MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Ứng dụng Pockit iiPCR trong chẩn đoán virus PRRS PRRSV gây bệnh Đề tài được thực hiện trên đối tượng lợn ở các lứa tuổi, nghi nhiễm PRRSV được nuôi tại tỉnh Hòa B
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
THẠCH VĂN MẠNH
GIÁM SÁT HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ
HÔ HẤP Ở LỢN TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM
TỪ 2017 - 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Thạch Văn Mạnh
GIÁM SÁT HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ
HÔ HẤP Ở LỢN TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Thạch Văn Mạnh
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Lê Văn Phan - giảng viên Bộ môn Vi Sinh Vật – Truyền Nhiễm đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Vi Sinh Vật – Truyền Nhiễm, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Phòng xét nghiệm trung tâm chẩn đoán và cố vấn Thú y – Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2018
Học viên
Thạch Văn Mạnh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ảnh viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tıễn của đề tàı 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Lịch sử và tình hình nghiên cứu hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn 3
2.1.1 Khái quát về lịch sử Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS) 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu PRRS trên thế giới và trong nước 5
2.2 Căn bệnh 9
2.2.1 Hình thái cấu trúc của PRRSV 10
2.2.2 Đặc tính sinh học của virus 11
2.2.3 Sức đề kháng của PRRSV 12
2.2.4 Những virus liên quan 12
2.2.5 Những vi khuẩn kế phát 13
2.3 Dịch tễ học của bệnh 13
2.3.1 Động vật cảm nhiễm 13
2.3.2 Động vật môi giới mang và truyền PRRSV 14
2.3.3 Chất chứa mầm bệnh 14
2.3.4 Đường truyền lây 15
2.3.5 Điều kiện lây lan 17
Trang 62.4 Cơ chế sinh bệnh 18
2.5 Triệu chứng, bệnh tích 19
2.5.1 Triệu chứng 19
2.5.2 Bệnh tích 21
2.6 Các phương pháp chẩn đoán PRRS 22
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 22
2.6.2 Chẩn đoán bằng phương pháp giải phẫu bệnh 23
2.6.3 Chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học 23
2.6.4 Kỹ thuật RT – PCR (Reverse transcriptase polymerase chain reaction) 23
2.7 Phòng và điều trị bệnh 24
2.7.1 Phòng bệnh 24
2.7.2 Điều trị bệnh 26
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Địa điểm nghiên cứu 28
3.2 Thời gian nghiên cứu 28
3.3 Đốı tượng, vật lıệu nghıên cứu 28
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 28
3.4 Nội dung nghiên cứu 30
3.5 Phương pháp nghıên cứu 30
3.5.1 Phương pháp thu thập và xử lý mẫu bệnh phẩm 30
3.5.2 Phương pháp RT – PCR 35
3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
Phần 4 Kết quả và thảo luận 39
4.1 So sánh hiệu quả sử dụng máy Pockit iiPCR so với PCR truyền thống trong chẩn đoán PRRSV gây bệnh ở lợn 39
4.1.1 Thí nghiệm so sánh hiệu quả Pockit iiPCR và PCR truyền thống 39
4.1.2 Kết quả tổng hợp so sánh giữa Pockit iiPCR và PCR truyền thống 40
4.2 Tỷ lệ lưu hành PRRSV trên lợn nuôi tại 3 tỉnh hòa bình, Bắc Giang và Hà Nội 41
4.2.1 Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành PRRSV trên lợn nuôi tại 3 tỉnh Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội 41
Trang 74.2.2 Kết quả tỷ lệ loại mẫu dương tính PRRSV tại 3 tỉnh Hòa Bình, Bắc
Giang, Hà Nội 43
4.2.4 Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành các chủng PRRSV tại tỉnh Bắc Giang 45
4.2.5 Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành các chủng PRRSV tại Hà Nội 46
4.2.6 Tỷ lệ nhiễm PRRSV theo các lứa tuổi khác nhau của lợn 47
4.3 Kết quả tổng hợp về triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của lợn mắc bệnh tai xanh trên địa bàn tỉnh hòa bình, Bắc Giang, Hà Nội 49
4.3.1 Tổng hợp về triệu chứng lâm sàng của lợn mắc PRRS 49
4.3.2 Tổng hợp về bệnh tích của lợn mắc PRRS 52
4.4 Đề xuất biện pháp phòng prrsv ở lợn 55
4.4.1 Biện pháp phòng bệnh 55
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Kiến nghị 62
Tài liệu tham khảo 63
Phụ lục 71
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
ELISA Enzyme Linked Immunosorbent Assay
H.E Hematoxylin & Eosin
IPMA Immuno – Peroxidase Monolayer Assay
OD Optical Density (Mật độ quang)
OIE Organisation of International Epidemiology (Tổ chức Dịch tễ Thế giới) PBS Phosphate Buffer Saline
PCR Polymerase Chain Reaction
Pockit iiPCR Pockit Insulated isothermal polymerase chain reaction
PRRS Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome
PRRS CN Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome China
PRRS NA Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome North American PRRSV Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus
RNA Ribonucleic Acid
RT - PCR Reverse Transcription - PCR
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chức năng các ORF của PRRSV 10
Bảng 4.1 Kết quả xét nghiệm PRRSV CN bằng Pockit iiPCR 39
Bảng 4.2 Kết quả tổng hợp so sánh giữa Pockit iiPCR và PCR truyền thống 40
Bảng 4.3 Kết quả xác định tỷ lệ mẫu dương tính với PRRSV 41
Bảng 4.4 Tỷ lệ loại mẫu dương tính PRRSV tại 3 tỉnh Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội 43
Bảng 4.5 Tỷ lệ lưu hành các chủng PRRS CN và PRRS NA trên lợn tại Hòa Bình 44
Bảng 4.6 Tỷ lệ lưu hành các chủng PRRS CN và PRRS NA trên lợn tại Bắc Giang 45
Bảng 4.7 Tỷ lệ lưu hành các chủng PRRS CN và PRRS NA trên lợn tại Hà Nội 46
Bảng 4.8 Tỷ lệ nhiễm PRRSV theo các lứa tuổi khác nhau của lợn 47
Bảng 4.9 Một số biểu hiện lâm sàng ở lợn mắc PRRS trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội 49
Bảng 4.10 Kết quả nghiên cứu một số bệnh tích ở lợn mắc PRRS trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, Bắc Giang và Hà Nội 52
Bảng 4.11 Biện pháp kiểm soát với từng nhóm lợn 58
Bảng 4.12 Tỷ lệ chết đàn lợn từng lô theo các hướng xử lý khác nhau 60
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Bản đồ lịch sử xuất hiện PRRS trên thế giới 4
Hình 2.2 Hình thái cấu trúc của PRRSV 10
Hình 2.3 Các phương thức truyền lây PRRSV 15
Hình 2.4 PRRSV xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào 18
Hình 2.5 Mô hình nguyên lý của phản ứng RT-PCR 24
Hình 3.1 Dòng nhiệt đối lưu trong iiPCR 33
Hình 3.2 Tách mạch (94 0 C-98 0 C 33
Hình 3.3 Gắn mồi (30 0 C-65 0 C 33
Hình 3.4 Kéo dài mạch (68 0 C -72 0 C) 34
Hình 3.5 Hai mạch mới hình thành và bắt đầu chu kỳ mới 34
Hình 3.6 Ly tâm khô trong 3 phút 34
Hình 3.7 Chuẩn bị eppendorf chứa Premix Bufer A 34
Hình 3.8 Ống R-tube 34
Hình 3.9 Máy Pockit iiPCR chạy trong vòng 1 giờ 34
Hình 3.10 Kết quả xét nghiệm bằng phương pháp Pockit iiPCR 35
Hình 4.1 Kết quả xét nghiệm bằng phương pháp Pockit iiPCR 39
Hình 4.2 Kết quả xét nghiệm PCR truyền thống 40
Hình 4.3 Tỷ lệ nhiễm PRRSV tại các tỉnh Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội 42
Hình 4.4 Tỷ lệ loại mẫu dương tính PRRSV tại tỉnh Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội 43
Hình 4.5 Tỷ lệ lưu hành chủng PRRS CN và PRRS NA trên lợn tại Hòa Bình 44
Hình 4.6 Tỷ lệ lưu hành các chủng PRRS CN và PRRS NA trên lợn tại tỉnh Bắc Giang 45
Hình 4.7 Tỷ lệ lưu hành các chủng PRRS CN và PRRS NA trên lợn tại Hà Nội 46
Hình 4.8 Tỷ lệ nhiễm PRRSV theo các lứa tuổi khác nhau của lợn 48
Hình 4.9 Một số hình ảnh triệu chứng lâm sàng lợn mắc PRRS 51
Hình 4.10 Một số hình ảnh bệnh tích lợn nhiễm PRRSV 54
Hình 4.11 Tỷ lệ chết đàn lợn từng lô theo các hướng xử lý khác nhau 61
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Thạch Văn Mạnh
Tên luận văn: Giám sát Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn tại một số tỉnh
miền Bắc Việt Nam từ 2017-2018
Ngành: Thú y Mã số: 8 64 01 01
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Ứng dụng Pockit iiPCR trong chẩn đoán PRRSV gây bệnh ở lợn
Điều tra được tỷ lệ lưu hành PRRS trên lợn nuôi tại tỉnh Hòa Bình, Bắc Giang
và Hà Nội
Đề xuất được một số biện pháp chủ động phòng PRRS cho lợn
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thu thập
và xử lý mẫu bệnh phẩm, phương pháp PCR dùng chẩn đoán PRRSV, phương pháp
