1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chinh sach dối ngoại của nhật bản dối với mỹ sau chiến tranh th

32 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 150,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, Hiệp ước an ninh Mỹ- Nhật là Mỹ nhằm biến Nhật thành một bàn đạpcho các lực lượng của Mỹ ở Viễn Đông, lôi kéo Nhật vào liên minh chống liên Xô và cácnước xã hội chủ nghĩa, g

Trang 1

Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với

Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới II đến nay

I BỐI CẢNH LỊCH SỬ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II:

Sau thế chiến II, Nhật Bản là nước bại trận còn phe Đồng minh gồm Mỹ, Anh, Pháp

và Liên Xô là các nước thắng trận Ngày 14/8/1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng quânđội Đồng minh vô điều kiện, Nhật Bản chịu sự chiếm đóng của lực lượng quân Đồngminh với Tướng Douglas Mac Arthur được chỉ định giữ chức Tổng chỉ huy tối cao cáclực lượng Đồng minh Mục tiêu chủ yếu của lực lượng Đồng minh chiếm đóng ở NhậtBản là thủ tiêu chủ nghĩa quân phiệt và thiết lập dân chủ hóa nước Nhật Song lực lượngĐồng minh chiếm đóng ở Nhật Bản lúc này chủ yếu là người Mỹ nên các chính sách thựcthi của họ không nằm ngoài mục tiêu đảm bảo Nhật Bản không thể trở thành mối đe doạđối với Mỹ

Tuy nhiên, sự chiếm đóng của Mỹ ở Nhật diễn ra đồng thời với việc Mỹ giúp đỡNhật Bản phục hồi kinh tế và phát triển văn hoá Cùng với kế hoạch Marshall ở châu Âu,

Mỹ viện trợ kinh tế và khoa học kĩ thuật cho Nhật Phong cách Mỹ và lối sống Mỹ cũngbắt đầu xâm nhập vào xã hội Nhật Bản

Năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thành công với sự ra đời của nước Cộnghòa nhân dân Trung Hoa, Mỹ đã thực hiện "đường lối đảo ngược", đẩy mạnh quan hệ vớiNhật Bản nhằm ngăn chặn làn sóng cộng sản ở châu Á

Nhật Bản bại trận trong CTTG II đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ Nhật Kết thúc chiến tranh cũng có ý nghĩa là mở đầu thời kỳ chiếm đóng của Mỹ ở NhậtBản Điều này phản ánh đúng thực trạng của hai nước sau chiến tranh, một bên thắng trận

Mỹ-và một bên bại trận Kẻ bại trận bị nhiều điều khoản ràng buộc mang tính quốc tế Mỹ-và bịkiệt quệ về kinh tế Quan hệ Mỹ-Nhật vốn là cựu thù trong chiến tranh nay đã trở thànhđồng minh chiến lược

II CƠ SỞ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI MỸ

Giữa Mỹ và Nhật Bản, quan hệ đặc biệt đã được xác lập suốt trong giai đoạnchiến tranh lạnh, đó là mối quan hệ giữa người bảo trợ và người được bảo trợ Sau thất

Trang 2

bại trong chiến tranh thế giới II, Nhật Bản đã chọn con đường phát triển kinh tế bằng toàn

bộ sức lực của mình, phó thác việc phòng vệ Nhật Bản vào tay Mỹ, nước thắng Nhậttrong chiến tranh Mối quan hệ bất bình đẳng này đã tồn tại trong một thời gian dài vì nóphục vụ cho lợi ích của cả Mỹ và Nhật Bản

1 Lý thuyết về cơ sở hợp tác an ninh

Trong quá trình để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quốc gia, các quốcgia có cùng chung mục đích hoặc có chung kẻ thù đã liên kết với nhau để kết hợp khảnăng quân sự, chính trị tạo nên sức mạnh chung nhằm đạt được mục đích đề ra Do cácquốc gia có sự khác nhau về đặc điểm dân cư, địa lý, giới cầm quyền, văn hóa … nênluôn tồn tại các mâu thuẫn Vì vậy từ thời thượng cổ đến nay việc quốc gia này liên minhhợp tác với các quốc gia khác để bảo vệ an ninh quốc gia là việc thường thấy Có nhữngliên minh tạm thời, lỏng lẻo nhưng cũng có những liên minh tồn tại lâu dài, chặt chẽ

An ninh quốc gia được đảm bảo khi không có các mối đe dọa đến các lợi ích của

nó hoặc nếu có thì quốc gia này có khả năng ngăn chặn và đẩy lùi các đe dọa đó Cácquốc gia thường lựa chọn tham gia vào một liên minh là giải pháp đem lại cho quốc gianhiều mặt lợi

Thứ nhất, một liên minh sẽ giúp quốc gia bổ sung được sức mạnh Do các quốc gialuôn bị giới hạn về nguồn lực nên quốc gia sẽ gặp phải những hạn chế nhất định khi phải

tự đối phó với các nguy cơ an ninh Với sự kết hợp thành liên minh khả năng kết hợp sứcmạnh lại với nhau để tang cường sức mạnh của cả hai Ngoài ra hợp tác an ninh

là một phương cách hợp lí và có hiệu quả để góp phần thực hiện được mục tiêu an ninhcủa một quốc gia thông qua việc tăng cường khả năng chống chọi với các mối đe dọa,giảm được chi phí, tiết kiệm được nguồn lực, răn đe các đối thủ và tạo dựng quan hệ tốthơn với đồng minh

Thêm vào đó, các nhà hiện thực chủ nghĩa cho rằng mục đích cơ bản của các chủthể trong chính trị quốc tế là bảo vệ lợi ích dân tộc, mà trước hết là đảm bảo an ninh tối

