Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần nêu được các ý sau: 1 Cảm nhận, phân tích ngắn gọn đoạn thơ để phát hiện vấn đề được đặt ra: - Tôn trọng và đề cao con người cá nhân
Trang 1MỘT SỐ ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN DÀNH CHO KỲ THI HSG NGỮ VĂN 12
Câu 1: (8 điểm)
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề đặt ra trong đoạn thơ sau:
“Chẳng có ai tẻ nhạt mãi trên đời Mỗi số phận chứa một phần lịch sử Mỗi số phận riêng, dù rất nhỏ Chắc hành tinh nào đã sánh nổi đâu ?”
(Chẳng có ai tẻ nhạt mãi trên đời – Evgeny Evtushenko (Nga))
Câu 2: (12 điểm )
Bàn về truyện ngắn, Từ điển Thuật ngữ Văn học (Nhà xuất bản Văn học, 1992) trang 253 có viết:
“Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết.”
Anh (chị ) hãy giải thích và chứng minh ý kiến trên./
………Hết………
HƯỚNG DẪN CHẤM THI VÀ BIỂU ĐIỂM MÔN VĂN
Giám khảo hội đồng chấm cần lưu ý những điểm sau đây:
1 Đáp án và thang điểm chỉ là những gợi ý định hướng cho việc đánh giá, cho điểm bài làm củahọc sinh Khi chấm cần có sự linh họat
2.Chấm kỹ lưỡng và chính xác Khuyến khích cho điểm cao những bài viết có cách tư duy độcđáo, sáng tạo; cảm thụ tinh tế; văn viết giản dị, trong sáng, giàu cảm xúc; kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, ý
tứ mạch lạc; làm bật được yêu cầu của đề
3 Bài thi được chấm theo thang điểm 20; làm tròn số tới 0,50 điểm
1 Yêu cầu: Học sinh hiểu đúng và đưa ra những ý kiến bàn luận hợp lý về vấn
đề tư tưởng đặt ra trong đoạn thơ Bố cục bài viết rõ ràng, kết cấu chặt chẽ;
diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu; khuyến khích những bài làm sáng tạo
Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần nêu được các ý sau:
1 Cảm nhận, phân tích ngắn gọn đoạn thơ để phát hiện vấn đề được đặt
ra:
- Tôn trọng và đề cao con người cá nhân vì mỗi cá nhân đều có cuộc
đời, số phận riêng phong phú, độc đáo (không tẻ nhạt, không hành tinh nào sánh nổi);
- Quan hệ giữa cá nhân và xã hội: mỗi cá nhân mang trong nó mộtphần đặc tính, lịch sử phát triển của cả công đồng và dù hết sức nhỏ bé
nhưng mỗi cá nhân góp phần làm nên sự đa dạng cho xã hội (“chứa một phần lịch sử”,…)
2,5
2 Phát biểu suy nghĩ về vấn đề được đặt ra trong đoạn thơ
Trang 2hiểu con người, đi sâu vào thế giới nội tâm của họ sẽ thấy mỗi cá nhân – dùthoạt nhìn có vẻ tẻ nhạt, nhàm chán – là một thế giới không cùng, một quyểnsách đọc không bao giờ hết Những nét đặc sắc ấy hợp thành màu sắc phong
phú, đa dạng cho xã hội (dẫn chứng + phân tích)
- Không có từng cá nhân thì không thể có xã hội, cũng không thể cólịch sử phát triển xã hội Dù không phải là tướng lĩnh tài ba, lãnh tụ xuấtchúng hay nhà bác học lỗi lạc, bất kì cá nhân nào cũng có thể góp sức vì sự
phát triển chung (dẫn chứng + phân tích)
- Tăng cường tinh thần đoàn kết để tạo nên sức mạnh chung
Một số ý cơ bản cần nêu được là:
1 Giải thích khái niệm
- Chi tiết trong tác phẩm văn học là những “tiểu tiết của tác phẩmmang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng” (Từ điển thuật ngữ văn học)
- “chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn” là những chi tiết đã được chọnlọc, nhào nặn, thông qua sự sáng tạo của nhà văn để có thể chuyên chởnhững ý nghĩa rộng lớn, sâu sắc mà nhà văn muốn chuyển tải
- “lối hành văn mang nhiều ẩn ý”: qua cách dùng từ, đặt câu, sử dụngcác biện pháp nghệ thuật,vv… nhà văn tạo được cách diễn đạt riêng, giọngđiệu riêng góp phần thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn
- “những chiều sâu chưa nói hết” của tác phẩm chính là những vấn
đề, những suy tư trăn trở, những quan niệm, thái độ, tình cảm,… của nhà vănđược gửi gắm phía sau hình tượng, phía sau câu chữ
- Đặc trưng của truyện ngắn: quy mô, dung lượng phản ánh hiện thực
“nhỏ”, mỗi truyện ngắn có thể ví như “một lát cắt của hiện thực đời sống”
(khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhânsinh hay đời sống tâm hồn con người); hạn chế về độ dài tác phẩm Cho nênnhững chi tiết cô đúc, hàm chứa nhiều ý nghĩa, lối hành văn nhiều ẩn ý là
hướng giải quyết tối ưu cho việc chuyển tải nội dung.
- Mỗi tác phẩm có một hệ thống chi tiết nghệ thuật Có thể đó là một
3
Trang 3hệ thống chi tiết dày đặc như trong tác phẩm truyện, hoặc chỉ vài nét chấmphá như trong tác phẩm thơ Nhờ hệ thống chi tiết này mà thế giới nghệ thuậtcủa tác phẩm, từ con người đến cảnh vật hiện ra một cách cụ thể, sinh động,đồng thời cũng góp phần soi tỏ ý nghĩa của tác phẩm.
- Chi tiết có ý nghĩa rất sâu sắc trong việc cắt nghĩa hình tượng nghệthuật của tác phẩm Đọc hiểu hình tượng trong tác phẩm không thể khôngđọc hiểu các chi tiết nghệ thuật Cần phải nắm lấy chi tiết nghệ thuật quantrọng nhất của tác phẩm, tìm hiểu nó trong mối quan hệ với các chi tiết kháctrong tác phẩm để thấy được vai trò, ý nghĩa, tác dụng của chi tiết nghệ thuật
ấy trong việc thể hiện nội dung tư tưởng tác phẩm, đóng góp sáng tạo củanhà văn
5
Một nhà văn tài năng cần tạo dựng được những chi tiết nghệ thuật độcđáo, giàu ý nghĩa có sức ám ảnh người đọc và giọng văn riêng cho tác phẩmcủa mình
1
Trang 4MỘT SỐ ĐỀ THI VÀ GỢI Ý LÀM BÀI DÀNH CHO HSG NGỮ VĂN 12
- Ôi, chắc là bạn đau lắm Nhưng tại sao bạn lại phải làm như thế ?
