1.Lý do chọn đề tài Kinh nghiệm quốc tế của nhiều quốc gia cho thấy trong bối cảnh nền kinh tế rơi vào khủng hoảng hoặc trì trệ do tỷ lệ nợ xấu tăng nhanh thì việc hình thành một công ty mua bán nợ (AMC) tầm cỡ quốc gia để xử lý nhanh nợ xấu là hết sức cần thiết. Vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế trầm trọng năm 2008, mô hình này đã giúp nước Mỹ giải cứu được những tổ chức tín dụng sắp “chết”, hay tại Malaysia, với mô hình Danaharta nền kinh tế đã được cứu thoát ngoạn mục khi giải phóng thành công 70% khối lượng nợ xấu. Bởi vậy, hoạt động quản lý mua bán nợ xấu của các TCTD qua AMC quốc gia được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, áp dụng và dần trở thành khung lý thuyết chung để các nước tham khảo khi thành lập và vận hành AMC. Tuy nhiên, không có một khuôn mẫu AMC nào chung cho các nước. Các nghiên cứu, đánh giá đều chỉ ra rằng, do đặc điểm kinh tế - xã hội, hệ thống tài chính, pháp luật và điều kiện lịch sử của các quốc gia khác nhau nên: (i) Mỗi nước đều có cơ chế quản lý mua bán nợ xấu thông qua AMC riêng, hay nói cách khác là không có một khuôn mẫu AMC nào chung cho các nước; (ii) Ngay cả những nước có AMC khá tương đồng thì kết quả xử lý nợ xấu thu được là khác nhau. Điều này nói lên rằng, hoạt động mua bán nợ xấu thông qua AMC đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Ở nước ta, giai đoạn 2011- 2013, nền kinh tế phải đối mặt với vô vàn khó khăn, đặc biệt là tỷ lệ nợ xấu liên tục tăng cao. Nợ xấu ngân hàng đã được ví như “cục máu đông”, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, thanh khoản của ngân hàng và gây tắc nghẽn dòng vốn trong nền kinh tế. Ngày 18/5/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính Phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam(VAMC) để mua bán và xử lý nợ xấu cho hệ thống TCTD ở cấp độ quốc gia. Trong quá trình hoạt động, các qui định pháp lý về cơ chế, hoạt động của VAMC không ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn. Nhờ đó, sau gần 5 năm hoạt động VAMC đã mua được hơn 247 ngàn tỷ đồng nợ xấu. Về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động mua bán nợ xấu đang được xem là một lối thoát cho các doanh nghiệp đang gặp phải nhiều khó khăn về tài chính trong sản xuất kinh doanh hiện nay. Xuất phát từ thực trạng trên, việc triển khai nghiên cứu đề tài “Quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản-VAMC” là cần thiết cả về lý luận và thực tế, đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường tài chính nói chung và của ngành Ngân hàng nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.. 2.Tổng quan các công trình nghiên cứu Ở Việt Nam, mua bán nợ là chủ đề được đề cập đến từ cuối những năm 1990 khi thưc hiện quá trình sắp xếp lại hệ thống các doanh nghiệp nhà nước. Từ đó đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu mua bán nợ xấu trên các phương diện khác nhau. Dưới đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến nội dung của luận văn. Đề tài cấp Bộ (2014) của PGS.TS. Hoàng Trần Hậu về “Phát triển thị trường mua bán nợ ở Việt Nam phục vụ tái cơ cấu doanh nghiệp”. Đề tài đã tập trung vào việc hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về thị trường mua bán nợ. Trên cơ sở phân tích thực trạng về thị trường mua bán nợ ở Việt Nam hiện nay, đề tài đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách cho phát triển thị trường mua bán nợ, tuy nhiên các giải pháp này chỉ tập trung vào mục đích phục vụ tái cấu trúc doanh nghiệp. Đề tài cấp Bộ (2014) “Hoàn thiện cơ chế tài chính trong xử lý nợ xấu ngân hàng thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp” của ThS. Phạm Mạnh Thường cho thấy: thực trạng về thị trường mua bán nợ kể cả thị trường mua bán nợ trong chuẩn (thị trường trái phiếu doanh nghiệp) và thị trường mua bán nợ xấu đều còn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam, công tác xử lý nợ xấu còn nhiều hạn chế, tồn tại. Các phân tích và đánh giá của tác giả đã mang lại một cái nhìn tổng quát về tình hình nợ xấu của các ngân hàng, từ đó đề xuất các giải pháp để thúc đẩy xử lý nợ xấu. Tác giả Quách Mạnh Hào (2012), “Thực trạng bài toán nợ xấu” khẳng định thị trường mua bán nợ xấu hiện nay rất thiếu người mua nợ xấu chuyên nghiệp. Nếu như phạm vi hoạt động của Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) trực thuộc Bộ Tài chính chủ yếu là mua bán nợ tại các DNNN và hầu hết theo sự chỉ định của chính phủ để xử lý thì các công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) trực thuộc các TCTD cũng giới hạn tiếp nhận và xử lý nợ xấu cho các ngân hàng mẹ. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp này hầu như không tham gia mua bán nợ trên thị trường và do đó các khoản nợ xấu về bản chất chỉ chạy lòng vòng trong các TCTD hoặc các DNNN chứ không thực sự được đưa ra thị trường. Nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện thị trường mua bán nợ tại các ngân hàng thương mại, tuy nhiên các giải pháp mới chỉ tập trung giải quyết ở lĩnh vực ngân hàng thương mại. Nghiên cứu của tác giả Đào Duy Huân (2013) về “Hiện trạng thị trường mua bán nợ ở Việt Nam và giải pháp phát triển” cho thấy thị trường mua bán nợ của Việt Nam, bên cạnh sự giống nhau, thì cũng có những nét khác biệt so với thị trường mua bán nợ ở các nước khác trên thế giới. Bởi vì hàng hóa của thị trường này đang hầu hết là của doanh nghiệp nhà nước, chưa có sự tham gia của các thành phần kinh tế khác. Vì vậy, các chính sách để phát triển thị trường mua bán nợ cũng có nét riêng biệt ở Việt Nam. Tác giả cũng nêu một số vấn đề cần phải giải quyết nếu hình thành thị trường mua bán nợ chỉ thông qua việc thành lập các công ty mua bán nợ trực thuộc Ngân hàng Nhà nước nhằm giải quyết các khoản nợ mà doanh nghiệp vay ngân hàng không có khả năng trả. Từ đó, tác giả đề xuất một số chính sách nhằm phát triển thị trường này. Nghiên cứu của TS. Nguyễn Quốc Hùng (2014) về “Đánh giá sự phù hợp trong lộ trình, cách thức và hoàn thiện cơ cấu cho VAMC”, nghiên cứu của TS. Lê Thị Thùy Vân và Ths. Vương Duy Lâm (2015) về “VAMC và vấn đề xử lý nợ xấu” cũng đã chỉ ra các vấn đề về hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt nam (VAMC), những khó khăn thách thức, các giải pháp để công ty VAMC phát triển, từ đó hỗ trợ việc xử lý nợ xấu trên thị trường mua bán nợ đạt hiệu quả. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý mua bán nợ xấu cho thấy mỗi công trình nghiên cứu xem xét ở những góc độ nghiên cứu, chủ yếu tập trung phát triển thị trường mua bán nợ xấu và giải pháp xử lý nợ xấu, mô hình quản lý nợ xấu tập trung, chưa đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp cho quản lý mua bán nợ xấu tập trung để nâng cao hiệu quả của tổ chức. Với những lý do trên đây và yêu cầu thực tiễn, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản-VAMC” làm đề tài Luận văn thạc sỹ, bảo đảm tính thời sự, bức thiết và không trùng lặp với các công trình đã công bố cho đến thời điểm hiện nay. 3.Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là nhằm đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ, khả thi, có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm tăng cường quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý Tài sản. Mục tiêu cụ thể Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung vào thực hiện những mục tiêu cụ thể sau đây: -Hệ thống hóa và xây dựng khung lý luận cơ bản về mua bán nợ xấu và quản lý mua bán nợ xấu; đưa ra những luận cứ về kinh nghiệm của các nước trong quản lý mua bán nợ xấu, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm tại Việt Nam. -Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC trong thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân. -Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC. 4.Phương pháp nghiên cứu của Luận văn Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, trong quá trình thực hiện Luận văn, phương pháp nghiên cứu chủ yếu tác giả đã sử dụng là phương pháp định tính, cụ thể gồm các phương pháp sau: -Phương pháp thống kê: Tác giả sử dụng số liệu thống kê thích hợp để phục vụ cho việc phân tích thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC. -Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích từng nội dung cụ thể, tác giả đưa ra những đánh giá chung về thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC. -Phương pháp so sánh, đối chiếu: Nội hàm việc quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC được xem xét trên cơ sở có sự so sánh đối chiếu giữa các giai đoạn, cũng như so sánh với thực trạng quản lý mua bán nợ xấu ở các nước trên thế giới. 5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Những vẫn đề lý luận và thực tiễn quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: - Về nội dung: Quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản, cụ thể là luận văn chỉ nghiên cứu khía cạnh VAMC mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam (bên bán nợ là các TCTD Việt Nam, bên mua nợ là VAMC), luận văn không nghiên cứu xử lý nợ xấu tại VAMC bởi đã có rất nhiều đề tài đề cập đến xử lý nợ xấu trong thời gian vừa qua. - Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2013-2016, đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý mua bán nợ xấu trong thời gian tới. 6.Kết cấu của Luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý mua bán nợ xấu. Chương 2: Thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản-VAMC Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC trong thời gian tới.
