1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị công ty đại chúng theo pháp luật việt nam hiện nay

162 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án tiến sĩ, Đề tài giới hạn nội dung nghiên cứu ở việc phân tích, đánh giá quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng được quy định tro

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN LƯƠNG ĐỨC

QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 9.38.01.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS.TS Nguyễn Như Phát

2 PGS.TS Dương Đức Chính

Hà Nội, 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan rằng nội dung được trình bày trong luận án “Quản trị công ty đại

chúng theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của

chính tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Như Phát và PGS.TS.Dương Đức Chính Việc sử dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học và luận điểm các tác giả khác trong luận án này đều được giữ nguyên ý tưởng hoặc trích dẫn phù hợp theo quy định

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở lý thuyết và câu hỏi, giả thiết nghiên cứu 28

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG 34

VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG 34

2.1 Những vấn đề lý luận về quản trị công ty đại chúng 34

2.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về quản trị công ty đại chúng 54

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 72

3.1 Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về quản trị công ty đại chúng 72

3.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng 104

Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM 121

4.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng 121

4.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản trị công ty đại chúng 126

4.3 Các giải pháp hỗ trợ, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản trị công ty đại chúng 141

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ban kiểm soát

Công ty cổ phần

Công ty đại chúng

Công bố thông tin

Đại hội đồng cổ đông

Điều lệ công ty

Giám đốc

Giao dịch có khả năng tư lợi

Hội đồng quản trị

Kiểm soát viên

Luật Doanh nghiệp 2014

Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung 2010)

Nghị định 71/2017/NĐ-CP về quản trị công ty đối với công

Trung tâm lưu ký chứng khoán

Ủy ban chứng khoán Nhà nước

: BKS : CTCP : CTĐC : CBTT : ĐHĐCĐ : ĐLCT : GĐ : GDCKNTL : HĐQT : KSV : LDN 2014 : LCK 2006 : NĐ 71/2017/NĐ-CP

: QTCT : SGDCK : TT 95/2017/TT-BTC

: TT 155/2015/TT-BTC

: TTCK :OECD : TGĐ :TTLKCK : UBCKNN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quản trị công ty nói chung và quản trị công ty đại chúng nói riêng là vấn đề thiết yếu để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của công ty Sự thành bại của một công ty luôn lệ thuộc vào cách thức tổ chức, và quản lý nội bộ của công ty Một bộ máy công ty đơn giản, gọn nhẹ, linh hoạt với sự phân công rành mạch chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời phối hợp ăn khớp, đồng bộ hoạt động của các bộ phận khác, thiết lập được cơ chế giám sát và giảm thiểu mâu thuẫn trong nội bộ là một trong những đảm bảo quan trọng cho hiệu quả kinh doanh của công ty

Đối với những quốc gia có nền kinh tế thị trường mới nổi như Việt Nam, việc tăng cường quản trị công ty có thể phục vụ cho rất nhiều mục đích chính sách công quan trọng Quản trị công ty tốt sẽ giảm thiểu khả năng tổn thương trước các biến động không mong muốn, củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí vốn, tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển

Ngược lại, một khuôn khổ quản trị công ty yếu kém sẽ làm giảm độ tin tưởng của các nhà đầu tư, không đón nhận được nguồn vốn từ bên ngoài, giảm giá trị kinh

tế của công ty và có thể dẫn tới các nguy cơ phá sản hoặc bị thôn tính, sáp nhập, làm tăng rủi ro đối với hệ thống kinh tế quốc gia Như vậy, việc hoàn thiện và tăng cường hệ thống quản trị công ty đóng vai trò vô cùng quan trọng Đối với các nhà đầu tư, quản trị công ty sẽ góp phần củng cố quyền sở hữu, giảm thiểu các chi phí giao dịch, chi phí vốn và đồng nghĩa với việc đầu tư có hiệu quả

Ở Việt Nam, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động quản trị công ty đại chúng cơ bản đã được đề cập trong Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Chứng khoán 2006, Luật sửa đổi bổ sung Luật chứng khoán năm 2012, các nghị định hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán…và các văn bản hướng dẫn thi hành, đã thể hiện khá đầy đủ nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực này Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế các quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng hiện nay ở nước ta phần nhiều còn những lỗ hổng, chưa thật sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông và hệ quả là sự phân hoá sâu sắc các nhóm cổ đông trong công ty làm nguồn cho các cuộc thâu tóm, sáp nhập có nguy cơ diễn ra trên

Trang 6

diện rộng Điều này do nhiều nguyên nhân mà một trong số những nguyên nhân chính lại nằm trong các quy định pháp luật về quản trị của các công ty trong việc ngăn ngừa

các xung đột lợi ích một cách hiệu quả Một số hạn chế nổi bật như: (1) Chưa đảm bảo

mọi quyền lợi của cổ đông nói chung, cổ đông thiểu số; (2) Mức độ công khai, minh bạch thông tin chưa được tuân thủ; (3) Chưa kiểm soát được các giao dịch của công ty với các bên có liên quan; (4) Kiểm soát nội bộ còn hình thức và kém hiệu quả

Với những phân tích nêu trên có thể thấy những hạn chế của chế định pháp lý

về quản trị công ty đại chúng khi triển khai thực hiện ở Việt Nam Để khắc phục những tồn tại hạn chế này cần nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về quản trị công ty đối với các công ty đại chúng, tăng cường vai trò và năng lực của

cơ quan quản lý thị trường chứng khoán; tiếp tục hoàn thiện chế định pháp luật về quản trị công ty đại chúng Việc nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc chế định

pháp lý “Quản trị công ty đại chúng theo pháp luật Việt Nam hiện nay” sẽ đóng

góp những ý kiến, những luận giải khoa học về quản trị công ty đại chúng, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng nói riêng và quản trị công ty nói chung tại Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là dựa vào kết quả luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn chế định pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở nước ta, đồng thời trên cơ sở so sánh, tham khảo cơ chế quản trị công ty đại chúng theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giới và thông lệ chung mà đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung của quản trị công ty và quản trị công ty đại chúng Phân tích, đánh giá sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ quản trị công ty, chế độ pháp lý về quản trị công ty đại chúng trong văn bản luật, nguyên tắc quản trị, cơ cấu tổ chức nội bộ, những ưu nhược điểm của hình thức tổ chức công ty đại chúng, nêu và phân tích về cơ cấu pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam trên cơ sở so sánh với các quy định về quản trị công

ty đại chúng theo thông lệ và pháp luật quốc tế

Trang 7

- Phân tích, đánh giá quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam được quy định trong Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán và các văn bản pháp luật khác có liên quan; thực trạng áp dụng và thực thi các quy định pháp luật này của các công ty đại chúng, các cơ quan tổ chức có liên quan; xác định những điểm mạnh, điểm yếu của những quy định pháp luật này

- Làm rõ sự cần thiết, khách quan phải hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng, đồng thời đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị công ty đại chúng theo pháp luật Việt Nam

3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Pháp luật về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty đại chúng nói riêng là một lĩnh vực rộng, bao gồm nhiều quy định về nội dung Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án tiến sĩ, Đề tài giới hạn nội dung nghiên cứu ở việc phân tích, đánh giá quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng được quy định trong Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán, các luật và văn bản luật có liên quan về: quyền cổ đông và bảo vệ quyền cổ đông; bộ máy quản lý và phân chia quyền lực trong công ty; pháp luật ngăn ngừa giải quyết các xung đột lợi ích, giao dịch có tính chất tư lợi; minh bạch và công bố thông tin; thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm

- Về không gian và thời gian

Về không gian: Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước về pháp luật quản trị công ty đại chúng Bên cạnh đó, nghiên cứu kinh nghiệm trong việc xây dựng và thi hành pháp luật quản trị công ty đại chúng của một số nước trên thế giới và thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam Đặc biệt luận án dựa vào nguyên tắc quản trị công ty của OECD để làm căn cứ so sánh, đánh giá khuôn khổ pháp lý về quản trị công

ty đại chúng ở Việt Nam với một số nước là thành viên của OECD, đồng thời lựa chọn nghiên cứu pháp luật về quản trị công ty ở một số nước có điểm tương đồng về thể chế chính trị, thể chế kinh tế với Việt Nam và một số nước trong khu vực Đông Nam Á

Về thời gian: luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ ở giai đoạn từ khi năm

2006 đến nay (thời điểm có hiệu lực của Luật Doanh nghiệp 2005)

Trang 8

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quan điểm, tư tưởng luật học, mô hình về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty đại chúng nói riêng; các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về quản trị công ty đại chúng; nguyên tắc quản trị công ty của OECD, pháp luật nước ngoài về quản trị công ty đại chúng; thực tiễn xây dựng, áp dụng, thực thi pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam

Nhìn chung, pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam còn tương đối đơn giản, đang trong quá trình hoàn thiện Luận án tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản về quản trị công ty đại chúng theo pháp luật, đặc biệt là những nội dung có nhiều bất cập, đang gây cản trở, làm giảm hiệu quả của hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh ở Việt Nam Pháp luật về quản trị công ty đại chúng được tạo thành bởi nhiều quy định pháp luật nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau, vì vậy luận án tiếp chọn cách tiếp cận để nghiên cứu pháp luật về quản trị công ty đại chúng dựa trên cơ sở Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán và các văn bản luật có liên quan khác

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, luận án được hoàn thành trên cơ sở của phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là chủ nghĩa Mác - Lê nin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới

Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp hệ thống, phương pháp luật học so sánh,

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong

tất cả các chương của luận án Cụ thể là được sử dụng để đi sâu vào tìm hiểu, trình bày các hiện tượng, các quan điểm, nội dung, yếu tố của quản trị công ty

và pháp luật về quản trị công ty đại chúng; khái quát lại để phân tích, rút ra những quan điểm, quy định và hoạt động thực tiễn của quản trị công ty và pháp luật Việt Nam về quản trị công ty đại chúng; từ đó rút ra các đánh giá, kết luận

và kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật

Trang 9

quản trị công ty đại chúng

- Phương pháp hệ thống được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án nhằm trình

bày các vấn đề, các nội dung trong luận án theo một trình tự, một bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận án

- Phương pháp luật học so sánh: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng tại

Chương 2, chương 3 của luận án Cụ thể là được vận dụng trong việc tham khảo các nguyên tắc, những thông lệ, hướng dẫn tốt về quản trị công ty và kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng của một số nước trên thế giới, các nguyên tắc về quản trị công ty của OECD, từ đó rút ra những điểm chung, điểm khác biệt Ngoài ra, tại Chương 4 của luận án, tác giả cũng sử dụng phương pháp này để so sánh và rút ra các bài học kinh nghiệm và kiến nghị phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty đại chúng phù hợp với điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, chính trị - pháp lý của Việt Nam cũng như các điều kiện thực tế của nước ta trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay

- Về cách tiếp cận nghiên cứu đề tài:

Luận án kế thừa (có chọn lọc, phân tích và bình luận) các kết quả nghiên cứu đã được công bố trước đề tài này, trên cơ sở tập hợp, hệ thống ở mức đầy đủ nhất có thể, đối với các công trình khoa học có liên quan đến quản trị công ty công ty, quản trị công

ty đại chúng

Bên cạnh việc nghiên cứu trực tiếp các quy định pháp luật về quản trị công ty

và quản trị công ty đại chúng, luận án tập trung nghiên cứu vào thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở nước ta từ trước đến nay, gắn trong bối cảnh phát triển chung của xã hội; đánh giá những ưu điểm, hạn chế của pháp luật và thực tiễn thực hiện quy định về quản trị công ty đại chúng để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

hiện ở những nội dung sau:

- Luận án chứa đựng những nghiên cứu mang tính học thuật và quan điểm của Nghiên cứu sinh về quản trị công ty đại chúng và pháp luật về quản trị công ty đại chúng Nghiên cứu một các có hệ thống và luận giải trên cơ sở lý luận và thực tiễn các khái niệm, cơ sở pháp lý, nền tảng khoa học, các vấn đề có liên quan đến quản trị công ty đại chúng làm cơ hở để xây dựng và hoàn thiện các quy định về quản trị công ty đại chúng

- Việc nghiên cứu, đánh giá các yếu tố của đến pháp luật quản trị công ty đại chúng và các và thông lệ tốt QTCT trên thế giới, đồng thời cũng nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng của một số nước trên thế giới.luận án đã góp phần làm sáng tỏ những cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở nước ta

- Đánh giá đúng, chính xác thực trạng quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam Chỉ ra những tồn tại, những bất cập của các quy định pháp luật, bất cập trong việc áp dụng, thực thi các quy định của pháp luật về quản trị công ty đại chúng, đồng thời cũng nêu ra những hạn chế, những quy định còn thiếu trong hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến quản trị công ty đại chúng