xử lý số liệu
Kết quả chính và kết luận
Sử dụng Pockit iiPCR kiểm tra PRRSV cho kết quả chính xác tương tự máy PCR truyền thống Vì vậy máy Pockit iiPCR nên được sử dụng để chấn đoán nhanh lợn nhiễm PRRSV tại trại và các loại virus khác
Tỷ lệ nhiễm PRRSV ở lợn tại tỉnh Bắc Giang (46,00%) ở mức thấp hơn Hòa Bình (50,67%) Hà Nội hiện có tỷ lệ nhiễm PRRS thấp nhất trong ba tỉnh (45,33%)
Tỷ lệ mẫu dương tính với PRRSV trên mẫu huyết thanh là cao nhất (64,67%) Tỷ lệ nhiễm PRRSV trên mẫu nước bọt thấp nhất (28,00%) Mẫu bệnh phẩm từ các cơ quan có
Trang 12thịt ở mức cao nhất cụ thể tỷ lệ nhiễm PRRSV ở lợn con cai sữa là 78,48%, lợn thịt là 76,47% sau đó đến giai đoạn lợn con theo mẹ (42,17%), lợn hậu bị (39,22%), lợn nái (35,56%) Điều này cho thấy PRRSV có thể gây bệnh cho lợn ở mọi lứa tuổi
Trang 13THESIS ABSTRACT Master candidate: Thach Van Manh
Thesis title: Survey of Porcine reproductive and respiratory syndrome in pigs in some
northern provinces from 2017 to 2018
Major: Veterinary Medicine Code: 8 64 01 01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
Apply Pockit iiPCR for PRRSV diagnosis in pigs
Investigation of prevalence of PRRS in pigs in Hoa Binh, Bac Giang and Hanoi Proposing some active PRRS prevention measures for pigs
Materials and Methods
The following research methods were used: method of collecting and treating specimens, PCR method using PRRSV diagnosis, data processing method
Main findings and conclusions
Using Pockit iiPCR, PRRSV testing produces exactly the same results as conventional PCR Therefore, Pockit iiPCR should be used to quickly diagnose PRRSV-infected pigs in farms and other viruses
The prevalence of PRRSV infection in pigs in Bac Giang province was 46,00% lower than in Hoa Binh (50,67%) Hanoi has the lowest prevalence of PRRS in the three provinces (45,33%)
PRRSV-positive samples were highest in sera (64,67%) PRRSV prevalence was lowest in the salivary sample (28,00%) Prevalence of other organs was about (49,33%)
In Hoa Binh province, the prevalence of PRRS CN strains 61,84% was almost twice compared to that of PRRS NA (38,16%)
In Bac Giang province the prevalence of PRRS CN strains in pigs is 65,22%, which is also nearly twice compared to that of PRRS NA (34,78%)
In Ha Nọi the prevalence of PRRS CN strains in pigs is 60,29% higher than that
of PRRSV NA (39,71%)
The prevalence of PRRSV infection in Hoa Binh, Bacgiang and Hanoi in pigs of weaning and growing pigs was the highest In detail PRRSV infection in weaning pigs was 78,48%, growing pigs were 76,47% and followed by piglets (42,17%), gilts (39,22%) and sows (35,56%) This study suggests that PRRSV can cause disease in pigs of all ages
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ và giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta, đặc biệt là chăn nuôi lợn Do nhu cầu xã hội phát triển nên số lượng lợn được nuôi ngày càng tăng cao Chăn nuôi lợn thực sự trở thành nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ nông dân và
là một trong những nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp
Cùng với sự phát triển của chăn nuôi, sự gia tăng sản lượng động vật, thì ngành chăn nuôi cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, đặc biệt là những bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản, tăng trưởng của vật nuôi Và một trong số những bệnh gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi lợn trong những năm gần đây là Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine reproductive and respiratory syndrome - PRRS)
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn, hay bệnh Tai xanh là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi, lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảy thai, thai chết lưu, lây sang lợn con theo mẹ làm lợn yếu ớt, tiêu chảy, rối loạn hô hấp, tỷ lệ chết cao; lợn sau cai sữa, lợn thịt viêm phổi nặng, đực giống mất tính dục, chất lượng tinh kém Bệnh lây lan nhanh và
có thể bội nhiễm với nhiều loại mầm bệnh khác như: Dịch tả, Phó thương hàn,
Tụ huyết trùng, Liên cầu khuẩn, Suyễn, làm ốm chết nhiều lợn Bệnh Tai xanh
theo thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ NN&PTNT)
Do tính chất nghiêm trọng và khả năng lây lan rộng của bệnh, việc chẩn đoán và phát hiện bệnh sớm là rất quan trọng Trong những năm gần đây, kỹ thuật sinh học phân tử đã phát triển một cách mạnh mẽ và chứng minh được vai trò ưu việt, trong
đó kỹ thuật PCR ngày càng được ứng dụng rộng rãi hơn Đây là một kỹ thuật có độ chính xác cao, ít tiêu tốn thời gian và về mặt chi phí có thể chấp nhận được Hiện tại một số công ty đã sản xuất ra máy PCR di động có tính ứng dụng cao, chẩn đoán nhanh, chính xác và kịp thời Trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ sử dụng máy PCR di động để thực hiện giám sát sự lưu hành của virus tại các trang trại
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, để góp phần trong công tác chẩn đoán
Trang 15bệnh nhanh, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế nhằm đánh giá được tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) tại một số tỉnh miền Bắc từ năm
2017 - 2018 và nâng cao hiểu biết về bệnh Tai xanh cho người chăn nuôi và cán bộ
thú y cơ sở chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giám sát Hội chứng rối loạn sinh
sản và hô hấp ở lợn tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam từ 2017-2018”.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Ứng dụng Pockit iiPCR trong chẩn đoán virus PRRS (PRRSV) gây bệnh
Đề tài được thực hiện trên đối tượng lợn ở các lứa tuổi, nghi nhiễm PRRSV
được nuôi tại tỉnh Hòa Bình, Bắc Giang và Hà Nội Các thí nghiệm được tiến hành xét nghiệm và thí nghiệm tại trang trại và Phòng xét nghiệm PCR của Trung tâm Chẩn đoán và Cố vấn Thú y, Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam
Thời gian nghiên cứu từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 10 năm 2018
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Cung cấp thêm các thông tin mới về tình hình nhiễm PRRSV trên lợn nuôi tại một số tỉnh phía Bắc và việc ứng dụng Pockit iiPCR trong chẩn đoán nhanh tại trại
Từ kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý và chăn nuôi đưa ra các biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả, góp phần khống chế PRRSV gây ra trên lợn
Tạo cơ sở để giúp các nhà quản lý, hộ chăn nuôi đưa ra các biện pháp tái đàn nhanh chóng và bền vững sau khi dịch xảy ra, giúp nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP Ở LỢN
2.1.1 Khái quát về lịch sử Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS)
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của lợn mọi nòi giống, mọi lứa tuổi (lợn nái, lợn con theo mẹ, lợn con sau cai sữa, lợn choai, lợn thịt và lợn đực giống) Triệu chứng lâm sàng đặc trưng ở cơ quan hô hấp và sinh sản Lợn nái chửa bị bệnh, dấu hiệu rõ nhất là sảy thai, đẻ non, thai chết lưu, lợn sinh ra chết yểu, chậm động dục trở lại sau cai sữa (Đào Trọng
Đạt, 2008) Tỷ lệ bị bệnh, tỷ lệ chết cao hay thấp phụ thuộc vào lứa tuổi mắc, sức
đề kháng của con vật và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Bệnh có tốc độ lây lan nhanh Lợn bị bệnh thường kế phát các bệnh Dịch tả lợn, Phó thương hàn lợn, Tụ huyết trùng lợn, bệnh do E.coli, Streptococcus suis, suyễn lợn
Vào cuối những năm 80, những báo cáo về một bệnh còn chưa biết nguyên nhân đã bắt đầu ở Mỹ và khởi đầu chỉ nói đến triệu chứng lâm sàng của bệnh (Keffaber, 1989) Lúc đó, những nhà thú y và người nghiên cứu cho rằng hội chứng này khác thường vì tính trầm trọng, kéo dài, kết hợp triệu chứng rối loạn sinh sản, hô hấp và không biết được những trường hợp ở thể ẩn tính Rất nhanh chóng, năm 1988 bệnh lan sang Canada và vào tháng 11 năm 1990, một hội chứng tương tự đã được báo cáo ở Munster - Đức Sau đó, những thông tin về bệnh này ở Châu Âu bắt đầu tăng lên nhanh chóng (OIE, 2005): ở Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh năm 1991 và 1992 ở Pháp Năm 1998, bệnh được phát hiện ở Châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản
Lúc đầu do căn nguyên chưa được biết nên hội chứng được đặt tên là
“bệnh thần bí ở lợn” (Mistery swine Disease - MSD) Về sau, bệnh lan trên toàn thế giới và được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (Swine infertility and respiratory disease – SIRS) Bệnh thần bí của lợn được dùng nhiều ở Mỹ Ở Châu Âu phổ biến dùng tên: “Hội chứng hô hấp và sảy thai
ở lợn (Porcine Endemic abortion and Respiratory syndrome – PEARS); “Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn” (Porcine respiratory and reproductive syndrome - PRRS) và “Bệnh Tai xanh của lợn” (Blue Ear disease – BED)
Đến năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về hội chứng này tổ chức tại
Trang 17Minesota (Mỹ), tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (Porcine reproductive and respiratory syndrome - PRRS) Kể từ đó cho đến nay, tên này đã trở thành tên gọi chính thức của bệnh (William, 2001a)
Hình 2.1 Bản đồ lịch sử xuất hiện PRRS trên thế giới
Nguồn: Jose (2012)
Ở Trung Quốc, PRRS đã liên tục xảy ra, trong vòng hơn 3 tháng của năm
2006, chủng PRRS virus độc lực cao đã gây ra đại dịch lây lan ở hơn 10 tỉnh phía Nam và làm hơn 2 triệu con lợn ốm, trong đó có khoảng hơn 400.000 con đã chết Đến tháng 7 năm 2007, dịch bệnh đã xảy ra ở 25 tỉnh với hơn 180.000 lợn mắc bệnh và 45.000 con đã bị chết
Ở Việt Nam, theo thông báo của Cục Thú y (2007) các kết quả điều tra huyết thanh học tại một số trại lợn giống của các tỉnh phía Nam đã phát hiện có
sự lưu hành của PRRS virus chủng cổ điển, độc lực thấp PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta từ năm 1997 Tuy nhiên sự bùng phát thành dịch và gây tổn thất đáng báo động cho ngành chăn nuôi lợn thực sự mới bắt đầu từ tháng 3 năm
2007 Năm 2010, PRRSV lại gây ra đợt dịch lớn tại Việt Nam với diễn biến phức tạp, dịch xảy ra trên diện rộng trên cả 3 miền Bắc – Trung – Nam
Dịch bệnh PRRS ở lợn không chỉ gây tổn thất cho nền kinh tế xã hội ở nhiều địa phương trong cả nước, mà còn gây tâm lý hoang mang trong nhân dân
và ngành chăn nuôi truyền thống có tính chất nhỏ lẻ không tập trung của nước ta
Trang 182.1.2 Tình hình nghiên cứu PRRS trên thế giới và trong nước
2.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học, căn bệnh, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích của PRRS và biện pháp phòng chống
Tác giả Nelson et al (1993) trên cơ sở phân tích cấu trúc gen của các
chủng PRRSV phân lập từ các vùng địa lý khác nhau đã xác định được 2 nhóm genotype là:
- Nhóm I: Gồm những virus thuộc dòng Châu Âu, đại diện bởi virus Lelystad
- Nhóm II: Gồm những virus thuộc dòng Bắc Mỹ, đại diện bởi virus VR - 2332
Meng et al (1995); Kapur et al (1996), bằng kết quả phân tích trình tự
nucleotid và axit amin của virus VR-2332 và virus Lelystad cho rằng các virus này đang tiến hoá do đột biến ngẫu nhiên và do tái tổ hợp trong gen
Theo kết quả nghiên cứu của Thanawongnuwech et al (1998) cho biết
thời gian nhiễm trùng huyết, tốc độ bài thải và tái sản trong đại thực bào của PRRSV ở lợn 4 đến 8 tuần tuổi dài hơn so với lợn 16 đến 24 tuần tuổi
Theo Wills et al (1997) khi bị nhiễm PRRSV sẽ làm tăng tính mẫn cảm của lợn đối với Streptococcus suis serotyp 2, và làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh do Salmonella choleraesuis trong cơ thể lợn khi có kế phát
Rất nhiều nhà khoa học quan tâm đến việc truyền lây của PRRSV Theo các tác giả, PRRSV có thể truyền lây trực tiếp và truyền lây gián tiếp
* Truyền lây trực tiếp:
Các đường truyền lây trực tiếp của PRRSV trong và giữa các quần thể lợn bao gồm cả lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị vấy nhiễm PRRSV được phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợn, bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch họng, phân, nước tiểu, hơi thở ra, sữa và sữa đầu
Sự truyền lây theo chiều dọc xảy ra trong suốt giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai Qua nghiên cứu, nhiều nhà khoa học cho rằng khả năng qua nhau thai của virus phụ thuộc vào giai đoạn mang thai của lợn nái khi virus xâm nhập vào
cơ thể chúng Nếu virus xâm nhập vào con nái đang chửa kỳ 1 hoặc đầu kỳ 2 thì khả năng qua nhau thai của virus là rất thấp, thể hiện ở đàn con sinh ra tỷ lệ chết thấp, tỷ lệ thai chết lưu cũng thấp, có con non hầu như không có triệu chứng
Trang 19bệnh Nếu virus xâm nhập vào những con nái đang chửa kỳ 2 thì khả năng qua được nhau thai là rất cao Chúng thường gây chết lợn mẹ, hoặc tăng tỷ lệ thai chết lưu, đẻ non, con non chết yểu nhiều, tỷ lệ cai sữa thấp Hiện tượng này được giải thích là do tính thấm của nhau thai ở các giai đoạn khác nhau của thai kỳ
Swenson (1994) đã gây bệnh thành công bằng cách lấy tinh trùng của 4 lợn đực nhiễm PRRSV tiêm vào xoang bụng lợn con từ 4-6 tuần tuổi
Christopher (1998) dùng tinh dịch lấy từ lợn đực 43 ngày sau khi gây nhiễm tiêm cho lợn mẫn cảm, đã làm thay đổi phản ứng huyết thanh của những lợn này
Nhiều nhà khoa học đã khẳng định, đặc trưng của PRRSV là nhiễm trùng kéo dài Đây là một đặc trưng của nhóm Arterivirus Sự tồn tại dai dẳng của PRRSV gây ra lây nhiễm "âm ỉ", virus hiện diện ở mức độ thấp nhất trong cơ thể
và giảm dần theo thời gian (Wills RW, 1997)
Cơ chế mà virus sử dụng để tấn công vào hệ thống miễn dịch của cơ thể chưa được làm rõ Thời gian tồn tại của virus được nói đến trong nhiều nghiên cứu, nhưng kết quả khác nhau Sử dụng phản ứng khuyếch đại gen (PCR) ARN
đã phát hiện ở lợn đực hậu bị (6 - 7 tháng tuổi) PRRSV tồn tại tới 120 ngày sau khi gây nhiễm (Bautista, 2002) và bài thải virus sang động vật khác kéo dài đến
36 ngày (Bierk, 2001)
Về thời gian tồn tại của PRRSV trong quần thể: bằng gây bệnh thực nghiệm (Horter, 2002) đã phát hiện được PRRSV trong 100% cá thể trong tổng số 60 lợn
3 tuần tuổi sau 63 ngày gây nhiễm và 90% sau 105 ngày gây nhiễm
Nếu lợn mẹ bị nhiễm bệnh trong khoảng 85-90 ngày của giai đoạn mang thai, PRRSV có thể nhiễm sang bào thai, lợn con sinh ra mắc bệnh bẩm sinh ngay sau khi sinh Trong những trường hợp này, ARN của PRRSV được phát hiện trong huyết thanh vào ngày 120 sau khi đẻ Lợn chỉ báo được nhốt lẫn với những lợn mắc bệnh này (98 ngày sau khi sinh) đã phát hiện kháng thể PRRSV vào ngày 14
Trang 20sau đó (Benfield D, 1992) Sự tồn tại dai dẳng của PRRSV trong từng cá thể dao động trong khoảng thời gian từ 154 đến 157 ngày sau khi nhiễm
* Truyền lây gián tiếp
Nhiều thông báo cho rằng dụng cụ, thiết bị, ủng và quần áo bảo hộ của công nhân chăn nuôi là những nguồn mang PRRSV tiềm tàng lây nhiễm cho lợn
mẫn cảm (Otake et al., 2002)
Theo tác giả Dee et al (2005) nếu sử dụng giầy, dép một lần, găng tay,
các dụng cụ hai lớp và ngâm chân vào hố sát trùng trước khi vào trại có thể làm giảm tối đa mức độ vấy nhiễm PRRSV trên bề mặt của các vật dụng này và hạn chế lây lan PRRSV theo phương thức cơ học
Cũng theo Dee và cs., các phương tiện vận chuyển gần đây đã được khảo sát là một trong những đường lây lan PRRSV theo phương thức cơ học
Nghiên cứu của Otake (2002) cho rằng các loài côn trùng, muỗi – Aedes vexans và ruồi nhà - Musca domestica tiếp xúc thường xuyên với các phương tiện, dụng cụ, thiết bị dùng cho chăn nuôi lợn là một trong những nhân tố cơ học mang PRRSV từ lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm
Wills RW et al (1997) thông báo, các loài động vật có vú: Loài gặm
nhấm, gấu trúc Mỹ, chó, mèo, thú có túi, chồn hôi và các loài chim (chim sẻ, sáo nuôi) có vai trò quan trọng trong việc làm lây lan PRRSV Không có loài nào là vector sinh học
Zimmerman et al (1997) đã gây bệnh qua đường miệng cho gà, ngan, gà
lôi với khoảng 104 TCID50 PRRSV Không thấy xuất hiện triệu chứng lâm sàng ở bất cứ loài chim nào và chúng không có sự thay đổi phản ứng huyết thanh đối với PRRSV Tuy nhiên có thể phân lập được PRRSV sau khi gây nhiễm 5 ngày trong phân gà, 5-12 ngày trong phân gà lôi
Cũng theo Zimmerman et al (1997) các loài thuỷ cầm di trú (vịt trời) là