Trang 2
MAI THỊ CẢNH
QUẢN LÝ MUA BÁN NỢ XẤU TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN-VAMC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH THƯƠNG MẠI
Người hướng dẫn khoa học:
GS TS ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO
HÀ NỘI 2017
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện vàkhông vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Tác giả Luận văn
Mai Thị Cảnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ MUA BÁN NỢ XẤU 6
1.1 Tổng quan về mua bán nợ xấu 6
1.1.1 Nợ và nợ xấu 6
1.1.2 Mua bán nợ xấu 10
1.1.3 Mục tiêu của mua bán nợ xấu 15
1.2 Những nội dung cơ bản của quản lý mua bán nợ xấu 17
1.2.1 Khái niệm quản lý mua bán nợ xấu 17
1.2.2 Các nội dung chủ yếu của quản lý mua bán nợ xấu 18
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý mua bán nợ xấu 24
1.3.1 Môi trường chính trị - pháp luât 24
1.3.2 Môi trường kinh tế 25
1.3.3 Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến “cầu” của loại hàng hóa nợ 26
1.3.4 Nhóm các nhân tố gắn với yếu tố “cung” của loại hàng hóa nợ 27
1.4 Kinh nghiệm quản lý mua bán nợ xấu ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 28
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý mua bán nợ xấu ở một số nước 28
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về quản lý mua bán nợ xấu 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MUA BÁN NỢ XẤU TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN- VAMC 36
2.1 Đặc điểm hoạt động của Công ty Quản lý Tài sản-VAMC có ảnh hưởng đến việc quản lý mua bán nợ xấu 36
2.1.1 Quá trình ra đời và phát triển của VAMC 36
2.1.2 Bộ máy quản lý của VAMC 38
2.1.3 Nguyên tắc hoạt động của VAMC 38
2.1.4 Mối quan hệ của VAMC trong quá trình hoạt động mua bán nợ xấu với TCTD và khách nợ 39
Trang 52.2.2 Kết quả về mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường 44
2.3 Phân tích thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC 45
2.3.1 Lập kế hoạch cho mua bán nợ xấu 45
2.3.2 Tổ chức thực hiện mua bán nợ xấu tại VAMC 46
2.3.3 Lãnh đạo thực hiện mua bán nợ xấu 51
2.3.4 Kiểm soát thực hiện mua bán nợ xấu 53
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC 57
2.4.1 Những kết quả đạt được 57
2.4.2 Tồn tại trong quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC 59
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VAMC TRONG THỜI GIAN TỚI 66
3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của VAMC trong thời gian tới và những yêu cầu đạt ra trong quản lý mua bán nợ xấu 66
3.1.1 Định hướng phát triển của công ty 66
3.1.2 Mục tiêu phát triển của công ty 69
3.1.3 Yêu cầu đạt ra trong quản lý mua bán nợ xấu 70
3.2 Phương hướng tăng cường quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC 72
3.3 Giải pháp tăng cường quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC trong thời gian tới 75
3.3.1 Hoàn thiện mục tiêu, kế hoạch trong mua bán nợ xấu 75
3.3.2 Tăng cường năng lực tổ chức thực hiện mua bán nợ xấu 76
3.3.3 Tăng cường vai trò lãnh đạo trong mua bán nợ xấu 79
3.3.4 Kiểm soát tốt hoạt động mua bán nợ xấu 80
3.3.5 Nhóm các giải pháp khác 82
3.4 Kiến nghị 86
3.4.1 Đối với Quốc hội 86
3.4.2 Đối với Chính phủ 86
3.4.3 Đối với các Bộ, Ngành 86
KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6AMC : Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản
BĐS : Bất động sản
DATC : Công ty Mua bán nợ Việt Nam
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
GDP : Tổng sản phẩm trong nước
M&A : Muabán vàsáp nhập
NHNN : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
Trang 7Bảng 1.1: Đặc thù và thời hạn các khoản vay 8
Bảng 2.1: Mua nợ xấu bằng TPĐB tại VAMC 54
Bảng 2.2: Phân loại TSBĐ của các khoản nợ xấu đã mua tại VAMC 55
Bảng 2.3: Doanh thu, chi phí của VAMC giai đoạn 2013-2016 56
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: VAMC mua nợ của các TCTD năm 2014 44
Biểu đồ 2.2: Kết quả mua nợ xấu bằng TPĐB của VAMC lũy kế đến 2014 45
Biểu đồ 2.3: Mua nợ xấu bằng TPĐB qua các năm 46
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh nghiệm quốc tế của nhiều quốc gia cho thấy trong bối cảnh nền kinh tếrơi vào khủng hoảng hoặc trì trệ do tỷ lệ nợ xấu tăng nhanh thì việc hình thành mộtcông ty mua bán nợ (AMC) tầm cỡ quốc gia để xử lý nhanh nợ xấu là hết sức cầnthiết Vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế trầm trọng năm 2008, mô hình này đã giúpnước Mỹ giải cứu được những tổ chức tín dụng sắp “chết”, hay tại Malaysia, với môhình Danaharta nền kinh tế đã được cứu thoát ngoạn mục khi giải phóng thành công70% khối lượng nợ xấu Bởi vậy, hoạt động quản lý mua bán nợ xấu của các TCTDqua AMC quốc gia được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, áp dụng và dần trởthành khung lý thuyết chung để các nước tham khảo khi thành lập và vận hànhAMC Tuy nhiên, không có một khuôn mẫu AMC nào chung cho các nước Cácnghiên cứu, đánh giá đều chỉ ra rằng, do đặc điểm kinh tế - xã hội, hệ thống tàichính, pháp luật và điều kiện lịch sử của các quốc gia khác nhau nên: (i) Mỗi nướcđều có cơ chế quản lý mua bán nợ xấu thông qua AMC riêng, hay nói cách khác làkhông có một khuôn mẫu AMC nào chung cho các nước; (ii) Ngay cả những nước
có AMC khá tương đồng thì kết quả xử lý nợ xấu thu được là khác nhau Điều nàynói lên rằng, hoạt động mua bán nợ xấu thông qua AMC đòi hỏi phải được tiếp tụcnghiên cứu và hoàn thiện
Ở nước ta, giai đoạn 2011- 2013, nền kinh tế phải đối mặt với vô vàn khókhăn, đặc biệt là tỷ lệ nợ xấu liên tục tăng cao Nợ xấu ngân hàng đã được ví như
“cục máu đông”, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp,thanh khoản của ngân hàng và gây tắc nghẽn dòng vốn trong nền kinh tế Ngày18/5/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính Phủ vềthành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tíndụng Việt Nam(VAMC) để mua bán và xử lý nợ xấu cho hệ thống TCTD ở cấp độquốc gia Trong quá trình hoạt động, các qui định pháp lý về cơ chế, hoạt động củaVAMC không ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn Nhờ đó, sau gần 5năm hoạt động VAMC đã mua được hơn 247 ngàn tỷ đồng nợ xấu
Trang 9Về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động mua bán nợ xấu đangđược xem là một lối thoát cho các doanh nghiệp đang gặp phải nhiều khó khăn về tàichính trong sản xuất kinh doanh hiện nay.
Xuất phát từ thực trạng trên, việc triển khai nghiên cứu đề tài “Quản lý mua bán
nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản-VAMC” là cần thiết cả về lý luận và thực tế, đáp
ứng được yêu cầu phát triển của thị trường tài chính nói chung và của ngành Ngân hàngnói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Ở Việt Nam, mua bán nợ là chủ đề được đề cập đến từ cuối những năm 1990khi thưc hiện quá trình sắp xếp lại hệ thống các doanh nghiệp nhà nước Từ đó đếnnay đã có không ít công trình nghiên cứu mua bán nợ xấu trên các phương diện khácnhau Dưới đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến nội dung của luận văn
Đề tài cấp Bộ (2014) của PGS.TS Hoàng Trần Hậu về “Phát triển thị trường mua bán nợ ở Việt Nam phục vụ tái cơ cấu doanh nghiệp” Đề tài đã tập
trung vào việc hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về thị trường mua bán
nợ Trên cơ sở phân tích thực trạng về thị trường mua bán nợ ở Việt Nam hiệnnay, đề tài đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách cho phát triển thị trườngmua bán nợ, tuy nhiên các giải pháp này chỉ tập trung vào mục đích phục vụ táicấu trúc doanh nghiệp
Đề tài cấp Bộ (2014) “Hoàn thiện cơ chế tài chính trong xử lý nợ xấu ngân hàng thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp” của ThS Phạm Mạnh Thường
cho thấy: thực trạng về thị trường mua bán nợ kể cả thị trường mua bán nợtrong chuẩn (thị trường trái phiếu doanh nghiệp) và thị trường mua bán nợ xấuđều còn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam, công tác xử lý nợ xấu còn nhiềuhạn chế, tồn tại Các phân tích và đánh giá của tác giả đã mang lại một cái nhìntổng quát về tình hình nợ xấu của các ngân hàng, từ đó đề xuất các giải pháp đểthúc đẩy xử lý nợ xấu
Tác giả Quách Mạnh Hào (2012), “Thực trạng bài toán nợ xấu” khẳng
định thị trường mua bán nợ xấu hiện nay rất thiếu người mua nợ xấu chuyênnghiệp Nếu như phạm vi hoạt động của Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn
Trang 10đọng của doanh nghiệp (DATC) trực thuộc Bộ Tài chính chủ yếu là mua bán nợtại các DNNN và hầu hết theo sự chỉ định của chính phủ để xử lý thì các công
ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) trực thuộc các TCTD cũng giới hạntiếp nhận và xử lý nợ xấu cho các ngân hàng mẹ Điều này có nghĩa là cácdoanh nghiệp này hầu như không tham gia mua bán nợ trên thị trường và do đócác khoản nợ xấu về bản chất chỉ chạy lòng vòng trong các TCTD hoặc cácDNNN chứ không thực sự được đưa ra thị trường Nghiên cứu cũng đưa ra một
số giải pháp nhằm hoàn thiện thị trường mua bán nợ tại các ngân hàng thươngmại, tuy nhiên các giải pháp mới chỉ tập trung giải quyết ở lĩnh vực ngân hàngthương mại
Nghiên cứu của tác giả Đào Duy Huân (2013) về “Hiện trạng thị trường mua bán nợ ở Việt Nam và giải pháp phát triển” cho thấy thị trường mua bán
nợ của Việt Nam, bên cạnh sự giống nhau, thì cũng có những nét khác biệt sovới thị trường mua bán nợ ở các nước khác trên thế giới Bởi vì hàng hóa củathị trường này đang hầu hết là của doanh nghiệp nhà nước, chưa có sự tham giacủa các thành phần kinh tế khác Vì vậy, các chính sách để phát triển thị trườngmua bán nợ cũng có nét riêng biệt ở Việt Nam Tác giả cũng nêu một số vấn đềcần phải giải quyết nếu hình thành thị trường mua bán nợ chỉ thông qua việcthành lập các công ty mua bán nợ trực thuộc Ngân hàng Nhà nước nhằm giảiquyết các khoản nợ mà doanh nghiệp vay ngân hàng không có khả năng trả Từ
đó, tác giả đề xuất một số chính sách nhằm phát triển thị trường này
Nghiên cứu của TS Nguyễn Quốc Hùng (2014) về “Đánh giá sự phù hợp trong
lộ trình, cách thức và hoàn thiện cơ cấu cho VAMC”, nghiên cứu của TS Lê Thị Thùy Vân và Ths Vương Duy Lâm (2015) về “VAMC và vấn đề xử lý nợ xấu” cũng đã chỉ
ra các vấn đề về hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt nam
(VAMC), những khó khăn thách thức, các giải pháp để công ty VAMC phát triển, từ đó
hỗ trợ việc xử lý nợ xấu trên thị trường mua bán nợ đạt hiệu quả
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý mua bán nợxấu cho thấy mỗi công trình nghiên cứu xem xét ở những góc độ nghiên cứu, chủ yếutập trung phát triển thị trường mua bán nợ xấu và giải pháp xử lý nợ xấu, mô hình quản
Trang 11lý nợ xấu tập trung, chưa đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp cho quản lý mua bán nợxấu tập trung để nâng cao hiệu quả của tổ chức.