đa của riêng mình Trong một thế giới vô chính phủ, để đảm bảo an ninh của mình chốnglại một nước hoặc một nhóm nước đang tăng cường quyền lực quá mức và do đó đe doạ

sẽ thống trị cả thế giới hay một phần thế giới, các quốc gia thường thi hành chính sáchcân bằng lực lượng bằng cách tạo ra một đối trọng sức mạnh tương đương nhờ vào việctăng cường sức mạnh của chính mình hoặc thiết lập liên minh phòng thủ với một số nước

Trang 3

khác Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, khi mà hai nước đối đầu là Liên Xô và Mỹ đềuđang tìm cách để nâng cao sức mạnh, mở rộng tầm ảnh hưởng của mình, đồng thời kìmchế sức mạnh của đối phương thì việc tìm thêm cho mình một đồng minh là rất quantrọng Để đối phó với Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản đang ngày càng lớn mạnh, Mỹ vàNhật Bản đã chọn lựa cách liên minh với nhau Đối với Mỹ thì Nhật Bản là một đồngminh quan trọng ở khu vực châu Á Thaí Bình Dương, là căn cứ tiền tiêu của Mỹ chốnglại Liên Xô và các nước cộng sản Còn với Nhật Bản thì sự có mặt của Mỹ ở đây sẽ đảmbảo an ninh cho nước này khi mà Liên Xô và Trung Quốc bên cạnh đang ngày càng tăngcường khả năng quân sự, đặc biệt là vũ khí hạt nhân của hai nước này lúc nào cũng có thểlăm le đe dọa đến Nhật Bản Giữa Mỹ và Nhật Bản, quan hệ đặc biệt đã được xác lậptrong suốt giai đoạn chiến tranh lạnh, đó là quan hệ giữa người bảo trợ và người được bảotrợ Mới nhìn qua thì có thể thấy được tính bất cân đối, bất bình đẳng trong mối quan hệnày, tuy vậy hai nước vẫn là đồng minh với nhau ngay cả khi chiến tranh lạnh kết thúc, có

lẽ phần lớn là do nó còn phục vụ cho những lợi ích riêng khác của cả hai nước

Ở Tây Âu, Mỹ đã xây dựng khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Trong khi

đó ở châu Á Thái Bình Dương, Mỹ đã xây dựng hàng trăm căn cứ quân sự thành cácphòng tuyến nhiều tầng nấc, trong đó Mỹ coi việc xây dựng Hiệp ước phòng thủ với NhậtBản lâu dài là hết sức cần thiết, thậm chí coi Nhật Bản như một NATO phương Đông

Trang 4

Lợi ích chiến lược của Mỹ ở châu Á được xác định vào khoảng thời gian

1949-1950 Tháng 1/1950, Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson đã tuyên bố: “Phạm vi phòng thủcủa Mỹ trải từ A-lơ-san đến Nhật Bản và tiếp tục đến tận quần đảo Ryu-kyu và Phillipin” Chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh thế giới II phản ánhchiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm thực hiện cuộc chiến tranh lạnh mà nội dung chính của

nó là cô lập và tiến tới xoá bỏ hệ thống XHCN theo mô hình Xô viết Việc chiếm đóngNhật Bản sau chiến tranh và giúp Nhật khôi phục và phát triển kinh tế nằm trong nhữngtính toán chiến lược của nước này Một mặt Mỹ muốn chứng tỏ với công luận của NhậtBản và thế gới rằng cuộc chiến tranh đã qua, sự giúp đỡ đối với Nhật Bản là cần thiết vàqua đó nhằm xoá đi hình ảnh chẳng đẹp đẽ gì của đội quân chiếm đóng Mặt khác, dùngNhật như một căn cứ tiền tiêu để răn đe hai siêu cường cộng sản là Liên Xô và TrungQuốc

Bên cạnh đó, Hiệp ước an ninh Mỹ- Nhật là Mỹ nhằm biến Nhật thành một bàn đạpcho các lực lượng của Mỹ ở Viễn Đông, lôi kéo Nhật vào liên minh chống liên Xô và cácnước xã hội chủ nghĩa, gây chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên (1950- 1953), chống nhândân hai nước Trung – Triều, đàn áp phong trào dân chủ đang phát triển mạnh mẽ ở NhậtBản

Hơn nữa, việc liên minh với Nhật Bản, đặc biệt là sau sự ra đời của Hiệp ước phòngthủ giữa hai nước còn tạo cơ sở pháp lý cho việc có mặt dài hạn của các căn cứ quân sự

Mỹ ở Nhật, đồng thời Mỹ cũng muốn kiểm soát trực tiếp và kiềm chế khả năng quân sựcủa Nhật Bản Một liên minh quân sự với Nhất cũng là một sự đảm bảo chắc chắn cho sự

có mặt của Mỹ trong khu vực và sự an tâm của Nhật trước các thách thức lớn như Liên

Xô, Trung Quốc hay Triều Tiên

3 Phía Nhật Bản:

Chính sách của Nhật Bản được bắt đầu với “Học thuyết Yoshida” và được củng cố,phát triển vào những năm 1960 dưới thời các Chính phủ Ikeda và Satò, bao gồm 3 điểmcốt lõi:

- Trong chiến tranh lạnh, Nhật Bản coi mình là một thành viên của phương Tây, xác

định phương châm chủ yếu “thoát Á, nhập Âu”

Trang 5

- Dựa vào Mỹ để đảm bảo an ninh quốc phòng, hạn chế đến mức nhỏ nhất việc xâydựng lực lượng phòng vệ của riêng mình Nhật hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, tranh thủ

sự giúp đỡ của Mỹ về an ninh, quốc phòng để tạp trung phát triển kinh tế

- Coi trọng khôi phục và phát triển kinh tế

Đặc trưng của chính sách ngoại giao kinh tế này là đuổi kịp và vượt các nước pháttriển khác Tôn chỉ của Nhật trong thời kỳ này là “ chỗ ngồi thấp, lợi nhuận cao” Do đó,thêm một hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật dường đóng vai trò tích cực cho chiến lược pháttriển của Nhật hơn là những tiêu cực nó đưa lại