- Xác định những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty đại chúng nói riêng và đưa ra một số đề xuất và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cơ chế quản trị công ty đại chúng

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ sung kiến thức vào kho tàng lý luận về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty đại chúng nói riêng Với phương pháp nghiên cứu hiện đại và phù hợp, luận án đã lý giải nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, phân tích và đánh gía sâu sắc những vấn đề lý luận, cơ sở và hình thức của pháp luật về quản trị công ty đại chúng, từ đó rút ra một số kết luận về nội dung pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam hiện nay

Qua thực tiễn áp dụng pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở nước ta trong khoảng thời gian hơn 12 năm gần đây (2006 đến 2018), luận án đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, sát thực đưa ra những nguyên nhân, kết quả cũng như hạn chế của quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng Kết quả nghiên cứu của luận án

Trang 11

nhất là những nghiên cứu lý luận, nghiên cứu luật thực định trong việc so sánh với luật nước ngoài, nghiên cứu thực tiễn áp dụng, sẽ góp phần đảm bảo cho việc áp dụng đúng

và xây dựng quy định pháp luật về công ty đại chúng phù hợp với các điều kiện kinh tế,

xã hội của Việt Nam Những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty đại chúng được đề xuất trong luận án có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà lập pháp, các cơ quan quản lý có thẩm quyền trong việc hoàn thiện pháp luật

về quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam Luận án cũng là tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy pháp luật về quản trị công ty đại chúng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận

án có kết cấu như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận về quản trị công ty và pháp luật về quản trị

công ty đại chúng

Chương 3: Thực trạng pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam

hiện nay

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty

đại chúng ở Việt Nam

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế toàn cầu hiện nay, khi mà các công ty đã trở thành nguồn sống, chỗ dựa, nơi sinh hoạt cho hàng triệu con người, là yếu tố cơ bản cho nền tài chính, nền tảng của sự thịnh vượng của mỗi quốc gia Sự thành công hay thất bại của các công ty với tư cách là một bộ phận xã hội thu nhỏ đó, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tăng trưởng kinh tế và đảm bảo ổn định xã hội của mỗi quốc gia cũng như của toàn cầu Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên

sự hài hòa các mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị, ban giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan trong doanh nghiệp, từ đó tạo nên định hướng và sự kiểm soát quá trình phát triển của doanh nghiệp Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cường giá trị doanh nghiệp, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế

1.1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về quản trị công ty

Cuốn sách “Corporate Governance” của tác giả Christine A.Mallin [90] đã

đánh giá tổng quát các vấn đề về quản trị công ty Phần 1 tác giả đánh giá phân tích

về sự phát triển của quản trị công ty Theo đó quản trị công ty trong thời gian gần đây ngày càng trở lên thông dụng trong hoạt động kinh doanh thế giới, tuy nhiên lý thuyết về sự phát triển của quản trị công ty và các lĩnh vực liên quan thì xuất hiện khá sớm và được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực như tài chính, kinh tế, kế toán, luật pháp, quản lý và quản trị tổ chức Sự phát triển của quản trị công ty là yếu tố mang tính chất toàn cầu và là một lĩnh vực phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực như pháp luật, văn hóa, sở hữu và các cấu trúc khác nhau Vì vậy, có thể có một vài

lý thuyết tương thích và phù hợp với quốc gia này hơn quốc gia khác Tác giả đã tổng hợp, phân tích và đánh giá một số lý thuyết cơ bản về quản trị công ty như: thuyết đại diện, lý thuyết nhà quản lý, lý thuyết bên hữu quan, thuyết chi phí giao dịch, lý thuyết nguồn tài nguyên, lý thuyết chính trị Trên cơ sở phân tích các lý thuyết đó, tác giả nhận định hiện nay lý thuyết đại diện dường như được xem xét một cách rộng rãi, thông dụng hơn, tuy nhiên lý thuyết bên liên quan cũng đang dần được quan tâm khi mà công ty nhận thấy rằng họ không thể hoạt động một cách độc lập mà còn phải quan tâm tới các bên liên quan của công ty Tác giả đưa ra kết luận

Trang 13

“không có một cơ sở lý thuyết được chấp nhận rộng rãi cũng như một mô hình thường được chấp nhận các lý thuyết này thiếu một khung khái niệm phản ánh đầy đủ thực tế của quản trị doanh nghiệp” [90, tr.23] Cũng tại phần 1 tác giả

nghiên cứu sự phát triển của đạo luật, thông lệ về quản trị công ty ở một số khu vực trên thế giới Tác giả cho rằng mặc dù có nhiều sự tương phản về nền tảng pháp lý,

về văn hóa và chính trị, các hình thức tổ chức kinh doanh hay cấu trúc sở hữu thì các đạo luật về quản trị công ty của các nước đều hướng tới mục tiêu đó là đảm bảo hơn nữa sự minh bạch, trách nhiệm giải trình và gia tăng niềm tin của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Trong phần này tác giả tập trung phân tích, đánh giá

và tìm hiểu sự phát triển pháp luật về quản trị công ty ở Anh, Mỹ và EU với mục đích là làm làm rõ yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển pháp luật về quản trị công ty, nhận thức được nguyên lý phát triển chính trong pháp luật về quản trị công

ty, đánh giá các khía cạnh, đặc tính và phương thức hoạt động của pháp luật về quản trị công ty Phần 2 tác giả tập trung nghiên cứu về vai trò của cổ đông, bên liên quan đến quản trị công ty, nghiên cứu về cấu trúc sở hữu của các loại hình công ty Phần

3 tác giả phân tích đánh giá về cấu trúc quản trị nội bộ của công ty như: vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của HĐQT, Giám đốc, Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT,

thư ký công ty Với cách tiếp cận tương tự trong cuốn sách “Theories of Corporate

Governce The Philosophical Foundation of Corporate Governce” của tác giả

Thomas Clarke [98], tác giả cung cấp một cách nhìn toàn diện về vấn đề lý luận về quản trị công ty hiện nay, mục đích của cuốn sách trả lời câu hỏi Làm thế nào để đảm bảo các công ty được điều hành cho mục đích đã thỏa thuận? Ban giám đốc

có thể đóng vai trò gì? Có phải các CEO quá mạnh mẽ và không đủ trách nhiệm? Trước những vụ bê bối tài chính và doanh nghiệp trong những năm gần đây, quản trị công ty ngày càng được công nhận là cách thức và lý do tại sao các doanh nghiệp được điều hành như hiện tại Nhưng trong khi có những lý thuyết đa dạng

và được thiết lập tốt về quản trị doanh nghiệp, chúng hiếm khi được tập hợp theo một cách mạch lạc và so sánh Trên cơ sở đó, cuốn sách tập trung đi sâu phân tích

sự phân tách quyền sở hữu và kiểm soát trong công ty; cách thức hoạt động kinh tế được tổ chức thông qua các công ty, các lý thuyết đại diện, lý thuyết người quản lý

và lý thuyết bên liên quan của quản trị công ty

Trong cuốn sách “Corporate Governance: Principles, Policies, and

Practices” của tác giả Bob Tricker [89], trong phần một tác giả đã giới thiệu về quá

trình phát triển của quản trị công ty qua giai đoạn 1970, 1980, 1990 và giai đoạn

Trang 14

đầu của thế kỷ 21 Trong đó tác giả có phân tích sự ra đời của công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn và sự phân tách giữa quyền sở hữu ra khỏi hoạt động điều hành quản lý của công ty Trong phần này, tác giả đưa ra cách định nghĩa về quản trị công ty dưới các khía cạnh khác nhau như: khía cạnh hoạt động, khía cạnh mối quan hệ, khía cạnh bên liên quan, khía cạnh kinh tế tài chính, khía cạnh xã hội Trên

cơ sở định nghĩa đó, tác giả đưa ra phạm vi của quản trị công ty Tài liệu này cũng

đề cập và phân tích các lý thuyết về quản trị công ty: lý thuyết đại diện, thuyết chi phí giao dịch, thuyết người quản lý, thuyến nguồn tài nguyên độc lập và một số lý thuyết khác làm cơ sở cho các nghiên cứu về quản trị công ty sau này Khung pháp

về quản trị công ty về quản trị công ty bao gồm pháp luật, quy tắc, quy định về quản trị công ty; quy tắc của các tổ chức quốc tế, của các định chế đầu tư, luật công ty, các báo cáo về quản trị công ty Trong tài liệu này tác giả cũng tập trung phân tích các mô hình quản trị điển hình đang tồn tại như mô hình quản trị một tầng, mô hình quản trị hai tầng và mô hình hỗn hợp Đặc biệt tác giả giành riêng một mục để nghiên cứu về quản trị công ty đại chúng trên cơ sở xem xét các yếu tố: cấu trúc sở hữu, quyền cổ đông, quan hệ cổ đông, vai trò của các định chế đầu tư, minh bạch và công bố thông tin, lợi ích của người quản lý, tác giả nhận định những công ty đại chúng cần đáp ứng nhiều yêu cầu về chuẩn mực quản trị công ty hơn là các loại hình công ty khác như các quy định của pháp luật, các thông lệ về quản trị công ty

và các quy tắc niêm yết của thị trường chứng khoán [89, tr.244]

Cuốn sách “Corporate Governance: Theories, Principles, and Practices” của

tác giả John Farrar[91], trong phần những khái niệm cơ bản, tác giả nhận định rằng thuật ngữ quản trị công ty bao gồm các quy định pháp lý trong luật công ty, án lệ của tòa án và ở nghĩa rộng hơn bao gồm cả lĩnh vực pháp luật tài chính và lao động Cấu trúc của quản trị công ty bao gồm các quy định pháp luật, các quy tắc về niêm yết chứng khoán, thông lệ về thực hành tốt, quy tắc đạo đức kinh doanh Nếu hiểu trong phạm vi các quy định của pháp luật thì quản trị công ty quan tâm đến vai trò của HĐQT, ĐHĐCĐ, nghĩa vụ của người quản lý, cách hoạt động của ĐHĐCĐ; quyền cổ đông và vai trò của kiểm toán viên và các cơ quan quản lý có liên quan Cuốn sách đề cập đến những vấn đề pháp lý trọng tâm của quản trị công ty như: sự phân chia quyền lực giữa HĐQT và ĐHĐCĐ, địa vị pháp lý của HĐQT, nghĩa vụ của người quản lý; quyền và nghĩa vụ cổ đông; minh bạch và vai trò của kiểm toán viên và ủy ban kiểm toán trong quản trị công ty Trên cơ sở vấn đề lý luận cơ bản

về quản trị công ty, tác giả đi sâu vào đánh giá, phân tích các quy định pháp luật của

Trang 15

Australian và New Zealand trên từng khía cạnh của quản trị công ty

Cuốn sách “Comparative Company Law: Text and Cases on the Laws

Governing Corporations in Germany, the UK and the USA” của tác giả Andreas

Cahn and David C Donald [87] đưa ra một cách nhìn toàn cảnh về pháp luật công

ty của nước Đức, Anh và Mỹ Cuốn sách được chia làm bốn phần: (1)Những vấn đề cốt yếu của công ty, (2) Công ty và vấn đề về vốn, (3) Quản trị công ty, (4) Nhóm công ty, tiếp nhận, mua bán và sáp nhập công ty Tại mỗi phần tác giả đã đánh giá,

so sánh pháp luật công ty của ba nước nói trên về từng vấn đề Tương tự như vậy,

trong cuốn “European Comparative Company Law” của tác giả sách Mads

Andenas and Frank Wooldridge [92] tiếp cận dưới góc độ so sánh luật công ty của các nước EU dưới các khía cạnh về cách thức thành lập; các loại hình công ty ở mỗi nước; vốn chủ sở hữu và vốn vay; quản lý và điều hành của từng loại hình công ty; ảnh hưởng của pháp luật cộng đồng đến từng loại hình; sự tham gia của người lao động vào quản trị công ty

Cuốn sách “Các nguyên tắc về quản trị công ty của OECD” do IFC giữ bản

quyền (2004, 2015) [64][65] Nội dung của tài liệu đưa ra các nguyên tắc về quản trị công ty của OECD như quyền cổ đông, đảm bảo bình đẳng giữa các cổ đông, vai trò của các bên liên quan đến quản trị công ty, công bố thông tin và minh bạch, trách nhiệm của Hội đồng quản trị, đồng thời đưa ra các hướng dẫn thực hiện các nguyên tắc này Bộ nguyên tắc này nhằm giúp các nước thành viên và không thành viên của OECD đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức và quản lý cho quản trị công ty ở quốc gia đó và cung cấp các hướng dẫn, khuyến nghị cho thị trường chứng khoán, nhà đầu tư, công ty và các bên khác có vai trò trong quá trình phát triển quản trị công ty tốt Bộ nguyên tắc này tập trung vào các công ty cổ phần đại chúng trong lĩnh vực tài chính và phi tài chính Tuy nhiên, trong phạm vi có thể