một trong những vector làm lây lan PRRSV trong các trang trại Ông và các cộng
sự đã phân lập được virus này trong phân của vịt trời Theo Dee et al (2005) đó
là do bản năng di trú của chúng và khuynh hướng làm tổ ở các đầm phá gần các trại lợn Và vì PRRSV có thể sống sót trong nước đến 11 ngày và trong mương chứa chất thải của lợn tới 7 ngày Đây có thể là giả thuyết đáng tin cậy, tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi về vấn đề này
Trang 21Một số nghiên cứu khác đã cho thấy rằng lợn gây bệnh thực nghiệm có thể
lây nhiễm cho lợn chỉ báo qua không khí ở khoảng cách 1m Theo Torremorel et al
(1997), hiện nay người ta đã chứng minh rằng virus sống có thể lây lan tới 105m qua
sử dụng mô hình ống thẳng áp lực âm, dẫn tới lây nhiễm lợn chỉ báo mẫn cảm
2.1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn đã được phát hiện
từ năm 1997 khi nhập 51 lợn giống từ Mỹ Bằng phản ứng huyết thanh học đã xác định được 10 trong số 51 lợn giống trên có phản ứng dương tính với PRRSV
Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân (2003) bằng kỹ thuật ELISA, khảo sát 1.082 mẫu huyết thanh của lợn thu nhận từ 21 trại nuôi công nghiệp và hộ chăn nuôi của các tỉnh thành thuộc miền Đông Nam Bộ cho thấy:
- 85,71% số cơ sở chăn nuôi phát hiện có lợn nhiễm PRRSV và 36,78%
số mẫu huyết thanh dương tính
- Lợn hậu bị và lợn thịt lúc giết mổ có tỉ lệ nhiễm cao nhất: 51,24% và 49,25%
- Khu vực chăn nuôi tập trung có tỷ lệ nhiễm (56,72%) cao hơn so với khu vực chăn nuôi gia đình (29,98%)
- Trong 130 mẫu huyết thanh dương tính có 59,23% số mẫu nhiễm chủng Bắc Mỹ, 36,92% số mẫu nhiễm cả hai chủng Bắc Mỹ và Châu Âu, chỉ có 3,8%
số mẫu nhiễm chủng Châu Âu
Nguyễn Lương Hiền và cs (2001) điều tra tình hình Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở đàn lợn nuôi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận cho thấy trong số 2.036 mẫu huyết thanh của lợn được kiểm tra có
596 mẫu huyết thanh có kháng kháng thể PRRSV, chiếm tỷ lệ 29,27%; 5 trong số
15 trại lợn được lấy mẫu xét nghiệm có lợn bị nhiễm PRRSV, chiếm tỷ lệ 33%
Tại Cần Thơ, kết quả xét nghiệm của La Tấn Cường (2005) cho biết tỷ lệ nhiễm PRRSV của đàn lợn nuôi trên địa bàn là 66,86%
Điều tra huyết thanh học của Kamakawa và Hồ Thị Việt Thu từ 1999 - 2003 cho thấy tỷ lệ nhiễm PRRSV của đàn lợn trên địa bàn tỉnh Cần Thơ là 7,7%
Thông báo của Cục thú y (2007): Các kết quả điều tra huyết thanh học tại một số trại lợn giống của các tỉnh phía Nam đã phát hiện có sự lưu hành của PRRSV chủng cổ điển, độc lực thấp, gây bệnh với mức độ nhất định
Trang 22Kết quả khảo sát bước đầu của Lê Văn Năm (2007) về tình hình Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn trong đợt dịch 2007 tại một số xã thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ: Tỷ lệ lợn ốm, đối với lợn nái nuôi con là 74,86%; nái hậu bị và nái chửa là 74,07%; lợn con theo mẹ là 89,10%; lợn choai là 80,07%; lợn đực giống là 47,57%
Lợn con bị bệnh, tỷ lệ bị tiêu chảy khá cao (83,25%); lợn ốm bị táo bón 50,50%; lợn con bị lạc giọng 60,50%
2.2 CĂN BỆNH
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn do virus thuộc giống Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales có cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi đơn ARN Dựa vào phân tích cấu trúc gen người ta đã xác định được hai nhóm virus
Nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (tên gọi phổ thông là virus Lelystad) gồm nhiều phân nhóm đã được xác định Nhóm virus này được Wensvoort
và cộng sự - Viện thú y Trung ương – Lelystad – Hà Lan phân lập được bằng tế bào đại thực bào phế nang của lợn và được đặt tên là virus Lelystad – LV
Nhóm II gồm các virus thuộc dòng Bắc Mỹ (với tên gọi là VR – 2332)
được Collins et al phân lập được vào năm 1992 Về mặt di truyền và tính kháng
nguyên, hai nhóm virus này hoàn toàn khác nhau Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng là khoảng 40% (Han J and Y.Wang, 2006),
do đó ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng Tại thực địa,
sự đa dạng cả về đặc tính di truyền và đặc tính kháng nguyên của các chủng PRRSV là nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng vacxin không hiệu quả và đôi khi xảy ra những ổ dịch PRRS lớn
Qua nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy: các mẫu virus gây ra các ổ dịch PRRS tại việt Nam có mức độ tương đồng về amino acid từ 99 - 99,7% so với chủng PRRSV gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc
và đều mất 30 acid amin Kết quả này cũng hoàn toàn giống với kết quả công cường độc của Trung tâm chẩn đoán Thú y TW Tất cả đều thống nhất chủng virus gây ra các ổ dịch PRRS ở Việt Nam hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ, chủng này có sự tương đồng về kháng nguyên với chủng có độc lực cao gây bệnh tại Trung Quốc (Cục thú y, 2008)
Theo kết quả khảo sát của Nguyễn Ngọc Hải và Võ Khánh Hưng (2012): chủng virus gây Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn tại Việt Nam chiếm
Trang 23đa số là chủng Trung Quốc (65%), kế đến là dòng NA (32%) và ít nhất là chủng
EU (1,3%)
2.2.1 Hình thái cấu trúc của PRRSV
Hạt virus có đường kính 50–70 nm, chứa nucleocapsid cùng kích thước có cấu trúc đối xứng 20 mặt, đường kính 35 nm, được bao bọc bên ngoài bởi một lớp vỏ bọc dính chặt với cấu trúc bề mặt giống như tổ ong Bộ gen bao gồm 1 phân tử dạng chuỗi đơn dương ARN kích thước từ 13 - 15 kb Sợi ARN virus có 1 cổng 5’ và 1 dải cổng đầu 3’ Gen ARN polymeraza chiếm khoảng 75% đầu 5’ của bộ gen, gen mã hoá cho các protein cấu trúc của virus nằm ở đầu 3’ (Nguyễn Bá Hiên, 2007)
Hình 2.2 Hình thái cấu trúc của PRRSV
Nguồn : Hans (2012)
Genome PRRSV có kích thước khoảng 15 kilobase và bao gồm 9 khung đọc
mở (ORF) (Meulenberg et al., 1993), trong đó ORF1a và ORF1b chiếm 75% chiều
dài genome và mã hóa cho 14 protein phi cấu trúc khác nhau (NSP)
Các protein cấu trúc của PRRSV mã hóa bởi các ORF từ 2-7 Các ORF
mã hóa protein tương ứng được trình bày trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Chức năng các ORF của PRRSV Khung đọc mở ORF Protein được mã hóa Chức năng protein ORF1a và ORF1b Các enzyme sao chép RNA polymerase Protein phi cấu trúc ORF2a và ORF 2b Glycoprotein màng nhỏ GP2a và GP2b
ORF7 Nucleocapsid protein - N
Nguồn: Nedzad and Gagnon (2010)
Trang 24Tất cả các protein đều cần thiết cho quá trình sản xuất virus gây bệnh nhưng chỉ cần GP5, M và N đã có thể sản xuất hạt virus Chúng chiếm 90-95% lượng protein cấu trúc của virus Trong số đó, protein GP5 (glycoprotein 5) được
mã hóa bởi ORF5, là một protein được glycosyl hóa, gắn với màng bọc ngoài của virus PRRRS, có tính kháng nguyên mạnh và chịu trách nhiệm gây bệnh của virus (Vũ Khắc Hùng và cs., 2015)
Protein GP5 cùng với protein N là đích chủ yếu của các kháng thể trung hòa, tham gia vào cơ chế “lẩn tránh” đáp ứng miễn dịch cơ thể vật chủ của PRRSV, do ngăn cản hiện tượng trình diện kháng nguyên virus của các đại thực bào với các tế bào có thẩm quyền miễn dịch trong cả đáp ứng miễn dịch dịch thể
và qua trung gian tế bào (CMI-cell mediated immunity) (Ansari et al., 2006)
Ngoài ra, GP5 còn tham gia hiện tượng “chết theo chương trình” (apoptosis) của các tế bào trong cơ thể bị nhiễm PRRSV Sự biến đổi của GP5 là một trong những nguyên nhân làm gia tăng khả năng lây nhiễm và gây bệnh của PRRSV, làm cho dịch PRRS ngày càng phức tạp, do làm giảm hiệu quả phòng bệnh của các vacxin phòng bệnh đang lưu hành Chính vì vậy, nghiên cứu giải
mã gen kháng nguyên GP5 (ORF5) của PRRSV đương nhiễm hiện nay là thực sự cần thiết, giúp cho chẩn đoán xác định bệnh nhằm sớm áp dụng các biện pháp khống chế và khoanh vùng dịch tễ, giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra (Tony L
Goldberg et al., 2000) Ngoài ra, dữ liệu gen học và hiểu biết di truyền học của gen
ORF5 giúp cho việc nghiên cứu sản xuất các vacxin thế hệ mới phù hợp với PRRSV đang lưu hành và còn cho phép xác định mức độ tiến hóa của virus đang nhiễm với các chủng trước đó tại Việt Nam và trên thế giới (Vũ Khắc Hùng và cs., 2015).