Với những lý do trên đây và yêu cầu thực tiễn, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản-VAMC” làm đề tài Luận văn thạc sỹ, bảo
đảm tính thời sự, bức thiết và không trùng lặp với các công trình đã công bố cho đếnthời điểm hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là nhằm đề xuất một hệ thống các giải phápđồng bộ, khả thi, có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm tăng cường quản lý mua bán nợxấu tại Công ty Quản lý Tài sản
Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung vào thựchiện những mục tiêu cụ thể sau đây:
- Hệ thống hóa và xây dựng khung lý luận cơ bản về mua bán nợ xấu và quản
lý mua bán nợ xấu; đưa ra những luận cứ về kinh nghiệm của các nước trong quản lýmua bán nợ xấu, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm tại Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC trongthời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC
4 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, trong quá trình thực hiện Luận văn,phương pháp nghiên cứu chủ yếu tác giả đã sử dụng là phương pháp định tính, cụ thểgồm các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: Tác giả sử dụng số liệu thống kê thích hợp để phục
vụ cho việc phân tích thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích từng nội dung cụ thể,
tác giả đưa ra những đánh giá chung về thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC
Trang 12- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Nội hàm việc quản lý mua bán nợ xấu tại
VAMC được xem xét trên cơ sở có sự so sánh đối chiếu giữa các giai đoạn, cũng như
so sánh với thực trạng quản lý mua bán nợ xấu ở các nước trên thế giới
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Những vẫn đề lý luận và thực tiễn quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản
lý tài sản
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về nội dung: Quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản, cụ thể là
luận văn chỉ nghiên cứu khía cạnh VAMC mua nợ xấu của các tổ chức tín dụngViệt Nam (bên bán nợ là các TCTD Việt Nam, bên mua nợ là VAMC), luận văn khôngnghiên cứu xử lý nợ xấu tại VAMC bởi đã có rất nhiều đề tài đề cập đến xử lý nợ xấutrong thời gian vừa qua
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2013-2016, đề xuất các
giải pháp tăng cường quản lý mua bán nợ xấu trong thời gian tới
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của Luậnvăn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý mua bán nợ xấu.
Chương 2: Thực trạng quản lý mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý tài
sản-VAMC
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC trong
thời gian tới
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ QUẢN LÝ MUA BÁN NỢ XẤU
1.1 Tổng quan về mua bán nợ xấu
1.1.1 Nợ và nợ xấu
1.1.1.1 Nợ
a Khái niệm nợ
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Nợ là một thuật ngữ thường được
sử dụng trong trường hợp nợ về tài sản Tuy nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng đểchỉ các nghĩa vụ khác Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sứcmua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó Các công ty cũng có thể
sử dụng nợ như là một phần trong chiến lược tài chính tổng thể của mình”
Nợ, theo cách hiểu thông thường, được hình thành khi một người cho vay đồng ýcho người vay vay một lượng tài sản nhất định Trong xã hội hiện đại, nợ thường được
đi kèm với nguyên tắc hoàn trả, sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suấtnhất định tính theo thời điểm
Với các tổ chức tín dụng, thì nợ bao gồm: Các khoản cho vay, chiết khấu, chothuê tài chính, các khoản bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hình thức tín dụngkhác Như vậy, đối với các TCTD, hoạt động tín dụng là rộng hơn hoạt động cho vay.Theo đó, cấp tín dụng được định nghĩa là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụngmột khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàntrả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngânhàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác Còn cho vay được định nghĩa là hình thức cấptín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để
sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận vớinguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng, thì cho vay làhoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các TCTD Vì vậy, thuật ngữtín dụng được hiểu theo nghĩa rộng khái quát ở trên hoặc theo nghĩa hẹp là cho vay Dohoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cấp tín dụng còn gọi là chủ nợ, bên
Trang 14được cấp tín dụng gọi là khách nợ Do đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chếtín dụng, thỏa thuận thời gian cấp tín dụng, lãi suất phải trả Trước khi có nợ thì cả haibên (bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng) phải cùng nhau thống nhất phương thứctrả nợ (thanh toán) Thông thường, người ta thanh toán bằng tổng số tiền tính theo mộtđơn vị tiền tệ nào đó, tuy nhiên cũng có trường hợp thanh toán bằng hàng hoá Thanhtoán có thể được thực hiện theo phương thức trả lãi trong một khoảng thời gian hoặc trảmột lúc khi kết thúc hợp đồng tín dụng Nợ về cơ bản đã là một hàng hóa được muabán giữa bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng, sau khi hợp đồng tín dụng đó cóhiệu lực, thì nợ - lúc này được hiểu là quyền của chủ nợ cũng có thể trở thành một loạihàng hóa.
-Trong khuôn khổ Luận văn, hàng hóa nợ được hiểu là quyền của chủ nợ,quyền này là kết quả của hoạt động kinh doanh cốt lõi đầu tiên - cho vay nợ Chi tiếtcủa “quyền chủ nợ” được quy định rõ trong hợp đồng tín dụng và các luật có liênquan - được xem như là “mô tả về quy cách chất lượng hàng hóa” khi nợ trở thànhhàng hóa trên thị trường thứ cấp - thị trường của những người mua đi bán lại cáckhoản nợ
Đặc biệt hơn, quyền của chủ nợ là một hàng hóa gắn liền và không thể tách rờivới một hoặc nhiều tài sản - thường được xem là đảm bảo cho khả năng thực hiệnnghĩa vụ của khách nợ (nếu có và có thể vô hình hoặc hữu hình)
Như vậy:
Hàng hóa nợ = Quyền chủ nợ + Tài sản bảo đảm cho khoản nợ
Từ những nghiên cứu trên đây, có thể kết luận: Nợ là nghĩa vụ phải trả bằng tiền hoặc tài sản của cá nhân hoặc tổ chức này (gọi là khách nợ) đối với cá nhân hoặc tổ chức khác (chủ nợ) Nợ có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm.
b Phân loại nợ
Phân loại nợ được hiểu là quá trình các TCTD xem xét các danh mục nợ và đưakhoản nợ vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương đồng của khoản nợ.Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các TCTD có thể kiểm soát chất
Trang 15lượng danh mục nợ và trong trường hợp cần thiết, sẽ có các biện pháp xử lý các vấn đềphát sinh trong chất lượng tín dụng Thông thường, các TCTD sử dụng hệ thống phânloại nội bộ, hệ thống phân loại quy định bởi các cơ quan giám sát chủ yếu để phục vụmục tiêu báo cáo, so sánh và giám sát.
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), thì khoản vay nợđược chia làm 5 nhóm:
Bảng 1.1: Đặc thù và thời hạn các khoản vay Khoản vay Đặc thù và thời hạn
1.Đạt tiêu chuẩn
- Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ
- Tài sản được đảm bảo bằng tiền hoặc tương đương
- Quá hạn dưới 90 ngày
2 Cần theo dõi
- Những điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ
- Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn
- Quá hạn dưới 90 ngày
- Các khoản vay không thu hồi được
- Luôn có khả năng thu hồi lại một phần
Bản chất của cách phân chia này là dựa vào hai yếu tố định tính và địnhlượng Trên cơ sở phân loại của IMF và WB, các nước đã tiến hành phân loại nợcủa các NHTM theo 5 nhóm như: Ý, Nhật Bản, Mỹ, Úc, Trung Quốc, Singapore,Việt Nam Tuy nhiên cũng có một số nước phân loại nợ thành 04 nhóm như Nga,
Ấn Độ, Đức hoặc Tây Ban Nha 6 nhóm, Mexico 7 nhóm, Brazil 9 nhóm
1.1.1.2 Nợ xấu
Nợ xấu hay nợ khó đòi thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”,
“non-performing loan” (NPL), “doubtful debt” Thuật ngữ “bad debt” là một thuật ngữđược dùng khá phổ biến trên báo chí còn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, cácchuyên gia thường sử dụng thuật ngữ “non-performing loans” (NPL), trong khi kế toán
Trang 16quốc tế lại hay dùng thuật ngữ “non-accrual loans” (theo hệ thống chuẩn mực kế toáncủa Mỹ US GAAP) hay “impaired loans” (theo Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39).Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau Có thể nhắctới một số khái niệm nợ xấu như sau:
Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng Thế giới
Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới thì nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn,
có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ,điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản
Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thường quá batháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vayvào các nhóm thích hợp
Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS)
BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướngdẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xácđịnh, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả haiđiều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khingân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả
nợ quá 90 ngày [60] Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản
nợ đã quá hạn trên 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ
BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thuhồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhậnbằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phảnánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽkhông được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được
Khái niệm nợ xấu theo Nghị Quyết 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 của Quốc Hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD
Khái niệm về nợ xấu tại Nghị quyết về xử lý nợ xấu của các TCTD là các khoản
nợ không có khả năng thu hồi một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi khi đến hạn thanhtoán, được phân loại vào nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (quá hạn trả lãi và/hoặc gốc từ 90ngày đến 180 ngày), nợ nghi ngờ (quá hạn trả lãi và/hoặc gốc từ 181 ngày đến 360
Trang 17ngày), nợ có nguy cơ mất vốn (quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 360 ngày).
Từ những định nghĩa trên có thể thấy được sự tương đồng trong cáchnhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới Theo đó, mộtkhoản nợ được coi là nợ xấu khi xuất hiện 1 hoặc cả 2 dấu hiệu sau: (1) Quá hạntrả nợ gốc và lãi; (2) Khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD) hoặcngân hàng coi là không có khả năng trả nợ Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức làcác khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thểthu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản Nhìn chung,một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳkinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước
Nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các tổ chứctín dụng, từ đó có thể thấy được sức khỏe tài chính, kỹ năng quản trị rủi ro của TCTD
đó Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến TCTD bị thua lỗ và giảm lòng tin của người gửitiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của TCTD Tình trạng này kéo dài sẽ làmTCTD bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thốngtài chính nói riêng Chính vì vậy, việc nhận diện nợ xấu và xử lý nợ xấu là một trongnhững vấn đề quan trọng trong tái cấu trúc hệ thống tài chính
Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy: Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trả nợ trên 90 ngày và/hoặc được đánh giá là khó có khả năng thu hồi đầy
đủ cả gốc và lãi.