- Họ hàng nhà tớ ai cũng phải lột xác thì mới lớn lên và trưởng thành được, dù rất đau đớn cá chép con ạ.
- À, bây giờ thì tớ đã hiểu
(Những mẩu chuyện thiếu nhi chọn lọc – NXB Kim Đồng, 2009)
Anh (chị) có suy nghĩ gì sau khi đọc câu chuyện trên ?
Câu 2 (12 điểm).
Nhận xét về vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện, có ý kiến cho rằng: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên?
Hãy chọn hai chi tiết đặc sắc trong hai tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân và
“Chí Phèo” của Nam Cao để làm sáng tỏ nhận định trên.
ĐÁN ÁN Câu 1 ( 8 điểm)
I Yêu cầu về kĩ năng : Nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội Vận dụng nhuần nhuyễn
các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận… Diễn đạt trong sáng, bố cục rõ ràng,không mắc lỗi chính tả
II Yêu cầu về nội dung : Bài viết cần làm sáng tỏ những ý sau:
1 Phân tích khái quát câu chuyện:
- Câu chuyện nhấn mạnh đến cách thức mà cua con “lớn lên và trưởng thành” – đó là “lột xác”
“Lột xác” là trút bỏ lớp vỏ cũ, hình thành và phát triển một lớp vỏ hoàn toàn mới, vừa vặn hơn với cơ thể.Mỗi lần lột xác là loài cua lại lớn hơn Song quá trình “lột xác” lại rất đau đớn và thường gặp nguy hiểmnữa Tuy nhiên, loài cua không thể lớn lên mà không lột xác
- Điều quan trọng là cách chấp nhận rất tự nhiên của cua con với quá trình lột xác của họ hàng nhàmình, coi như đó là cách duy nhất để lớn lên và trưởng thành
2 Bình luận:
Trang 5- Câu chuyện đã gợi cho ta bài học nhân sinh sâu sắc về quá trình lớn lên và trưởng thành của muônloài và con người: muốn lớn lên và trưởng thành, muốn đạt đến thành công thì tất cả muôn loài và conngười cần phải trải qua chông gai thử thách, qua những quá trình lột xác đau đớn.
- Cuộc đời con người là một hành trình dài, trong đó có những dấu mốc thành công không thể phai
mờ, nó đánh dấu sự trưởng thành của mỗi chúng ta trên đường đời Nhưng để đi đến những thành công ấy,con người đã phải qua quá trình “lột xác” đau đớn Quá trình này là tự thân, không ai thay thế được chínhbản thân ta Do đó, để “lớn lên và trưởng thành”, con người phải tự thân vận động vượt qua khó khăn, thửthách, chông gai cũng như loài cua, cua con cũng phải tự lột xác mới lớn lên được
- Thái độ chấp nhận thử thách, khó khăn như một điều tất yếu trong cuộc sống là thái độ cần thiết đểcon người có thể “lớn lên và trưởng thành” và đạt tới thành công Vượt qua thử thách cũng là một cách đểthể hiện bản lĩnh, ý chí, nghị lực sống của con người, khẳng định ý nghĩa sự sống của mỗi con người
- Từ quá trình “lột xác” của cua con, câu chuyện cũng đưa ra một quy luật của sự sống: sự sống làmột sự phát triển liên tục mà ở đó cái mới thay thế cái cũ là điều tất yếu Con người cần nhận thức được quyluật của sự phát triển ấy để thích ứng và làm chủ bản thân trong những thử thách và chông gai trên đườngđời Mỗi cá nhân đều cần lột xác để trưởng thành, từ đó thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội
*(Lưu ý: Mỗi luận điểm trên đều có phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ Dẫn chứng phải tiêu biểu,toàn diện, xác đáng)
- Điểm 7-8: Bài viết đáp ứng tốt các yêu cầu trên Hành văn có cảm xúc, lập luận thuyết phục.
- Điểm 5-6: Bài viết đáp ứng được những ý cơ bản, hầu như không mắc lỗi về kĩ năng và diễn đạt.
- Điểm 3-4: Bài viết chỉ trình bày được một nửa yêu cầu về kiến thức, còn mắc lỗi về kĩ năng và
I Yêu cầu về kĩ năng: Viết đúng kiểu bài nghị luận văn học dạng lí luận văn học, vận dụng nhuần
nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh Diễn đạt trong sáng,
bố cục mạch lạc, rõ ràng Không mắc lỗi chính tả
II Yêu cầu về nội dung: Học sinh có thể trình bày nhiều cách sáng tạo song cần đảm bảo được
Trang 61 Giải thích
- “Chi tiết” là gì? – Ở đây không phải muốn nói đến những chi tiết thông thường cấu thành cốt
truyện mà muốn nói đến những chi tiết nghệ thuật - là các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng (Từ điển thuật ngữ văn học).