Chiến tranh thế giới thứ hai để lại cho Nhật Bản những hậu quả nặng nề (gần 3

triệu người chết và mất tích, kinh tế bị tàn phá, 13 triệu người thất nghiệp, đói rét… ), bị

Mỹ chiếm đóng dưới danh nghĩa Đồng minh (1945 – 1952) Trong tình hình hết sức khókhăn như vậy và thêm sức ép của các nước thắng trận Nhật đã cam kết đi theo chính sáchhòa bình và chỉ duy trì một lực lượng quân sự hòa toàn có tính chất phòng thủ Điều 9Hiến pháp năm 1947 của Nhật quy định Nhật không được quyền sở hữu các lực lượng bộbinh, hải quân và không quân cấm xuất khẩu vũ khí cũng như không cho phép Nhật giảiquyết tranh chấp bằng vũ lực Với hạn chế như thế và trước một nước Nga hùng mạnhvới vô số các đầu đạn hat nhân tên lửa và Trung Quốc đang muốn khẳng định mình thìNhật không có cách nào tốt hơn là hợp tác an ninh với Mỹ, dựa vào Mỹ và ô hạt nhân của

Mỹ để duy trì hạt nhân trong thời kỳ chiến tranh lạnh1

Bên cạnh đó, việc ký hiệp ước với Mỹ sẽ giúp Nhật tiết kiệm được một khoản chiphí quốc phòng lớn và cho phép Nhật chỉ tập trung vào một mối quan tâm chủ yếu là pháttriển kinh tế Ngoài ra cũng phải ghi nhận rằng sự phục hồi sau chiến tranh chưa tạo chonước Nhật một vị trí đủ mạnh để mặc cả với Mỹ khi ký kết hiệp ước giữa hai nước

III CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI MỸ THỜI KỲ

CHIẾN TRANH LẠNH(1945-1991)

theo đó trao quyền kiểm soát Okinawa cho Mỹ Nhật Bản và Mỹ ký

1

Trang 6

Hiệp ước An ninh, trong đó tiếp tục cho phép sự hiện diện của lựclượng Mỹ tại nước này - Tháng 7-1953: Cuộc chiến tranh Triều Tiênkết thúc - 6-1-1960: Ngoại trưởng Nhật Bản Aiichiro Fujiyama, Đại

sứ Mỹ tại Nhật Bản Douglas Mac Arthur II bí mật soạn thảo "hồ sơthảo luận" về các hoạt động quân sự, theo đó Mỹ phải hỏi ý kiếnNhật Bản trước Hai bên cũng thảo ra "Biên bản" bí mật về việc Mỹ

sử dụng các căn cứ quân sự tại Nhật Bản trong trường hợp xảy rabiến sự trên bán đảo Triều Tiên - 19-1-1960: Mỹ và Nhật ký Hiệpước An ninh sửa đổi - 3-1963: Thủ tướng Nhật Bản Hayato Ikedatuyên bố trước Quốc hội về việc không cho phép các tàu chiến mangđầu đạn hạt nhân cập cảng Nhật Bản - 4-1963: Đại sứ Mỹ tại NhậtBản Edwin Reischauer tuyên bố với Ngoại trưởng Nhật BảnMasayoshi Ohira rằng Mỹ không xem xét việc các tàu chiến cậpcảng theo cơ chế Mỹ phải hỏi ý kiến Nhật Bản trước - 12-1967: Thủtướng Nhật Eisaku Sato công bố "3 nguyên tắc phi hạt nhân" trướcQuốc hội - 11-1969: Nhật Bản và Mỹ nhất trí về việc khôi phục chủquyền của Nhật Bản tại Okinawa và phi hạt nhân khu vực này - 6-1971: Hiệp định khôi phục chủ quyền cho Okinawa được ký kết - 4-1972: Phóng viên Takichi Nishiyama của tờ Mainichi Shimbun bị bắtgiữ khi yêu cầu Bộ Ngoại giao Nhật cung cấp văn bản chính thức vềchủ quyền của Okinawa - 5-1972: Okinawa được trao lại cho NhậtBản - 5-1978: Nishiyama chính thức bị kết án - 12-1989: Chiếntranh Lạnh kết thúc - 9-1991: Tổng thống Mỹ George H.W.Bushtuyên bố rút vũ khí hạt nhân chiến thuật khỏi các tàu chiến và tàungầm của Mỹ - 5-1994: Giáo sư Kei Wakaizumi xuất bản cuốn sáchphơi bày thỏa thuận bí mật cho phép Mỹ đưa vũ khí hạt nhân đếnOkinawa trong thời kì Chiến tranh Lạnh - 4-1996: Nhật Bản và Mỹxác định lại quan hệ đồng minh thời hậu Chiến tranh Lạnh

1. THIẾT LẬP CHÍNH SÁCH LIÊN MINH CHẶT CHẼ VỚI MỸ

Trang 7

Nền tảng chính sách đối ngoại của Nhật Bản là liên minh chặt chẽ với Mĩ bằng việc

kí hai hiệp ước: Hiệp ước hòa bình Xan Phranxixcô và Hiệp ước an ninh Mĩ -Nhật (tháng 9 – 1951).

-Khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Nhật Bản đã trở thành hậu cần cho quân đội Mỹ

Và, 8 tháng 9 năm 1951, Hiệp ước San Francisco hay Hiệp ước hòa bình San

Francisco giữa các lực lượng Đồng Minh và Nhật Bản được chính thức ký kết bởi

49 quốc gia, có hiệu lực từ ngày 28 tháng 4 năm 1952 " Quan hệ Mỹ-Nhật lần đầu tiên đã được ký kết và xác nhận Hiệp ước bắt Nhật Bản phải bồi thường cho các nước Đồng Minh từng phải chịu thiệt hại chiến tranh do Nhật gây ra cũng như tận dụng tối đa Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền để nêu rõ mục đích của các lực lượng đồng minh, theo đó trao quyền kiểm soátOkinawa cho Mỹ

2 ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH HỢP TÁC AN NINH MỸ - NHẬT:

Khi Hiệp ước San Francisco có hiệu lực, Nhật Bản đã trở thành một nước có chủ quyền chính thức Tuy nhiên, do Hiệp ước Liên minh Mỹ-Nhật Bản lần thứ nhất, các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ đã rời Nhật Bản nhưng Nhật Bản vẫn chịu sự ảnh hưởng của quân đội Hoa Kỳ.

Ngày 19 tháng 1 năm 1960 , Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower và Thủ tướng Nobusuke Kishi đã thỏa thuận các khoản trong Hiệp ước Liên minh Mỹ-Nhật Bản lần thứ hai Họ từng là hai kẻ thù trong Chiến tranh Thế giới 2, tuy nhiên giờ đây họ đã quay sang bắt tay nhau nhằm xoá các bản án tội ác chiến tranh Điều này tượng trưng cho " chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ" và gửi đến Nhà Trắng trong cấu trúc chiến tranh lạnh của Nhật Bản.

Theo các hiệp ước đó, Nhật Bản chấp nhận đứng dưới “chiếc ô” bảo hộ hạt nhân của Mĩ, để cho Mĩ đóng quân và xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật Bản.

V Từ năm 1952 đến năm 1973

Nhật Bản tiếp tục liên minh chặt chẽ với Mĩ Hiệp ước an ninh Mĩ -Nhật được kéo dài vĩnh viễn.

VI Từ năm 1973 đến năm 1989

– Với tiềm lực kinh tế tài chính ngày càng lớn mạnh, Nhật Bản bắt đầu đưa ra chính sách đối ngoại mới, thể hiện qua học thuyết Phucưđa (1977).

Trang 8

1 Các nguyên tắc duy trì Liên minh

Hiệp ước hòa bình công nhận rằng Nhật Bản là một quốc gia có chủ quyền cóquyền tham gia vào các thỏa thuận an ninh tập thể, và hơn nữa, Điều lệ của Liên HiệpQuốc công nhận rằng tất cả các quốc gia có quyền cố hữu của cá nhân và tập phòng thủtự

Trong thực hiện các quyền này, Nhật Bản mong muốn, như một sự sắp xếp tạm thờicho quốc phòng của mình, rằng Hoa Kỳ sẽ duy trì lực lượng vũ trang của riêng mình và

về Nhật Bản để ngăn chặn cuộc tấn công vũ trang vào Nhật Bản

Hoa Kỳ, vì lợi ích của hòa bình và an ninh, hiện đang sẵn sàng để duy trì nhất địnhcủa lực lượng vũ trang của mình và về Nhật Bản, với mong muốn, tuy nhiên, Nhật Bản sẽngày càng tự chịu trách nhiệm phòng thủ của riêng mình chống lại trực tiếp và gián tiếpxâm lược, luôn luôn tránh bất kỳ trang bị vũ khí mà có thể là một mối đe dọa tấn cônghoặc phục vụ khác hơn là để thúc đẩy hòa bình và an ninh theo quy định của mục đích vànguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc

Hoa Kỳ cung cấp các lực lượng không quân và lực lượng biển cho Nhật Bản Cáclực lượng này có thể được sử dụng để góp phần duy trì hòa bình và an ninh ở vùng ViễnĐông và đến an ninh của Nhật Bản chống lại cuộc tấn công vũ trang, bao gồm cả hỗ trợđược theo yêu cầu rõ ràng của Chính phủ Nhật Bản để đưa ra cuộc bạo loạn và rối loạnnội mô lớn ở Nhật Bản, gây ra thông qua sự xúi giục hoặc can thiệp của một quyền lựcbên ngoài, quyền hạn.(Điều1)

Trong quá trình thực hiện quyền nêu tại Điều 1, Nhật Bản sẽ không cấp, nếu không

có sự đồng ý trước của Hoa Kỳ, bất kỳ cơ sở hoặc bất kỳ quyền, quyền hạn, cơ quan nào,trong hoặc liên quan đến cơ sở, quyền của đơn vị đồn trú hoặc của cơ động, hoặc quácảnh của mặt đất, không khí hay các lực lượng hải quân đến bất kỳ quyền lực thứ ba.2

Các điều kiện đó phải phối trí các lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ tại và về Nhật

Bản được xác định bằng các thoả thuận hành chính giữa hai Chính phủ.3

Hiệp ước này sẽ hết hạn bất cứ khi nào theo ý kiến của các Chính phủ của Hoa Kỳ

và Nhật Bản có trách nhiệm đã có hiệu lực như Liên Hợp Quốc sắp xếp hoặc bố trí thay

2

3

Trang 9

thế như an ninh cá nhân hoặc tập thể tốt sẽ cung cấp cho việc bảo dưỡng của Liên HiệpQuốc hay không hòa bình và an ninh trong khu vực Nhật Bản.4

Theo hiệp ước, cả hai bên có nghĩa vụ để duy trì và phát triển năng lực của họ đểchống lại cuộc tấn công vũ trang ở chung và để hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp tấn công

vũ trang vào vùng lãnh thổ thuộc quyền quản lý của Nhật Bản., tuy nhiên, rằng Nhật Bảnkhông thể giúp đỡ với các quốc phòng của Hoa Kỳ bởi vì nó đã được hiến pháp cấm việcgửi các lực lượng vũ trang ở nước ngoài (Điều 9)