Bộ nguyên tắc cũng có thể là công cụ hữu ích để nâng cao quản trị công ty ở các công ty không phải là công ty cổ phần như doanh nghiệp tư nhân và công ty nhà nước Bộ nguyên tắc này đã được rà soát và chỉnh sửa vào năm 2015 với sự tham gia cộng tác của các nước G20 không thuộc OECD

Hướng dẫn của OECD về quản trị công ty trong doanh nghiệp nhà nước; do

IFC giữ bản quyền (2005) Bộ hướng dẫn này có thể được coi là phần bổ sung của

bộ nguyên tắc Quản trị công ty của OECD Bộ hướng dẫn này được xây dựng dựa trên bộ nguyên tắc Quản trị công ty của OECD và hoàn toàn phù hợp với bộ nguyên tắc này Bộ hướng dẫn hướng tới những vấn đề cụ thể của quản trị công ty trong các

Trang 16

doanh nghiệp nhà nước, coi nhà nước như là một chủ sở hữu, và tập trung vào chính sách đảm bảo quản trị công ty tốt Mục tiêu của bộ hướng dẫn này là cung cấp các khuyến nghị chung giúp chính phủ trong việc nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, việc áp dụng Bộ hướng dẫn cần dựa vào các điều kiện cụ thể[66]

Ở Việt Nam, trong giai đoạn từ đầu những năm 2000 trở về trước, có sự thiếu vắng của các công trình nghiên cứu về quản trị công ty, bởi lẽ thời gian đó Việt Nam mới bắt đầu tiến trình hội nhập quốc tế, chưa chịu ảnh hưởng mạnh từ những

“sự kiện quản trị công ty” quốc tế, bản thân hệ thống công ty cổ phần trong nước đang hình thành nên chưa trở thành mối quan trong của các nhà nghiên cứu Từ sau năm 2000, đã có một số công trình nghiên cứu về quản trị công ty một cách quy mô,

có chiều sâu, và đây chính là nguồn tài liệu tham khảo quý báu giúp tác giả kế thừa

và phát triển sâu sắc thêm về chế định quản trị công ty đại chúng theo quy định của pháp luật Việt Nam

Sách “Quản trị công ty -nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp cận nguồn vốn

trên thị trường toàn cầu” Ira M.Millstein, Michel Albert, Sir Adrrian Cadbury,

NXB Giao thông vận tải, 1998 Cuốn sách này là Báo cáo đệ trình lên OECD của nhóm tư vấn kinh doanh về Quản trị Công ty do Ira M Millstein làm trưởng nhóm[48] Trong khuôn khổ nghiên cứu của mình, nhóm tư vấn trình bày các quan điểm mà nhóm tin rằng chúng sẽ giúp ích cho việc hoạch định các chính sách công liên quan đến quản trị công ty, gợi ra các lĩnh vực nhằm khuyến khích các hoạt động tự nguyện của khu vực tư nhân và kiến nghị OECD có những nỗ lực hơn nữa

để đưa ra một bộ những nguyên tắc chung hướng dẫn việc đánh giá và cải cách chính sách quốc gia

Sách “Chuyên khảo Luật Kinh tế”, Phạm Duy Nghĩa, NXB ĐH Quốc gia Hà

Nội, 2004 Cuốn sách đưa ra một cách nhìn tổng thể về pháp luật kinh tế của Việt Nam Bắt đầu bằng nguồn gốc lịch sử, giới hạn và những thách thức của pháp luật kinh tế (phần 1), trật tự kinh tế và quyền tài sản (phần 2), tổ chức kinh doanh, hợp đồng và giải quyết tranh chấp (phần 3-5), phần 6 nghiên cứu về chính sách cạnh tranh Trong phần 3 của cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề về lịch sử phát triển của mô hình tổ chức kinh doanh ở Việt Nam, theo tác giả xuất phát từ tập quán kinh doanh, đặc điểm về lịch sử văn hóa thì việc du nhập các mô hình công ty theo mô hình của các nước phương Tây cũng không làm thay đổi cách nghĩ và quản lý kinh doanh theo kiểu gia đình ở Việt Nam Chính vì vậy, việc du nhập mô hình công ty

cổ phần với quy mô lớn đặc trưng về tính chịu TNHH, tư cách pháp nhân, cổ phần

Trang 17

có thể tự do chuyển đổi, sự phân tách về sở hữu và điều hành là khá khó khăn và cần nhiều thời gian để thích nghi Đặc biệt tác giả đã đưa ra khái niệm, ý nghĩa về quản trị công ty, theo tác giả quản trị công ty trước hết là các thiết chế điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ sở hữu với nhau, và giữa họ với bộ máy điều hành trong doanh nghiệp quy mô lớn mà sở hữu và điều hành đã tách rời, trong đó lợi ích giữa các nhà quản lý

và người sở hữu (cổ đông), công ty thường không đồng hành cùng nhau vì vậy pháp luật phải có quy định cần thiết để phân chia quyền lực trong cơ cấu quản trị phù hợp nhằm tạo ra cơ chế giám sát lẫn nhau, cùng với đó là cơ chế công bố và minh bạch thông tin hợp lý Cuốn sách cũng đưa ra cách thức quản trị truyền thống trong các doanh nghiệp dân doanh, cách thức quản trị doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp

cổ phần hóa và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài [54]

Cuốn sách “ Luật doanh nghiệp – Vốn và quản lý trong công ty cổ phần” LS

Nguyễn Ngọc Bích, (2004), NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh[23][24] Cuốn sách trình bày những gì Luật doanh nghiệp quy định về vốn và quản lý công ty cổ phần, sau đó làm rõ quy định ấy bằng cách nêu ra tập tục và luật pháp có liên quan; chú ý tìm hiểu tại sao chúng đã xuất hiện để bây giờ ta du nhập vào Các tập tục được nêu ra cốt chỉ để cung cấp tài liệu tham khảo và chọn lựa như là một sự bổ túc cho những quy định của luật pháp Việt Nam Cuốn sách tham khảo những tập tục

và luật pháp về công ty của Mỹ và Anh để tìm xem học làm thế nào, tại sao họ làm,

để chọn ra những gì phù hợp với hoàn cảnh Việt nam để áp dụng Nội dung chủ yếu

đề cập đến thuộc tính của công ty cổ phần, vốn của công ty; quản lý công ty; tính trách nhiệm hữu hạn của công ty; Tại phần ba, Quản lý công ty tác giả phân tích mô hình quản trị công ty của Nhật, Pháp và Mỹ, qua đó đưa ra sự khác biệt nhau về đặc điểm quản trị công ty tại mỗi nước này Tại phần này, tác giả giành riêng một chương để luận giải vấn đề về quản trị công ty (tác giả sử dụng thuật ngữ “lèo lái công ty”) Quản trị công ty là tập hợp cơ chế liên quan đến việc điều hành và kiểm soát công ty, nó đề ra cách thức phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa các thành viên của công ty bao gồm cổ đông, HĐQT, BGĐ và những người liên quan khác Trên cơ sở khái niệm về quản trị công ty tác giả phân tích đánh giá các yếu tố có liên quan như: giao dịch dễ gây rủi ro, các vấn đề về cổ đông và ĐHĐCĐ, tập tục về HĐQT và thành viên HĐQT trên thế giới Trên nền tảng của cuốn sách này năm

2009 tác giả Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Ngọc Bích cho xuất bản cuốn sách

“Công ty – Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật doanh nghiệp năm 2005”, cuốn sách này được viết sau khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời, trong lần tái bản

Trang 18

này tác giả đã cập nhật những nội dung mới, những quy định mới các vấn đề về vốn, quản lý, và quản trị công đang hiện hành

Sách “Quản trị công ty đại chúng, niêm yết dành cho doanh nghiệp và nhà

đầu tư”; Lê Minh Toàn, NXB Chính trị quốc gia, 2010 Nội dung cuốn sách đề cập

một cách tổng quan nhất về quản trị công ty đại chúng, niêm yết ở Việt Nam trên cơ

sở các quy định pháp luật hiện hành cũng như thực trạng của việc thực hiện các quy định về quản trị công ty tại Việt Nam Tại chương 1 tác giả trình bày những vấn

đề chung về quản trị công ty và quản trị công ty đại chúng niêm yết Theo tác giả quản trị công ty đã trở thành vấn đề cơ bản trong lĩnh vực luật công ty và luật chứng khoán ở nhiều nước trên thế giới Theo nghĩa hẹp, quản trị công ty quan tâm đến cấu trúc quản lý công ty, lợi ích và mục tiêu của các nhóm trong công ty; theo nghĩa rộng quản trị công ty thiết lập tổ hợp các mối quan hệ giữa các bên tham gia vào công ty và các mục tiêu đầy đủ của quản trị công ty đó Mục tiêu của khung quản trị công ty phù hợp là: đảm bảo tính thích nghi của cơ cấu quản trị; bảo vệ quyền lợi của cổ đông thông qua sự công bằng, giải trình được, sự minh bạch; tính độc lập của HĐQT và cơ chế kiểm soát; bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số; điều hòa lợi ích cổ đông và người liên quan Trong chương này tác giả cũng phân tích khái niệm quản trị công ty, công ty đại chúng/niêm yết ở Việt Nam [71]

Sách “Quản trị công ty ở Đông Á sau khủng hoảng 1997”, Trương Thị Nam

Thắng, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2010 Tác giả cho rằng quản trị công ty theo nghĩa hẹp là mối quan hệ giữa cán bộ điều hành, thành viên HĐQT và các bên cung cấp vốn cho doanh nghiệp, các bên hữu quan khác; nghĩa rộng hơn bao gồm luật pháp, quy chế niêm yết, thông lệ tự nguyện của khu vực kinh tế tư nhân giúp công ty có thể thu hút vốn, hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu của công ty và đáp ứng được yêu cầu của pháp luật và mong đợi của xã hội Bên cạnh đó, tác giả

đề cập, phân tích ba lý thuyết chính về quản trị công ty: thuyết người đại diện, lý thuyết người quản lý, lý thuyết bên hữu quan; cũng như các mô hình quản trị công

ty của một số nước xây dựng theo các lý thuyết này Tác giả cho rằng hiện nay Bộ quy tắc QTCT của OECD trở thành nền tảng cho QTCT toàn cầu, mặc dù có một số chỉ trích về tính hiệu quản của việc OECD áp đặt mô hình Anh – Mỹ lên các thị trường còn lại tuy nhiên việc sử dụng 5 nội dung của bộ quy tắc QTCT của OECD làm khuôn khổ phân tích cho nghiên cứu là phù hơp bởi Bộ quy tắc này chỉ đưa ra những nguyên tắc cơ bản, chung, toàn cầu các quốc gia và công ty cần phải có sự áp dụng và phát triển chi tiết theo từng môi trường kinh doanh[72]

Trang 19

Tóm lại, các công trình nghiên cứu lý luận về quản trị công ty nói trên mặc dù

không chuyên sâu về pháp luật quản trị công ty đại chúng nhưng đã cung cấp một cách nhìn tổng quán về tình hình quản trị công ty trên thế giới và Việt Nam Trong các công trình nghiên cứu này các nội dung lý luận về quản trị công ty đã được trình bày khá chi tiết, dưới các giác độ khác nhau như: lịch sử của quản trị công ty, các lý thuyết về quản trị công ty, khái niệm quản trị công ty, các yếu tố của quản trị công

ty, các mô hình quản trị công ty, nội dung pháp luật về quản trị công Các kết quả nghiên cứu đó là nền tảng so sánh, phân tích, đánh giá của luận án để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cũng như căn cứ để đánh giá hoạt động thực tiễn và kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam hiện nay

1.1.2 Các công trình nghiên cứu thực trạng về pháp luật quản trị công ty

Trên cơ sở lý luận về quản trị công ty, cuốn sách “Corporate Governance:

Theories, Principles, and Practices” của tác giả John Farrar [91] đi sâu vào nghiên

cứu các quy định pháp luật về quản trị công ty trên cơ sở các quy định pháp luật thực định của Anh và của Mỹ về các vấn vai trò của cổ đông, bên liên quan đến quản trị công ty, quyền và nghĩa vụ nghiên cứu về cấu trúc sở hữu của các loại hình công ty, về cấu trúc quản trị nội bộ của công ty như: vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của HĐQT, Giám đốc, Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT, trong đó có so sánh đối chiếu với quy định pháp luật về quản trị công ty của một số nước có tính chất tương đồng Đặc biệt trong phần 4 tác giả đã phân tích và đưa ra một cách nhìn tổng thể về các quy định pháp về luật quản trị công ty ở một số khu vực trên thế giới như: Châu