- Vì sao “chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”? (Vai trò của chi tiết đối với tác phẩm văn học và thể
hiện tài năng của nhà văn)
Chi tiết nghệ thuật tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tác phẩm Chi tiết cókhả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụcủa tư tưởng tác giả trong tác phẩm
Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, với truyền thốngvăn hóa nghệ thuật nhất định
-> Do đó, “chi tiết nhỏ” có khả năng tạo nên “nhà văn lớn”
tử tù” có thể chọn chi tiết cảnh cho chữ cuối tác phẩm…
- Đánh giá được vị trí quan trọng của các chi tiết trong tác phẩm và trong việc thể hiện tài năng củanhà văn
b Cảm nhận, phân tích cụ thể các chi tiết:
- HS chọn và phân tích hai trong số những chi tiết đặc sắc thuộc hai tác phẩm “Chữ người tử tù” củaNguyễn Tuân và “Chí Phèo” của Nam Cao Bám sát vai trò và ý nghĩa của chi tiết đối với tác phẩm văn học
và nhà văn, đồng thời làm rõ ý nghĩa, vai trò của chi tiết với tác phẩm cụ thể
- Trong quá trình phân tích cần đối sánh để làm nổi bật ý nghĩa của từng chi tiết đã chọn
- Hết
Trang 7-ĐẾ 2:
Câu 1 (8 điểm): Suy nghĩ về câu nói sau:
Đường đời không chỉ có một lối đi
(Lã Nguyên, Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật/ Nguyễn Minh
Châu – về tác gia và tác phẩm; NXB GD; Hà Nội; 2007; trang 395)
Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Làm sáng tỏ qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam và “Chí Phèo” của Nam Cao
………Hết………
GỢI Ý
Câu 1 (8 điểm): Đường đời không chỉ có một lối đi
1 Giải thích (2.0 điểm)
- Lời khẳng định ở chỗ: không chỉ có một lối đi; đã nhấn mạnh: có nhiều lối đi trên đường đời – con
đường cuộc đời mỗi người Cuộc đời nhiều ngã rẽ, nhiều nẻo đường; mỗi con đường dẫn đến những mụctiêu khác nhau Có con đường thẳng, phẳng phiu, có con đường chông gai, gồ ghề, trắc trở, gập ghềnh; cónhiều ngả đường dẫn đến đích; vấn đề lối đi nào ngắn nhất, thông minh nhất, đạt mục tiêu sớm nhất thì còntùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người
- Câu nói đặt ra vấn đề lựa chọn đường đi trên đường đời của con người
2 Bình luận (5.0 điểm)
- Đây là vấn đề rất quan trọng đặt ra với mỗi người, nhất là những người sắp bước vào đời, đang lựachọn đường đi cho cuộc đời mình Tại sao trên đường đời lại có nhiều lối đi? Bởi con đường là do con ngườitạo ra, người ta đi mãi thành đường Con đường kết nối những điểm trong không gian, cũng là cái đích cầntới của con người Tạo ra nhiều con đường cũng tức là tạo ra nhiều cách đi đến đích, tạo ra nhiều sự lựa chọncho con người
Ví dụ để lập nghiệp lập thân với thanh niên có nhiều con đường: Ngày xưa để lập nghiệp người contrai có thể trên con đường lập đức hành đạo, lập công, hay con đường lập ngôn Có người lựa chọn conđường công danh, người chọn con đường văn chương nghệ thuật, con đường võ nghệ Thời đại cách mạngcũng mở ra nhiều con đường với người thanh niên Việt Nam thế kỉ 20 Có người lựa chọn đúng đắn con
Trang 8– trái là cả vấn đề nhân cách và ý chí của con người Ngày nay cũng vậy, có nhiều con đường: học tập thànhdanh, lao động sản xuất, kinh doanh công nghệ, văn nghệ thể thao… và trên con đường nào cũng có ngườithành danh nổi tiếng.
- Nhưng lưạ chọn con đường đi nào tùy thuộc vào mỗi người: mục tiêu, ước mơ, khát vọng, hammuốn, hay bản lĩnh, ý chí của con người Có người chọn đường đi trên đường đời đúng đắn, đi đến đíchnhanh chóng dễ dàng? Có người lựa chọn sai con đường của mình dẫn đến những sai lầm đổ vỡ?
- Vấn đề đặt ra: có nhiều con đường đi trên đường đời đến đích, vậy nên con người không nên biquan chán nản mỗi khi vấp ngã trên đường đời Có những lúc băn khoăn, chao đảo, đứng ở ngã ba cuộc đờinhiều lối rẽ, không biết đi con đường nào Lúc ấy hãy tỉnh táo nhận ra con đường đi của riêng mình và quyếttâm dấn bước, đó là điều tiên quyết để lập thân lập nghiệp với mỗi người, nhất là người thanh niên Và phảichọn được con đường của riêng mình, không nên dẫm lên vết chân người đi trước
- Phê phán những người hèn yếu, không biết chọn đường đi trên đường đời, hoặc chọn con đường sailầm hại dân hại nước, hại nhà hại mình; hoặc bỏ cuộc, đầu hàng số phận
3 Bài học và liên hệ (1.0 điểm)
- Nhận thức được những ngã rẽ cuộc đời, con đường đúng đắn để đi
- Quyết tâm thực hiện con đường mình đã lựa chọn, không bỏ dở con đường; có nghị lực bản lĩnhvượt qua mọi trở ngại trên đường đời nhiều chông gai trắc trở; biết chống lại những cám dỗ trên đường đời,biết tránh những xấu xa trên con đường để đi đến đích
Câu 2 (12 điểm):
1 Giải thích: (4.5 điểm)
a Mỗi nghệ sĩ… riêng mình (1.5 điểm)
Câu nói đề cập đến cách tiếp cận, cắt nghĩa, lí giải đời sống bằng văn chương của mỗi người nghệ sĩ:mỗi người có con đường của riêng mình Vì sao?
+ Vì đời sống là đối tượng khám phá của nghệ thuật, của văn chương Cuộc đời là nơi xuất phát củavăn học
+ Đứng trước hiện thực cuộc sống phong phú, mỗi nhà nghệ sĩ có những cảm xúc, suy ngẫm, lí giảikhác nhau, lựa chọn những mảng đề tài khác nhau, cách xử lí đề tài khác nhau để đặt ra những vấn đề khácnhau Và đó là con đường riêng họ tạo ra cho mình Đó cũng là yêu cầu xuất phát từ đặc trưng của VHNT:lĩnh vực của sự sáng tạo Đó cũng là lương tâm, là trách nhiệm của mỗi người nghệ sĩ Nam Cao tâm niệm:
“Văn chương không cần những người thợ khéo tay…”
Nếu không tạo ra con đường riêng của mình thì sao? Tác phẩm của họ sẽ trở thành sự sao chép, sẽchết, sẽ dẫm lên vết chân của người đi trước Nghĩa là nó sẽ chẳng mang đến chút gì mới lạ cho văn chương
Trang 9Tác dụng: Tạo ra con đường riêng của mình người nghệ sĩ sẽ tạo ra sự đa dạng trong sáng tạo nghệthuật, khẳng định sức sống của mỗi tác phẩm, vị trí, phong cách của nhà văn, cái lí để nhà văn đứng được vớicuộc đời.