2.2.2 Đặc tính sinh học của virus
Virus rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở vùng phổi Virus nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị giết chết nên sức đề kháng của lợn mắc bệnh bị suy giảm nghiêm trọng Do vậy lợn bị bệnh thường dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát
Tuy có một số khác biệt về di truyền và kiểu hình nhưng các chủng virus Bắc Mỹ và các chủng virus Châu Âu lại tạo ra các triệu chứng lâm sàng về hô hấp và sinh sản ở lợn rất giống nhau
Dựa vào những kết quả nghiên cứu tổn thương đại thể và vi thể của tổ chức phổi lợn mắc bệnh, người ta chia ra hai nhóm virus: nhóm virus có độc lực
Trang 25cao và nhóm virus có độc lực thấp Nhóm virus có độc lực cao thường gây ra các tổn thương ở tổ chức phổi lợn bệnh nặng hơn nhóm virus có độc lực thấp
Gần đây, tại Trung Quốc các nhà nghiên cứu với quy mô rộng lớn nhất từ trước đến nay đã khẳng định là có sự biến đổi về độc lực của PRRSV, hậu quả lợn nhiễm PRRSV có tỷ lệ chết rất cao, trên 20% trong tổng số nhiễm bệnh (Kegong, 2007)
Virus không gây ngưng kết với các loại hồng cầu gà, dê, thỏ, chuột, hồng cầu type O của người Phát triển tốt trên môi trường tế bào đại thực bào phế nang lợn, trên tế bào dòng CL 2621, tế bào MA 140 với bệnh tích phá huỷ tế bào, sau 2-6 ngày tế bào co tròn, tập trung thành cụm dày lên, nhân co lại cuối cùng bong ra (William, 2001b)
2.2.3 Sức đề kháng của PRRSV
Virus gây PRRS có thể tồn tại một năm ở nhiệt độ lạnh từ - 20oC đến
-700C; trong điều kiện 4oC virus có thể sống một tháng Với nhiệt độ cao cũng như các virus khác PRRSV đề kháng kém; ở 37oC chịu được 48 giờ, 56oC chết sau một giờ Khoảng pH phù hợp là 6,5-7,5 Với các chất sát trùng thông thường
và môi trường có pH axit, virus dễ dàng bị tiêu diệt Dưới tác động của ánh nắng mặt trời hoặc tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng, các dung môi hòa tan chất béo cũng dễ dàng phá hủy virus (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2009)
2.2.4 Những virus liên quan
Họ Arteriviridae chỉ có một giống duy nhất, chứa tất cả 4 thành viên: virus gây đông sữa ở chuột (Lactat dohydrogenase virus - LDV), virus viêm động mạch ngựa (Equine arteritis virus – EAV), virus sốt xuất huyết khỉ (Simian hemorrhagic fever virus – SHFV) và PRRSV Các thành viên trong hộ Arteriviridae có cấu trúc và sự nhân lên giống với virus họ Coronaviridae (William, 2001b) Sự khác biệt giữa hai họ virus này chính là bộ gen của Arteriviridae chỉ bằng ½ bộ gen của Coronaviridae và nét giống nhau đặc trưng của chúng là bản sao mã giống nhau đặc trưng của lớp Nidoviral Trong nhóm virus này, PRRSV có quan hệ gần nhất với LDV dựa trên tính đồng đẳng
Bên cạnh sự giống về tổ chức và cấu trúc gen, PRRSV còn có chung các đặc tính khác với virus LDV, EAV và SHFV Đại thực bào là tế bào mục tiêu cho tất cả 4 virus này PRRSV, EAV và SHFV nhân lên trong đại thực bào phế nang, LDV nhân lên hoàn toàn nghiêm ngặt trong phần lớn tế bào đại thực bào màng bụng chuột nhắt Sự phân giải diệt tế bào của các đại thực bào bị bệnh nhanh
Trang 26chóng là chung đối với mỗi loại virus
Hơn nữa để phát triển trong đại thực bào 4 virus này đều có thể sinh ra bệnh không có triệu chứng, dai dẳng
Sự biến đổi chủng là tính tương tự khác của nhóm virus này Có những biến chủng của LDV, EAV và SHFV khác nhau về độc lực cũng như tính gây miễn dịch (William, 2001a)
2.2.5 Những vi khuẩn kế phát
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, PRRSV thường tấn công, phá huỷ và giết chết đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào vùng phổi Kết quả làm suy giảm hệ thống phòng vệ tự nhiên của cơ thể Hệ thống phòng vệ của cơ thể bị suy giảm là điều kiện lý tưởng cho các mầm bệnh khác kế phát
Một số vi khuẩn kế phát thường gặp trong PRRS:
Các tác giả Nguyễn Hữu Nam và cs (2007), Bùi Quang Anh và cs (2008) đều có kết quả nghiên cứu những loại vi khuẩn gây bệnh kế phát trong đường hô hấp khi lợn mắc Tai xanh thường gặp là:
Actinobacillus Pleuropneumoniae (Vi khuẩn gây bệnh Viêm phổi màng phổi); Mycoplasma hyopneumoniae (Vi khuẩn gây bệnh Suyễn lợn);
Pasteurella multocida (Vi khuẩn gây bệnh Tụ huyết trùng lợn);
Bordetella bronchiseptica (Vi khuẩn gây bệnh Viêm teo mũi);
Streptococcus Suis type 2 (Vi khuẩn gây bệnh Liên cầu khuẩn);
Haemophilus parasuis (Vi khuẩn gây bệnh Viêm đường hô hấp)
2.3 DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH
2.3.1 Động vật cảm nhiễm
Các tác giả Lê Văn Năm (2007); Đào Trọng Đạt (2008) đều cho biết mọi giống lợn ở các lứa tuổi đều cảm nhiễm với PRRSV Các cơ sở chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, bệnh thường lây lan nhanh, tồn tại lâu dài trong đàn nái, rất khó thanh toán Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai
Cho đến nay kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Âu đều cho thấy virus gây PRRS không cảm nhiễm cho các loại thú khác và người Tuy nhiên, từ thực nghiệm các nhà khoa học đã chứng minh một số loại gia cầm chân có màng như vịt trời (Mallard duck) rất mẫn cảm với PRRSV, virus có thể nhân lên ở loài
Trang 27vịt này Vì thế việc phát tán PRRSV trên diện rộng là khó tránh khỏi (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2007)
2.3.2 Động vật môi giới mang và truyền PRRSV
Trong tự nhiên, lợn đực và lợn nái mang virus, đây là nguồn tàng trữ và truyền bá mầm bệnh cho lợn nhà Lợn rừng bị nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng cũng đóng vai trò làm lây truyền virus cho lợn nhà và ngược lại, lợn nhà cũng truyền mầm bệnh cho lợn rừng
Trong thực nghiệm, người ta cũng truyền được virus trực tiếp cho một số loài chuột và từ chuột nhiễm mầm bệnh sang chuột khoẻ (virus bệnh PRRS dòng Châu Âu)
2.3.3 Chất chứa mầm bệnh
Các tác giả Yoon et al (1993); Will et al (1997) cho biết khi đã nhiễm
virus, lợn có thể thải virus trong dịch họng, nước bọt, nước tiểu, phân đến ít nhất
28 ngày sau khi nhiễm virus; virus có rất ít trong phân và chúng cũng bị bất hoạt nhanh chóng khi ở trong phân Tuy nhiên, việc bài thải virus qua phân là một vấn
đề còn gây tranh cãi, một số nghiên cứu báo cáo rằng PRRSV có trong phân từ ngày 28 đến 35 sau khi gây nhiễm thực nghiệm, trong khi đó một số các nghiên cứu khác lại không phát hiện được virus trong các mẫu phân
Lợn đực có thể thải virus qua tinh dịch trong 43 ngày Bằng phương pháp RT-PCR, các nhà nghiên cứu đã phát hiện được ARN của PRRSV trong tinh dịch
92 ngày sau khi lợn bị nhiễm virus (Swenson et al., 1994), Hennings et al., 1995)
(Christopher-Nguồn gốc của virus trong tinh dịch lợn đực hiện nay chưa được xác định chính xác, nhưng người ta cũng đã phân lập được virus trong dịch hoàn 25 ngày sau khi nhiễm, trong tuyến củ hành ở 101 ngày sau khi nhiễm virus Tinh dịch lợn có chứa virus cũng có thể lây nhiễm sang bào thai và lợn nái khi phối giống
Lợn nái nhiễm virus có thể truyền sang cho bào thai từ giai đoạn giữa trở
đi và cũng thải qua nước bọt và sữa
Trong cơ thể lợn nhiễm virus:
- Từ 2 - 4 ngày sau khi nhiễm đã có thể phân lập được virus ở phổi, hạch lympho, hạch amidan, tuyến Thymus, lách và máu Lượng virus nhiều nhất ở hạch amidan và phổi ở 14 ngày sau khi nhiễm, ở hạch lympho sau 3 ngày
- Ở hạch amidan, hạch lympho và tuyến Thymus vẫn có thể phân lập được
Trang 28virus sau 21 ngày, ở phổi là sau 35 ngày
- PRRSV thường cư trú ở phế nang, vùng trung tâm hạch lympho và lách
Ở những con nái có chửa virus có thể qua được nhau thai, tuy nhiên khả năng qua nhau thai của virus này hiện còn nhiều tranh cãi Virus cũng có thể xâm nhập vào thận, não, gan, khí quản, tủy xương và đám rối màng treo ruột
Virus có thể xâm nhập vào đại thực bào vùng phổi, hạch amidan, hạch lympho, lách nhưng không xâm nhập được vào các đại thực bào ở gan, thận, tim