Âu lục địa; Trung và Đông Âu; Châu Á – Thái Bình Dương; Khu vực Đông Phi, Ai Cập, Ấn Độ, Brazil Trên cơ sở đó tác giả nhận định có nhiều quy định pháp luật và cấu trúc sở hữu có liên quan và ảnh hưởng đến quản trị công ty Trong khi hệ thống pháp luật dựa trên thông luật (common law) có xu hướng đưa ra điều kiện đảm bảo quyền cổ đông (bao gồm cả cổ đông thiểu số) thì hệ thống pháp luật dựa trên dân luật (civil law) thì ít hơn các quy định này Điều đó ảnh hưởng bởi cấu trúc sở hữu, với những nước dựa trên cơ sở thông luật có xu hướng có nhiều công ty đại chúng với cấu trúc sở hữu phân tán còn những nước dựa trên cơ sở dân luật thì cách thức

sở hữu trong công ty chủ yếu bởi các tổ chức, tập đoàn Hiện nay, không có cách thức quản trị công ty nào có thể áp dụng chung cho tất cả công ty ở các nước tuy nhiên hiện nay các thông lệ quản trị công ty tốt của OECD, World Bank, ICNG đang có sự ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật quản trị công ty ở nhiều nước Cũng

với cách tiếp cận như trên, cuốn sách “Corporate Governance: Principles, Policies,

Trang 20

and Practices” [89] của tác giả Bob Tricker tập trung nghiên cứu các quy định pháp

lý về quản trị công ty của Anh và Mỹ, hay cuốn sách “Corporate Governance:

Theories, Principles, and Practices” của tác giả John Farrar trung nghiên cứu các

quy định pháp lý về quản trị công ty của Australian và New Zealand [91]

Nếu coi quản trị công ty là sự liên kết, thì nó bao gồm các hệ thống pháp luật

và các cơ chế đảm bảo rằng lợi ích của người quản lý, điều hành công ty luôn phù hợp, đồng hành với lợi ích cổ đông Hệ thống chế độ về quản trị công ty bao gồm các cơ chế bên trong và cơ chế bên ngoài công ty Cơ chế bên trong chính là các yếu

tố trong nội bộ công ty mà nền tảng quy định đó được xác định trong luật công ty, còn cơ chế bên ngoài chính là môi trường pháp lý mà công ty hoạt động, các quy chế thị trường, các tổ chức có liên quan (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước) Với cách tiếp cận quản trị công ty là yếu tố trong nội bộ công ty trong cuốn sách

“Comparative Company Law: Text and Cases on the Laws Governing Corporations

in Germany, the UK and the USA” của tác giả Andreas Cahn and David C Donald

[87] đã cung cấp một cách nhìn tổng quan về pháp luật công ty của Đức, Anh và

Mỹ trong đó có so sánh đối chiếu các quy định luật công ty của các nước này về từng khía cạnh chuyên biệt Trong đó nghiên cứu, luận giải về các vấn đề: công ty

và các vấn đề về vốn; các vấn đề liên quan đến quản lý điều hành ( Hội đồng quản trị, nghĩa vụ người quản lý, quyết định quản lý); các vấn đề liên quan đến thành viên/cổ đông (Đại hội đồng cổ đông, quyền bỏ phiếu, quyền thông tin, nghĩa vụ cổ đông, thực thi quyền cổ đông) Ngoài ra, trên cơ sở các quy định pháp luật về công

ty tại mỗi phần tác giả có đưa ra một số phán quyết pháp lý của các cơ quan nhà nước làm cơ sở thực tiễn cho những luận giải, phân tích trong tài liệu Tương tự với

cách tiếp cận trên, trong cuốn sách “Company law” của Ben Pettet [88], trên sau

khi phân tích cơ sở lý luận về công ty, tác giả đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề pháp luật công ty của Anh bao gồm các nhóm vấn đề: các quy định pháp luật về công ty; quản trị công ty, quản trị tài chính; quy định về chứng khoán

Cuốn sách “European Comparative Company Law” của tác giả Mads

Andenas and Frank Wooldridge [92], theo tác giả, EU đang nỗ lực đưa ra các quy định nhằm đảm bảo quyền tự do thành lập và di chuyển vốn trong công ty giữa các quốc gia thành viên, vì vậy để đảm bảo sự hài hòa, phù hợp giữa pháp luật công ty của các quốc gia thành viên và luật pháp của EU là điều cần thiết Trong trường hợp

có sự xung đột pháp luật, thì các quy định chung pháp luật công ty của EU sẽ được

áp dụng Chính vì vậy, trong cuốn sách này tác giả nghiên cứu luật công ty của các

Trang 21

quốc gia EU dưới góc độ luật so sánh Trên cơ sở pháp luật công ty thực định của các quốc gia trong EU tác giả phân tích đánh giá theo từng nhóm vấn đề: thành lập công ty; các hình thức tổ chức kinh doanh; quản lý và điều hành công ty; sự tham gia của người lao động vào công ty; vốn cổ phần và vốn vay; nhóm công ty; vấn đề hợp nhất và mua lại công ty; bảo vệ nhà đầu tư

Báo cáo “Public Enforcement and Corporate Governance in Asia: Guidance

and Good Practices”; OECD giữ bản quyền (2014) Bản báo cáo này được thực hiện

vào năm 2013 thông qua các khảo sát được thực hiện ở các nước Bangladesh; Trung Quốc; Đài Bắc Trung Quốc; Hồng Kông, Trung Quốc; Ấn Độ; Indonesia; Hàn Quốc; Malaysia; Mông Cổ; Pakistan; Philippines; Singapore; Thái Lan và Việt Nam Mục đích của bản báo cáo để xác định những thách thức và trở ngại để tổ chức thực thi một cách có hiệu quả các thông lệ quản trị công ty tốt ở các nước nói trên Các thông lệ thực hành tốt và khuyến nghị trong báo cáo này được đưa ra dựa trên những cuộc khảo sát, thảo luận và phỏng vấn Báo cáo này đưa ra các hướng dẫn và thực hành tốt để giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý ở châu Á trong lĩnh vực thực thi quản trị công ty tại nước mình Báo cáo tập trung đánh giá lĩnh vực: khung pháp lý toàn diện và đầy đủ của pháp luật, các giao dịch của các bên liên quan, vấn đề công bố thông tin về quyền sở hữu và kiểm soát, và nhiệm vụ ủy thác của giám đốc; Tổ chức của các cơ quan thực thi pháp luật; Cơ quan quản lý, giám sát, điều tra, thực thi và áp đặt các biện pháp xử lý; Công bố các hành động thực thi; Vai trò của Tòa án và các hệ thống tư pháp; Cơ chế thực thi liên quốc gia [97]

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về quản trị công ty nói chung, trong thời gian gần đây có nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài về quản trị công ty có liên quan đến Việt Nam, cụ thể:

Báo cáo về tình hình tuân thủ chuẩn mực và nguyên tắc (ROSC) quản trị công

ty – Đánh giá tình hình quản trị công ty ở Việt Nam (6/2006)[67]: Báo cáo này cung

cấp đánh giá về khuôn khổ quản trị công ty của Việt Nam – bao gồm các lĩnh vực luật pháp và quy định, các cơ chế giám sát và cưỡng chế thực thi, thị trường và đặc biệt là thị trường chứng khoán Báo cáo nêu nên một số vấn đề chính, tóm tắt tình hình tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty của OECD và đưa ra những khuyến nghị về những điểm cần cải thiện Các vấn đề chính như: khuôn khổ về quản trị công ty ở Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển ban đầu, các luật và quy định liên quan đang được xây dựng, khu vực doanh nghiệp mang nhiều tính chất phi chính thức, trong đó thị trường chứng khoán phi chính thức vẫn lớn hơn nhiều so

Trang 22

với thị trường chứng khoán chính thức, nhà nước vẫn nắm giữ một tỷ lệ đáng kể trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Năng lực và nguồn lực của một số

cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm quản lý, cưỡng chế thực thi và phát triển thị trường còn hạn chế Một số vấn đề lớn: chưa có sự bảo vệ đầy đủ cho nhà đầu tư, chưa tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kế toán và còn hạn chế công bố những thông

tin có chất lượng Tiếp theo, năm 2013 Worl Bank đưa ra bản báo cáo “Report on

the Observance of Standards and Codes (ROSC): Corporate governance country assessement – Vietnam” Đây là bản cập nhật của ROSC quản trị doanh nghiệp năm

2006 cho Việt Nam [99] Báo cáo này đánh giá khung chính sách quản trị doanh nghiệp của Việt Nam Nó nhấn mạnh những cải tiến gần đây trong quy định quản trị doanh nghiệp, đưa ra khuyến nghị chính sách và cung cấp cho các nhà đầu tư một chuẩn mực để đo lường quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam Trên cơ sở phân tích, đánh giá khung pháp luật về quản trị công ty ở Việt Nam, cơ chế thực thi, quyền cổ đông, Hội đồng quản trị, Bên liên quan và giao dịch bất thường, minh bạch và công

bố thông tin, báo cáo đã đưa ra nhận định: từ năm 2006 khung pháp lý về quản trị công ty dần được hoàn thiện và tiếp cận với thông lệ chung về quản trị công ty tốt; các quy định trong Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản pháp lý có liên quan đã cung cấp một nền tảng vững chắc để bảo vệ nhà đầu tư/cổ đông Chế độ công bố thông tin được thực hiện một cách tương đối đầy đủ, Nhiệm vụ của thành viên hội đồng quản trị là hành động vì lợi ích của công ty, cư xử thận trọng và đối xử công bằng với các cổ đông, được thiết lập tốt về luật pháp và quy định Bên cạnh đó vấn còn một số thách thức đặt ra cho quản trị công ty tại Việt Nam như: Nhìn chung, quản trị công ty của nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn còn kém, với những điểm yếu về tính minh bạch, tính chuyên nghiệp của hội đồng quản trị và cách nhà nước đóng vai trò là chủ sở hữu; UBCK cũng phải đối mặt với những hạn chế về quyền hạn và sự độc lập của mình Đăng ký công ty được phân cấp, không có cơ quan đăng ký quốc gia hoặc cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện Luật doanh nghiệp và hạn chế sử dụng tự động hóa; Sự không nhất quán giữa các luật và quy định khác nhau liên quan đến quản trị công ty; Vấn đề quyền cổ đông và đối sử công bằng cổ đông chưa được đảm bảo; ngưỡng phê duyệt giao dịch chính của bên liên quan còn cao và ít khi được sử dụng; khái niệm bên liên quan còn hẹp, vấn đề công bố thông tin mang tính hình thức, vấn đề kiểm soát gián tiếp và kiểm soát giao địch có tính tư lợi kém, việc công bố minh bạch thông tin giao dịch các bên có liên quan có xu hướng không đầy đủ, và các yếu tố rủi ro và xu hướng ảnh hưởng

Trang 23

đến công ty thường không được tiết lộ, khả năng thực hiện quyền cổ đông và khởi kiện của cổ đông còn hạn chế; Hội đồng quản trị của các công ty đại chúng tụt hậu

so với các yêu cầu hiện tại về nhiệm vụ và trách nhiệm của hội đồng quản trị, và đã không thành lập Ủy ban hội đồng quản trị hoặc để các thành viên HĐQT không được đào tạo về nghiệp vụ, các thành viên độc lập vẫn không đóng một vai trò quan trọng quản trị công ty Các HĐQT không có ủy ban kiểm toán, nhưng thay vào đó

có các ủy ban kiểm tra riêng, trong thực tế thường không hiệu quả trong việc giám sát kiểm toán, tuân thủ hoặc tài chính của công ty

Cẩm nang về quản trị công ty do IFC giữ bản quyền (10/2010) [63] Cuốn

sách này được viết nằm trong khuôn khổ dự án quản trị công ty ở Việt Nam được thực hiện bởi tổ chức tài chính quốc tế (IFC) Cuốn cẩm nang này đã tập hợp và phân tích một cách khá hệ thống và đầy đủ các quy định pháp luật hiện hành về quản trị công ty ở Việt Nam Cuốn sách tập trung phân tích đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam trên từng lĩnh vực: bên cạnh phần lý luận về quản trị công ty, cuốn sách đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề pháp lý về Hội đồng quản trị, Bộ máy điều hành (GĐ/TGĐ), Thư ký công ty, Cổ đông và Đại hội đồng cổ đông, ý nghĩa của chứng khoán trong Quản trị công ty, các giao dịch trọng yếu trong doanh nghiệp, công bố thông tin, các quy trình kiểm toán và kiểm soát Bên cạnh đó cuốn sách đồng thời giới thiệu có chọn lọc các thực tiễn, thông lệ tốt trên thế giới về quản trị công ty; phân tích thực tiễn nước ta với thực tiễn tại một số quốc gia có hoàn cảnh tương tự Bên cạnh đó, cuốn cẩm nang cũng giới thiệu những thông lệ, những giải pháp có thể áp dụng để hoàn thiện công tác quản trị công ty trong điều kiện và khuôn khổ pháp luật hiện nay ở nước ta [63]