Có thể lấy ví dụ: Cùng một đề tài, cách xử lí khác nhau ở các nhà văn
b Tư duy NT… quy luật chân thiện mĩ, quy luật nhân bản (1.5 điểm)
Đây là vấn đề đổi mới tư duy nghệ thuật – một vấn đề đặt ra như một nhu cầu bức thiết, sống còn
của nghệ thuật Nhà văn luôn phải tự làm mới mình góp phần đổi mới nghệ thuật Đổi mới cái gì? Đổi mới
đề tài, chủ đề, cảm hứng, văn phong… Quan trọng là đổi mới tư duy, cách nhìn nhận của nhà văn trước cuộcđời
Nhưng mọi sự đổi mới đều không vượt ra ngoài quy luật chân, thiện, mĩ Cái chân, cái thiện, cái mĩ,cái nhân bản vẫn là cái đích hướng đến của mọi khám phá, sáng tạo nghệ thuật Quy luật chân thiện mĩ, nhânbản giống như sợi dây neo giữ, là giới hạn mà bán kính sáng tạo nhà văn quay chiều nào cũng không thểvượt qua Nói cách khác, nó cũng là một tâm điểm của mọi khám phá sáng tạo nghệ thuật
Văn học sở dĩ là nhu cầu, là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người, vì nó là lĩnh vực đápứng nhu cầu sống của con người Văn học có nhiều chức năng (nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, dự báo, giảitrí…); có nhiều quan niệm cổ kim đông tây, nhưng điểm giao thoa gặp gỡ vẫn cứ là cái chân - thiện - mĩ,những vấn đề mang tính nhân bản nhân văn của đời sống con người Cái chân, là muốn nói đến chức năngnhận thức của văn học; văn học phải chân thực Cái thiện là nói đến chức năng giáo dục, cảm hóa của vănhọc Cái mĩ, là nói đến chức năng thẩm mĩ, chức năng cơ bản nhất, chất keo kết dính các chức năng khác.Khi đạt tới chân thiện mĩ là văn học đạt tới chiều sâu nhân bản, hướng về con người, vì con người
c Sứ mệnh nhà văn chân chính… đại dương nhân bản mênh mông (1.5 điểm)
Đây là vấn đề trăn trở của nhiều cây viết Chữ dùng có thể khác nhau, nhưng thực chất vẫn là một.Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân và nhiều nhà văn khác có những phát biểu về vấn đề này Đó là vấn đềcái tâm của người cầm bút Ở đây người nói đặt vấn đề: “khơi nguồn dòng sông văn học đổ ra đại dươngnhân bản mênh mông” – ý tưởng độc đáo Mọi dòng sông đều đổ về biển rộng, cũng như mọi khám phásáng tạo đều có đích hướng về, những vấn đề thuộc về con người, nhân sinh, nhân bản Bởi lẽ, con người làmột trung tâm khám phá của văn học nghệ thuật Văn học có thể viết về mọi vấn đề của đời sống, mọi hìnhthức sáng tạo, nhưng đều hướng tới là để đặt ra và cắt nghĩa những vấn đề của nhân sinh Văn học chân chínhphải là thứ văn chương vị đời, nhà văn chân chính phải là nhà văn vì con người, tác phẩm mới đạt tới tầmnhân bản
2 Chứng minh qua một vài tác phẩm (6.0 điểm)
- Cách đến với cuộc sống của Thạch Lam qua truyện “Hai đứa trẻ”: Chuyện một phố huyện buồn,những đứa trẻ nghèo với tâm hồn nhân ái, giàu mơ ước Qua đó nhà văn đặt ra nhiều vấn đề sâu sắc mang
Trang 10tính nhân văn, nhân bản: vấn đề khát vọng sống của con người; vấn đề quyền được sống của trẻ em; vấn đề
số phận con người và khát vọng đổi thay cuộc sống… Tác phẩm lấp lánh tư tưởng nhân văn theo cách viết
của Thạch Lam (3.0 điểm).
- Cách đến với cuộc sống của Nam Cao qua truyện “Chí Phèo”: Chuyện về số phận bi thảm củangười nông dân, về khát vọng lương thiện của con người – quỷ dữ Dù đến muộn trên văn đàn, nhưng NamCao vẫn tạo được dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc chính nhờ hướng khám phá và phát hiện đời sống củariêng mình Chí Phèo sở dĩ trở nên bất hủ chính nhờ tài năng và tâm huyết cũng như phong cách của NamCao
- Cả hai tác phẩm đều chạm tới vấn đề mang tính nhân văn, nhân bản: khám phá vẻ đẹp con người,chất người, tức là đạt tới chân thiện mĩ… Tuy nhiên mỗi tác giả trong mỗi tác phẩm lại có những khám phánghệ thuật riêng, hướng đi riêng; làm nên giá trị riêng cho mỗi tác phẩm và khẳng định vị trí của mỗi nhà văn
trong nền văn học (3.0 điểm).
3 Kết luận (1.5 điểm): khẳng định vai trò của hướng đi riêng trong khám phá sáng tạo; đặc biệt là
cái đích muôn đời của văn chương
ĐỀ SỐ 3 Câu 1(8 điểm)
Bàn luận về trình độ học vấn và cách ứng xử văn hoá của con người trong cuộc sống hôm
nay
Câu 2 (12 điểm)
Nghệ thuật miêu tả tâm lí con người là thước đo tài năng người nghệ sĩ.