Trong luận văn này, mua bán nợ xấu giữa các TCTD (chủ nợ) với VAMC là đối tượng cần xem xét đánh giá để tăng cường quản lý
1.1.2 Mua bán nợ xấu
1.1.2.1 Khái niệm mua bán nợ xấu
Mua bán nợ xấu là một loại hình dịch vụ thông qua việc sử dụng các công
cụ tài chính để mua bán một loại sản phẩm đặc biệt - nợ xấu, theo đó bên bán nợchuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bênmua nợ
Việc mua bán nợ xấu được tiến hành với sự tham gia của các đối tượng sau:Trung gian mua bán, chủ nợ, khách nợ (công ty mua bán nợ và tài sản, doanh
Trang 18nghiệp, ngân hàng…) nhằm xử lý các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng, làm chonguồn vốn xoay vòng nhanh chóng và lành mạnh hóa tình hình tài chính Nói mộtcách khác, mua bán nợ xấu là hoạt động kinh tế để trao đổi và chuyển giao phần tàisản đặc biệt là các "khoản nợ phải thu" đã quá hạn từ đối tượng này sang đối tượngkhác Đối với TCTD, “khoản nợ phải thu” này được phân loại là nợ xấu Thực chất,
đó là việc chuyển nhượng lại "quyền thu hồi nợ"
từ một "khoản nợ phải thu" của bên Bán nợ (chủ nợ) đối với Khách nợ sangcho bên Mua nợ để bên Mua nợ trở thành chủ nợ mới của bên Khách nợ Như vậy,hoạt động mua bán nợ xấu được thực hiện đối với các khoản nợ phải thu (của bênchủ nợ) mà không phải là nợ phải trả (của bên khách nợ)
1.1.2.2 Đặc trưng của hoạt động mua bán nợ xấu
Hàng hóa nợ xấu là loại hàng hóa đặc biệt nên hoạt động mua bán nợ nóichung và nợ xấu nói riêng có những đặc trưng khác với các loại hàng hóa thôngthường như sau:
Mua bán nợ xấu luôn gắn với những khả năng thu lợi
Khi mua nợ xấu người đầu tư đã bỏ ra một khoản vốn của mình vào đầu tư, vìvậy, họ chỉ đầu tư khi nhìn thấy có thể thu được những khoản lợi nhuận nhất định Mỗiloại nợ xấu đưa lại một khả năng thu lợi khác nhau
Hoạt động mua bán nợ xấu luôn gắn với rủi ro
Đầu tư luôn gắn với rủi ro, đầu tư vào mua bán nợ xấu cũng có những rủi ronhất định Có những rủi ro chung cho tất cả các loại nợ xấu và cũng có những rủi roriêng gắn liền với từng loại nợ xấu nhất định Các loại nợ xấu khác nhau có mức độ rủi
ro khác nhau Rủi ro mà nhà đầu tư gánh chịu bao gồm: Rủi ro mang tính chính sách,pháp luật, rủi ro đạo đức, rủi ro thông tin, rủi ro tài chính
Nợ xấu là hàng hóa có khả năng thanh khoản không cao
Sau khi mua lại nợ xấu thì khoản nợ xấu có thể được mua đi bán lại nhiềulần trên thị trường nợ xấu Mỗi loại nợ xấu có đặc trưng khác nhau về khả năngđưa lại thu nhập hay nói khác đi là mức lợi nhuận, mức độ rủi ro và mức độ thanhkhoản Nợ xấu được chứng khoán hóa (trái phiếu doanh nghiệp) thường có khảnăng thanh khoản cao hơn nợ xấu chưa được chứng khoán hóa Tuy nhiên, nhìn
Trang 19chung khả năng thanh khoản của nợ xấu là thấp hơn so với các sản phẩm tài chínhkhác trên thị trường Hoạt động mua bán nợ xấu cũng đòi hòi thời gian dài hơn sovới các nghiệp vụ mua bán vốn thông thường.
Thông tin không rõ ràng
Khi mua bán nợ xấu thường có tình trạng phổ biến là thông tin không rõ rànggiữa người mua và người bán Vì vậy, cần thời gian đàm phán để thực hiện mua bándài hơn mua bán nợ thông thường và cần có cơ quan độc lập trong cung cấp thông tin(thường là các tổ chức xếp hạng tín nhiệm)
Định giá hàng hóa được mua bán phức tạp, khó chính xác
Hàng hóa mua bán nợ xấu gồm nhiều khoản nợ (kể cả nợ xấu có tài sản bảođảm) rất khó định giá chính xác nên thông thường giai đoạn xác định giá mua cầnnhiều thời gian và chi phí cho các bên liên quan
1.1.2.3 Chủ thể tham gia mua bán nợ xấu
Chủ thể tham gia mua bán nợ xấu chia làm 3 nhóm:
a Nhóm các chủ thể tham gia mua nợ xấu: Các công ty mua bán nợ chuyên
nghiệp (như công ty quản lý tài sản, công ty mua bán nợ tồn đọng của doanh nghiệp),các công ty quản lý và khai thác tài sản AMC, các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tưmạo hiểm, các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, hoặc có thể lànhà đầu tư tư nhân, cá nhân có đầy đủ năng lực pháp lý
Trong đó Công ty mua bán nợ vừa là tổ chức tài chính trung gian vừa là doanh
nghiệp kinh doanh, ngoài việc mua bán, đấu giá, cơ cấu lại các khoản nợ và tài sảnkhông cần dùng, công ty này sẽ tổ chức môi giới cho các hoạt động này và góp phầngiải quyết những tồn tại về mặt tài chính trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi cơ cấu sởhữu doanh nghiệp như việc tiếp nhận tài sản và các khoản nợ được loại trừ khi xác địnhgiá trị doanh nghiệp Công ty mua bán nợ và tài sản chờ thanh lý của các DNNN thựchiện chuyển đổi hình thức sở hữu sẽ là giải pháp quan trọng cho các doanh nghiệptrong điều kiện hiện nay
Việc các chủ thể có đủ điều kiện tham gia thị trường này cần được quy định rõbởi pháp luật và sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động của thị trường mua bán nợ xấu, theo
đó, thu hút hoặc ngăn cản sự tham gia của 2 đối tượng trọng yếu là: Các nhà đầu tư
Trang 20nước ngoài và sự tham gia của khối tư nhân.
Đây là những đối tượng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế
và có đầy đủ năng lực cũng như hướng tới tính hiệu quả bền vững trong hoạtđộng đầu tư
b Nhóm các doanh nghiệp tham gia bán nợ xấu gồm: Các ngân hàng, các tổ
chức tín dụng, các doanh nghiệp có khoản nợ xấu tại TCTD cần bán
c Nhóm các đơn vị tham gia tư vấn, trung gian tạo lập thị trường, doanh nghiệp thực hiện định mức tín nhiệm…
Nhằm đánh giá chính xác hơn các khoản nợ xấu thì thị trường mua bán nợ xấucũng đòi hỏi sự tham gia của các đơn vị thực hiện hoạt động xếp hạng tín nhiệm Đây
là các doanh nghiệp cung cấp thông tin cho phép người mua và bán nợ có thể định giácác khoản nợ xấu Ngoài ra còn có sự tham gia của các công ty hay chuyên gia tư vấnmôi giới, định giá tài sản…
1.1.2.4 Hàng hóa trong mua bán nợ xấu
Phân loại theo khả năng chứng khoán hóa thì hàng hóa trong mua bán nợ xấu
có thể chia thành 2 loại:
Loại thứ nhất: Các khoản nợ xấu được chứng khoán hóa như trái phiếu, cổphiếu, các loại giấy tờ xác nhận nợ khác
Loại thứ hai: Các khoản nợ xấu chưa được chứng khoán hóa
Phân loại theo tài sản bảo đảm thì nợ xấu có thể chia thành các loại:
Nợ xấu có tài sản bảo đảm: Là các khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm kèm theo.Mức độ rủi ro của loại nợ này thấp hơn so với loại nợ không có tài sản bảo đảm
Nợ xấu không có tài sản bảo đảm: Là loại nợ xấu của doanh nghiệp được vaynhưng không có tài sản bảo đảm trực tiếp kèm theo
Một số loại hàng hóa trong mua bán nợ xấu
Nợ xấu của tổ chức tín dụng tồn tại dưới các khoản nợ xấu từ nghiệp vụ cho vay,khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh,… (thường là hàng hóa trên thị trường sơ cấp)
Nợ xấu được chứng khoán hóa (thường là hàng hóa trên thị trường thứ cấp):Việc mua bán nợ xấu đôi khi cũng được thực hiện qua hình thức chuyển nợ thành cổphần hoặc chứng khoán hóa các khoản nợ dưới dạng cổ phần Công ty mua lại nợxấu tham gia góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện dưới hình thức mua cổ
Trang 21phiếu Người nắm giữ cổ phiếu là người chủ sở hữu của công ty cổ phần và được gọi
là cổ đông Cổ phiếu là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công
ty cổ phần Quyền sở hữu của cổ đông trong công ty tương ứng với số lượng cổphiếu mà cổ đông nắm giữ Ngoài ra, ở các thị trường tài chính phát triển còn có thểtồn tại các dạng chứng khoán phái sinh có nguồn gốc từ nợ xấu của doanh nghiệp
1.1.2.5 Hình thức mua bán nợ xấu
Mua bán nợ xấu có các hình thức sau:
Mua bán nợ xấu thông qua đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu
giá tài sản Việc bán đấu giá được thực hiện thông qua tổ chức bán đấu giá chuyênnghiệp hoặc do công ty mua bán nợ có chức năng đấu giá thực hiện Thông tin về việcbán đấu giá phải được niêm yết, thông báo công khai Giá mua bán nợ thành công làmức giá mua cao nhất và tối thiểu phải bằng mức giá khởi điểm
Mua bán nợ xấu bằng cách thương lượng, đàm phán trực tiếp giữa bên mua nợ
và bên bán nợ xấu Giá mua bán nợ do hai bên thỏa thuận trên cơ sở đánh giá khả năngthu hồi nợ của khoản vay và tài sản bảo đảm của khoản vay
Mua bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt: đây là hình thức TCTD bán nợ xấu
cho công ty mua bán nợ và công ty mua bán nợ trả cho các TCTD bằng trái phiếu đặcbiệt do công ty mua bán nợ là chủ thể phát hành Trái phiếu đặc biệt được phát hànhdưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, mệnh giá trái phiếu đặcbiệt có giá trị bằng giá mua của khoản nợ xấu theo quy định của nhà nước Hình thứcmua bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt thường được các công ty mua bán nợ của Nhànước áp dụng, vì vậy khi mua bán nợ xấu bằng hình thức này, khoản nợ xấu phải đápứng một số điều kiện theo quy định (có tài sản bảo đảm; khoản nợ xấu, tài sản bảo đảmcủa khoản nợ xấu phải hợp pháp, có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ) Trái phiếu đặc biệt thườngđược sử dụng để vay tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước
Mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường: Đây là hình thức mua bán nợ xấu mà
giá mua nợ xấu được xác định trên cơ sở thỏa thuận và giá trị khoản nợ xấu được đánhgiá lại theo giá thị trường Khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường, công ty mua bán nợphải định giá hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định giá trị khoản nợxấu Thông thường khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường, khoản nợ đó khi mua phảiđược đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ xấu, tài sản bảo đảm của
Trang 22khoản nợ xấu có khả năng phát mại.