và các tế bào tiền thân của đại thực bào như bạch cầu đơn nhân trung tính, tế bào tủy xương Tế bào đích chủ yếu của virus là đại thực bào phế nang, tại đây virus nhân lên một cách mạnh mẽ nhất, tuy nhiên chỉ có 2% đại thực bào phế nang bị virus xâm nhập
2.3.4 Đường truyền lây
Các yếu tố môi trường: Xe cộ, không khí, khách,côn trùng
Hình 2.3 Các phương thức truyền lây PRRSV
* Truyền lây trực tiếp: Các đường lây truyền trực tiếp của PRRSV trong
và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm virus PRRSV được phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợn bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch họng, phân, nước tiểu, hơi thở ra, sữa và sữa
đầu (Yoon I et al., 1993); (Rossow et al., 1994); (Wagstrom et al., 2001)
Theo Christianson et al (1993) sự truyền lây theo chiều dọc xảy ra trong
Truyền lây trực tiếp
Truyền lây gián tiếp
• Khí dung (dịch hầu họng, phân, nước tiểu)
• Vật liệu bị tạp nhiễm (thức ăn, găng tay, kim tiêm)
Trang 29suốt giai đoạn giữa đến giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai Tuy nhiên, khả năng qua nhau thai của virus phụ thuộc vào giai đoạn mang thai của nái khi virus xâm nhập vào cơ thể chúng Nếu virus xâm nhập vào con nái đang chửa kỳ 1 hoặc kỳ 2 thì khả năng qua nhau thai của virus là rất thấp, thể hiện ở đàn con sinh
ra tỷ lệ chết thấp, tỷ lệ thai chết lưu cũng thấp, có con non còn hầu như không có triệu chứng bệnh Nếu virus xâm nhập vào những con nái đàn chửa kỳ 3 (92 ngày trở lên) thì khả năng qua được nhau thai là rất cao Chúng thường gây chết lợn
mẹ, hoặc tăng tỷ lệ thai chết lưu, đẻ non, con non chết yểu nhiều, tỷ lệ cai sữa thấp… Hiện tượng này được giải thích là do tính thấm của nhau thai ở các giai đoạn khác nhau của thai kỳ là khác nhau
Truyền lây theo chiều ngang cũng đã được báo cáo qua tiếp xúc trực tiếp
giữa lợn bệnh và lợn cảm nhiễm (Bierk et al., 2001), cũng như sự lây truyền qua tinh dịch của những lợn đực nhiễm bệnh (Yaeger et al., 1993)
Nhiễm trùng kéo dài: Theo Plagemann and Moennig (1992) nhiễm bệnh
dai dẳng là một đặc trưng của nhóm Arterivirus Sự tồn tại dai dẳng của PRRSV
gây ra lây nhiễm “âm ỉ”, virus hiện diện ở mức độ thấp trong cơ thể và giảm dần
theo thời gian (Wills et al., 1997) Cơ chế mà virus sử dụng để tấn công vào hệ
thống miễn dịch của cơ thể chưa được làm rõ Thời gian tồn tại của virus được công bố trong nhiều nghiên cứu, nhưng kết quả rất khác nhau Sử dụng phản ứng khuếch đại gen (PCR) ARN của virus đã được phát hiện ở lợn đực hậu bị (6-7
tháng tuổi) cho tới 120 ngày sau khi gây nhiễm (Bautista et al., 2002) và sự bài thải virus sang động vật chỉ báo mẫn cảm được báo cáo là đến 86 ngày (Bierk et
al., 2001)
Về sự tồn tại dai dẳng của PRRSV ở mức độ quần thể trong một khoảng thời gian nhất định, PRRSV đã được phát hiện trong 100% trong số 60 lợn 3 tuần tuổi được gây bệnh thực nghiệm cho đến 63 ngày sau khi gây nhiễm và 90% trên
cùng đàn lợn nói trên lúc 105 ngày sau khi gây nhiễm (Horter et al., 2002)
Virus nhiễm vào các bào thai trong tử cung trong khoảng 85 - 90 ngày của giai đoạn mang thai làm lợn mắc bệnh bẩm sinh ngay khi mới sinh ra, với ARN của PRRSV được phát hiện trong huyết thanh vào ngày 120 sau khi đẻ (Benfield
et al., 1997) Lợn chỉ báo được nhốt lẫn với những lợn mắc bệnh này (98 ngày
sau khi sinh) đã phát hiện kháng thể PRRSV vào 14 ngày sau đó Cuối cùng, sự tồn tại dai dẳng của PRRSV trong từng cá thể dao động trong khoảng thời gian từ
Trang 30154 đến 157 ngày sau khi nhiễm đã được báo cáo (Albina et al., 1994); (Otake et
al., 2002)
* Truyền lây gián tiếp
Một số đường truyền lây gián tiếp qua các dụng cụ, thiết bị đã được xác định Nguy cơ lây truyền qua những đường này có thể được giảm thiểu qua áp dụng các bảng nội quy, nghĩa là thay giày dép, quần áo, rửa tay, tắm, tạo những khoảng thời gian nghỉ khoảng 12 giờ giữa những lần tiếp xúc với lợn
Các phương tiện vận chuyển cũng là một cách làm lây lan PRRSV cơ học tiềm năng Sử dụng một mô hình tỷ lệ 1:150, lợn mẫn cảm đã thu nhận PRRSV qua tiếp xúc ở bên trong mô hình vận chuyển vấy nhiễm với PRRSV
Các loại côn trùng như muỗi và ruồi nhà được theo dõi thường xuyên trong phương tiện, thiết bị dùng cho lợn trong suốt các tháng mùa hè và đã cho thấy có lan truyền PRRSV bằng cơ học từ lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm trong điều kiện thực nghiệm (Otake, 2002)
Đối với các loài có vú và các loài chim, không có loài nào có khả năng là véc tơ sinh học và cơ học Tuy nhiên, các loài thuỷ cầm di trú đã được cho là véc
tơ của PRRSV lây lan bệnh giữa các trại, do bản năng di trú của chúng và khuynh hướng làm tổ ở các đầm phá gần các trại lợn Thế nhưng các kết quả trái ngược về khả năng vịt trời cho sự tái sản và bài thải PRRSV cho lợn qua đường phân - miệng đã được báo cáo Vì thế, câu hỏi này đến nay vẫn chưa được trả lời
Hiện nay, sự truyền lây PRRSV qua bụi lơ lửng trong không khí giữa các trang trại với nhau vẫn còn gây nhiều tranh cãi
2.3.5 Điều kiện lây lan
Ở các cơ sở có lưu hành bệnh, môi trường bị ô nhiễm, bệnh lây lan quanh năm nhưng tập trung vào thời kỳ có nhiều lợn nái phối giống và bệnh phát sinh thành dịch, với tỷ lệ cao, lợn nái có hội chứng rối loạn sinh sản, trong khi lợn con
bị viêm đường hô hấp phổ biến
Bệnh có thể lây từ nước này sang nước khác qua việc xuất lợn có mang mầm bệnh mà không được kiểm dịch chặt chẽ Một số nước đang phát triển nhập lợn giống có phẩm chất và năng suất cao từ các nước Bắc Mỹ và Tây Âu,
do không thực hiện tốt công tác kiểm dịch nên đã mang bệnh vào nước mình Thực tế cho thấy, trong khoảng gần hai thập kỷ qua, bệnh Tai xanh đã thâm nhập và trở thành dịch địa phương ở nhiều nơi trên thế giới Chỉ có Australia,
Trang 31New Zealand, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sỹ tuyên bố là sạch bệnh
(Drew et al., 2008)
Ngoài ra, một nghiên cứu ở Đức đối với 150 đàn bị nhiễm cho thấy có 95% hoặc là đã mua giống dưới 4 tuần trước ổ dịch hoặc là trong vòng 5 km cách đàn bị bệnh
2.4 CƠ CHẾ SINH BỆNH
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, đích tấn công của virus là các đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào ở phế nang, phế quản (hình dưới đây) Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc hạt virus, vì thế virus hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong tế bào này và phá huỷ nó Một tỷ lệ lớn tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhiễm rất sớm
Hình 2.4 PRRSV xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào
Nguồn : Phan Trung Nghĩa (2010)
Lúc đầu, PRRSV có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc 3 ngày virus sẽ giết chết chúng, các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác Ở giai đoạn đầu của quá trình xâm nhiễm của PRRSV, dường như hiệu giá kháng thể kháng lại các loại virus và vi khuẩn khác không liên quan trong cơ thể của lợn tăng cao do sự kích hoạt của đại thực bào trong hệ thống miễn dịch Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độ miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể lợn
Trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực bào đóng một vai trò vô cùng quan trọng Đây là tế bào trình diện kháng nguyên thiết yếu, mở đầu cho quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2009) Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy ra được, lợn
Trang 32nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát, điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm PRRSV sẽ có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát
do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp như Pasteurella multocida,
Mycoplasma hyopneumoniae, Streptococcus suis, Staphylococcus Ngoài ra lợn
mắc PRRS thường bị bội nhiễm với các bệnh khác như Dịch tả lợn, Tụ huyết
trùng, Phó thương hàn, bệnh do Xoắn khuẩn Leptospira spp, bệnh do
Streptococcus spp, Mycoplasma spp, E.coli… Các bệnh kế phát này mới là
nguyên nhân gây chết nhiều ở lợn mắc PRRS (Wang et al., 2007)
Viêm phổi làm thiếu oxy nên gây rối loạn chuyển hóa của thai, thai bị suy dinh dưỡng và gây chết thai, sảy thai Lợn chửa kỳ cuối thì nhu cầu oxy tăng cao
vì phải nuôi thai, ở thời kỳ cuối thai tăng trưởng rất nhanh nên nhu cầu về oxy tăng gấp bội, vì vậy lượng thiếu hụt oxy càng nghiêm trọng, nên thai hay sảy vào
kỳ cuối Sau sảy thai tế bào nội mạc tử cung bị thoái hóa, hoại tử nên làm chậm các quá trình sinh lý khác (Trương Quang, 2009)
2.5 TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH
2.5.1 Triệu chứng
Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố : chủng virus, tuổi, giới tính, điều kiện môi trường, trạng thái miễn dịch của đàn cũng như điều kiện quản lý chăm sóc (Nguyễn Hữu Nam và Nguyễn Thị Lan, 2007)
Nhìn chung lợn mắc PRRS thường có biểu hiện lâm sàng đặc trưng như: sốt cao 40 - 41oC, bỏ ăn, da ửng đỏ, viêm phổi nặng, ỉa chảy, tai xanh, lợn nái mang thai thường sảy thai, thai chết lưu hoặc lợn sơ sinh chết yểu (Tiêu Quang
An và Nguyễn Hữu Nam, 2011) Tuy nhiên, tùy từng chủng virus, đặc điểm giống lợn, lứa tuổi, trạng thái miễn dịch cơ thể và các nhân tố ngoại cảnh mà triệu chứng lâm sàng rất khác nhau Theo ước tính cứ 3 đàn lợn lần đầu tiếp xúc với mầm bệnh thì một đàn không có biểu hiện, một đàn biểu hiện ở mức độ vừa
và một đàn bị nặng (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2009) Lý do cho điều này vẫn chưa giải thích được, tuy nhiên với những đàn khỏe mạnh thì mức độ bệnh cũng nhẹ hơn, hơn nữa cũng có thể do virus tạo nhiều biến chủng với độc lực khác nhau Thực tế nhiều đàn có huyết thanh dương tính nhưng không có dấu hiệu lâm sàng Đây là đặc điểm chính của hội chứng PRRS
Thời kỳ ủ bệnh có thể kéo dài từ 3 - 37 ngày (FAO, 2011) Các triệu
Trang 33chứng chính gồm có:
- Các dấu hiệu về da: da thường đổi màu từ ửng đỏ tới xanh, đặc biệt là vùng da tai và vùng âm hộ Có dấu hiệu phù nề dưới da, mí mắt, chi sau, mõm…
- Các triệu chứng về hô hấp ở lợn con và lợn trưởng thành: khó thở, suy
hô hấp Các triệu chứng về hô hấp thường trở nên nghiêm trọng hơn khi nhiễm
các bệnh kế phát Pasteurella multocida, Porcine Circovirus Type 2 (PCV2),
Mycoplasma hyopneumonia, Streptococcus suis, Salmonella cholerasuis, Haemophilus parasuis, Swine influenza virus…Tỷ lệ chết cao thường gặp ở lợn
con (30 - 50%) và thấp hơn ở lợn trưởng thành (4 - 20%) (OIE, 2008)
độ nhiễm khuẩn tăng cao trên 20.103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản của mình (Nguyễn Văn Thanh, 2007)
* Lợn con theo mẹ:
Thể trạng gầy yếu, triệu chứng phát ra đột ngột, đường huyết hạ thấp do không bú mẹ, mí mắt sưng, có dử màu nâu, trên da xuất hiện những đám phồng rộp (Phạm Ngọc Thạch và cs., 2007)
Lợn con thường tiêu chảy hàng loạt và rất nặng, phân dính đầy xung quanh hậu môn Đây là triệu chứng đặc trưng của PRRS ở lợn con chưa cai sữa, biểu hiện này không phổ biến ở lợn lớn Phát ban đỏ là biểu hiện phổ biến thứ 2
Trang 34và xảy ra ngay sau khi bệnh bắt đầu xuất hiện Chảy nước mắt, mắt có rỉ và mí mắt sưng húp là biểu hiện phổ biến thứ 3, kết hợp với triệu chứng lạc giọng, khản tiếng, thở khó, thở thể bụng, chảy nước mũi, khớp đau, sưng nên chân thường choãi ra, đi lại khó khăn, tỷ lệ tử vong cao (Lê Văn Năm, 2007)
* Ở lợn con sau cai sữa và lợn thịt:
Ở lợn thịt, các triệu chứng tập trung chủ yếu ở đường hô hấp Lợn bị viêm phổi nặng, ho nhiều, thở rất khó khăn, thở dốc, thở thể bụng, có con ngồi thở như chó ngồi, có con tựa vào tường để lấy sức thở, hắt hơi, chảy nước mắt Do phổi
bị viêm nặng nên hiện tượng da xanh (đặc biệt là tai xuất hiện sớm), điển hình và chiếm tỷ lệ lớn ở loại lợn này
Ở lợn con sau cai sữa, mí mắt thường sưng húp, có màu đỏ thâm, làm cho mắt lõm sâu tạo nên một quầng thâm xung quanh mắt nên nhìn lợn giống như được “đeo kính râm” Tỷ lệ táo bón ở lợn loại này rất cao nhưng tỷ lệ tiêu chảy thấp hơn lợn con theo mẹ (Lê Văn Năm, 2007)
2.5.2 Bệnh tích
Nghiên cứu bệnh tích là một trong những khâu quan trọng để xác định các tổn thương do bệnh nguyên gây ra Kết quả nghiên cứu về bệnh tích đại thể và bệnh tích vi thể ở các nhóm lợn bệnh của nhiều tác giả cho thấy:
* Lợn nái chửa: Đặc biệt là lợn nái chửa kỳ 2 thường bị đẻ non hoặc đẻ
chậm Trường hợp đẻ non (sảy thai) thì thấy nhiều thai chết, trên cơ thể thai chết lưu thường có nhiều đám thối rữa Trường hợp đẻ muộn thì số thai chết lưu ít hơn nhiều so với đẻ non Song số lợn con sinh ra rất yếu, nhiều con chết trong lúc đẻ
do thời gian đẻ kéo dài Mổ khám thấy bệnh tích tập trung ở phổi, phổi bị phù nề, viêm hoại tử và tích nước, cắt miếng phổi bỏ vào bát nước thấy phổi chìm
* Lợn nái nuôi con, lợn choai và lợn vỗ béo: Bệnh tích tập trung ở phổi
Các ổ viêm thường gặp ở thuỳ đỉnh, song cũng thấy ở các thuỳ khác nhưng hầu như các ổ viêm áp xe đó không xuất hiện đối xứng Các ổ viêm, áp xe thường có màu xám đỏ, rắn, chắc Khi cắt đôi đám phổi có biến đổi thấy có mủ chảy ra, mô phổi cũng lồi ra và có màu đỏ xám loang lổ như tuyến ức như đá granit Trong một thuỳ phổi có nhiều đám biến đổi như mô tả Cắt miếng phổi biến đổi bỏ vào nước thấy miếng phổi chìm, chứng tỏ phổi đã bị phù nề tích nước nặng
Những lợn bị táo bón thì ruột chứa nhiều phân cục rắn chắc, niêm mạc ruột bị viêm nhưng ở những lợn bị tiêu chảy thì thành ruột mỏng trên bề mặt có
Trang 35phủ một lớp màu nâu
* Lợn con theo mẹ: Xác gầy, da trùng, ruột chứa nhiều nước, đôi khi thấy
có một số cục sữa vón không tiêu, thành ruột mỏng, loét van hồi manh tràng Hạch màng treo ruột xuất huyết, gan sưng và tụ huyết Thận xuất huyết lấm tấm đầu đinh ghim, não xung huyết, hạch hầu, họng, amidan sưng, xung huyết (Phan Đăng Kỳ và Phạm Sỹ Lăng, 2007)
Khi quan sát bệnh tích vi thể ở phổi, nhiều tác giả kết luận Thường thấy dịch thẩm xuất và hiện tượng thâm nhiễm, trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân Một bệnh tích đặc trưng nữa là sự thâm nhiễm của tế bào phế nang loại II (pneumocyse) làm cho phế nang bị nhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang (Nguyễn Văn Thanh, 2007)
Viêm phổi kẽ là bệnh tích chắc chắn thấy ở PRRS Bệnh tích này có thể quan sát được ở lợn mọi lứa tuổi, ở những lợn nhỏ hơn cũng ít bị che khuất bởi bệnh tích các bệnh kế phát (William, 2001b)
Ngoài ra còn thấy một số bệnh tích khác ở đàn lợn đang phát triển như: Viêm mũi đặc trưng bởi mất lông nhung biểu mô, tế bào biểu mô bị sưng lên hoặc chứa khí, bong vẩy trên bề mặt biểu mô
Viêm não không gây mủ đặc trưng bởi tập trung tế bào đơn nhân ở mạch máu ngoại vi đôi khi được quan sát trên toàn bộ não
Viêm cơ tim rải rác chủ yếu bạch cầu đơn nhân tập trung quanh mạch máu ngoại vi
Tuy nhiên bệnh có thể không điển hình theo lứa tuổi vì vậy trong chẩn đoán lâm sàng cần phân biệt bệnh PRRS với các bệnh: Viêm não Nhật Bản, bệnh giả dại,
Trang 36cúm lợn, viêm màng phổi, suyễn, bệnh do Toxoplasma (Lê Văn Năm, 2007)
2.6.2 Chẩn đoán bằng phương pháp giải phẫu bệnh
Đối với lợn con, lợn vỗ béo, lợn chuẩn bị xuất chuồng: Khi mổ khám thấy phổi rắn, chắc và có vùng xám và hồng
Trên tiêu bản vi thể cho thấy viêm phổi kẽ tăng sinh đa điểm hoặc lan tràn làm vách phế nang dầy lên, giảm số lượng tế bào lympho trong các tổ chức lympho…
2.6.3 Chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học
Theo các tác giả A.Buttner et al., (2000); Anette (1997) để phát hiện sự có
mặt của PRRSV người ta có thể sử dụng phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA); phương pháp miễn dịch enzym trên thảm tế bào một lớp và phản ứng trung hòa virus trên môi trường tế bào một lớp (VNT); phương pháp miễn dịch bệnh lý khi sử dụng kháng thể chuẩn để phát hiện virus có trong mẫu bệnh phẩm lợn bệnh PRRS