Hãy phân tích trong sự đối sánh nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và nhân vật văn sĩ Hộ trong Đời thừa (Nam Cao) để thấy được những nét riêng của mỗi nhà văn về vấn đề nói trên (theo Ngữ Văn 11, Nâng cao, tập 1)
-Hết -GỢI Ý
Câu 1 (8 điểm)
Trên cơ sở hiểu đúng vấn đề về trình độ học vấn, ứng xử văn hóa của con người trong cuộc
sống hiện đại hôm nay, biết cách tạo lập văn bản nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí, học sinh có thể trìnhbày bằng nhiều cách, song về cơ bản cần có những ý sau:
1 Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận (0,5 điểm)
a Người có trình độ học vấn thường có cách cư xử rất văn hoá Vì kiến thức họ nhận được từ sách
vở, về thực tế và cách ứng xử luôn hoà thấm trong nhau Họ học cao, biết rộng, hiểu tâm lí con người nênlàm chủ được phát ngôn hành động, cử chỉ của mình trong mọi tình huống Họ biết tôn trọng mình, tôn
Trang 11trọng người khác Trong mắt mọi người, họ luôn được mọi người yêu mến, nể trọng, (Dẫn chúng thực tếminh hoạ…)
b.Nhưng có một số người có trình độ học vấn nhưng chưa chắc đã có cách ứng xử văn hoá Vì
những người này thường không làm chủ được lới nói, hành vi của mình nhất là trong hoàn cảnh bất thường
Có thể học rộng, tài cao nhưng đôi lúc không ý thức được hành vi của mình là thiếu văn hoá, làm tổn hạiđến danh dự, quyền lợi của người khác hay suy nghĩ lệch lạc để biện hộ cho việc khẳng định bản thân trướcđám đông, hoặc do tâm lí đố kị, thù hằn ai đó ăn sâu vào tiềm thức nên muốn hạ thấp nhân phẩm, thậm chílấy đi mạng sống của kẻ đối nghịch, … Cách ứng xử thiếu văn hoá là mầm mống của căn bệnh vô cảm đếnlạnh lùng, tàn nhẫn trong xã hội cần được đấu tranh, lên án,…(Dẫn chứng thực tế minh hoạ)
c Trong xã hội, lại có người không có trình độ học vấn nhưng cách ứng xử vẫn có văn hoá Đó là
những người do điều kiện không thuận lợi nên không được học hành đến nơi đến chốn nhưng họ biết phânbiệt rõ trắng - đen, phải - trái trong cuộc đời Họ am hiểu tâm lý con người hướng tâm hồn mình và ngườikhác đến chân trời của chuẩn mực đạo đức, của cái Đẹp Họ có khả năng kiềm chế nóng giận, bức xúc tronghoàn cảnh bất thường Họ có tấm lòng bao dung, nhân hậu, vị tha Cuộc sống này có vô vàn những conngười như thế, rất đáng để ta quý trọng và học tập,…(Dẫn chứng thực tế minh hoạ)
4 Bài học nhận thức và hành động (1,0 điểm)
- Cần tiếp thu tri thức sách vở, trau dồi kĩ năng sống, kiên định theo lí tưởng sống cao đẹp
- Đấu tranh với những biểu hiện thiếu văn hoá trong cuộc sống hằng ngày
Câu 2 (12 điểm)
Trên cơ sở hiểu đúng yêu cầu của đề, nắm chắc kiến thức về các tác phẩm Hai đứa trẻ, Đời
thừa, các tác giả Thạch Lam, Nam Cao, biết cách tạo lập văn bản nghị luận văn bản ở dạng đề đối sánh, học
sinh có thể trình bày theo nhiều cách, song về cơ bản cần có những ý sau
1 Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận (0,5 điểm )
2 Giải thích (2,0 điểm)
- Tâm lí, tính cách con người bao giờ cũng là đối tượng phản ánh của văn học Lịch sử văn học
dân tộc xét cho cùng là lịch sử tâm hồn của nhân dân
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí là nhà văn sử dụng các phương tiện, biện pháp nghệ thuật để tái hiện
thế giới tâm lí phong phú, phức tạp của con người trong tác phẩm của mình
- Thước đo là tiêu chuẩn đánh giá sự vật, hiện tượng nào đó.
- Tài năng người nghệ sĩ là khả năng sáng tạo nghệ thuật, cơ sở để hình thành phong cách nhà
văn
-> Nhận định trên thừa nhân chân lí trong sáng tạo nghệ thuật: tài năng của người nghệ sĩ khôngphụ thuộc vào điều anh ta nói mà hãy xem anh ta miêu tả tâm lí nhân vật ra sao? Người nghệ sĩ lớn bao giờcũng là một bậc thầy trong việc mêu tả tâm lí
3 Phân thích trong sự đối sánh
3.1 Giống nhau (2,0 điểm)
a Tác giả: Thạch Lam và Nam Cao là những nhà văn xuất sắc có đóng góp lớn cho công cuộc
hiện đại hoá văn học nước nhà (giai đoạn đầu thế kỉ XX đến năm 1945)
b Cảm hứng sáng tạo: Họ đều hướng tới những số phận bất hạnh trong xã hội cũ bằng trái tim
nhân đạo dào dạt, sâu sắc
c Nghệ thuật miêu tả tâm lí:
- Đều tìm đến thể loại truyện ngắn
- Đều chú trọng đến việc miêu tả tâm lí con người trong hoàn cảnh cụ thể, không quan tâmnhiều đến việc miêu tả yếu tố ngoại hình
- Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, phù hợp với tâm lí nhân vật
3.2 Khác nhau (7,0 điểm)
a Tác giả:
- Thạch Lam là nhà văn thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn
Trang 12b Cảm hứng sáng tác:
- Thạch Lam: Cảm thương vô hạn trước những mảnh đời vô danh, vô nghĩa trong xã hội cũ
- Nam Cao: Thông cảm sâu sắc trước tấn bi kịch tinh thần đau đớn, dai dẳng của người tri thứcnghèo trong xã hội cũ
c Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của hai nhà văn
* Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Liên của nhà văn Thạch Lam
- Tác giả miêu tả cảm xúc, cảm giác mong manh, tinh tế: lúc chiều tàn khi đêm xuống, Liên
lắng nghe lòng mình phát hiện những cảm giác mơ hồ không hiểu
- Sự nhịp nhàng giữa ngoại cảnh và tâm hồn nhân vật : buổi chiều, cửa hàng hơi tối - đôi mắt
Liên ngập đầy dần bóng tối; đêm xuống, tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn- đêm phố huyện yên tĩnh đến mức cóthể nghe thấy tiếng hoa bàng rơi khe khẽ; đến đêm khuya, khi tàu đến từ xa, Liên đánh thức An dậy; khi tàuđến rồi vụt qua, Liên dắt tay em đứng lên ngắm nhìn; tàu đi vào trong đêm tối và không còn nghe thấy tiếng
xe lửa nữa thì Liên đi nghỉ rồi chìm vào giấc ngủ tĩnh mịch và đầy bóng tối,…
- Thủ pháp đối lập, thủ pháp được các nhà văn lãng mạn ưa dùng: Đối lập giữa quá khứ rực