Hiệp ước cũng thể hiện sự từ bỏ của người dân Nhật Bản về "mối đe dọa hoặc sửdụng vũ lực như một phương tiện giải quyết tranh chấp quốc tế" Điều 6 của hiệp ước quyđịnh về việc đóng quân của lực lượng Hoa Kỳ tại Nhật Bản, với chi tiết cụ thể về cungcấp cơ sở và các khu vực sử dụng của họ và chính quyền của công dân Nhật Bản Biênbản thỏa thuận với các điều ước quy định rằng chính phủ Nhật Bản phải được tư vấntrước khi thay đổi trong việc triển khai lực lượng Hoa Kỳ tại Nhật Bản hay với việc sửdụng các căn cứ của Nhật Bản cho các hoạt động chiến đấu khác trong quốc phòng củaNhật Bản chính nó

Phạm vi của hiệp ước năm 1960 không mở rộng đến quần đảo Ryukyu, nhưng trongtrường hợp của một cuộc tấn công vũ trang trên đảo, cả hai chính phủ sẽ tham khảo ýkiến và có hành động thích hợp

Năm 1960 Mỹ-Nhật Bản hiệp ước an ninh Nhật Bản yêu cầu duy nhất Nhật Bảncung cấp cơ sở và trang thiết bị quân đội Mỹ đóng quân ở đó

Hiệp ước ký năm 1960 cho phép quân đội Mỹ đưa vũ khí nguyên tử vào Nhật Bản

mà không cần hỏi ý kiến trước Hiệp ước này vô hiệu hóa các thỏa thuận hai nước đã kýtrước đó, theo đó Mỹ phải hỏi ý kiến Nhật Bản trước khi đưa vũ khí nguyên tử tới nướcnày

2 Phạm vi đối tượng và hình thức phối hợp.

2.1 Phạm vi đối tượng

4

Trang 10

Hiệp ước này ký kết tại Washington ngày 19/1/1960, gắn bó hai cựu thù của Chiến

tranh thế giới thứ II trong mối quan hệ đối tác an ninh chiến lược, Mỹ- Nhật Bản Mỹcam kết sẽ bảo vệ Nhật Bản - nước thực thi Hiến pháp hòa bình - bằng sự hiện diện quân

sự lâu dài tại đất nước này Mỹ sẽ giúp Nhật đáp trả lại các cuộc tấn công vào Nhật Bản,– “không chỉ đóng góp vào nền an ninh của quốc gia mà còn góp phần vào sự ổn định vàphát triển của khu vực châu Á – Thái Bình Dương” Theo hiệp ước, khoảng 47.000 binhlính Mỹ hiện đồn trú tại Nhật Bản, trong đó hơn một nửa số binh lính có mặt tại miềnNam đảo Okinawa Lần sửa đổi thứ nhất năm 1960, khu vực mà hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật trực tiếp nhằm vào là vùng Cận Đông với mục đích ngăn chặn Nga và chủ nghĩacộng sản.5

"Hiệp ước phòng thủ chung" này đã tồn tại tới đầu năm 1978 mà không có sửa đổi

bổ sung gì Từ cuối những năm 70, tình hình quốc tế có nhiều biến đổi và theo sự đánhgiá của Nhật Bản và Hoa Kỳ, thì sự biến đổi đó là bất lợi cho họ Việc Liên Xô lúc đốchuẩn bị đưa quân vào Afganixtan đã gây sự lo ngại cho Nhật Bản và phương Tây Việcsuy giảm ảnh hưởng của Mĩ ở Đông Nam á gây ra một cú sốc cho một số đồng minh của

Mĩ ở khu vực này Trước bối cảnh đó, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã điều chỉnh một bước chíênlược hợp tác an ninh song phương vào cuối 1978 Có thể nói đây là lần điều chỉnh đầutiên của chương trình hợp tác phòng thủ Nhật Bản - Hoa Kỳ kể từ khi họ ký hiệp ước anninh 1960

Lần điều chỉnh hợp tác an ninh Nhật Bản - Hoa Kỳ thứ hai diễn ra từ giữa nhữngnăm 1980 Có thể nói sự điều chỉnh lần này chỉ mang tính chất chiến thuật chứ khôngphải chiến lược Bởi vì hầu như không có sửa đổi gì so với lần sửa đổi 1978 Trong lầnsửa đổi năm 1978 "chiến lược hợp tác phòng vệ Nhật Bản" xác định khu vực phòng thủcủa liên minh Nhật Bản - Hoa Kỳ là "vùng Viễn Đông" không bao gồm Trung Quốc vàNam Triều Tiên Đây là một bước mở rộng so với hiệp ước an ninh Nhật Bản - Hoa Kỳ

ký năm 1960 Hiệp ước này xác định, khu vực phòng vệ chung Nhật Bản - Hoa Kỳ đượcgiới hạn trong phạm vi 200 hải lý mà điểm mốc là căn cứ vào ba eo biển của Nhật Bản làTsugaru, Tushima và Soya

Sự điều chỉnh chương trình hợp tác an ninh lần này chỉ mang tính chất chiến thuậtbởi vì thời kỳ đó Nhật Bản tỏ ra kiên quyết ủng hộ các hành động quân sự và ngoại giao

5 Trương Tiểu Minh, “Chiến tranh lạnh và di sản của nó”, NXB chính trị Quốc gia 2003

Trang 11

cứng rắn của Mĩ nhằm chống lại "chủ nghĩa phiêu lưu" của Liên Xô Đồng thời Nhật Bảncũng đồng ý tham gia chương trình "sáng kiến phòng thủ chiến lược - cuộc chiến tranhgiữa các vì sao" do Hoa Kỳ chủ xướng Còn nội dung hợp tác an ninh mà hai nước đãthoả thuận trước đó không có gì thay đổi.