Phương pháp ELISA có thể chẩn đoán một số lượng mẫu huyết thanh lớn
và kết quả nhanh Khi dùng phương pháp này có thể phát hiện được cả chủng virus có nguồn gốc Bắc Mỹ và chủng có nguồn gốc từ Châu Âu
Phản ứng trung hòa virus trên môi trường tế bào một lớp (Virus neutralization test) là chỉ thị tốt nhất để đánh giá tình trạng bệnh trong quá khứ vì kháng thể trung hòa có thể tồn tại ít nhất một năm Tuy nhiên phản ứng trung hòa virus kém nhạy hơn các phản ứng huyết thanh khác vì kháng thể trung hòa xuất hiện chậm hơn
Có một thực tế là khi đánh giá kết quả của một phản ứng huyết thanh phải cân nhắc đến trạng thái miễn dịch của đàn sau khi được tiêm phòng vacxin vì hiện tại chưa có phản ứng huyết thanh học nào phân biệt được kháng thể do lợn mắc bệnh tự nhiên hay do tiêm phòng vacxin (Anette, 1997)
2.6.4 Kỹ thuật RT – PCR (Reverse transcriptase polymerase chain reaction)
Dùng phản ứng RT - PCR phân tích mẫu máu (được lấy trong giai đoạn đầu của pha cấp tính) để xác định sự có mặt của virus, đây là phản ứng tương đối nhạy và chính xác
Kỹ thuật RT – PCR hay còn gọi là phản ứng PCR ngược là một phản ứng nhân một đoạn giới hạn của khuôn RNA, theo nguyên lý của phản ứng PCR bao gồm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là chuyển đổi một sợi RNA làm khuôn thành cDNA, sau đó qua giai đoạn thứ hai dùng DNA hai sợi này làm khuôn để
Trang 37tiếp tục thực hiện phản ứng PCR
RNA là một sợi bao gồm 4 nucleotit liên kết với nhau, trong đó có Adenine, Guanine, Cystein, Uracil Chuỗi nucleotit này phải được chuyển đổi thành DNA hai sợi mà thành phần Uracil được thay thế bằng Thyamine Phản ứng tạo cDNA từ RNA hệ gen phải nhờ đến vai trò của enzyme phiên mã ngược
Do vậy giai đoạn này được gọi là giai đoạn chuyển ngược Khi đã có DNA phản ứng tiếp theo sẽ là PCR Toàn bộ phản ứng nhân một đoạn DNA từ khuôn RNA qua hai giai đoạn nói trên được gọi là phản ứng RT- PCR hay phản ứng PCR ngược Thay đổi nhiệt độ để phù hợp cho mỗi chu kỳ
Hình 2.5 Mô hình nguyên lý của phản ứng RT-PCR
Nguồn: Yih (2003)
Có thể phân lập PRRSV từ huyết thanh, phổi, hạch amidan…Tuy nhiên PRRSV có đặc điểm khó phân lập và khó quan sát bệnh tích tế bào… Virus thích hợp nhất trên tế bào đại thực bào ở phổi lợn, tuy nhiên mỗi lần phân lập đều phải sản xuất lại tế bào, giữa các lô tế bào được sản xuất ra có sự biến đổi khác nhau
và độ mẫn cảm với PRRSV cũng khác nhau Trong phòng thí nghiệm PRRS thích ứng trên các loại tế bào như: CL2621, PAM, Marc-145…trong đó tế bào thận khỉ Châu Phi Marc-145 thường được sử dụng nhiều nhất (Anette, 1997)
Trang 38bùng phát dịch vẫn tuân theo những quy luật chung của quá trình sinh dịch, thực chất là sự tác động qua lại giữa các khâu: nguồn bệnh, động vật cảm thụ và yếu
tố truyền lây của bệnh truyền nhiễm nói chung Vì thế nguyên tắc khống chế của bệnh PRRS chính là sự tác động vào các khâu trên của quá trình sinh dịch Có nghĩa là cần phải phá vỡ vòng truyền lây của tác nhân gây bệnh và hiệu quả nhất
là sự tác động vào điểm yếu nhất của quá trình truyền lây
Hiện nay trên thế giới có ít nhất 21 loại vacxin phòng bệnh tai xanh Tại Việt Nam, Cục Thú y công bố 7 loại vacxin được phép sử dụng năm 2013 theo văn bản 1989/TY-DT gồm có:
1 Vacxin nhược độc BSL-PS 100 của Công ty Bestar - Singapore, chủng vacxin JKL 100 thuộc dòng Bắc Mỹ
2 Vacxin nhược độc Amervac PRRS của Công ty Hipra - Tây Ban Nha, chủng vacxin VP046 BIS
3 Vacxin Porcilis PRRS của Công ty Intervet Hà Lan
4 Vacxin nhược độc Ingelvac PRRS MLV của Công ty Boehringer - Đức, chủng vacxin ATCC VR-2332 thuộc dòng Bắc Mỹ
5 Vacxin vô hoạt Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp lợn (PRRS) của Công ty Chengdu - Trung quốc, chủng NVDC-JXA1 thuộc dòng Bắc Mỹ
6 Vacxin nhược độc chủng JXA1-R của Công ty China Animal Husbandry Industry Company (CAHIC) - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ
7 Vacxin nhược độc chủng độc lực cao (live JXA1-R Highly Pathogenic Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome vắc xin), của Công ty Đại Hoa Nông - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ
Do chưa hiểu rõ cơ chế miễn dịch bảo hộ và sự đa dạng, thay đổi liên tục của PRRSV nên chưa có loại vacxin nào thực sự thành công Mặc dù lợn được tiêm phòng vẫn có thể nhiễm virus gây bệnh tai xanh cường độc, nhưng khi bị nhiễm lợn sẽ bài thải virus trong thời gian ngắn hơn và hồi phục nhanh hơn Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) trong bối cảnh thực tế
ở Việt Nam, gần như khó có thể duy trì tình trạng âm tính với PRRSV Vì vậy, duy trì sự ổn định của đàn đối với PRRSV là cần thiết Một phương pháp cũng nhằm mục đích như phương pháp dùng vacxin chỉ khác là sử dụng chính “virus
Trang 39còn nguyên độc lực” của trại để phơi nhiễm toàn đàn nái cùng lúc để rút ngắn thời gian nhiễm tự nhiên và tạo miễn dịch bảo hộ đồng chủng 100% cùng lúc Dĩ nhiên là có tổn thất, nhưng tiên liệu được và sau 3 tháng đàn ổn định, thời gian bảo hộ kéo dài 2 năm với điều kiện không có chủng khác xâm nhập
Bên cạnh đó cần chú ý thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức phòng bệnh cho người chăn nuôi cũng như các biện pháp kiểm dịch nhằm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh bùng phát, lây lan, nhất là trong điều kiện hội nhập mạnh mẽ như hiện nay
Cụ thể như sau:
- Chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, ấm áp vào mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, thường xuyên quét dọn, tiêu độc chuồng trại bằng một số hoá chất như vôi bột, Iodine, Chloramin B,…
- Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho lợn để nâng cao sức đề kháng cho lợn Đối với lợn mới mua về cần cách ly ít nhất 3 tuần để theo dõi
- Tổ chức tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương để người dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ về mức độ nguy hiểm của dịch PRRS và các biện pháp phòng chống dịch đặc biệt cần phải khai báo khi lợn có biểu hiện của bệnh PRRS
- Tăng cường công tác giám sát từ Trung ương đến cơ sở và từng hộ chăn nuôi để có thể sớm phát hiện dịch bệnh và có biện pháp ngăn chặn kịp thời
- Thiết lập các trạm, chốt kiểm dịch tại các đầu mối giao thông quan trọng
và cần có sự hợp tác phối hợp hành động đồng bộ giữa nhiều ngành như: công
an, tài chính, quản lý thị trường, đặc biệt là lực lượng thú y để kiểm soát việc vận chuyển lợn các sản phẩm từ lợn ra vào giữa các tỉnh
- Giao trách nhiệm giám sát phát hiện dịch và báo cáo dịch cho chính quyền cấp xã, khi có dịch xảy ra thì phải bao vây, lấy mẫu xét nghiệm và tiêu huỷ toàn bộ số lợn bệnh
- Tiêm đầy đủ các loại vacxin phòng các bệnh sau: Dich tả lợn, Phó thương hàn, Đóng dấu lợn, Tụ huyết trùng,… Lý do là vì PRRSV làm suy giảm
hệ thống miễn dịch của lợn bệnh dẫn đến lợn mắc các bệnh kế phát trên nếu không được tiêm đầy đủ các loại vacxin trên
2.7.2 Điều trị bệnh
Trang 40Đây là một bệnh do virus gây ra, do đó không có thuốc điều trị đặc hiệu cho PRRS Chỉ điều trị các bệnh bội nhiễm do vi khuẩn gây ra như: Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, Suyễn lợn, Liên cầu khuẩn, do đó hiện nay chưa có thuốc đặc trị
để điều trị bệnh này Chỉ có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng cho lợn như vitamin C nồng độ cao (có thể gấp hai lần so với liều điều trị thông thường), khoáng vi lượng, sử dụng các loại kháng sinh phổ rộng để điều trị cho lợn mắc bệnh kế phát Điều trị phải đầy đủ, đúng liều, đủ thời gian Bên cạnh đó, cần phải nâng cao an toàn sinh học, thực hiện tốt quy tắc chăn nuôi “cùng vào, cùng ra” Thực hiện việc vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại, phương tiện vận chuyển
ra vào trại, vệ sinh tốt đối với người ra vào chuồng trại, công nhân làm việc trong
trại; xử lý tốt phân, rác thải bằng phương pháp hoá học hoặc sinh học