rỡ và hiện tại buồn chán của Liên; đối lập giữa cái thoáng qua là đoàn tàu thì rực rỡ, tráng lệ và cái hiện tại
là bóng tối thì bền vững
- Lựa chọn hệ thống hình ảnh thi vị nhẹ nhàng, giàu sức gợi, câu văn có nhịp điệu êm mượt,
góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, nhạy cảm của nhân vật
* Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Hộ của nhà văn Nam Cao:
- Nam Cao miêu tả rất sâu sắc những giằng xé trong tâm trạng người trí thức nghèo:
+ Hộ có khát vọng cao đẹp nhưng không thể thực hiện khát vọng ấy Vì thế Hộ rất khổ tâm: NamCao đã đi sâu miêu tả thế giới tâm lí đau đớn của Hộ khi không làm gì được để nâng cao giá trị cuộc sốngcủa mình: xấu hổ, đau đớn,…mắng mình là thằng khốn nạn, đê tiện Khi biết mình không thể đạt được hoàibão vì gánh nặng cơm áo ghì sát đất, những cái tên sau mới trồi ra rực rỡ hơn thì Hộ trở nên thay đổi tâmtính: cau có, gắt gỏng, bực bội Hộ nhận ra mình đã hỏng, không thể cứu vãn…
+ Hộ không thể lựa chọn dứt khoát giữa nghệ thuật và tình thương Dám hi sinh nghệ thuật vì tìnhthương, sống cho tình thương nhưng giấc mơ có một tác phẩm có giá trị cứ âm ỉ, giày vò Hộ Điều ấy dẫnanh đến bi kịch thứ hai Hộ chà đạp lên lẽ sống, tình thương rồi lại ân hận vì điều đó Anh rơi vào bế tắc
- Nam Cao khéo léo tạo tình huống để đẩy xung đột nội tâm lên đỉnh điểm Đó là lần Hộ xuống
phố đi lĩnh nhuận bút, gặp Trung và Mão, anh lại quên người vợ hiền, đàn con đang đói khát đợi ở nhà…Kết thúc truyện, Nam Cao để cho nhân vật Hộ tự chất vấn lương tâm,… -> Trước sau, Hộ vẫn bảo vệ lẽsống tình thương Đây là cảm hứng chủ đạo xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của Nam Cao
- Nam Cao linh hoạt trong việc sử dụng ngôn từ để miêu tả nội tâm nhân vật: có khi dùng lời
người kể chuyện; có khi dùng lời nhân vật…
3.3 Lý giải sự khác nhau (0,5 điểm)
- Do hoàn cảnh sống, sở trường của mỗi nhà văn
- Do yêu cầu của nghệ thuật: không lặp lại người khác
Trang 13
“Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà Văn cả Nếu anh không
có giọng riêng, anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ"
- Hết
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Câu 1 1) Đây là dạng đề mở Thí sinh có quyền tự do trình bày suy nghĩ của
mình theo những hướng khác nhau Tuy nhiên, cần đạt được một số yêu cầu cơ
bản sau:
- Về hình thức và kĩ năng
Trước hết, thí sinh cần phải xác định đây là đề nghị luận xã hội
Dạng đề này cho phép thí sinh tự do lựa chọn các kiểu bài và thao tác tạo lập văn
bản khác nhau, nhưng phải phù hợp và nhuần nhuyễn Đồng thời, thí sinh cũng
đựoc tự do huy động các chất liệu khác nhau như: chất liệu thuộc tri thức sách vở,
tri thức đời sống và những trải nghiệm của riêng mình Tuy nhiên, vẫn phải xác
định rõ vấn đề ở câu này thuộc về thực tế đời sống chứ không phải trong các tác
phẩm văn học
- Về nội dung
Bài làm cần đạt được những nội dung cơ bản sau:
a) Giải thích câu nói
- Sai lầm: những thất bại, ngộ nhận, sai sót trong cuộc sống
- Đóng cửa: Không chấp nhận, thừa nhận
- Chân lý: Những nhận thức đúng đắn, có ý nghĩa lớn lao,quan trọng
Ý kiến của R.Targo muốn khẳng định về ý nghĩa củanhững sai lầm trong cuộc sống Việc biết chấp nhận, thừa nhận sai lầm làcách tốt nhất để tìm ra chân lý trong cuộc sống
b)Bình luận về ý kiến của R.Targo
- Khẳng định ý kiến của R.Tagore là rất sâu sắc vì:
+ Những chân lý trong cuộc sống thường gắn với những kiến thức phứctạp, những triết lí sâu sắc đòi hỏi một quá trình tư duy nghiền ngẫm dài nên
không dễ gì để tìm ra chân lý Việc mắc sai lầm trong quá trình đi tìm chân lí là
điều khó tránh khỏi
+ Sau mỗi lần thất bại nếu biết phân tích, tìm nguyên nhân, tìm cách khắcphục thì con người sẽ rút ra được những bài học, kinh nghiệm quý báu để có thể
8 điểm
Trang 14thành công trong những lần sau.
+ Biết đối diện và vượt qua những sai lầm con người sẽ trở nên bản lĩnh,giàu kinh nghiệm sống Đây là điều kiện quan trọng để có thể tìm được những
quan trọng là cần rút kinh nghiệm để thành công Mỗi người cần xác định tâm lý
vững vàng để dám chấp nhận và vượt qua sai lầm của bản thân tránh rơi và tâm lí
bi quan, hụt hẫng, sợ đối mặt với sai lầm
- Bài học về hành động: Sau mỗi lần mắc sai lầm cần nghiền ngẫm,phân tích để xem mắc sai lầm ở đâu và tìm cách khắc phục Cần mạnh mẽ và bản
lĩnh để vượt qua sai lầm
Phần liên hệ bản thân: khuyến khích những cảm xúc chân thành, những
câu chuyện cảm động của bản thân học sinh
2) Là dạng đề mở, nên người chấm cũng cần có cái nhìn "mở"
Nghĩa là cần đón nhận nhiều quan điểm khác nhau, nhiều lối nghĩ khác nhau,
nhiều lối viết khác nhau, nhiều thể loại và văn phong khác nhau… Không nên câu
nệ trong đánh giá
Câu 2: Thí sinh có quyền triển khai bài làm của mình theo những hướng và các
cách khác nhau Tuy nhiên, bài làm cần đạt được một số yêu cầu cơ bản sau:
- Về hình thức và kĩ năng (2,0 điểm)
Thí sinh cần xác định đây là kiểu bài lý luận văn học để triển khaibài làm đúng kiểu văn bản Thí sinh cần phát huy đồng thời kiến thức lí luận văn
học và kĩ năng phân tích tác phẩm văn học để làm sáng rõ cho luận đề
- Về nội dung (10,0 điểm)
Bài làm cần đạt được hai nội dung căn bản sau:
cận, cái nhìn riêng biệt…
- Giọng điệu riêng: Giọng điệu là một yếu tố quan trọng trong việc xácđịnh phong cách của một tác giả Một nhà văn muốn có phong cách riêng nhất
thiết phải có một “giọng điệu” riêng Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” [1]
12 điểm
Trang 15thì“Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc.”