 Trên thực tế, những điều chỉnh chiến lược hợp tác an ninh giữa Nhật Bản vàHoa Kỳ trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh vẫn thiên về học thuyết lấy phòng vệ làm

"phương châm chỉ đạo" và sẵn sàng đáp lại đối phương nếu nước Nhật bị tấn công

2.2 Hình thức phối hợp

Có thể thấy hiếm có cơ chế hợp tác song phương nào có sự phối hợp toàn diện nhưliên minh Mỹ_ Nhật Theo hiệp ước, mỗi chính phủ sẽ hỗ trợ nhau trong trường hợp bịtấn công, bất cứ bên nào bị tấn công thì bên kia cũng coi như sự tấn công nhằm vào quốcgia mình Chính phủ Nhật có những điều khoản hỗ trợ trang thiết bị, máy móc phươngtiện cho sự hoạt động để đảm bảo an ninh của quân đội Mỹ tại Nhật Có thể thấy, có tơí75% chi phí quân sự của Mỹ trên đất Nhật do nước chủ nhà cung cấp

Chương trình viện trợ quân sự đã cung cấp cho việc mua lại của Nhật Bản vốn,trang thiết bị và các dịch vụ thiết yếu cho quốc phòng của quốc gia Although Japan nolonger received any aid from the United States by the 1960s, the agreement continued toserve as the basis for purchase and licensing agreements ensuring interoperability of thetwo nations' weapons and for the release of classified data to Japan, including bothinternational intelligence reports and classified technical information Mặc dù Nhật Bảnkhông còn nhận được viện trợ từ Hoa Kỳ, những năm 1960, thỏa thuận tiếp tục phục vụnhư là cơ sở để mua và cấp giấy phép thỏa thuận đảm bảo khả năng chuyển giao côngnghệ quốc phòng của hai quốc gia như vũ khí , việc phát hành các dữ liệu đã được phânloại vào Nhật Bản, bao gồm cả tình báo quốc tế báo cáo và thông tin kỹ thuật phân loại

3.So sánh liên minh Mỹ - Nhật và liên minh Mỹ - Hàn trong chiến tranh lạnh

3.1 Liên minh Mỹ-Nhật và Mỹ -Hàn: vành đai an ninh ở khu vực Châu á của Mỹ để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản, gia tăng ảnh hưởng tại khu vực:

Trang 12

Về cơ bản, cơ sở hình thành hai liên này là đều hình thành dựa trên lợi ích của Mỹ lúc bấy giờ là ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản bằng việc viện trợ để tìm kiếm đồng minh tại Châu Á, duy trì các lực lượng quân đội cần thiết tại các điềm nóng: như Triều Tiên hay Đông Nam Á.

Ngược lại, cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều muốn tận dụng Chiến tranh lạnh làm thời cơ đểtái thiết đất nước sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai mà Nhật là nước bại trận và cuộc chiến tranh Triều Tiên sau khi Hàn Quốc đã bị chiến tranh tàn phá nặng nề

Ngoài ra, bản chất của liên minh cũng đều có tính một chiều, do Mỹ lãnh đạo, còn Hàn Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia bị động về chính trị và quân sự

Sau khi Mỹ ký với Nhật Bản và Hàn Quốc hai hiệp ước về an ninh, Mỹ đều duy trì sự có mặt về quân sự và ảnh hưởng của mình tại hai quốc gia này nhằm hạn chế khả năng quân

sự của hai nước cũng như duy trì chúng ở trong vòng cương tỏa mà Mỹ có thể kiểm soát được Nhờ đó, Mỹ biến Hàn Quốc và Nhật Bản trở thành hai thành trì vững chắc nhất chống lại sự lan rộng ảnh hưởng của Chủ nghĩa cộng sản tại Châu Á

Cũng giống Hiệp ước Mỹ- Nhật, liên minh Mỹ -Hàn nằm trong chiến lược xây dựng lực lượng đồng minh của Mỹ tại khu vực Châu Á-TBD trong giai đoạn đầu Chiến Tranh Lạnh Được ký tại Washington ngày 01/10/1953, và có hiệu lực ngày 17/11/1954 Theo đó, Mỹ nhận trách nhiệm bảo vệ Hàn Quốc Hiệp ước phòng thủ song phương là một thể chế pháp lý cho phép 1 lực lượng quân đội Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc đề giúp HànQuốc ngăn chặn cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên đe doạ tới an ninh nước này và

cơ sở pháp lý cho sự hình thành hệ thống Liên kết phòng thủ, các bên sẽ tham khảo ý kiến của nhau và hỗ trợ quân sự bất cứ khi nào họ thấy có nguy cơ đe doạ tới an ninh của

họ 2 bên sẽ duy trì và phát triển các phương tiện thích hợp để ngăn chặn cuộc tấn công

vũ trang đó Bất cứ một cuộc tấn công vũ trang nào tại khu vực Châu Á- TBD vào khu vực kiểm soát của 2 bên, có thể gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia và khu vực, 2 bên cam kết sẽ cùng hành động để đáp trả lại những mối nguy hiểm đó Theo đó, không có bên nào bị bắt buộc trợ cấp quân sự cho bên kia , và Mỹ cũng không được hiểu là phải

Trang 13

đáp ứng mọi đòi hỏi trợ giúp quân sự từ phía HQ trừ khi Mỹ xác định thấy có nguy cơ bên ngoài tấn công tới vùng lãnh thổ HQ

Nếu xét về đối tượng và hình thức phối hợp, cả 2 Hiệp ước duy trì Liên minh có điểm giống nhau là đều bỏ ngỏ và tương đối không rõ ràng về đối tượng và địa bàn hoạt động