Báo cáo thẻ điểm về quản trị công ty các năm (2011- 2012; 2013-2014; 2016), Tổ chức IFC giữ bản quyền Các báo cáo này là một phần của dự án Quản trị

2015-công ty của IFC tại Việt Nam nhằm giúp các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và tổ chức nâng cao nhận thức về quản trị công ty Các báo cáo này là tài liệu rà soát và báo cáo về tình hình quản trị công ty tại công ty niêm yết lớn nhất Việt Nam Mục tiêu của thẻ điểm: cung cấp một cơ sở mang tính chuẩn mực và hệ thống cho phép

cơ quan quản lý và nhà đầu tư có thể đánh giá hiện trạng quản trị công ty của doanh nghiệp cũng như có cái nhìn tổng thể về tình hình quản trị công ty ở Việt Nam; cho phép công ty tự đánh giá chất lượng quản trị công ty của công ty mình và thúc đẩy

họ cải thiện thực tiễn quản trị công ty; Xây dựng một hệ thống phân tích quản trị công ty theo ngành nghề; Hỗ trợ các cơ quan quản lý trong việc xác định điểm

Trang 24

mạnh, điểm yếu của luật lệ và thực tiễn quản trị công ty để từ đó đề ra các cải cách phù hợp; Đánh giá tiến triển của công tác quản trị công ty qua các năm và hỗ trợ nâng cao nhận thức và hiểu biết về các thông lệ quản trị công ty tốt Nội dung của báo cáo: Phần 1 trình bày những nội dung thông tin cơ bản về thẻ điểm quản trị công ty khu vực ASEAN (phương pháp đánh giá và quá trình đánh giá chéo); Phần

2 là phần báo cáo ở Việt Nam (trong phần này cuốn sách cung cấp một nhìn tổng thể về tình hình quản trị công ty và kết quả đạt được trong lĩnh vực quản trị công ty); Phần 3, cuốn sách tóm tắt những điểm mạnh điểm yếu của khung pháp lý về quản trị công ty trên từng lĩnh vực (quyền cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản, đối xử bình đẳng với cổ đông, vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty, công bố thông tin và tính minh bạch, trách nhiệm của HĐQT); Phần 4 đánh giá phần thực hành trong từng lĩnh vực ở phần 3 của các công ty theo quy định pháp luật; Phần 5 đánh giá chi tiết theo từng tiêu chí Phương pháp được sử dụng trong đánh giá của các Thẻ điểm là căn cứ trên các quy định của pháp luật Việt Nam, các nguyên tắc quản trị công ty của OECD, các thông lệ tốt trên thế giới; đồng thời cũng cập nhật những thay đổi về quản trị công ty ở Việt Nam qua các năm thực hiện[68][69]

Sách “CEO & Hội đồng quản trị - Cẩm nang quản trị và điều hành công ty

hiện đại” Nguyễn Trí Hùng, Nguyễn Trung Thắng – NXB Thành phố Hồ Chí

Minh, 2009 [73] Cuốn sách cung cấp cái nhìn tổng quan về khái niệm, vai trò và những công việc cụ thể của Giám đốc điều hành/ Tổng giám đốc (CEO) và Chủ tịch/ thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) trong mô hình công ty hiện đại cũng như mô hình đặc thù của các công ty châu Á và Việt Nam; đồng thời đưa ra hướng dẫn thực tế để hỗ trợ, cho các chủ sở hữu và các nhà quản lý doanh nghiệp - Giám đốc/Tổng giám đốc (CEO), Chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) thực hiện quản trị và điều hành công ty một cách tốt nhất; đáp ứng được những tiêu chuẩn toàn cầu, hiện đại về quản trị công ty Cấu trúc của cuốn sách này bao gồm các nội dung: (1)Tổng quan về CEO, những việc CEO cần phải làm và tiêu chuẩn của CEO; (2) phân tích sâu về Chủ tịch HĐQT, (3) về HĐQT; (4) về thành viên HĐQT; (5) giới thiệu về Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) dưới góc độ đưa ra những việc Chủ tịch HĐQT và CEO phải làm để tổ chức ĐHĐCĐ và để Ban Kiểm soát (BKS) hoạt động một cách tốt nhất; (6) của cuốn sách nghiên cứu những vấn đề cấp bách của quản trị công ty như kiểm soát xung đột nội bộ và xây dựng quy chế quản trị công ty

Trang 25

“Quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam – Quy định của pháp luật, hiệu lực thực

tế và vấn đề” Báo cáo nghiên cứu Viện quản lý kinh tế trung ương, năm 2008

[83] Trong báo cáo này, tác giả tập trung giới thiệu và phân tích thực trạng quản trị công ty mà chủ yếu là công ty cổ phần ở Việt Nam với ba phần chính sau Phần 1 giới thiệu sơ lược về quá trình phát triển khung pháp lý về quản trị công

ty ở Việt Nam Phần 2 sẽ tập hợp, giới thiệu và phân tích các quy định pháp luật

có liên quan tạo thành khung quản trị công ty cổ phần ở nước ta theo Luật doanh nghiệp 2005 Nội dung chủ yếu của phần 2 là giới thiệu các quy định pháp luật

có liên quan, tiếp đến là trình bày về bản chất, ý nghĩa, tác dụng của các bộ phận cấu thành khung pháp lý về quản trị công ty và cuối cùng là phân tích, so sánh các thông lệ tốt, kinh nghiệm và bài học rút ra từ Nhật Bản và Trung quốc, qua

đó phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu trong các quy định của pháp luật về khung quản trị công ty ở nước ta Phần 3 tác giả trình bày về sự vận hành thực tế

và hiệu lực của từng bộ phận hợp thành nói riêng và toàn bộ khung quản trị công

ty cổ phần ở nước ta nói chung; có so sánh với khung quản trị công ty theo quy định của pháp luật ở phần 2 với thực tiễn vận hành quản trị công ty ở Nhật Bản

và Trung Quốc Trên cơ sở đó, những khác biệt giữa quy định của pháp luật và thực thi các quy định đó trên thực tế cũng như những vấn đề còn tồn tại của khung quản trị công ty cổ phần ở nước ta sẽ là cơ sở của những kiến nghị của nghiên cứu

Sách “Công ty – Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật doanh nghiệp năm

2005”, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, NXB Tri thức, 2009 [23][24]

Trên cơ sở lý luận đã trình bày về sự hình thành của công ty trong lịch sử và thực thế, quá trình hình thành định chế công ty ở Việt Nam, vốn của công ty, quản trị công ty tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá các quy định về quản trị công ty quy định trong Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 và một số văn bản pháp lý có liên quan Nội dung phân tích, đánh giá bao gồm: cơ cấu quyền lực trong công ty cổ phần, cổ đông và ĐHĐCĐ, Hội đồng quản trị, GĐ/TGĐ, Ban kiểm soát, giao dịch

tư lợi, kiểm soát hoạt động công ty Để làm rõ nội dung nghiên cứu, bên cạnh việc đánh giá, xem xét các quy định thực định của pháp luật Việt Nam về quản trị công

ty tác giả có đối chiếu, so sánh với thông lệ tốt, quy định pháp luật về quản trị công

ty một số nước trên thế giới, đồng thời có minh họa cụ thể bằng một số tình huống pháp luật thực thế để luận giải cho phân tích, đánh giá trong cuốn sách

Tiếp cận dưới góc độ luật so sánh, cuốn sách “Quản trị công ty ở Đông Á sau

Trang 26

khủng hoảng 1997”, Trương Thị Nam Thắng, NXB Đại học Kinh tế quốc dân,

2010 Cuốn sách tập trung phân tích các điều chỉnh khuôn khổ thể chế về QTCT các công ty niêm yết và đại chúng tại 4 nước Đông Á, bao gồm Inđonêxia, Hàn Quốc, Malaixia và Thái Lan từ sau khủng hoảng 1997, tuy nhiên tập trung chủ yếu vào giai đoạn 1998-2004 Đây là 4 nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, các nước này nhận thức rõ ràng một trong những nguyên nhân đóng góp vào khủng hoảng tài chính là hệ thống QTCT yếu kém chính

vì vậy họ đã có điều chỉnh tích cực nhất về chính sách kinh tế và cũng như điều chỉnh và phát triển các văn bản pháp luật, các quy chế thị trường nhằm làm cho khu vực công ty và thị trường vốn trở lên minh bạch và hiệu quả Theo đó, tác giả tập trung nghiên cứu yếu tố tạo nền tảng cho khuôn khổ quản trị công ty mạnh : Các quy chế, quy định pháp luật (Luật công ty và Luật chứng khoán tạo ra yêu cầu đầu tiên về QTCT); Nguyên tắc thị trường; Nguyên tắc tự điều chỉnh Trên cơ sở đánh giá, so sánh khuôn khổ và thông lệ quản trị tại 4 nước Đông Á, tác giả đưa ra những quan sát và bài học rút ra cho Việt Nam [72]

Tóm lại, đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài về thực trạng pháp luật quản trị công ty đã đánh giá một cách tổng quát khuôn khổ pháp lý quản trị công ty tại một số nước trên thế giới mặc dù không nghiên cứu chuyên sâu về quản trị công

ty đại chúng nhưng dưới các giác độ khác nhau các kết quả nghiên cứu đó là nền tảng so sánh, phân tích, đánh giá, học tập kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài về quản trị công ty để luận án xây dựng cơ cở lý luận cũng như đánh giá thực tiễn và kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật về quản trị công đại chúng ở Việt Nam Đối với các công trình nghiên cứu trong nước về thực trạng pháp luật quản trị công ty đã phân tích, đánh giá thực trạng khung pháp lý về quản trị công ty ở Việt Nam và thực tiễn thi hành các quy định này trên thực tế, tuy nhiên với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và một loạt các văn bản pháp lý mới có liên quan đến quản trị công ty đại chúng trong thời gian gần đây đòi hỏi cần phải có nghiên cứu, xem xét đánh giá tính hợp lý của các quy định đó trên thực tế Vì vậy, công trình nghiên cứu trong nước có giá trị tham khảo cho luận án trong việc xem xét đánh giá sự phát triển của các quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam, đồng thời củng cố thêm giải pháp để hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam hiện nay

Trang 27

1.1.3 Các công trình nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty

Báo cáo “Report on the Observance of Standards and Codes (ROSC):

Corporate governance country assessement – Vietnam” năm 2013 của Worl Bank

[99] Trên cơ sở phân tích, đánh giá khung pháp luật về quản trị công ty ở Việt Nam, cơ chế thực thi, quyền cổ đông, Hội đồng quản trị, Bên liên quan và giao dịch bất thường, minh bạch và công bố thông tin thông qua các điều tra cụ thể Trong báo cáo đã đánh giá những điểm mạnh, điểm còn hạn chế trong từng lĩnh vực nêu trên đồng thời đề ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty ở Việt Nam Những khuyến nghị đó tập trung xây dựng kế hoạch hành động

để giải quyết những thất bại cốt lõi của quản trị doanh nghiệp nhà nước; đảm bảo sự thống nhất và rõ ràng về pháp lý cho những chủ thể tham gia thị trường; Thiết lập

sự hợp tác tốt hơn giữa các cơ quan quản lý và tăng cường thẩm quyền, nguồn lực

và tính độc lập của Ủy ban chứng khoán; Cải thiện bảo vệ các cổ đông thiểu số, kiểm soát giao dịch của bên liên quan, thay đổi cơ chế hoạt động của ĐHĐCĐ; Thiết lập tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động của HĐQT; Tăng tính minh bạch với sự tham gia của kiểm toán độc lập; công khai cơ cấu sở hữ và hoạt động

quản lý [99] Với cách tiếp cận tương tự như vậy là Báo cáo thẻ điểm về quản trị

công ty các năm (2011- 2012; 2013-2014; 2015-2016), Tổ chức IFC giữ bản quyền,

gần đây nhất là; Báo cáo quản trị công ty các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

năm 2018 được thực hiện bởi Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh,

Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội[61] Các báo cáo này đánh giá thực trạng quản trị công ty ở Việt Nam qua các năm về khung pháp lý và thực hành của các công ty đại chúng trên từng lĩnh vực cụ thể: quyền cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản, đối

xử bình đẳng với cổ đông, vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty, công bố thông tin và tính minh bạch, trách nhiệm của HĐQT, báo cáo đã đánh giá điểm mạnh, điểm hạn chế và đưa ra các khuyến nghị cần cải thiện theo từng lĩnh vực đánh giá Như vậy, có thế nói các Báo cáo nói trên đã nghiên cứu một cách có hệ thống sự thay đổi, bổ sung và hoàn thiện khung pháp lý về quản trị côn

ty của Việt Nam quan từng giai đoạn, qua đó có những khuyến nghị cần thiết để hoàn thiện khung pháp lý đó thông qua việc điều tra, khảo sát trên thực tế việc thực hiện các quy định đó Tuy nhiên, các đề xuất, khuyến nghị trong báo cáo chỉ mang chất khái quát, định hướng chưa đi sâu vào kiến nghị cụ thể dựa trên những cơ sở lý luận và điều kiện thực tế về sự phù hợp của kiến nghị đó với đặc điểm riên có của

Trang 28

Việt Nam Vì vậy, các khuyến nghị được đề xuất trong báo cáo đó sẽ được luận án tham khảo để nghiên cứu trong đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam hiện nay

“Cơ sở khoa học hoàn thiện chế độ quản trị công ty cổ phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở Việt Nam” Luận án Tiến sỹ kinh tế của Nguyễn Đình Cung, năm

2008 [30] Luận án đưa ra cơ sở khoa học hoàn thiện chế độ quản trị công ty cổ phần Trong đó, luận án đã đi sâu và tập trung nghiên cứu xây dựng mô hình quản trị công ty dựa trên mô hình công ty có tính tách biệt rõ nét giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, luận án đã giới thiệu nội dung và cơ chế vận hành của quản trị công

ty trong đó có lưu ý đến các điều kiện đặc thù cảu cổ đông nhà nước, định chế đầu

tư là thành viên của gia đình và cấu trúc sở hữu hình kim tự tháp, đã so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa quản trị công ty ở Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam và so với một số thông lệ tốt có liên quan, rút ra được một số khuyến nghị (so với kinh nghiệm) thông lệ tốt trong các quy định hiện hành về quản trị công ty ở Việt Nam (Cổ đông chưa được đối xử công bằng và tiếp cận thông tin; quyền cổ đông yêu; quy định về cơ cấu thành viên HĐQT và cách thức hoạt động chưa đảm bảo tính độc lập; Chế độ công khai, minh bạch hóa thông tin còn yếu; cơ chế giám sát người có liên quan và giao dịch của công ty với người đó còn yếu) Tác giả luận

án cũng đã mô tả được sự vận hành hiệu lực thực tế của quản trị công ty ở Việt Nam, Phát hiện được sự khác biệt hay chênh lệch giữa thực tế và mục tiêu yêu cầu của các quy định pháp luật có liên quan và trong luận án đề xuất một số nhóm giải pháp, kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện nâng cao hiệu lực quản trị công ty ở Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ về khung pháp lý về quản trị công ty

cổ phần ở nước ta, trong đó có so sánh đối chiếu với quy định của một số nước trong khu vực Tuy nhiên, các vấn đề về quản trị công ty được đề tài tập tiếp cận ở mức độ chung, khái quát về giải pháp quản trị công ty cổ phần Do vậy, các giải pháp hoàn thiện quản trị công ty cổ phần được đề xuất trong đề tài, được luận án tham khảo để nghiên cứu trong đề xuất hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng với tư cách là các căn cứ định hướng

“Quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Luận án Tiến sỹ kinh tế của Vũ Thị Thúy Ngà, năm

2011[53] Luận án đã hệ thống hóa các nội dung cơ bản về quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên các lĩnh vực: Quản lý nhà nước về phát hành; Quản lý nhà nước niêm yết; Quản lý nhà nước về công bố thông tin; Quản lý

Trang 29

nhà nước về quản trị công ty Tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với công ty niêm yết trên TTCK thông qua điều tra thực tế tại doanh nghiệp và đánh giá tổng trong luận án cũng so sánh, đánh giá các nội dung cơ bản về mặt lý thuyết, thông lệ quốc tế với thực tiễn quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên TTCK tại Việt Nam Đề xuất một số giải pháp, mô hình triển khai nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên TTCK giai đoạn 2010-2020 Mặc dù không đề cập trực tiếp đến pháp luật

về quản trị công ty đại chúng, nhưng kết quả nghiên cứu của công trình này làm rõ hơn khía cạnh xu hướng và nhu cầu đổi mới hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết, đây là một nội dung có liên quan đến cách thức, quyền nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong quan hệ pháp luật về quản trị công ty đại chúng Do vậy, tài liệu có ý nghĩa quan trọng giúp nghiên cứu sinh làm rõ vị trí,vai trò, chức năng của cơ quan quản lý nhà nước đối với công ty đại chúng nói chung, công ty niêm yết nói riêng, cũng như đề xuất sửa đổi bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng, trong đó có các quy định

về thực trạng thực thi pháp luật về quản trị công ty địa chúng tại chương 3

Sách “Quản trị công ty đại chúng, niêm yết dành cho doanh nghiệp và nhà

đầu tư”; Lê Minh Toàn, NXB Chính trị quốc gia, 2010 Nội dung cuốn sách đề cập

một cách tổng quan nhất về quản trị công ty đại chúng, niêm yết ở Việt Nam trên cơ

sở các quy định pháp luật hiện hành cũng như thực trạng của việc thực hiện các quy định về quản trị công ty tại Việt Nam; những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty đại chúng, niêm yết tại Việt nam Từ đó tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện thực trạng này và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị công ty đại chúng, niêm yết hiện nay Tuy nhiên các giải pháp trong cuốn sách chỉ dừng lại ở mức độ khái quát một số nội dung của pháp luật quản trị công ty đại chúng niêm yết, do vậy các giải pháp trong cuốn sách được luận

án tham khảo để nghiên cứu trong đề xuất chi tiết, cụ thể về pháp luật quản trị công

ty đại chúng hiện nay [71]

Bên cạnh các nghiên cứu trên, có nhiều công trình nghiên cứu có đề cập đến

giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty như: “Chế độ pháp lý về quản trị

công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp”, Luận văn Thạc sỹ Luật học (năm 2006)

của học viên Trần Lương Đức “Quản trị công ty niệm yết những vấn đề lý luận và

thực tiễn” Luận văn Thạc sỹ Luật học (năm 2008) của học viên Lê Minh Thắng

“Thông lệ về quản trị công ty của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD –

Trang 30

Nghiên cứu và áp dụng vào công ty cổ phần ở Việt Nam” Luận văn Thạc sỹ Luật

học (năm 2008) của học viên Nguyễn Đặng Minh “Chế độ pháp lý về quản trị

công ty ở Việt Nam hiện nay” Luận văn Thạc sỹ Luật học (năm 2012) của học viên

Phạm Minh Thái Trong các công trình nghiên cứu nói trên đã bước đầu gợi mở một

số giải pháp, kiến nghị về quản trị công ty cổ phần nói chung trên các lĩnh vực cụ thể như: quyền cổ đông, hoạt động của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, giám sát các giao dịch có khả năng tư lợi Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này ở cấp độ luận văn thạc sỹ, các tác giả cũng chỉ đề cập nghiên cứu sơ lược, trên cơ sở tổng hợp pháp luật để so sánh để đưa ra các giải pháp hoàn thiện về quản trị công ty nói chung mà chưa có sự phân tích, đánh giá toàn diện các vấn đề lý luận thực tiễn về quản trị công ty đại chúng từ đó kiến nghị xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng một cách thuyết phục

Tóm lại, những kết quả nghiên cứu về quản trị công ty trong và ngoài nước khá

đa dạng và phong phú Mặc dù kiến nghị, giải pháp đó mang tính khái quát hoặc giải pháp liên quan đến một nội dung của pháp luật về quản trị công ty đại chúng, nhưng các kết quả nghiên cứu đó có thể được coi là cơ sở để nghiên cứu sinh tham khảo, so sánh, phân tích, đánh giá để xây dựng cơ sở lý luận, cũng như cơ sở thực tế để đánh giá thực tiễn và kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng

ở Việt Nam hiện nay

1.1.4 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty đại chúng nói riêng ở hai cấp độ trong và ngoài nước như đã đề cập

ở trên, tác giả có một số nhận xét, đánh giá về các kết quả nghiên cứu như sau:

1.1.4.1 Đánh giá các kết quả nghiên cứu đạt được

Một là, các công trình nghiên cứu (đặc biệt là ở nước ngoài) đã đề cập và phân

tích một số cơ sở lý luận về quản trị công ty Các công trình nghiên cứu nước ngoài cũng đã cung cấp cho luận án một cái nhìn toàn diện về quản trị công ty như: vị trí, vai trò của quản trị công ty tốt trong các nền kinh tế; khái niệm và các yếu tố của quản trị công ty, các thông lệ quản trị công ty tốt; kinh nghiệm và cách thức thực thi khuôn khổ pháp lý về quản trị công ty ở một số nước trên thế giới Thông qua những nghiên cứu này, nghiên cứu sinh có thế tiếp cận nội dung về quản trị công ty dưới giác độ luật so sánh, mặc dù các nước với hệ thống pháp luật khác nhau, nghiên cứu về quản trị công ty dưới các góc độ khác nhau, nhưng tổng quan những tài liệu này cho phép luận án có cơ sở khái quát khung pháp lý về quản trị công ty

Trang 31

một cách đa chiều, có tính so sánh và đối chiếu

Một trong những kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trong đối với Luận án là

đã khái quát được một cách khá đầy đủ thực trạng các vấn đề mô hình pháp lý về quản trị công ty đại chúng, cách thức thực thi quản trị công ty đại chúng ở một số nước trên thế giới, từ đó giúp luận án có cơ sở để nghiên cứu so sánh với thực trạng khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng, cũng như cách thực thi các quy định của pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam Trên cơ sở so sánh, đánh giá đó luận án có thể luận giải được một số quan điểm, kinh nghiệm, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và cách thức thực thi các quy định này về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam

Hai là, các công trình nghiên cứu của Việt Nam đã tiếp cận và phân tích các

nội dung về quản trị công ty đại chúng trên cơ sở pháp luật thực định Các phân tích, nghiên cứu này tiếp tục được luận án đánh giá, bình luận và đưa ra những nhận định riêng của mình về khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam, trên cơ sở đó lý giải những vấn đề về thực tiễn thực hiện các quy định về quản trị công ty đại chúng, xác định sự khác biệt hay chênh lệch giữa thực tế và mục tiêu yêu cầu của các quy định pháp luật có liên quan đến quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam; đồng thời đề xuất các giải pháp, phương hướng nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng và hiệu quả thực thi của pháp luật thực định Một số công trình nghiên cứu có định hướng cụ thể vào việc hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty hiện nay ở Việt Nam, nhưng việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung, hoặc việc nghiên cứu về quản trị công ty dưới góc góc độ kinh tế, chưa thực sự xem xét vấn đề khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng và khoảng cách giữa các quy định pháp luật với cách thức thực thi chúng trên thực tế Đặc biệt cùng sau sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật chứng khoán năm 2012 cùng với đó là các văn bản pháp luật có liên quan khác có thể nói các quy định của pháp luật có liên quan đến quản trị công ty đại chúng đã có nhiều thay đổi, cần phải xem xét và nghiên cứu một cách toàn diện để làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu cũng như sự cần thiết cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng trong giai đoạn hiện nay

1.1.4.2 Những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo hoặc cần phải tiếp tục nghiên cứu trong Luận án

- Vấn đề quản trị công ty đại chúng chưa được pháp luật hiện hành và các

Trang 32

công trình nghiên cứu giải quyết một cách thấu đáo, chưa đủ sức thuyết phục làm căn cứ để phân biệt giữa quản trị công ty với các hoạt động khác (quản lý công ty, quản trị doanh nghiệp ); trên cơ sở đó xác định mục đích và phương thức thực hiện các quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng một cách phù hợp Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho luận án là: trên cơ sở phân tích một cách khoa học về các quan niệm trước đây về quản trị công ty, để đưa ra những quan niệm của mình về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam hiện nay

- Nội dung cụ thể mô hình pháp lý về quản trị công ty đại chúng (thế giới và Việt Nam) cần được so sánh, phân tích và đối chiếu, luận giải để làm rõ những khác biệt, đặc điểm riêng có ở Việt Nam

- Cần làm rõ các các yếu tố của cơ cấu pháp luật quản trị công ty đại chúng; xác định mối quan hệ giữa các nhóm quy định trong quy chế quản trị công ty bao gồm: các quy định mang tính chất pháp lý; các quy định mang tính chất tuân thủ và giải trình; nhóm các đề xuất

- Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam; khoảng cách giữa các quy định của pháp luật và cách thức thực thi trên thực

tế của các quy định đó; chỉ rõ được những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật hiện hành về quản trị công ty Xem xét tính thống nhất, phù hợp giữa các quy định pháp luật về quản trị công ty nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau

- Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích và làm sáng tỏ về cơ chế thực thi quản trị công ty đại chúng, hơn nữa đã thực tế áp dụng thành công ở một số quốc gia Tuy nhiên, các cơ chế thực thi có hiệu quả khung pháp lý về quản trị công

ty đại chúng ở Việt Nam chưa được đề cập, nghiên cứu ở mức độ cần thiết xuất phát

từ những đặc điểm riêng có về lịch sử và quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam

- Các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và hoàn thiện cơ chế thực thi trên thực tế các quy định pháp luật về quản trị công ty phù hợp với tình hình Việt Nam hiện nay, hướng tới phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thông lệ quốc tế tốt nhất về quản trị công ty đại chúng

1.2 Cơ sở lý thuyết và câu hỏi, giả thiết nghiên cứu

1.2.1 Cơ sở lý thuyết

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật Các quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường, về hội nhập kinh tế quốc tế và về xây dựng nhà nước pháp quyền trong giai đoạn mới cũng là cơ sở

Trang 33

phương pháp luận nghiên cứu của luận án

Khi nghiên cứu về quản trị công ty đại chúng, nghiên cứu sinh sử dụng một số

cơ sở lý thuyết điển hình như sau:

* Lý thuyết người đại diện (Agency Theory)

Lý thuyết người đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế đã được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976), với sự ra đời của mô hình công ty mới – Công ty cổ phần nơi mà có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý Lý thuyết người đại diện được định nghĩa là "mối quan hệ giữa các chủ sở hữu – Cổ đông và người đại diện – người điều hành và quản lý công ty" Trong lý thuyết này, các cổ đông là người chủ sở hữu hoặc ông chủ của các công ty, thuê những người đại diện - Giám đốc điều hành, người quản lý để thực hiện công việc cho mình Chủ sở hữu ủy nhiệm việc điều hành kinh doanh cho Giám đốc hoặc người quản lý, những người đại diện của cổ đông Về bản chất, lý thuyết coi các mối quan hệ quản trị như là một hợp đồng giữa cổ đông (Chủ sở hữu) và Giám đốc điều hành (người đại diện) Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra là khi những Người đại diện tìm cách tối đa hóa lợi ích

cá nhân của riêng mình, thì có thể gây ra bất lợi cho các cổ đông vì Người đại diện

có những đặc quyền cho phép chiếm đoạt giá trị của công ty cho bản thân họ, thay

vì việc phải thực hiện hoạt động nhằm tối đa hóa lợi nhuận của công ty, vì lợi ích của Chủ sở hữu công ty – Cổ đông Jensenand Meckling (1976) giải thích “Lý thuyết người đại diện bao hàm một hợp đồng theo đó một hoặc nhiều người (các cổ đông) thuê người khác (Giám đốc) thực hiện một số dịch vụ thay mặt họ trong đó bao gồm việc uỷ thác quyền ra quyết định cho người đại diện Nếu cả hai bên tham gia hợp đồng đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình thì có lý do để tin rằng Giám đốc - người đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông.-chủ sở hữu”[90] Chính từ quan điểm này mà một Hội đồng được dựng lên, thay mặt cho cổ đông giám sát người điều hành Hội đồng đó chịu trách nhiệm giải trình với cổ đông về hoạt động giám sát những người điều hành và đảm bảo rằng quyền lợi của cổ đông sẽ được đảm bảo một cách đúng đắn

*Lý thuyết người quản lý (Stewardship Theory)

Lý thuyết người quản lý đưa ra cách tiếp cận về quản trị công ty như sau

"người quản lý có trách nhiệm bảo vệ và tối đa hóa các lợi ích của cổ đông thông qua kết hoạt động của công ty, bởi vì làm như vậy, lợi ích của người quản lý cũng được tối đa hóa"[90, tr.20] Trong quan điểm này, người quản lý là giám đốc điều

hành công ty và các nhà quản lý khác làm việc cho các cổ đông, họ có trách nhiệm

Trang 34

bảo vệ và tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông Không giống như lý thuyết người đại diện, lý thuyết người quản lý không nhấn mạnh về quan điểm của chủ nghĩa cá nhân (Donaldson & Davis, 1991), nhưng đúng hơn lý thuyết này nhấn mạnh về vai trò của các nhà quản lý cấp cao, và coi các mục tiêu của họ như là một phần của công

ty Các quan điểm quản lý cho rằng công ty sẽ gặt hái được sự thành công khi người quản lý được thỏa mãn và được động viên Nếu như lý thuyết người đại diện đưa ra cấu trúc nhằm giám sát và kiểm soát người quản lý thì lý thuyết người quản

lý lại công nhận tầm quan trọng của cấu trúc mà theo đó người quản lý sẽ được trao quyền và sự tự chủ tối đa trong hoạt động, điều này được xây dựng trên cơ sở của

sự tin tưởng Lý thuyết người quản lý cho rằng vấn đề cần phải giải quyết là liệu cấu trúc tổ chức của công ty có tạo điều kiện cho cán bộ điều hành thiết lập và thực hiện các kế hoạch giúp tạo ra kết quả hoạt động cao cho công ty hay không Lý thuyết người quản lý không tập trung vào các biện pháp khuyến khích cũng tách biệt vai trò của Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc điều hành mà tập trung vào việc tạo điều kiện, trao quyền, hòa nhập vai trò của Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành Cơ chế này giúp tăng cường tính hiệu quả, tạo ra lợi nhuận cao hơn cho cổ đông và giảm chi phí đại điện (kiểm soát– giám sát)

*Lý thuyết bên liên quan (Stakeholder Theory)

Theo lý thuyết Bên liên quan thì "bất kỳ cá nhân hay nhóm người có thể ảnh

hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi khả năng đạt mục tiêu của tổ chức." [90, tr.20]

Không giống như lý thuyết Người đại diện, theo lý thuyết Bên liên quan các nhà quản lý đang làm việc và phục vụ cho các bên liên quan, các học giả của lý thuyết này cho rằng: các nhà quản lý trong các công ty có một mạng lưới các mối quan hệ

để phục vụ - đây là những người/tổ chức có mối quan tâm hoặc quyền lợi với công

ty, bao gồm những người bên trong công ty (chủ sở hữu, nhân viên, tổ chức công đoàn) và các đối tượng bên ngoài ( bên cho vay, nhà cung ứng, khách hàng, cộng đồng dân cư và xã hội) Lý thuyết Bên liên quan cho rằng: công ty là một hệ thống các bên hữu quan vận hành trong một hệ thống rộng lớn của xã hội Xã hội cung cấp khuôn khổ pháp luật và thị trường cho hoạt động của công ty Mục đích của công ty là tạo ra giá trị và sự thịnh vượng cho các bên liên quan bằng việc chuyển quyền lợi của họ thành sản phẩm và dịch vụ Lý thuyết bên liên quan đề xuất việc tăng cường tiếng nói và cung cấp các biện pháp khuyến khích cho các bên hữu quan như việc họ là chủ sở hữu của công ty Các biện pháp này bao gồm việc cho phép nhân viên được nắm giữ cổ phần và bổ nhiệm bên hữu quan như khách hàng, nhà

Trang 35

cung ứng, bên tư vấn tài chính, nhân viên và đại diện cộng đồng vào vị trí thành viên HĐQT [90, Tr.16]

Lý thuyết đại diện được sử dụng trong chương 2 của Luận án, phần lý luận về quản trị công ty đại chúng, nhằm mục đích làm rõ vai trò, mục đích, khái niệm của quản trị công ty nói chung, quản trị công ty đại chúng nói riêng

Lý thuyết về kinh tế thị trường cũng được sử dụng trong quá trình phân tích, làm

rõ, giải thích sự đặc biệt của quản trị công ty đại chúng

Lý thuyết về pháp nhân, thể nhân được sử dụng để nghiên cứu, phân tích năng lực trách nhiệm của các công ty đại chúng, năng lực trách nhiệm của các lãnh đạo công ty đại chúng trong quá trình hoạt động kinh doanh

Lý thuyết về rủi ro và kiểm soát rủi ro được sử dụng xuyên suốt cả Luận án để phân tích những tác động của rủi ro và kiểm soát rủi ro lên nội dung của quản trị công ty đại chúng và pháp luật về quản trị công ty đại chúng

Ngoài ra, để xây dựng được nền tảng lý luận về quản trị công ty đại chúng và pháp luật về quản trị công ty đại chúng, Luận án còn sử dụng các lý thuyết về hợp đồng, lý thuyết về quan hệ pháp luật

Bên cạnh đó, các nguyên tắc về quản trị công ty của OECD và các nguyên tắc

về tăng cường quản trị công ty đại chúng được sử dụng xuyên suốt trong các chương

2, chương 3 và chương 4 của Luận án Các nguyên tắc nói trên thể hiện các chuẩn mực quốc tế về quản trị công ty đại chúng Chúng là nền tảng, kim chỉ nam của Luận

án trong quá trình đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam cũng như trong việc xây dựng phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị và nâng cao năng lực quản trị công ty đại chúng

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu 1: Quản trị công ty đại chúng là gì? Tại sao cần phải điều

chỉnh bằng pháp luật quan hệ về quản trị công ty? Cơ cấu phápluật của quản trị công ty đại chúng gồm những nội dung nào?

Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay quan niệm về quản trị công ty đại chúng chưa

được nhìn nhận một cách thống nhất và sáng tỏ cho nên nội hàm của khái niệm này có nhiều cách hiểu khác nhau Vì vậy cần có cách hiểu thống nhất về vấn đề này Trên cơ

sở cách hiểu về quản trị công ty đại chúng, nêu ra luận giải cần điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ này với đặc trưng của quản trị công ty đại chúng Trong đó làm rõ những nội dung của cơ cấu pháp luật về quản trị công ty đại chúng

Câu hỏi nghiên cứu 2: Nguyên tắc quản trị công ty và thông lệ tốt về quản trị

Trang 36

công ty nào được sử dụng làm căn cứ tham khảo cho cách thức quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam?

Giả thuyết nghiên cứu: Bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD hiện nay đã

trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư và công

ty và các bên có quyền lợi liên quan trên khắp thế giới Bộ nguyên tắc này giúp các nước thành viên và không thành viên của OECD đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức và quản lý cho quản trị công ty ở quốc gia đó và cung cấp những hướng dẫn, khuyến nghị cho thị trường chứng khoán, nhà đầu tư, công ty và các bên

có liên quan trong quá trình phát triển quản trị công ty tốt

Câu hỏi nghiên cứu 3: Nội dung các quy định pháp luật về quản trị công ty đại

chúng được quy định trong pháp luật hành ở Việt Nam như thế nào? Thực tiễn áp dụng ra sao?

Giả thuyết nghiên cứu: Về cơ bản, các quy định của pháp luật hiện hành về quản

trị công ty đại chúng ở Việt Nam đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, tiếp cận được thông lệ tốt về quản trị công ty trên thế giới Tuy nhiên, trên thực tế áp dụng còn có những quy định chưa đem lại hiệu quả cao, còn nhiều bất cập hạn chế trong quá trình áp dụng, thậm chí một số nội dung còn chưa được pháp luật điều chỉnh

Câu hỏi nghiên cứu 4: Với những tồn tại, hạn chế nêu trên thì cần có những

phương hướng và giải pháp gì để khắc phục, hoàn thiện?