-> Ý kiến của Sê-khốp thực chất bàn về phong cách nghệ thuật với cáccấp độ khác nhau Để trở thành một nhà văn, người cầm bút cần tìm ra cho mìnhmột hướng tiếp cận, khai thác, phản ánh đời sống một cách độc đáo, còn để trởthành một nhà văn tài năng, người cầm bút cần tạo ra cho mình một giọng điệuriêng không lẫn với bất cứ nhà văn nào khác
2/ Bình luận
* Khẳng định ý kiến trên là hoàn toàn xác đáng, sâu sắc và đúng
đắn
*Chứng minh bằng kiến thức lý luận văn học:
Học sinh cần huy động kiến thức lý luận về phong cách nghệ thuật đểnhận thấy điều không thể thiếu với mỗi nhà văn chính là phong cách nghệ thuật
+ Phong cách nghệ thuật là những nét độc đáo trong cả nội dung và hìnhthức nghệ thuật của một tác phẩm Với một tác giả, phong cách tạo nên từ sự lặplại tương đối liên tục của các nét độc đáo này
+ Phong cách nghệ thuật thể hiện ở cái nhìn, phạm vi đề tài, chủ đề, cácbiện pháp nghệ thuật, giọng điệu…
+ Vai trò của phong cách: Làm nên sức sống cho tác phẩm và khẳng địnhtài năng của tác giả
* Chứng minh bằng kiến thức văn học
Học sinh có quyền lựa chọn những tác phẩm văn xuôi đã học để chứngminh trong đó cần tập trung làm rõ:
- Lối đi riêng của các tác giả: vd Thạch Lam chọn sự giao thoa giữa hiệnthực và lãng mạn, tự sự và trữ tình; Nguyễn Tuân luôn khai thác đời sống ởphương diện văn hóa thẩm mĩ: Nam Cao luôn khai thác người nông dân trongmối quan hệ tính cách- hoàn cảnh để làm bật lên nhân phẩm…
- Giọng điệu riêng của các tác giả: VD Thạch Lam luôn có giọng nhỏ nhẹ,thâm trầm, thấm đẫm chất thơ; Vũ Trọng Phụng luôn có giọng đả kích, châmbiếm, sâu cay; Nam Cao có sự hòa trộn giọng điệu để tác phẩm có tính đa thanh,
đa giọng…
Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của phong cách nghệ thuật
Trang 16
ĐỀ SỐ 5
Câu 1: ( 8 điểm).
Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề đặt ra trong đoạn thơ sau:
“Người chìa tay và xin con một đồng
Lần thứ nhất con hãy tặng người ấy hai đồng
Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng
Lần thứ ba con phải biết lắc đầu.
Và đến lần thứ tư, con hãy im lặng, bước đi.”
(“Gửi con” - Bùi Nguyễn Trường Kiên)
I Yêu cầu về kĩ năng.
- Biết cách làm bài nghị luận xã hội, bố cục mạch lạc, rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể,sinh động, văn giàu cảm xúc, không mắc lỗi về chính tả, dùng từ, diễn đạt
II Yêu cầu về kiến thức.
- Hiểu và đánh giá, bàn luận thuyết phục vấn đề mà đề bài nêu ra
- Học sinh có thể có những kiến giải, đánh giá theo quan điểm riêng của mình song cần lôgic, hợp lí
Trang 17+ Tuy nhiên, đôi khi chúng ta cũng cần học cách từ chối lời đề nghị giúp đỡ Bởi nếu ta quá dễ dãi,
ta dễ bị lợi dụng, bản thân người được giúp đỡ cũng ỷ lại, không chịu tự thân vận động Khi đó việc làm của
ta trở thành “phản tác dụng”, chẳng những không thể giúp người mà còn hại người Sự từ chối, ban đầu cóthể gây mất lòng nhưng mặt khác, đó cũng là cách để người đó chủ động, tích cực phát huy khả năng củabản thân, tự mình tháo gỡ khó khăn, vững vàng hơn trong cuộc sống
(HS cần chú ý phân tích cách đếm số lượng: lần thứ nhất, lần thứ hai… không nhằm chỉ những con
số cụ thể mà nhằm nhấn mạnh tính chất tăng tiến, hành động “chìa tay và xin” lặp lại nhiều lần – Đó là khingười nhận thụ động, lười biếng, chỉ trông chờ vào người khác)
4 Mở rộng:
+ Khi giúp đỡ cần chân thành, tránh tuyệt đối thái độ ban ơn, khinh rẻ người nhận (Chú ý các từ:
tặng, biếu trong lời thơ)
+ Khi từ chối cũng cần kiên quyết tránh cả nể (lắc đầu, im lặng, bước đi)
5 Liên hệ bản thân: Học cách giúp đỡ người khác, nhiệt tình, đúng mực để sự giúp đỡ ấy phát huy
giá trị tốt đẹp
(Trong khi làm rõ các ý, cần liên hệ với thực tiễn bằng các dẫn chứng sinh động)
III Cách cho điểm
- Điểm 7-8: Bài viết nắm chắc vấn đề, trình bày một cách thuyết phục các yêu cầu về kiến
thức nêu trên Có kiến thức xã hội phong phú; hành văn mượt mà; kết cấu mạch lạc, lôgic, lập luận sắc sảo,
có những phát hiện tinh tế, sáng tạo Không vi phạm yêu cầu về kĩ năng
- Điểm 5-6: Học sinh trình bày một cách tương đối các yêu cầu về kiến thức, biết làm bài
nghị luận xã hội Bố cục bài viết sáng rõ, lôgic, dẫn chứng thuyết phục Có thể chấp nhận vài lỗi nhỏ
- Điểm 3-4: Hiểu vấn đề nhưng lập luận chưa chặt chẽ, trình bày được ½ yêu cầu về kiến
thức, ý văn chưa sáng, còn vài lỗi về diến đạt
Câu 2 (12 điểm):
A Yêu cầu :
*Về kĩ năng: Làm tốt kiểu bài nghị luận văn học với việc vận dụng kết hợp các thao tác giải thích,
phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận Bố cục rõ ràng, hành văn trôi chảy, mượt mà, lí lẽ sắc sảo, khôngmắc lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp
* Về kiến thức: Trên cơ sở hiểu biết về Thơ mới, đặc biệt là các tác phẩm trong chương trình Ngữ
Văn 11, học sinh có thể có những cách kiến giải khác nhau, song cần đảm bảo các ý chính:
1 Giải thích:
Trang 18- “Câu thơ hay”: Là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ, có khả năng lay động lòngngười, có giá trị tinh thần bền vững, có sức sống mănh liệt trong ḷng độc giả, cũng là hình thức tồn tại củanhững tư tưởng, tình cảm mà nhà thơ muốn gửi gắm.