Mua bán nợ xấu theo chỉ định của cấp có thẩm quyền: Theo hình thức này
giá cả mua bán sẽ do các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét và trình cấp có thẩmquyền quyết định
Mua bán nợ xấu thông qua hoạt động mua bán sáp nhập (M&A): Các chủ
thể khi tham gia mua bán sáp nhập có những mục đích khác nhau Trong trường hợpnày, mua bán sáp nhập được diễn ra giữa TCTD có tình hình tài chính lành mạnh vớicác TCTD yếu kém nhằm mục đích xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính của TCTDyếu kém Về bản chất khi mua lại toàn bộ tài sản của TCTD yếu kém là đã bao gồmviệc mua lại các khoản nợ xấu của TCTD đó Sự thành công của mua bán sáp nhậpgiữa các TCTD trên hết là tạo ra lợi ích của các bên, đồng thời đem lại lợi ích cho nềnkinh tế và toàn xã hội
1.1.3 Mục tiêu của mua bán nợ xấu
a Mục tiêu góp phần lành mạnh hóa tài chính cho doanh nghiệp, tạo thêm một nguồn lực vốn hỗ trợ tái cấu trúc, từ đó tạo công ăn việc làm và sự ổn định kinh
tế, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động mua bán nợ xấu đang đượcxem là một lối thoát của các doanh nghiệp (gồm cả DNNN) đang gặp phải nhiều khókhăn về tài chính trong sản xuất kinh doanh hiện nay Nếu không có công ty nào thamgia vào việc mua các khoản nợ xấu đó thì các công ty sẽ lâm vào sản xuất kinh doanhcầm chừng, hoặc thu hẹp sản xuất kinh doanh, thậm chí chờ phá sản
Mối liên hệ vay - cho vay đã hình thành sợi dây công nợ giữa doanh nghiệp vàngân hàng nên khi nợ xấu xảy ra, ngay lập tức nó tác động tiêu cực cho cả doanhnghiệp vay, ngân hàng cho vay và khi tích tụ tới quy mô lớn và mang tính hệ thống, nótàn phá cả hệ thống tài chính ngân hàng và nền kinh tế Có nhiều giải pháp cho xử lý nợxấu, ở cả tầm quy mô quốc gia hay ở cấp độ đơn lẻ từng đơn vị, như xử lý tài sản bảođảm, bán nợ, cơ cấu lại nợ, chứng khoán hóa nợ Trong đó, tái cấu trúc doanh nghiệp(DN) để xử lý nợ xấu là một biện pháp thường được áp dụng và mang lại nhiều điểmtích cực
Trang 23Vì vậy, hoạt động mua bán nợ xấu sẽ giúp khai thông dòng vốn, hỗ trợ cácdoanh nghiệp vượt qua khó khăn Quản lý mua bán nợ xấu tại VAMC là mô hình quản
lý nợ xấu tập trung tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận các nguồn lực tàichính mới phục vụ cho việc tái cơ cấu hoạt động, thay đổi mô hình quản trị doanhnghiệp, từng bước cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Sự tham gia củacác nhà đầu tư mới cũng cho phép doanh nghiệp có thể tiếp cận các mô hình quản trịmới, thay đổi cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản phẩm, tạo cơ hội cho việc tham giavào các thị trường mới thay vì các thị trường cũ Khách hàng có khả năng phục hồi thì
cơ cấu nợ, miễn giảm lãi, điều chỉnh lãi suất cho vay về mức phù hợp, trường hợp xétthấy khách hàng có phương án khả thi thì đề nghị TCTD cho khách hàng tiếp tục đượcvay vốn để thực hiện dự án, hoạt động sản xuất kinh doanh, với khách hàng không cókhả năng khắc phục thì tiến hành xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, hoặc bán nợ
b Cung cấp khả năng thanh khoản
Mua bán nợ xấu cũng nhằm đẩy nhanh các khoản nợ xấu được mua bán,trao đổi, tạo lập thị trường mua bán nợ xấu để các nhà đầu tư có thể dễ dàngchuyển đổi các khoản nợ xấu thành tiền hoặc các loại chứng khoán khác có mứcthanh khoản tốt hơn Khi các tổ chức tín dụng bán lại được khoản nợ được coi làxấu thì họ có điều kiện tiếp tục thực hiện chức năng trung gian tài chính cho nềnkinh tế, tránh được việc đóng băng tín dụng Các doanh nghiệp thuộc diện có nợxấu cũng có cơ hội được cung cấp dòng vốn mới nhằm tiếp tục thực hiện hoạtđộng SXKD của mình Hệ số tín nhiệm của TCTD được nâng lên, đủ uy tín đểvay vốn tại các tổ chức quốc tế với lãi suất hợp lý, cũng là cơ hội để TCTD tự táicấu trúc lại chính mình khi làm giảm nhanh nợ xấu, làm sạch bảng cân đối kế toán,lành mạnh hóa tình hình tài chính cuả TCTD
VAMC được thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do vậy mục tiêutrong quản lý mua bán nợ xấu của VAMC là góp phần khơi thông dòng chảy tín dụng,giúp các TCTD tiếp tục cho doanh nghiệp vay vốn nếu có phương án, dự án khả thi
c Mục tiêu giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Mua bán nợ xấu giúp Chính phủ có thể mua và bán các khoản nợ xấu của các
Trang 24DNNN (khách nợ của TCTD) để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách, phục vụcho các mục tiêu quản lý kinh tế Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một sốchính sách, biện pháp tác động vào hoạt động mua bán nợ xấu nhằm định hướng đầu tưđảm bảo cho sự phát triển cân đối với nền kinh tế Tổ chức tốt tạo điều kiện cho muabán nợ xấu hoạt động có hiệu quả, từ đó tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xãhội Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng mua bán nợ xấu cũng ẩn chứa những khuyếttật, nó mang tính chất rủi ro rất cao Vì thế, nếu như quá trình lập kế hoạch, tổ chức thựchiện, lãnh đạo và kiểm soát chưa tốt, chưa được bảo đảm bằng một khung pháp lý đủhiệu lực và một bộ máy điều hành có năng lực thì mua bán nợ xấu không đạt được mụctiêu đề ra, sai định hướng, gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ đe doạ sự ổnđịnh, phát triển của nền kinh tế.
1.2.Những nội dung cơ bản của quản lý mua bán nợ xấu
1.2.1.Khái niệm quản lý mua bán nợ xấu
Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện nhưng mục tiêu mà
họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũnghình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những lỗ lực cá nhân hướng tới nhữngmục tiêu chung Quản lý mua bán là hoạt động của doanh nghiệp, dựa trên sự phâncông và hợp tác để đạt được cácmục tiêu của tổ chức
Quản lý mua bán nợ xấu được hiểu là việc tạo lập và duy trì hoạt động mua bán
nợ xấu trong đó những người cùng làm việc với nhau có thể hoàn thành các mục đích,mục tiêu chung trong thực hiện mua bán nợ xấu
Quản lý mua bán nợ xấu là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có hiệulực và có hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch mua bán nợ xấu, tổ chức thực hiệnviệc mua bán nợ xấu, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức trong quá trìnhthực hiện mục tiêu trong mua bán nợ xấu
Quản lý mua bán nợ xấu nhằm tạo lên sức mạnh gắn kết các hoạt động củacác cá nhân trong công ty nhằm đạt được mục tiêu đề ra của công ty trong muabán nợ xấu, nó diễn ra liên tục và cần thiết để doanh nghiệp tồn tại và hoạt độngtheo đúng định hướng
Trang 25Quản lý mua bán nợ xấu cũng chịu tác động của các chủ thể tham gia thị trườngmua bán nợ xấu, các văn bản quy định, các chính sách, chủ trương của Chính phủ,NHNN, các Bộ Ngành liên quan đến hoạt động mua bán nợ xấu Vì vậy, quá trìnhquản lý mua bán nợ xấu cần đánh giá được hoạt động mua bán nợ xấu, phát huy tiềmnăng, hiệu quả đạt được và điều chỉnh những thiếu sót, tồn tại để có các giải pháp tăngcường quản lý mua bán nợ xấu.
Như vậy: Quản lý mua bán nợ xấu là quá trình lập kế hoạch mua bán nợ xấu,
tổ chức thực hiện hoạt động mua bán nợ xấu, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục đích của doanh nghiệp với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện thị trường mua bán nợ xấu luôn biến động.
1.2.2. Các nội dung chủ yếu của quản lý mua bán nợ xấu
Quá trình quản lý bao gồm lập kế hoạch mua bán nợ xấu, tổ chức thực hiệnhoạt động mua bán nợ xấu, lãnh đạo và kiểm soát quá trình thực hiện Nội dung nàyđược nhìn nhận theo từng khâu trong doanh nghiệp, cần được thực hiện nhất quán,xuyên suốt để đạt được mục tiêu quản lý mua bán nợ xấu
1.2.2.1 Lập kế hoạch mua bán nợ xấu
Trong hệ thống công cụ quản lý, kế hoạch là một công cụ chủ yếu và có vai tròquan trọng, bởi nó hỗ trợ cho tổ chức sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực hạnchế và đối phó với tính không chắc chắn của môi trường
Kế hoạch mua bán nợ xấu là tổng thể các mục tiêu trong mua bán nợ xấu, cácnhiệm vụ đặt ra trong mua bán nợ xấu cũng như các giải pháp và nguồn lực mà tổ chức
có thể sử dụng để đạt được mục tiêu của tổ chức với vai trò vô cùng quan trọng, là chứcnăng định hướng, liên kết và thống nhất mọi hoạt động trong quản lý mua bán nợ xấu,định hướng mô hình hoạt động trong mua bán nợ xấu, cụ thể hóa các giai đoạn thựchiện Quy trình của lập kế hoạch mua bán nợ xấu như sau:
Phân tích môi trường
Xác định mục tiêu
Xây dựng các phương án
Đánh giá và lựa chọn các phương án
Quyết định kế hoạch
Trang 27Xét cả về mặt lý thuyết và thực tiễn, hoạt động mua bán nợ đang được xem
là một lối thoát cho doanh nghiệp đang gặp phải nhiều khó khăn về tài chính trongsản xuất kinh doanh hiện nay Nếu không có công ty nào tham gia vào việc muacác khoản nợ đó thì các công ty sẽ lâm vào sản xuất, kinh doanh cầm chừng, hoặcthu hẹp, thậm chí chờ xin phá sản Rõ ràng, để kế hoạch mua bán nợ xấu được thựcthi thì điều tiên quyết là phải có chính sách hỗ trợ phát triển cho các công ty chuyênmua bán nợ và tài sản tồn đọng của các thành phần kinh tế Các công ty mua bán
nợ với sứ mệnh cao cả là mua bán các tài sản, khoản nợ của các công ty sản xuất,kinh doanh đang gặp rủi ro lớn về vốn, sẽ tạo điều kiện cho các công ty nợ tái vốn
để tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh Ngược lại, cũng phải có những công ty
do nhiều nguyên nhân (cả khách quan và chủ quan) dẫn đến nảy sinh những khoản
nợ không thể tự mình trả được, sẵn sàng bán các tài sản, khoản nợ đó cho các công
ty mua bán nợ Cũng như mọi hoạt động mua bán khác, mua bán nợ xấu sẽ có cáclực của thị trường: các công ty mua bán nợ là bên cầu, còn các công ty chuyểnnhượng nợ là bên cung Khi đã có cung và cầu thì phải xây dựng cơ chế vận hành,quản lý; phải có sự cạnh tranh nếu không sẽ làm cho thị trường mua bán nợ bị méo
mó Để bên cầu và bên cung hợp tác thuận lợi, hiệu quả thì cần phải có hệ thốngpháp luật, cơ chế, chính sách vĩ mô tạo hành lang pháp lý cho mua bán nợ trôichảy Nguồn cung chủ yếu trên thị trường mua bán nợ xấu là các ngân hàng thươngmại Vì vậy khi lập kế hoạch mua bán nợ xấu phải phân tích đánh giá các yếu tốnêu trên tác động đến, để đưa ra được mục tiêu thực thi và mang lại hiệu quả khithực hiện
1.2.2.2 Tổ chức thực hiện mua bán nợ xấu
Tổ chức là chức năng thứ hai của quá trình quản lý Trong thực tế khi kếhoạch đã được xác lập thì phải bảo đảm được cơ cấu của các nguồn lực cho thựchiện kế hoạch, đó chính là phần việc của chức năng quản lý.Quá trình này bao gồm
cả việc xây dựng cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp sao cho phù hợp với mục tiêu đãchọn của mua bán nợ xấu, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra quá trình mua bán
nợ xấu và quản lý sự thay đổi trong quá trình tổ chức thực hiện
Trang 28Việc mua bán nợ xấu phải tuân thủ nguyên tắc sau:
o Công khai, minh bạch
o Tuân thủ đúng quy định của pháp luật và hợp đồng mua, bán nợ
o Hạn chế rủi ro và chi phí trong mua, bán nợ xấu
o Việc mua, bán nợ xấu được thực hiện đối với từng khoản nợ xấu hoặctheo từng khách hàng vay trong trường hợp khách hàng vay có nhiều khoản nợ xấutại một tổ chức tín dụng hoặc theo từng nhóm khách hàng vay trong trường hợpmột tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu của nhiều khách hàng vay tại một tổchức tín dụng hoặc theo hình thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quyđịnh của pháp luật
Quá trình quản lý mua bán nợ cần các chuyên gia có kinh nghiệm của cácnước tư vẫn hỗ trợ như Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng thời lãnh đạo phải đi đúnghướng và mục tiêu đề ra Mua bán nợ xấu là nhiệm vụ quan trọng nhất với cácAMC, để thực hiện mục tiêu này cần xây dựng một cơ cấu tổ chức hợp lý, phân cácphòng ban theo chuyên môn hóa, nguồn nhân lực có kinh nghiêm, đã công tác tạicác tổ chức tín dụng, đồng thời đánh giá cơ cấu tổ chức hiện tại
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức
Môi trường có thể tạo nhiều cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp trong muabán nợ xấu, tuy nhiên cần xem xét, ưu tiên đến các yếu tổ chủ yếu như chính sách pháp
Giám sát, đánh
giá kết quả thực
hiện
Thực hiện các giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức
Trang 29lý, biến đổi của môi trường kinh tế, trình độ kinh nghiệm nguồn lao động để có nhữngđánh giá sự phù hợp của cơ cấu hiện tại cho mua bán nợ xấu, trên cơ sở đó hoàn thiệnnhư bổ sung thêm nhân lực là các chuyên gia, các cán bộ chuyên môn có kinh nghiệmtín dụng, pháp luật Việt Nam để hoàn thiện mô hình tổ chức
Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin trong mua bán nợ xấu
Để mua bán nợ xấu phát triển cần có cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại, đặc biệt
là công nghệ tin học Trong thời đại hiện nay, việc quản lý mua bán nợ xấu cần áp dụngcông nghệ tin học hiện đại nhằm kết nối thông tin cho cả người mua, người bán Liênquan đến vấn đề này, việc áp dụng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán cho hoạt độngmua bán nợ xấu cần phải thống nhất và phù hợp
1.2.2.3 Lãnh đạo thực hiện mua bán nợ xấu
Lãnh đạo thực hiện mua bán nợ xấu cần Quản lý sự thay đổi cho phù hợp với
từng thời kỳ và mục tiêu trong từng giai đoạn Mua bán nợ xấu trong thời gian qua chịu
nhiều sức ép của dự luận xã hội trong cả nước, của các cơ quan ban ngành trong đó vẫnhoài nghi vai trò của VAMC trong mua bán và xử lý nợ xấu Thực tế hoạt động này rấtđược quan tâm trong thời gian qua, nhất là khi nợ xấu tăng cao, ảnh hưởng đến dòngchảy nền kinh tế, trước sức ép đó đòi hỏi tổ chức luôn luôn phải nhận biết và thay đổi có
kế hoạch để đảm bảo tồn tại và phát triển Trong đó cần chú ý đến nhưng thay đổi như:Thay đổi công nghệ, thay đổi cơ cấu, thay đổi con người
Công ty Quản lý tài sản cần phải tập trung hoàn thiện hệ thống quản lý nội bộ,hợp tác với ngân hàng và đại lý khác Trên tất cả, để duy trì tính hiệu quả trong quản lý
và hoạt động, Công ty Quản lý tài sản phải hết sức lỗ lực thuê các chuyên gia và traoquyền cho họ đưa ra các quyết định đúng chuyên môn Khó khăn trong việc khuyếnkhích người lao động và thuê người lao động có thể được giải quyết bằng việc xây dựngmột cơ chế thu hút nhân lực và thưởng phạt phân minh
1.2.2.4 kiểm soát quá trình thực hiện mua bán nợ xấu
Tổ chức muốn đạt được mục tiêu, tất yếu tổ chức phải được kiểm soát tốt Kếhoạch cung cấp cho ta các tiêu chuẩn để kiểm soát Nói cách khác lập kế hoạch và kiếmsoát là những công việc không thể tách biệt, phải được kết hợp chặt chẽ với nhau trong
Trang 30quá trình quản lý, nếu không có lập kế hoạch kiểm soát sẽ thiếu những tiêu chuẩn và mụctiêu cho việc đo lường những thứ mà họ làm tốt và làm thế nào để nó trở nên tốt hơn.Không có kiểm soát lập kế hoạch thiếu những thứ theo sau, thông qua kiểm soát để bảođảm những hành động sẽ được thực hiện theo kế hoạch Kiểm soát để đánh giá quá trìnhthực hiện mua bán nợ xấu theo các nhóm tiêu chí nêu ra như sau:
Nhóm tiêu chí đo lường số lượng các chủ thể tham gia mua bán nợ xấu
Đây là nhóm chỉ tiêu đo lường số lượng các chủ thể tham gia mua bán trong mộtgiai đoạn nhất định Số lượng của các chủ thể tham gia vào mua bán nợ xấu sẽ quyết định
sự phát triển của hoạt động này Nhóm tiêu chí này gồm:
Số lượng các TCTD bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ
Về số lượng các TCTD bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ có thể xem xét, đánhgiá trên nhiều góc độ So sánh về số tuyệt đối giữa số lượng các TCTD bán nợ xấu chocông ty mua bán nợ năm sau so với năm trước
Xét về số lượng, tỷ lệ tính toán ở trên càng cao càng khẳng định vai trò quan trọng của quản lý mua bán nợ xấu và ngược lại
Số lượng khách hàng được hỗ trợ xử lý nợ xấu
Về số lượng khách hàng được hỗ trợ xử lý nợ xấu khi tổ chức thực hiện mua bán
nợ xấu có thể xem xét, đánh giá về số tuyệt đối năm sau so với năm trước:
lý nợ xấu trên thịtrường năm “n”
-Số lượng kháchhàng được hỗ trợ xử
lý nợ xấu trên thịtrường năm “n-1”Đánh giá mức độ hiệu quả quản lý mua bán nợ xấu có xem xét số tương đốinhư tỷ lệ % giữa số khách hàng được hỗ trợ xử lý nợ xấu trên thị trường so với sốkhách hàng có nợ xấu trên thị trường:
Nhóm tiêu chí đo lường hiệu quả mua bán nợ xấu
Đây là nhóm tiêu chí đánh giá về mức độ rủi ro hay khả năng thu hồi gốc vàlãi của các khoản nợ xấu của TCTD mà công ty mua bán nợ đã mua về Có thể thấy,công ty mua bán nợ chỉ thu hồi được chi phí từ việc mua nợ xấu của các TCTD khi
đã bán được khoản nợ xấu đó Điều đó có nghĩa, sau khi công ty mua bán nợ mua
Trang 31nợ xấu từ các TCTD thì công ty mua bán nợ chưa thấy được hiệu quả kinh tế màhiệu quả kinh tế của việc mua nợ phụ thuộc vào mức độ rủi ro hay khả năng thu hồichi phí đã bỏ ra và khoản lợi nhuận dự tính đối với việc xử lý nợ xấu đã mua Vìvậy, chỉ khi nợ xấu được xử lý dứt điểm, hàng hóa nợ xấu được luân chuyển thìquản lý mua bán nợ xấu mới đạt được mục tiêu, đóng góp hiệu quả cho nền kinh tế.Nhóm tiêu chí này gồm:
Số nợ xấu được công ty mua bán nợ xử lý: Phản ánh số liệu công ty mua bán
nợ đã thu hồi, xử lý được trong một giai đoạn nhất định bằng cách đôn đốc thu hồi
nợ, bán nợ, bán tài sản bảo đảm,…
Tỷ lệ thu hồi nợ: Dùng để đánh giá hiệu quả thu hồi nợ của công ty mua bán
nợ trong một giai đoạn nhất định Chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
Tỷ lệ thu hồi nợ năm “n” =
Giá trị thu hồi nợ năm “n”
x 100%Giá vốn mua nợ năm “n”
Tiêu chí đánh giá chất lượng của khoản nợ xấu
Có nhiều tiêu chí đánh giá chất lượng của khoản nợ xấu, luận văn này đánh giátrên góc độ TSBĐ cho khoản nợ xấu, với các khoản nợ có TSBĐ là BĐS tính thanhkhoản cao, khả năng thu hồi lớn so hơn nhiều so với các TSBĐ là giấy tờ có giá, hayquyền sở hữu tài sản
Tỷ lệ theo từng loại TSBĐ
=
Giá trị theo từng loại TSBĐ
x 100%Tổng giá trị TSBĐ
Nhóm tiêu chí phản ánh kết quả kinh doanh của các công ty mua bán nợ xấu
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả từ hoạt động mua bán nợ của các công ty muabán nợ
Tỷ lệ doanh thu mua bán
Doanh thu mua bán nợ năm “n”
x 100%Tổng doanh thu năm “n”
Tỷ lệ doanh thu từ hoạt động mua bán nợ cho biết tỷ lệ % doanh thu có được
từ hoạt động mua bán nợ xấu trên tổng doanh thu từ tất cả hoạt động của công tymua bán nợ Tiêu chí này cũng cho biết mức đóng góp vào doanh thu của công ty
Trang 32mua bán nợ từ hoạt động mua bán nợ xấu.
Hoạt động mua bán và xử lý nợ xấu thông thường là hoạt động mang lại doanh thuchủ yếu cho các công ty mua bán nợ Tuy nhiên, đây là doanh thu, chưa trừ đi chi phí hoạtđộng của công ty mua bán nợ Do đó, cần phải có sự so sánh, tính toán về các chi phí bỏ ra để
có được doanh thu này để xác định hiệu quả thực sự của các công ty mua bán nợ
Nhóm chỉ tiêu định tính
Tính đa dạng của phương thức mua bán nợ xấu: Chỉ tiêu này phản ánh các
phương thức mua bán nợ do các công ty mua bán nợ thực hiện khi mua nợ xấu tạicác TCTD Phương thức mua bán nợ xấu sẽ quyết định nguyên tắc xác định giá muabán nợ xấu Sự đa dạng trong phương thức mua bán nợ xấu cũng ảnh hưởng đếnquản lý mua bán nợ xấu Trong đó, phương thức mua bán nợ theo giá trị thị trường,thanh toán bằng tiền, thông thường là phương thức được quan tâm hơn cả do có lợicho cả hai bên (TCTD và công ty mua bán nợ), mặt khác cũng giúp các công ty muabán nợ chủ động trong việc xử lý nợ xấu đã mua
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý mua bán nợ xấu
Hoạt động quản lý mua bán nợ xấu của tổ chức đều chịu sự tác động của cácyếu tố môi trường, trong khi đó các yếu tố môi trường luôn luôn biến đổi Môi trườngquản lý gồm hai nhóm: Môi trường vĩ mô và môi trường vi mô, môi trường vĩ mô gồmcác yếu tố ở ngoài tổ chức nhưng có khả năng ảnh hưởng mạnh đến tổ chức, mà không
có liên quan rõ rệt như môi trường chính trị-pháp luật, môi trường kinh tế- văn hóa xãhội Môi trường vi mô liên quan đến sự hoàn thành mục tiêu mua bán nợ xấu của tổchức, đó là môi trường tác nghiệp của tổ chức, nó có được sự thay đổi với những yếu
tố như nhu cầu xã hội, khách hàng, đối tác, cơ quan quản lý
1.3.1 Môi trường chính trị - pháp luât
Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý mua bán nợxấu Một khung pháp lý đầy đủ với những chính sách rõ ràng, minh bạch mangtính khuyến khích sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý mua bán nợ xấunhư chính sách thuế, chính sách liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm (như chínhsách về đất đai, định giá tài sản), các quy định pháp luật về phá sản doanh
Trang 33nghiệp, quy định về xử lý nợ xấu (như thủ tục pháp lý thu hồi nợ xấu, bán nợxấu) Nếu các quy định này tạo điều kiện cho việc mua bán nợ thì sẽ là nhân tốtích cực để quản lý mua bán nợ đạt được mục tiêu đề ra.
Trong hàng loạt các quy định, thì các quy định hướng dẫn tiến hành các thương
vụ M&A cả về cơ chế giao dịch, thông tin minh bạch, lẫn những quy định về kế toán,kiểm toán cũng cần rất cụ thể Trong khi cơ chế hoạt động chưa rõ ràng, thông tin về
nợ xấu chưa minh bạch, doanh nghiệp lại có nhiều loại báo cáo tài chính, cáo bạchkhác nhau, vì vậy hoạt động quản lý mua bán nợ xấu sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và nguycơ
Sự phát triển của các tổ chức tư vấn định giá tài sản, định giá khoản nợ, công ty xếp hạng tín nhiệm:
Để đảm bảo tính khách quan, minh bạch, việc định giá khoản nợ xấu thườngđược tiến hành bởi một tổ chức trung gian có chức năng định giá tài sản, định giá khoản
nợ xấu Việc định giá khoản nợ xấu được nhanh chóng, chính xác, phù hợp với thịtrường sẽ mang lại hiệu quả trong quản lý mua bán nợ xấu
Ngoài ra, khả năng tiếp cận thông tin về khoản nợ xấu là yếu tố quan trọng cho sựbắt đầu các hoạt động mua bán nợ xấu Do vậy, sự tồn tại của các công ty xếp hạng tínnhiệm có uy tín hay các trung tâm độc lập cung cấp thông tin đánh giá về nợ xấu là nhân
tố hết sức quan trọng và có ảnh hưởng tích cực đến quản lý mua bán nợ xấu Nếu thiếuvắng các đơn vị này thì hoạt động quản lý mua bán nợ xấu khó có thể đạt được mục tiêu
Các văn bản pháp luật chính phủ ban hành về hướng dẫn điều chỉnh hoạt độngmua bán nợ xấu, tạo ra một môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch thuận lợi và đủ mạnh
để điều chỉnh, quản lý hoạt động mua bán nợ xấu Hệ thống văn bản pháp quy cần đượcban hành trước mở đường cho quản lý mua bán nợ xấu đúng hướng Phải có các biệnpháp thích hợp trong quản lý, tránh thủ tục rườm rà, kéo dài qua nhiều tầng nấc
1.3.2 Môi trường kinh tế
Thể chế kinh tế thị trường là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành nhu cầugiao dịch các khoản nợ xấu khác nhau Quản lý mua bán nợ xấu phải tuân theo thuộctính của thị trường tài chính nói chung và thị trường mua bán nợ xấu nói riêng Kinh
Trang 34tế thị trường với những hệ giá trị và quy luật kinh tế của nó sẽ là nền tảng quan trọngnhất để hình thành một cách tự phát hoặc có tổ chức nhu cầu mua bán nợ xấu Ví dụ,
cơ chế xác định giá dựa trên cơ sở cung cầu và sự tự nguyện trao đổi giữa các bêntham gia; các tin tức có tác động đến sự thay đổi giá cả của vốn nói chung và nợ xấunói riêng cần phải công khai cung cấp cho các chủ thể tham gia thị trường mua bán
nợ xấu nhằm tạo cho họ có cơ hội đầu tư như nhau, đồng thời cũng là biện pháp quantrọng để ngăn chặn các hành vi gian lận trong mua bán nợ xấu; hoặc thị trường vốnhình thành tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia và hiện thực hóa các loại hìnhhợp đồng mua bán nợ xấu khác nhau Vì thế, việc tiếp tục kiên trì thúc đẩy và hoànthiện thể chế kinh tế thị trường sẽ tạo ra môi trường tốt cho quản lý mua bán nợ xấu
1.3.3 Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến “cầu” của loại hàng hóa nợ
Khách hàng là danh từ chung để chỉ những người hay tổ chức mua sản phẩm,dịch vụ của tổ chức Trong số các bên có liên quan trực tiếp tác động đến tổ chức, có lẽkhách hàng là lực lượng quan trọng nhất, quyết định của khách hàng đối với việc sửdụng hay không sử dụng các sản phẩm dịch vụ của tổ chức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
sự tồn tài của tổ chức
Đó là các nhân tố như số lượng, quy mô và khả năng tài chính của các tổ chứcmua bán nợ chuyên nghiệp, nhà đầu tư (người mua nợ xấu) tiềm năng; tính đa dạngtrong phương thức mua bán nợ xấu
Quản lý mua bán nợ xấu gắn với thúc đẩy hoạt động mua bán nợ xấu,năng suất của tổ chức chỉ có thể nâng cao khi có số lượng các nhà đầu tư, công
ty có nhu cầu mua nợ xấu lớn và ngược lại Trên thực tế, do đặc thù của hànghóa là nợ xấu của doanh nghiệp thì số lượng các đơn vị tham gia thị trường với
tư cách là bên mua thường không nhiều Một yếu tố có ảnh hưởng tích cực đếnnhu cầu mua bán nợ xấu là khả năng chứng khoán hóa các khoản nợ để bán lạitrên thị trường tài chính Ngoài ra, khả năng huy động các nguồn tài chính chomua bán nợ xấu cũng là yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến nhu cầu mua nợ xấu
Do vậy, nếu thị trường tài chính phát triển, khả năng chứng khoán hóa nợ dễdàng, khả năng huy động vốn thuận lợi với nhiều mô hình quỹ đầu tư sẽ tạo điều
Trang 35kiện tốt cho mua bán nợ xấu phát triển.
Trang 361.3.4 Nhóm các nhân tố gắn với yếu tố “cung” của loại hàng hóa nợ
Trước hết, về các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chủ nợ, có thể thấy hiệntại các doanh nghiệp thông thường có chủ nợ là các tổ chức tín dụng (đối với cáckhoản doanh nghiệp vay tổ chức tín dụng), là Nhà nước (thường là các khoản nợthuế đối với ngân sách nhà nước (NSNN), chủ nợ của doanh nghiệp cũng có thể
là các đối tác của doanh nghiệp (như nợ nhà cung cấp, nợ khách hàng, nợ cán bộ,nhân viên, nợ các đối tác khác) Các chủ nợ là tổ chức tín dụng dường như đã vàđang quan tâm tới việc mua bán các khoản nợ xấu của họ tại doanh nghiệp hơn
cả Điều đáng chú ý là đối với ngân hàng thì các khoản nợ xấu nằm tại các DNNNthường cũng chiếm tỷ trọng đáng kể
Nhìn tổng thể thì chủ nợ là tổ chức tín dụng vẫn là nhóm chủ nợ có nhiều ưu thếnhất trong việc bán nợ xấu vì thường các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng cho doanhnghiệp vay đã có những đánh giá liên quan đến chất lượng nợ, khả năng trả nợ của doanhnghiệp khách nợ, như vậy sẽ thuận lợi hơn cho công tác định giá mua - bán khoản nợ xấu
là hàng hóa của doanh nghiệp Đối với chủ nợ là Nhà nước, nhà cung cấp, khách hàng,nhân viên doanh nghiệp,… thì gần như đây là các khoản nợ chủ yếu ngắn hạn, có tính thời
vụ mà doanh nghiệp “tranh thủ”, có tính chu kỳ cứ trả nợ rồi quay vòng vay nợ cho chu kỳmới rồi lặp lại Do đó, chỉ khi nào doanh nghiệp không thể cân đối trả nợ được và nợ thành
nợ khó đòi, quá hạn, các chủ nợ loại này mới tính tới việc mua bán nợ xấu Tuy nhiên, trênthực tế đây không phải là đối tượng “cung” hàng hóa - nợ xấu lớn ra thị trường mua bán
nợ xấu Vì vậy, trong luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu vào chủ nợ là các TCTD Khi
số lượng các TCTD tham gia bán nợ xấu trên thị trường càng cao thì đây cũng là nhân tốảnh hưởng tích cực tới quản lý mua bán nợ xấu của doanh nghiệp
Các nhân tố gắn với công ty khách nợ tác động tới chất lượng của nợ xấutại doanh nghiệp Các nhân tố gắn với công ty khách nợ gồm giá trị vô hình, hữuhình, năng lực tài chính của công ty, các nguồn lực của công ty, lợi thế kinhdoanh, các lợi thế vô hình khác, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp nợ.Nói về “cung” hàng hóa nợ xấu gắn với doanh nghiệp khách nợ thì đây đang lànhóm nhân tố tác động tiêu cực theo hướng “tăng cung” bởi khi nền kinh tế gặp
Trang 37khó khăn, các doanh nghiệp hoạt động thua lỗ kéo dài, dẫn đến khó có khả năngtrả nợ đúng hạn và làm tăng các khoản nợ xấu Vì vậy, cần có nhiều giải phápđồng bộ mới xử lý được vấn đề này.
Trên thực tế, hoạt động mua bán nợ xấu chỉ có thể diễn ra nếu như bênmua và bên bán có thể đo lường ở mức độ nhất định về “giá” mua bán hàng hóa
nợ xấu, nghĩa là phải đo lường được chất lượng nợ xấu Điều này yêu cầu bênmua, bên bán có được cơ sở để đánh giá chất lượng cơ cấu tài chính của doanhnghiệp, có được thông tin minh bạch về doanh nghiệp, thông tin minh bạch vềphương thức vay - cho vay, quy trình đánh giá rủi ro gắn với các khoản nợ xấu,các định chế trung gian như các công ty định mức tín dụng, tư vấn mua bán nợ,
là các bên thứ ba có vai trò khách quan mà bên mua và bên bán nợ có thể thamvấn trong hoạt động mua bán nợ xấu
1.4.Kinh nghiệm quản lý mua bán nợ xấu ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý mua bán nợ xấu ở một số nước
1.4.1.1 Kinh nghiệm quản lý mua bán nợ xấu của Hoa Kỳ
Công ty xử lý tài sản quốc gia của Hoa Kỳ (The Resolution Trust Company in theUnited States) RTC được thành lập như một cơ quan quản lý mua bán nhanh nợ xấu vàonăm 1989 để xử lý các khoản nợ xấu của các hiệp hội tiết kiệm và cho vay Như một cơquan nhà nước, RTC có rất nhiều mục tiêu, gồm: Tối đa hoá thu nhập ròng từ việc bán cáctài sản được chuyển nhượng; tối thiểu hoá tác động lên các thị trường địa ốc và thị trườngtài chính địa phương; tối đa hoá việc tạo ra nhà ở cho các cá nhân có thu nhập thấp RTCthực hiện việc mua bán và xử lý đối với cả hai loại nợ luân chuyển thông thường và nợ tồnđọng, khó xử lý (Performing and non-performing assets) Kết quả hoạt động của RTC làrất tốt Tổng số tài sản mà RTC đã xử lý được là 465 tỷ USD bằng 8,5% tổng tài sản trongkhu vực tài chính, tương đương 8,5% GDP của Hoa Kỳ năm 1989 (Bonin&Huang 2002).Nguyên nhân tạo ra thành công của RTC là do tổng khối lượng nợ xấu chỉ bằng 3% tổngtài sản tài chính trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng nhất Hơn thế nữa, khoảng 50%tài sản là các khoản vay bất động sản và vay cầm cố, 35% là tiền mặt và các loại chứng
Trang 38khoán khác Vì vậy, nhiều tài sản được chuyển nhượng là rất tốt và dễ dàng bán thông quaviệc đóng gói, chứng khoán hoá và đấu giá trên thị trường tài chính phát triển nhất thế giới.RTC chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn và đã hoàn thành sứ mệnh vào năm 1995.Một trong những yếu tố hết sức quan trọng khác tạo ra sự thành công trong quản lý muabán nợ xấu này là các nhân sự cao cấp của RTC được lấy từ Công ty bảo hiểm tiền gửi liênbang (đây là cơ quan có sự hiểu biết rất rõ về vấn đề lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại tronghoạt động tài chính) và đội ngũ nhân viên của họ có rất nhiều kinh nghiệm trong việc xử lýcác tổ chức tài chính khó khăn, lâm vào tình trạng phá sản Mặt khác, RTC đã dựa vàonhững nhà thầu tư nhân để đánh giá, quản lý và bán nhiều tài sản Một cấu trúc quản lýhiệu quả đã cho phép RTC thu hồi 1/3 tài sản được chuyển nhượng, giảm thiểu đáng kểkhối lượng nợ phải bán Mặc dù tỷ lệ thu hồi trên tổng tài sản được chuyển nhượng đạt86%, nhưng tổng chi phí hoạt động của RTC là 88 tỷ USD, bằng 20% giá trị tài sản đượcchuyển nhượng và bằng 1,5% GDP năm 1989, có nhiều yếu tố không thuận lợi ảnh hưởngđến hoạt động của RTC như: việc tài trợ của chính phủ rời rạc làm gia tăng chi phí xử lý;việc quản lý mua bán nợ xấu nhanh chóng bị cản trở bởi nhiều mục tiêu không nhất quánđan xen Tuy có một số khó khăn, trở ngại, nhưng nhìn chung hoạt động của RTC là rấtthành công vì đã có những điều kiện rất thuận lợi và những yếu tố cơ bản giúp nó thựchiện được sứ mệnh của mình
1.4.1.2 Kinh nghiệm quản lý mua bán nợ xấu của Malaysia
Malaysia là một trong những nước chịu ảnh hưởng trầm trọng của cuộc khủnghoảng kinh tế Châu Á năm 1997 Khi đó, đồng Ringgit (viết tắt là RM) mất đến 50%giá trị, niềm tin tiêu dùng suy giảm trầm trọng Nếu như các khoản nợ xấu tại thời kỳngay trước khủng hoảng dao động từ 2-3% thì khi khủng hoảng xảy ra, tỷ lệ nợ xấutăng lên hai con số, đỉnh điểm vào tháng 8/1998 khi nợ xấu lên đến 11,4% Đối mặtvới khủng hoảng kinh tế, Chính phủ Malaysia buộc phải lập ra 3 tổ chức để giảm nợxấu, lành mạnh hệ thống tài chính và khôi phục lại đà tăng trưởng, trong đó Công tyQuản lý tài sản (Danaharta) để xử lý nợ xấu là trung tâm của kế hoạch
Malaysia đã thành lập ra Danaharta (một AMC) vào tháng 6/1998 Mụcchính là loại bỏ các khoản nợ xấu ra khỏi bảng kế toán của các định chế tài chính
Trang 39với mức giá hợp lý và tối đa hóa giá trị có thể phục hồi của các khoản nợ Mộtyếu tố đóng vai trò rất quan trọng giúp cho Danaharta thành công đó là bởi nóđược sự hậu thuẫn đặc biệt từ chính quyền Malaysia Vào tháng 8/1998, LuậtDanaharta ra đời đem lại bộ khung pháp lý rất đặc biệt cho tổ chức này Đạo luậtnày cho phép Danaharta những đặc quyền mà không một tổ chức tài chính nào
có thể có được trong lịch sử ngành tài chính quốc gia, đó là: (i) Mua lại tài sảncủa các tổ chức tài chính; (ii) Bổ nhiệm lãnh đạo ở các tổ chức đang nợ; (iii) Cóquyền tịch biên những tài sản thế chấp
Với những ưu tiên này, Danaharta có thể vừa thực hiện cách tiếp cận mềmmỏng cũng như cứng rắn trong việc quản lý mua bán nợ xấu Thông thường, cáchtiếp cận mềm mỏng như cơ cấu lại nợ, thỏa thuận dàn xếp lại nợ được ưa thíchhơn và cũng đem lại hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, trong một số trường hợp dongười vay không thể duy trì khả năng trả nợ, Danaharta được phép sử dụng nhữngđặc quyền mà Luật Danaharta đã đề ra
Danaharta đã hoàn thành với mục tiêu đề ra Danaharta đã mua 23,1 tỷ RM,tương đương 31,8% nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, đưa nợ xấu của Malaysia vềkhoảng 12,4% vào giữa năm 2009 Việc mua bán nợ được thực hiện trong vòng 6tháng, nhanh hơn cả mục tiêu đề ra Các tổ chức tài chính chấp nhận lỗ khi bán nợcho AMC Mức chiết khấu bình quân là 57%, tức là các ngân hàng buộc phải chấpnhận mất hơn nửa các khoản nợ Sau khi thực hiện bán nợ cho AMC, các tổ chứcnày có thể tập trung vào hoạt động trung gian tài chính của mình
Về hình thức, Danaharta mua bán nợ với các tổ chức tài chính theo cơ chếthị trường Tuy nhiên, với bản chất là một cơ quan của Nhà nước nên Danahartađặt ra một cơ chế xác định giá các khoản nợ khi tổ chức thực hiện như sau:
+ Nợ có đảm bảo: Giá mua được xác định dựa vào giá trị hợp lý (FV)
của tài sản thế chấp Danaharta chỉ chấp nhận các tài sản tài chính là cổ phiếu vàbất động sản
Đối với nợ xấu có tài sản thế chấp là bất động sản (BĐS), FV được tính
là 95% giá trị thị trường của BĐS và được xác định bởi tổ chức định giá độc lập
Trang 40và được cấp phép Với cổ phiếu niêm yết, giá trị hợp lý phụ thuộc vào khốilượng nắm giữ.
Khi FV cao hơn hoặc bằng với dư nợ gốc cộng nợ lãi, Danaharta mua theogiá của nợ gốc cộng nợ lãi Còn giá trị hợp lý thấp hơn giá trị của tổng nợ gốc vàlãi nhưng cao hơn hoặc bằng giá trị nợ gốc, giá mua là giá trị hợp lý Nhưng nếugiá trị hợp lý thấp hơn giá trị nợ gốc, giá mua sẽ là giá trị nợ gốc nhưng Danahartachỉ trả trước một khoản bằng với FV
+ Nợ không có đảm bảo: Giá mua được xác định bằng 10% giá trị dư nợ gốc + Các khoản siêu nợ: Là các khoản nợ trên 200 triệu Ringgit và hầu như
không có khoản nợ nào được Danaharta mua lại
Có thể thấy, cách xác định giá trên rất cụ thể và đơn giản nhưng trong nhiềutình huống các tổ chức tài chính có thể không muốn bán nợ xấu Họ sẽ nhận ra rằngDanaharta không mua lại nợ ở mệnh giá và sẽ chỉ mua ở giá chiết khấu Để giải quyếtvấn đề này, Danaharta đưa ra một cơ chế Danaharta đề nghị mức chia sẻ các khoảnthặng dư từ nợ xấu hồi phục là 80%/20%, áp dụng cho cả nợ đảm bảo và không đảmbảo Bước thứ hai của Danaharta là quản lý tài sản, bước vô cùng quan trọng vìDanaharta phải cân bằng các mục tiêu: Không trở thành nhà kho (warehouse) của nợxấu, tối đa hóa giá trị phục hồi, không làm rối loạn thị trường khi bán ra các tài sản, tạo
ra lợi nhuận trên vốn Danaharta thiết lập một cơ chế minh bạch và rõ ràng trong việcquản lý mua bán nợ xấu, chỉ định các chuyên gia quản lý và xem xét các chuyên gianày, cơ chế chào bán mở và được thực hiện bởi các hãng chuyên nghiệp
1.4.1.3 Kinh nghiệm quản lý mua bán nợ xấu của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một nước có nền kinh tế thị trường, là một trong những con rồngtrong phát triển kinh tế của châu Á những thập kỷ sau của thế kỷ XX Trong nhữngnăm cuối của thế kỷ XX, Hàn Quốc bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tàichính trong khu vực và một số nước trên thế giới Chính phủ Hàn Quốc đã ban hànhmột đạo luật cải tổ chức năng và nhiệm vụ của Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc -Korean Asset Management Corporation (KAMCO), vốn là một công ty quản lý tàisản nợ thuộc ngân hàng phát triển Hàn Quốc (KDB), để cho phép công ty này mua