Giả thuyết nghiên cứu: Để hoàn thiện quy định của pháp luật về quản trị công

ty đại chúng ở Việt Nam cần đánh giá đúng thực trạng áp dụng các quy định này trong thực tế, đồng thời trên cơ sở nghiên cứu các kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật

về quản trị công ty trên thế giới, có tính đến những đặc trưng riêng có bắt nguồn từ lịch sử và quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam Theo đó, một mặt, cần hoàn thiện những pháp luật cần thiết về quản trị công ty, mặt khác là hướng dẫn, khuyến khích áp dụng những thông lệ quốc tế về quản trị công ty và khuyến nghị các công

ty cập nhật những quy tắc đó trong điều lệ của mình

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quản trị công ty là một vấn đề có nội hàm khá rộng Vì vậy vấn đề này luôn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Một số sách, giáo trình, tài liệu đã được công bố, trong những công trình nghiên cứu này, vấn đề quản trị công ty được tiếp cận dưới nhiều giác độ khác nhau như: kinh tế, luật, tài chính,

kế toán, quản lý Các công trình nghiên cứu này tập trung nghiên cứu các lý thuyết

Trang 37

về quản trị công ty, mô hình quản trị công ty, các yếu tố cấu thành mô hình pháp luật của quản trị công ty của các quốc gia trên thế giới Còn quản trị công ty đại chúng được tác giả tiếp cận thiên về các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành ở Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu có định hướng cụ thể vào việc hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty hiện nay ở Việt Nam, nhưng việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung, hoặc việc nghiên cứu về quản trị công ty dưới góc góc độ kinh tế hoặc đã tiếp cận và phân tích các nội dung về quản trị công ty trên cơ

sở pháp luật thực định Trong đó luận án tập trung vào nghiên cứu khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng trên cơ sở so sánh đối chiếu với khung pháp lý ở một số khu vực trên thế giới Đặc biệt cùng sau sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2014

và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật chứng khoán năm 2012 cùng với đó là các văn bản pháp luật có liên quan khác có thể nói các quy định của pháp luật có liên quan đến quản trị công ty đại chúng đã có nhiều thay đổi, cần phải xem xét và nghiên cứu một cách toàn diện để làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu cũng như sự cần thiết cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty trong giai đoạn hiện nay

Trên cơ sở đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, nghiên cứu sinh đưa ra những nhận xét, đánh giá khẳng định: Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị không chỉ ở phương diện

lý luận mà có giá trị thực tiễn cao phục vụ cho việc nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam Đồng thời nghiên cứu sinh cũng xác định được những vấn đề cần phải được giải quyết và tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Trang 38

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

2.1 Những vấn đề lý luận về quản trị công ty đại chúng

2.1.1 Khái niệm về quản trị công ty

Quản trị công ty là một khái niệm hiện nay đang thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều giới nghiên cứu, thực hành khác nhau Tuy nhiên, nếu đi tìm một quan điểm thống nhất về khái niệm chắc giới nghiên cứu còn tốn sức lực và thời gian

Về bản chất “quản trị” hay “quản trị công ty” là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là của kinh tế học bởi quản trị hay quản trị công ty

là vấn đề về chi phí, về tính hiệu quả trong hoạt động của công ty Các nghiên cứu của kinh tế học chủ yếu tập trung vào vấn đề quản trị công ty với tính chất là một định chế và tổng thể các nhiệm vụ để chèo lái một hệ thống, hay nói cách khác, tập trung vào các vấn đề chi phí và tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh Chính vì vậy mà nhiều trường đại học đã có các chương trình đào tạo quản trị hay quản trị doanh nghiệp của mình

Nếu như kinh tế học quan tiếp cận, nghiên cứu khái niệm “quản trị công ty” dưới vấn đề chi phí và tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh thì luật học lại

quan tâm đến quản trị công ty ở chủ yếu hai vấn đề, thứ nhất là bảo vệ quyền tự do kinh doanh và hợp đồng, thứ hai là hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư và công chúng

Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “quản trị công ty ” được vay mượn từ chữ

“Corporate governance” Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào khoảng năm

1962 trong cuốn sách “The Government of Corporations” của tác giả Richard Eells Ngày nay, thuật ngữ “Corporate governace” được cả giới khoa học pháp lý và khoa học kinh tế sử dụng phổ biến như một trào lưu mới trong nghiên cứu, cải cách

mô hình tổ chức quản lý công ty Nội hàm của chúng chủ yếu là xoay quanh vấn đề

về các thiết chế và các phương pháp về tổ chức doanh nghiệp một cách có hiệu quả

vì lợi ích của cổ đông nói riêng và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của toàn xã hội nói chung, dù chúng có được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau

Trong báo cáo đệ trình của nhóm Tư vấn kinh doanh về quản trị công ty (do ông Ira.M.Mi Ustein làm trưởng nhóm) có viết: “quản trị công ty là việc công ty áp dụng những phương pháp mang tính nội bộ để quản lý hoạt động của công ty Nó được thể hiện qua mối quan hệ nội bộ giữa cổ đông, Hội đồng quản trị và nhà quản

Trang 39

lý” [48, tr.18]; “quản trị công ty được hiểu là cơ cấu các bước quan hệ và trách nhiệm tương ứng giữa một nhóm chủ chốt bao gồm cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị và các nhà quản lý được hình thành nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh cần thiết để đạt được mục tiêu chính của công ty” [48, tr.18]

Sh.Leifer và Vishny (1997) lại cho rằng: “quản trị công ty là các phương thức

mà các nhà đầu tư cấp vốn cho công ty sử dụng và chính nhờ đó mà họ bảo đảm thu được những lợi tức từ khoản đầu tư của họ.” [90, tr.31] Raimond.Mallon chuyên viên cao cấp của cơ quan phát triển quốc tế Hoa kỳ thì định nghĩa: “quản trị công ty được hiểu là các quy trình mà qua đó Hội đồng quản trị giám sát Tổng giám đốc công ty và những nhà quản lý khác chịu trách nhiệm quản lý công ty hàng ngày, qua

đó thành viên Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm đối với nhà đầu tư, chủ nợ, doanh nghiệp và các bên liên quan khác Mục đích của quản trị công ty là bảo vệ lợi ích của các bên có liên quan, mà trọng tâm là bảo vệ lợi ích của người góp vốn” [54] Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD “Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty …, liên quan tới các mối quan

hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty Quản trị công ty chỉ được cho

là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn” [63] Cụ thể hoá định nghĩa này, OECD đưa ra bộ các nguyên tắc mang tính khuyến nghị về Quản trị công ty nhằm hướng tới bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, của người có quyền lợi liên quan khác; tăng tính minh bạch và trách nhiệm của Hội đồng quản trị để có thể thu hút được các nguồn lực vào mục đích phát triển kinh tế

Theo Ngân hàng thế giới (WB), quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của công ty, nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội Đặc điểm cơ bản nhất của hệ thống quản trị công ty là: tính minh bạch của các thông tin tài chính kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý; đảm bảo thực thi các quyền của tất cả các cổ

Trang 40

đông; Thành viên Hội đồng quản trị có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định phê chuẩn kế hoạch kinh doanh tuyển dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết

Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), quản trị công ty bao gồm một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa cổ đông, các chức danh quản lý, các chủ nợ, chính phủ và những người có liên quan khác cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy chế trên [54]

Ở Việt Nam, thuật ngữ “quản trị công ty” hầu như còn tương đối xa lạ và mới

mẻ đối với cả giới hoạch định chính sách, giới nghiên cứu pháp lý Khi nghiên cứu

về vấn đề này còn có nhiều quan điểm khác nhau Vì vậy, thuật ngữ này vẫn chưa được sử dụng như một thuật ngữ chính thức và thống nhất về nội dung Theo luật gia Nguyễn Ngọc Bích, quản trị công ty (tác giả sử dụng từ “lèo lái công ty” – corporate governance) là một tập hợp các cơ chế có liên quan đến việc điều hành và kiểm soát công ty Nó đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa các thành viên của công ty bao gồm cổ đông, Hội đồng quản trị, ban giám đốc

và những người có lợi ích có liên quan khác [23, Tr.255] Theo tác giả, mục đích chính của quản trị công ty là bảo vệ thích đáng quyền lợi của các cổ đông và đối xử công bằng giữa họ với nhau

Tương tự cách định nghĩa này, Quỹ Mê Kông cho rằng: “quản trị công ty là tập hợp cơ chế nhằm điều khiển và kiểm soát công ty, hệ thống quản trị doanh nghiệp nhằm phân rõ quyền hạn và nghĩa vụ giữa các thành viên trong công ty, bao gồm các cổ đông, Hội đồng quản trị, các cán bộ quản lý và các bên có quyền lợi liên quan khác Hệ thống quản trị doanh nghiệp cũng thiết lập các quy tắc và quy trình cho việc ra các quyết định về các vấn đề của công ty Mục tiêu chính của quản trị doanh nghiệp là bảo vệ đầy đủ những lợi ích tốt nhất và sự đối xử công bằng đối với các cổ đông của công ty, vì mục tiêu của công ty nên là tối đa hoá giá trị cổ đông cho tất cả các cổ đông, kể cả cổ đông trong nước và cổ đông nước ngoài” Cùng quan điểm như vậy, PGS.TS Phạm Duy Nghĩa cho rằng: “quản trị công ty là một tập hợp các cơ chế có liên quan đến điều hành và quản lý công ty, đề ra các phương

án phân chia quyền lực giữa các nhân tố tác động đến công ty bao gồm cổ đông, Hội đồng quản trị, bộ máy điều hành và các đối tượng khác (người lao động, chủ

nợ, nhà cung cấp, đại lý bao tiêu)” [54] Rõ ràng với cách tiếp cận như trên thì khái niệm này khá tương đồng với cách định nghĩa của OECD

Ngày đăng: 24/10/2019, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà NộiCÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia"
Năm: 2016
9. Bộ Tài chính (2007), Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
14. Chính phủ (2010), Nghị định số07/2012 /NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra 15. Chính phủ (2017), Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 06/06/2017 hướng dẫnvề quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số07/2012 /NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra" 15. Chính phủ (2017), "Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 06/06/2017 hướng dẫn
Tác giả: Chính phủ (2010), Nghị định số07/2012 /NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra 15. Chính phủ
Năm: 2017
23. Nguyễn Ngọc Bích (2004), Luật doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần, NXB. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: NXB. Trẻ
Năm: 2004
24. Nguyễn Ngọc Bích (2009), Công ty - vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật doanh nghiệp 2005, NXB. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty - vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật doanh nghiệp 2005
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: NXB. Trẻ
Năm: 2009
25. Bộ tài chính (2017); Báo cáo tổng kết thi hành Luật chứng khoán năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thi hành Luật chứng khoán năm 2017
26. Bộ tài chính (2017); Báo cáo đánh giá tác động của chính sách đề nghị xây dựng Luật chứng khoán sửa đổi năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động của chính sách đề nghị xây dựng Luật chứng khoán sửa đổi năm 2017
27. Bộ tài chính (2019); Bản thuyết minh kinh nghiệm Luật chứng khoán và thị trường chứng khoán của một số nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thuyết minh kinh nghiệm Luật chứng khoán và thị trường chứng khoán của một số nước
28. Báo điện tử Nhịp sống số (2019), Vì sao xu hướng loại bỏ Ban kiểm soát ngày càng nở rộ?, http://ndh.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao xu hướng loại bỏ Ban kiểm soát ngày càng nở rộ
Tác giả: Báo điện tử Nhịp sống số
Năm: 2019
29. Nguyễn Đình Cung (2005); Một số giải pháp cơ bản quản trị công ty cổ phần, Tạp chí chứng khoán số tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp cơ bản quản trị công ty cổ phần
30. Nguyễn Đình Cung (2008), “Cơ sở khoa học hoàn thiện chế độ quản trị công ty cổ phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở khoa học hoàn thiện chế độ quản trị công ty cổ phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Đình Cung
Năm: 2008
31. Daniel Blume & Charles Oman (2005), Quản trị doanh nghiệp – Thách thức cho sự phát triển, Tạp chí điện tử của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị doanh nghiệp – Thách thức cho sự phát triển
Tác giả: Daniel Blume & Charles Oman
Năm: 2005
32. Daniel Blume (2004), Những kinh nghiệm về nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD, Hội nghị bàn tròn Châu Á về quản trị doanh nghiệp-Lý do quản trị doanh nghiệp được quan tâm tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kinh nghiệm về nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD, Hội nghị bàn tròn Châu Á về quản trị doanh nghiệp-Lý do quản trị doanh nghiệp được quan tâm tại Việt Nam
Tác giả: Daniel Blume
Năm: 2004
33. Lê Cường (2019), UBCK phản hồi vụ cổ đông tố cáo Bông Bạch Tuyết, Thời báo chứng khoán Việt Nam, https://tbck.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBCK phản hồi vụ cổ đông tố cáo Bông Bạch Tuyết
Tác giả: Lê Cường
Năm: 2019
34. Truc Chi (2019), Xử lý vi phạm công bố thông tin: đ ng để cổ đông “đau” 2 lần, Báo Đầu tư Chứng khoán Online - www.tinnhanhchungkhoan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý vi phạm công bố thông tin: đ ng để cổ đông “đau” 2 lần
Tác giả: Truc Chi
Năm: 2019
35. Hoàng Duy (2019), “Thành viên HĐQT khởi kiện đề nghị hủy Nghị quyết Hội đồng quản trị”; Báo Đầu tư Chứng khoán Online - www.tinnhanhchungkhoan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thành viên HĐQT khởi kiện đề nghị hủy Nghị quyết Hội đồng quản trị”
Tác giả: Hoàng Duy
Năm: 2019
36. Mạn Đình (2015), “Vai trò của thành viên HĐQT độc lập trong các công ty cổ phần”, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng số 163, tháng 12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của thành viên HĐQT độc lập trong các công ty cổ phần
Tác giả: Mạn Đình
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm