại các dáng hoạt động từ những tình huống trong hoạt động chơi, làm việc hoặc học tập… GV cố gắng tạo ra những tình huống
Trang 30hài hước Một hoặc hai HS tình nguyện làm mẫu ở giữa và các em khác ngồi xung quanh quan sát và vẽ Mỗi dáng mẫu không nên kéo dài quá 3-5 phút GV có thể sắp xếp hoạt động này trong hoặc ngoài lớp học (sân chơi, phòng họp) Mỗi mẫu có thể từ 1-2 hoặc 3 nhân vật
Đối với các mẫu vật, mẫu tranh ảnh thì GV cần phải lựa chọn nhiều mẫu vật phong phú, màu sắc bắt mắt mang tính thẫm mĩ cao và phải phù hợp với chủ đề bài học
Bước 2: Nhận xét mẫu
GV giúp cho HS quan sát và nhận xét mẫu bằng hệ thống các câu hỏi, đối với lớp 1 thì mức độ câu hỏi phải dễ hiểu
Ví dụ: Chủ đề 4: Những con cá đáng yêu
GV đưa ra hệ thống câu hỏi như sau:
- Con cá có hình dáng như thế nào?
- Con cá có những bộ phận nào?
- Màu sắc con cá như thế nào?
- Có những đường nét nào trên hình con cá?
Bước 3: Hướng dẫn thực hiện
Tùy vào mỗi chủ đề, mỗi bài học mà ta có các quy trình thực hiện khác nhau
Vì vậy, tùy vào từng bài học, GV cần phải dựa vào những gì mà các em vừa tìm hiểu được để hình thành nên các bước thực hiện
Ví dụ: Chủ đề 4: Những con cá đáng yêu Sau khi đã quan sát và nhận xét mẫu
thì GV hình thành nên các bước sau:
B1: Vẽ hình dáng chung của con cá
B2:Vẽ các bộ phận của con cá, trang trí…
B3: Vẽ màu con cá theo ý thích
Bước 4: Thực hành
- GV yêu cầu HS thực hành theo nhóm hoặc cá nhân
- GV cần đưa ra các lưu ý cho HS như cân đối tờ giấy, khích thước hình vẽ vừa phải,…
Trang 31 Bước 5: Tô màu làm phong phú thêm cho bức tranh
HS dùng sáp và vẽ hoặc có thể cắt dán giấy màu, thêm biểu cảm (vẽ người) cho bức tranh thêm sinh động… thêm các chi tiết theo cách nhìn nhận hoặc theo ý thích của từng em
Hoạt động 2: Trưng bày ngân hàng hình ảnh và tổ chức đánh giá
MỤC TIÊU: GV giúp HS:
• Sắp xếp các bức vẽ theo chỉ dẫn;
• So sánh, nhận biết và diễn tả được mối quan tâm về tỉ lệ và kích thước trên hình vẽ
KẾT QUẢ: Cuối hoạt động này HS có khả năng:
• Làm theo hướng dẫn trưng bày các bức vẽ của mình chung với các bạn khác;
• Diễn tả được tỉ lệ và kích thước
• khuyến khích các em làm việc theo cặp;
• Đưa ra và nhận phản hồi giữa các bạn với nhau
CÁCH THỨC THỰC HIỆN
Sau khi hoàn thành tác phẩm, GV hướng dẫn các em trưng bày tranh của mình trên tường theo thứ tự sao cho các bức tranh có thể tạo thành một ngân hàng các bức
vẽ về dáng người, hình dáng đồ vật từ các vị trí khác nhau, góc nhìn khác nhau
GV tổ chức đánh giá và thảo luận về PP vẽ ký họa này và những yếu tố cơ bản của hoạt động vẽ người hoặc vật chẳng hạn như: tỷ lệ, các biểu cảm hình dáng (đối với vẽ người), động tác trên cơ thể và ngôn ngữ cơ thể (đối với vẽ người) Đặt câu hỏi
để HS suy nghĩ và chia sẻ ý kiến
GV tổ chức đánh giá và cho HS tự đánh giá tác phẩm của mình
GV tổ chức vận dụng sáng tạo (nếu có) sau khi đánh giá Vận dụng sáng tạo phụ thuộc vào kĩ năng và sự linh hoạt của GV, ví dụ như có thể yêu cầu các em sáng tạo thêm cho bức tranh theo ý thích, sử dụng sản phẩm để trang trí lớp học…bên cạnh
đó cần phải tích hợp giáo dục kĩ năng sống, phẩm chất cho HS
Sau giai đoạn này, GV vẫn để tranh của các em ở trên tường để sử dụng cho giai đoạn tiếp theo là sáng tạo các câu chuyện
Trang 32Hình: HS trưng bày kho tàng hình ảnh lên bảng lớp
Hoạt động 3: Sáng tác tranh theo chủ đề
MỤC TIÊU: GV giúp HS:
• Hợp tác theo nhóm, cặp;
• Tạo một câu chuyện từ các phác thảo trong ngân hàng hình ảnh;
• Tạo được một nhóm các bức tranh từ ngân hàng hình ảnh
KẾT QUẢ: Cuối hoạt động này HS có khả năng:
• Hợp tác để tìm ra ý kiến chung;
• Phát triển ý tưởng sắp xếp hình ảnh theo chủ đề;
• Tạo được một bố cục tranh có nội dung chủ đề
CÁCH THỨC THỰC HIỆN:
Trước tiên, GV sẽ giới thiệu chủ đề, ví dụ như: Em và bạn em, khuyến khích các em tư duy về chủ đề và tạo một bản đồ tư duy về các hoạt động học tập, vui chơi của HS ở trường Cả những ý kiến tích cực và tiêu cực đều được sử dụng “Ý kiến của em là gì? Em định trình bày gì về bức tranh của em?”
HS sẽ làm việc theo cặp hoặc nhóm 3 hay 4 (tùy vào điều kiện lớp học và chuẩn bị giấy to hay nhỏ) Mỗi nhóm sáng tác 1 câu chuyện dựa vào “ngân hàng hình ảnh”, Nghiên cứu các hình vẽ trong ngân hàng hình ảnh sẵn có, HS suy nghĩ, cùng thảo luận về câu chuyện của nhóm, có thể là chuyện buồn, vui hoặc
“nghịch ngợm, hài hước” Các em có thể thêm các hình ảnh khác phù hợp với câu chuyện của nhóm mình
Trang 33Các em có thể “mượn” hình vẽ phù hợp từ “ngân hàng hình ảnh” để sao chép lại dáng và phải đem trả lại chỗ cũ để các nhóm khác dùng nếu cần Học sinh sẽ tạo ra những câu chuyện có nội dung khác nhau thông qua việc di chuyển vị trí của các hình ký họa đã xé theo các dáng rồi vẽ lại những hình ảnh này lên khổ giấy a3 hoặc a4 (tùy thuộc vào số thành viên của nhóm)
HS cũng có thể đính tờ giấy to lên cửa kính có ánh sáng và lồng các ký họa sau
tờ giấy; di chuyển các ký họa để tìm bố cục của bức tranh, thậm chí là xoay mặt các
ký họa để chọn dáng phù hợp Dùng bút chì vẽ lại các hình lên tờ giấy to Các nhóm
tự quyết định số lượng nhân vật cho phù hợp bố cục của bức tranh và thêm những hình ảnh về không gian, địa điểm để làm sáng tỏ cho nội dung câu chuyện của nhóm mình
Ảnh HS cùng nhau thảo luận và sáng tác bức tranh của nhóm
Trang 34 Hoạt động 4: Chia sẻ nội dung câu chuyện
MỤC TIÊU: GV sẽ khuyến khích HS:
• khám phá nội dung câu chuyện;
• Nghe và tham gia vào các tác phẩm của các bạn khác;
• Phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội
KẾT QUẢ: Cuối hoạt động này HS có khả năng:
• Giải thích và biểu đạt được ý kiến theo chủ điểm đã chọn;
• Trình bày câu chuyện bằng lời nói và hình ảnh;
• Nghe các câu chuyện của các bạn khác
Trang 35 Hoạt động 5: Tô màu làm phong phú câu chuyện
+ Cách phối hợp màu để tạo không gian;
• Nhận biết được hiệu ứng màu theo chủ đề, ngữ cảnh;
• Phát triển kỹ năng xã hội khi làm việc theo nhóm, theo cặp
KẾT QUẢ: Cuối hoạt động này HS có khả năng:
• Biểu đạt và phát triển mạch câu chuyện bằng cách thêm màu vào cho các bức tranh;
• Hiểu được sự đa dạng màu sắc, sự phù hợp của màu sắc với chủ đề của tranh;
• khuyến khích các em làm việc theo cặp;
• Đưa ra và nhận phản hồi giữa các bạn với nhau
CÁCH THỨC THỰC HIỆN:
HS dùng sáp và vẽ hoặc có thể cắt dán giấy màu tạo câu chuyện hấp dẫn và sống động HS thêm biểu cảm cho bức tranh và tăng sự hiểu biết của mình về màu sắc GV
và HS đối thoại và thảo luận về hình ảnh khi sử dụng mẫu
Hoạt động 6: Tổ chức trưng bày và thuyết trình về bức tranh
GV và HS đánh giá kết quả làm việc khi các nhóm HS thuyết trình về tác phẩm của mình Để diễn giải, phân tích và khuyến khích các em đưa ra phản hồi và hội thoại với nhau về tác phẩm, GV có thể sử dụng PP phỏng vấn, tìm kiếm hình ảnh tưởng tượng qua khung hình trên bức tranh màu sắc trừu tượng, đóng kịch, di chuyển
vị trí nhân vật trong tranh, nhân cách hoá hình ảnh, hoặc vẽ lại một tác phẩm nghệ thuật
Mỗi nhóm HS trình bày câu chuyện của mình giống như một vở kịch ngắn Từ một
vị trí, hình dáng cố định trong tranh, các em sẽ tự tìm ra cách biểu cảm, hành động khác và thay đổi vị trí nhân vật tạo cách sắp đặt bố cục khác để thể hiện xem điều gì
sẽ xảy ra tiếp theo? GV và HS sẽ cùng nhìn lại mục tiêu chung của quy trình dạy - học
Trang 36Mỹ thuật này và tự đặt câu hỏi: “Chúng ta có thể phát triển tiếp chủ đề câu chuyện này bằng các hình thức khác hay không?” thừ đó kích thích trí tư duy sáng tạo ở HS Sau khi trình bày là thuyết trình về các bức tranh thì GV sẽ tổ chức đánh giá và cho HS tự đánh giá các tác phẩm của nhóm, bình chọn tác phẩm tốt nhất để khích lệ
HS trưng bày tác phẩm và diễn thuyết
2.3.2 Quy trình: Vẽ biểu cảm
Chân dung của người khác hoặc tự hoạ khuôn mặt của mình đôi khi cũng rất thú vị Có nhiều cách để vẽ chân dung, trong đó có 2 cách sau GV có thể giới thiệu với HS:
Hình thức vẽ quan sát
Đây là PP thông dụng và hiệu quả mà HS từ lớp 1- 5 có thể áp dụng trong việc liên hệ với nội dung và ngữ cảnh GV khuyến khích HS bằng cách quan sát nhiều chi tiết rồi cố gắng vẽ lại càng gần đặc điểm mẫu càng tốt, thông qua đó thể hiện được những ngôn ngữ Mỹ thuật khác nhau HS có thể vẽ chân dung của các bạn khác hoặc
tự vẽ chân dung mình bằng cách sử dụng gương soi để tự hoạ
GV sưu tầm tranh ảnh của các họa sỹ nổi tiếng Việt Nam để gây hứng thú cho
HS HS sẽ chọn một trong số các tác phẩm trong bộ sưu tập của thầy/cô Phải đảm bảo rằng tất cả các bức tranh đều dễ hiểu và có bố cục rõ ràng HS sẽ vẽ lại bức tranh dựa trên cảm nhận của chính mình HS kết hợp quan sát và tưởng tượng
Trang 37Giáo dục mĩ thuật không nhằm mục đích đào tạo HS trở thành những người sao chép tác phẩm của người khác, mà là để HS thể hiện cảm xúc của mình thông qua những trải nghiệm khác nhau
Hình thức vẽ biểu cảm
Ở đây HS quan sát thật tập trung, khi vẽ chủ yếu sử dụng sự kết hợp mắt và tay Các em cố gắng không nhìn vào giấy khi vẽ Những bức vẽ sẽ rất ấn tượng và đôi khi rất hài hước, thậm chí có bức chân dung còn chỉ nhận ra những bộ phận cơ thể như mắt, tóc, và kính Cách thông thường HS dùng là vẽ khuôn mặt vì khi vẽ, khả năng quan sát của các em được nâng cao
GV chia sẻ ngay từ đầu với HS rằng, mục đích không phải vẽ cho giống với mẫu như cách trên, mà chúng ta quan sát, ghi nhớ mẫu và truyền cảm xúc qua tay, thể hiện lên giấy, tạo bức vẽ ấn tượng và hài hước
Ở lớp 1, quy trình này áp dụng vào chủ đề 5: Em và bạn em…
Chân dung vẽ biểu cảm của HS
2.3.2.1 Mục tiêu
Qua hoạt động Mỹ thuật này HS sẽ phát triển khả năng:
• Làm việc tập trung;
• Phát triển một cách thức khác của vẽ quan sát;
• Nhận biết được cách sử dụng màu tự nhiên và ấn tượng;
• So sánh các tác phẩm tự nhiên và ấn tượng
Trang 382.3.2.2 Các hoạt động chính:
Hoạt động 1: Quan sát và tự vẽ bản thân hoặc bạn em
MỤC TIÊU: GV giúp HS:
• Biết cách quan sát, ghi nhớ các nét đặc trưng;
• Phát triển khả năng kết hợp mắt và tay;
• Làm việc tập trung và yên lặng
KẾT QUẢ: Cuối hoạt động này HS có khả năng:
• Tập trung vào quan sát đường nét khuôn mặt;
• Vẽ được hinh dựa trên sự kết hợp tay và mắt;
• Làm việc theo cặp hiệu quả
HS có thể vẽ trên giấy hoặc là xé dán
Điều quan trọng là GV phải duy trì được không khí tập trung trong suốt hoạt động này và hỗ trợ các em khi gặp khó khăn
Hoạt động 2: Thể hiện tranh bằng màu sắc
MỤC TIÊU: GV sẽ khuyến khích HS:
• Vẽ màu sắc cho bức tranh để tăng sự sinh động;
KẾT QUẢ: Cuối hoạt động này HS có khả năng:
• Lựa chọn được đường nét mong muốn và xoá bỏ những nét không cần thiết;
• Chọn màu, phối hợp màu để tăng tính sinh động;
CÁCH THỨC THỰC HIỆN:
GV khuyến khích HS lựa chọn màu sắc phù hợp để vẽ nhằm tăng tính biểu cảm GV nên đi và quan sát cả lớp, đặt câu hỏi để giúp các em lựa chọn được màu sắc phù hợp
Sau hoạt động này, GV cần hướng dẫn HS dùng khung tự tạo để xác định bố
cục bức tranh trong Vẽ chân dung, và cả những bức tranh khác được sáng tạo trong
Trang 39suốt quá trình học Mỹ thuật, tạo cho các em cách nhìn thẩm mĩ và PP trình bày tác phẩm khi trưng bày
GV nên lồng ghép để tăng sự yêu thich nghệ thuật trong quy trình này bằng cách giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật của các hoạ sĩ trong nước và nước ngoài giúp
HS tự tin hơn, có ấn tượng và hiểu rõ những phong cách biểu cảm khác nhau khi vẽ chân dung
Hoạt động 3: Trưng bày kết quả và tổ chức đánh giá
MỤC TIÊU: GV giúp HS:
• Giới thiệu về tác phẩm của mình
• Biết nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn
• Hiểu tầm quan trọng của việc chia sẻ tác phẩm với người khác ví dụ như thông qua buổi triển lãm
CÁCH THỨC THỰC HIỆN:
GV nên kết thúc bài học bằng việc tổ chức cho HS trưng bày các tác phẩm của
cả lớp hoặc có thể phối hợp với các lớp khác nếu với quy mô lớn hơn; điều này sẽ giúp HS có thêm kinh nghiệm thực tế và hứng thú về trưng bày triển lãm, yêu thích tác phẩm của mình và học hỏi từ sản phẩm của các bạn
HS thưởng thức, thảo luận và nhận xét, tự đánh giá hoặc đánh giá kết quả học tập lẫn nhau
Vận dụng sáng tạo: GV có thể yêu cầu HS vẽ hoặc xé dán thể hiện mình đang
làm một việc mình yêu thích
2.3.3 Quy trình: Vẽ theo âm nhạc
Âm nhạc luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam
Âm nhạc và giai điệu luôn gây hứng khởi cho HS, có thể làm cho các em năng động hơn, (có khi nhảy múa theo giai điệu, tiết tấu) Trong quy trình dạy - học Mỹ thuật này, âm nhạc và Mỹ thuật được kết hợp với nhau để tạo cho HS sự thích thú, trí tưởng tượng, sáng tạo trong việc trang trí
Ở lớp 1, quy trình này được áp dụng trong các chủ đề: Chủ đề 1: cuộc dạo chơi
của đường nét; Chủ đề 2: Sắc màu em yêu; Chủ đề 9: Thiên nhiên tươi đẹp…