Có thể thấy rằng cả 2 Liên Minh này đều có một mục đích ra đời tương đối giống nhau, cơ sở hình thành cũng như vai trò của nó có những nét tương đồng đều là những

cơ chế hợp tác an ninh ra đời và bị chi phối mạnh mẽ của cuộc Chiến Tranh Lạnh, những Liên minh có phần thiên về sự bảo trợ quân sự của Mỹ Tuy nhiên, vì sự khác biệt về đặcđiểm các quốc gia và ý đồ riêng của cả Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ nên mỗi cơ chế hợp tác lại thể hiện các hình thức phối hợp, vận hành và cách thức duy trì Liên minh theo các cách riêng của nó

3.2 Trong xu hướng phát triển, liên minh Mỹ- Hàn và Mỹ- Nhật có sự khác biệt

Sau khi Mỹ ký với Nhật hiệp ước an ninh, gần như Nhật Bản độc lập hoàn toàn với

Mỹ về chính trị và kinh tế Theo một số tài liệu, thậm chí Mỹ còn không để tâm đến việc xóa bỏ chủ nghĩa quân chủ tại Nhật nhằm thực hiện các cải cách xã hội tiến bộ Do đó, liên minh Mỹ - Nhật chủ yếu là liên minh về quân sự để tạo điều kiện cho Mỹ có quân đội chiếm đóng tại Nhật

Ngược lại, liên minh với Hàn Quốc lại làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt chính trị - quân sự và kinh tế tại nước này Sau khi Mỹ ký hiệp ước với Hàn Quốc, nước này đã có những cuộc cải cách đất nước sâu rộng nhằm thực thi một nền dân chủ mới mang đậm nét phương Tây Cũng nhờ có sự hiện diện của Mỹ mà Hàn Quốc có một nền quân sự dầnđược hiện đại hóa Văn hóa của nước này cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Mỹ Do

đó, liên minh Mỹ - Hàn có tính sâu sắc và phát triển rộng hơn trên nhiều lĩnh vực, không chỉ giới hạn về an ninh như với Nhật

Bên cạnh đó, cũng có một điểm khác nhau trong tư duy về mối quan hệ của Mỹ Gần như trong mối quan hệ với Nhật, Mỹ luôn tìm cách kiềm chế Nhật ở mức độ cao

Trang 14

nhất vì lo sợ Chủ nghĩa quân phiệt Nhật một khi nó trỗi dậy, sẽ có một sự chuyển hóa từ sức mạnh kinh tế sang sức mạnh quân sự Còn với Hàn Quốc, nỗi lo tương tự như thế gầnnhư không xuất hiện trong thời kỳ chiến tranh lạnh Nhìn chung, sự kiềm chế Hàn Quốc của Mỹ trong lĩnh vực kinh tế và quân sự không lớn như với Nhật Bản Bằng chứng là trong những năm 50, viện trợ kinh tế của Mỹ cho Hàn Quốc còn cao hơn cho bất kỳ một nước nào tại Châu Âu và Hàn Quốc vẫn được quyền duy trì quân đội riêng biệt với tiềm lực lớn mạnh.

Từ những nguyên tắc duy trì Liên minh Mỹ-Hàn, có thể thấy rằng, Liên minh Mỹ- Nhật có cách xác định lực lượng quân đồn trú trong hiệp ước rõ ràng hơn và cách phối hợp cũng toàn diện hơn, và Mỹ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đảm bảo hỗ trợ và giúp

đỡ an ninh cho Nhật Bản rõ ràng hơn Cơ chế hợp tác trong Liên minh Mỹ- Nhật đưa ra chi tiết và mạch lạc hơn phần lớn giải thích cho điều này là sự phụ thuộc của Nhật Bản bởi những vấn đề của lịch sử, cũng như nghĩa vụ và trách nhiệm của Mỹ trong vai trò với Nhật Bản

Tuy nhiên, chính sự gắn kết và ràng buộc an ninh theo tính chất cho- nhận giữa Mỹ

và Nhật Bản- cả 2 quốc gia đều có những quan điểm và vấn đề an ninh tồn tại riêng biệt

và cá nhân mà làm cho Liên minh này gặp phải nhiều vấn đề( minh chứng bằng số lần sửa đổi so với Liên minh Mỹ- hàn, và những tranh cãi gay gắt về sự tồn tại của nó) Khi

sự sống còn của một quốc gia lại đặt trong tay một quốc gia khác khiến thì vấn đề trở nênhết sức phức tạp, tuy nhiên, Liên minh Mỹ- Nhật trong Chiến Tranh Lạnh cũng có thể thấy là một sự kết hợp tương đối gắn kết bởi những ràng buộc lợi ích trong giai đoạn này

IV TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA NHẬT BẢN ĐỐI

VỚI MỸ TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH

1.Tác động đến quan hệ giữa các nước lớn trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương:

1.1 Quan hệ Mỹ - Liên Xô – Nhật Bản: sự đối đầu hệ tư tưởng căng thẳng hơn và những vấn đề lãnh thổ vẫn không được giải quyết.

Trang 15

Ngay sau khi bước ra khỏi cuộc chiến, mối quan hệ đồng minh mỏng manh Mỹ- Xôdường như bật tung ra với những đối đầu về hệ tư tưởng và tranh giành ảnh hưởng lanrộng ra bình diện toàn cầu sự cân bằng đáng sợ và chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên

Xô bùng lên mạnh mẽ và Liên minh Mỹ- Nhật cũng góp phần thổi bùng lên ngọn lửa ấy

ở Châu Á cũng như cục diện Chiến Tranh Lạnh tại khu vực Cũng như sự đe doạ Mỹ baotrùm ảnh hưởng lên khu vực Việc chuyển Chiến Tranh Lạnh sang khu vực Châu Á làmcho Liên Xô không khỏi e ngại, và phải tìm cách để tăng cường sức mạnh ra Châu Ábằng sự hỗ trợ cho Triều Tiên và ủng hộ phong trào đấu tranh ở Đông Nam Á Hiệp ước

an ninh Mỹ- Nhật 1960 với những cam kết về hỗ trợ vũ khí hạt nhân cho phòng vệ Nhậtbản khiến cho căng thẳng leo thang và chạy đua vũ trang bùng nổ mạnh mẽ giữa LiênXô-Mỹ.6

Rõ ràng, sự xuất hiện và tồn tại của Hiệp ước đã tác động mạnh mẽ tới quan hệ Xô– Mỹ Đó không chỉ là bằng chứng cho 1 căn cứ quân sự nhắm thẳng tới Liên Xô mà cònlàm cho mối quan hệ với Nhật bản trở nên đối đầu và những tranh chấp đảo phía Bắc khógiải quyết hơn Liên minh Mỹ- Nhật khiến cho Liên Xô không thể tiếp cận với Nhật Bản

để giải quyết những Tranh chấp đã tồn tại trong lịch sử giữa 2 nước Với hiệp ước này,Nhật Bản cũng chính thức tuyên bố đối đầu trực diện với Liên Xô trong vai trò đồngminh của Mỹ cũng như sự đe doạ Mỹ bao trùm ảnh hưởng lên khu vực

Như đã thấy, sau khi tổng thống Mỹ Roosevelt qua đời, thì phó tổng thống Truman lên

kế nhiệm và bắt đầu thực thi một đường lối cứng rắn khác hẳn với đường lối mà ngườitiền nhiệm của ông đã làm

Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc ký với Nhật một hiệp ước có nhiều thuận lợicho Mỹ tại khu vực rõ ràng như một trong những hành động khai chiến rõ ràng nhất, gópphần khẳng định lại chính sách chuyển từ hợp tác sang đối đầu của Mỹ với Liên Xô.Quan hệ của hai bên bị đẩy lên ngày một căng thẳng hơn so với trước đó Liên minh Mỹ-Nhật đã tuyên chiến với những giá trị của Liên Xô ở Châu Á và thể hiện sự kìm chế ảnhhưởng của chủ nghĩa Cộng sản do Liên Xô đứng đầu

Trong khuôn khổ của Chiến Tranh Lạnh, mọi Liên minh quân sự giữa 2 phe luônnhắm thẳng vào việc tập hợp lực lượng để kìm hãm, lật đổ đối phương Và việc Mỹ ký

6 Trương Tiểu Minh, “Chiến tranh lạnh và di sản của nó”, NXB chính trị quốc gia, 2003

Trang 16

với Nhật một hiệp ước như thế đã ngay lập tức làm cho Liên Xô phải xem xét lại chínhsách của mình theo hướng gia tăng đối đầu với Mỹ và Tây Âu, trong đó có việc tích cựcviện trợ hơn nữa cho các nước đồng minh của mình tại Châu Á – Thái Bình Dương nhằmtạo thế cân bằng trước Hoa Kỳ và Tây Âu Đỉnh cao là vào năm 1955, Khối hiệp ướcVacxava ra đời, là liên minh quân sự quan trọng hàng đầu của Liên xô nhằm đối khángtrực tiếp với NATO của Hoa Kỳ

Như thế, có thể khẳng định rằng, sự kiện Mỹ - Nhật ký kết với nhau một hiệp ước anninh đã góp phần làm gia tăng căng thẳng giữa hai phe, thúc đẩy chính sách đối đầu đượcthực thi một cách thường xuyên hơn giữa Xô – Mỹ tại khu vực Châu Á và sau đó là tạiTrung Đông và Mỹ Latinh

1.2 Quan hệ Trung – Mỹ:

Sau sự kiện tháng 10/ 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức ra đời,đánh dấu một bước thắng lợi quan trọng cho phe Cộng sản Mà theo cuộc tiếp xúc bí mậtgiữa Stalin và Mao Trạch Đông vào năm 1949, hai bên nhận định rằng “Tình thế cáchmạng” đã xuất hiện Tiếp theo đó, dưới sự dẫn dắt của Mao Trạch Đông, Trung Quốc tiếptục tiến hành rầm rộ công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội, với những giá trị và cách thứcriêng của người Trung Hoa như Mao vẫn tuyên truyền Chính sách của Trung Quốc lúcbấy giờ là tích cực ủng hộ phong trào Cộng sản, cũng như phong trào chống Chủ nghĩaThực dân và Đế quốc của các dân tộc thuộc địa Do đó, sự hiện diện về mặt quân sự của

Mỹ tại châu Á ngay sau khi Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật ra đời như một đòn bẩy đẩyTrung Quốc xích lại gần Liên Xô hơn trong việc chống lại Chủ nghĩa Đế quốc Hơn thếnữa, do vị trí của Nhật lại gần ngay Trung Quốc, do đó, sau khi hiệp ước ra đời trao cho

Mỹ những quyền hạn đặc biệt về quân sự tại Nhật Bản và những vùng lân cận, TrungQuốc không thể không lo ngại một sự gia tăng quá mức nào đó ảnh hưởng của quân đội

Mỹ tại đây sẽ đe dọa tới an ninh của bản thân Trung Quốc Bởi thế, người Trung Quốcnghĩ ngay tới việc hợp tác với Liên Xô để cùng đẩy lùi mối hiểm họa chung

Liên minh Mỹ- Nhật lại tái khẳng định năm 1960, khiến cho Trung Quốc khôngkhỏi suy nghĩ tính toán Mặc dù không cho rằng, Liên minh này đang nhắm trực tiếp vàomình và nhưng Trung Quốc không khỏi e ngại với vấn đề Đài Loan, vùng lãnh thổ màTrung Quốc đang phản đối mạnh mẽ ảnh hưởng của Mỹ Trung Quốc đã phải lựa chọn

Ngày đăng: 24/10/2019, 19:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w