- “Đọc”: Là hành động tiếp nhận và thưởng thức của người đọc
- “Tình người”: Là nội dung tạo nên giá trị đặc trưng của thơ
=> Quan niệm của Tố Hữu đề cập đến giá trị của thơ từ góc độ của người tiếp nhận: Giá trịcủa thơ là giá trị của những tư tưởng, tình cảm được biểu hiện trong thơ
-Với người đọc thơ, đến với bài thơ là để trải nghiệm một tâm trạng, một cảm xúc và kiếmtìm sự tri âm Do vậy, khi tìm đến một tác phẩm thơ, người đọc quan tâm nhiều tới cảm xúc, tới tình cảm
mà nhà thơ kí thác Tuy nhiên, nói “không thấy câu thơ” không có nghĩa là câu thơ không tồn tại mà hìnhthức biểu hiện đó đã đồng nhất với nội dung, trở thành dạng tồn tại của nội dung tình cảm
3 Chứng minh bằng việc phân tích một vài dẫn chứng thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ
mới (Chú ý: Học sinh trong quá trình phân tích phải làm nổi bật tiếng nói tình cảm, nội dung cảm xúc đượcthể hiện trong thơ.)
4 Đánh giá, mở rộng:
- Ý nghĩa của câu nói đối với người làm thơ?
- Ý nghĩa của câu nói đối với người đọc thơ?
-Thơ hay là thơ lay động tâm hồn con người bằng tình cảm song để có thơ hay , người làmthơ bên cạnh sự sâu sắc, mãnh liệt của tình cảm, sự phong phú của cảm xúc cần nghiêm túc, công phu tronglao động nghệ thuật Đây là hai yếu tố không thể xem nhẹ trong sáng tạo và thưởng thức thơ ca
.Hết
Trang 19ĐỀ SỐ 6:
Câu 1( 8 đ)
Trong cuốn nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi, Nguyễn Văn Thạc viết: “…thời gian trôi, không bao giờ
ngoảnh lại và những gì mất đi không bao giờ người ta còn có Nhưng thời gian vẫn còn thừa thãi, còn rơi vãi trong tay những người đang than thở”.
Suy nghĩ của anh(chị) về lời tâm sự trên.
Câu 2 (12 điểm)
“ Trên trang sách, cuộc sống tuyệt vời biết bao nhưng cũng bi thảm biết bao Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời”
(Theo Nguyễn Văn Thạc - Mãi mãi tuổi 20)
Anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua một số tác phẩm văn học
* Giải thích:
-Nguyễn Văn Thạc chỉ ra quy luật của thời gian và cuộc sống con người:
thời gian “Không bao giờ ngoảnh lại” “ những cái mất đi không bao giờ người ta
còn có”
-Thời gian đang bị lãng phí,bị mất đi một cách vô ích -> không được sử dụng, không được trân trọng Người đang than thở: là những người đang kêu than,
thổ lộ nỗi buồn rầu đau khổ của mình.Những người này đã bỏ phí thời gian vào
việc kêu than
-> Khảng định: thời gian rất quý giá nó một đi không trở lại vì thế phải trân trọng và sống thật có ý nghĩa, vượt lên trên những đau buồn, nghịch cảnh để
tượng của vẻ đẹp lí tưởng và khát vọng sống cống hiến Chính vì vậy đây là lời
tâm sự rất thật, rất đáng trân trọng ở mọi giai đoạn lịch sử nước nhà
-Con người luôn chạy đua với thời gian bởi thời gian trôi đi là không trở lại,bởi con người ai cũng chỉ được sống môt lần cần phải sống sao cho không
khỏi ân hận xót xa vì đã sống hoài sống phí
-Bên cạnh những niềm hạnh phúc cuộc sống còn luôn chứa đựng những nghịch cảnh, những khó khăn có thể khiến con người phải đau khổ Chúng ta sẽ
cần sự sẻ chia song nếu chúng ta đầu hàng số phận, ngồi kêu than với những khó
khăn gặp phải mà không đứng lên làm cho tốt đẹp hơn lúc đó ta đã lãng phí thời
gian sống vì sống không có ích, sống hoài, sống phí
- Phê phán những con người sống ích kỉ, nhút nhát, thiếu ý chí ( nhất là một bộ phận giới trẻ ăn chơi, thiếu lí tưởng ước mơ….)
- Ca ngợi và trân trọng những tấm gương luôn vượt qua nghịch cảnh để sống tốt đẹp hơn, ca ngợi những người làm việc , sống hết mình để thời gian sống
trở nên đáng quý vì không chỉ làm cho mình họ đã sống cho cả những người xung
quanh
4,0
Trang 20• Lưu ý: học sinh cần lấy dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để chứng minh.
Phương hướng rèn luyện của bản thân
1,0
• Cuộc sống được đề cập trong văn học luôn có hai mặt: vừa có những hạnh phúc tuyệt vời vừa có những đau khổ bất tận, vừa có nụ cười trong
sáng vừa có giọt nước mắt cay đắng
• Sở dĩ như vậy vì văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống với tất
cả mọi chiều kích của nó
3,0
• Học sinh phân tích tác phẩm để chứng minh:
• Cuộc sống tuyệt vời với cái đẹp, cái nên thơ chính là những giá trị tốt đẹp của cuộc sống: lòng yêu thương, đức hy sinh, sự rung động trước cái đẹp,
…
• Cuộc sống bi thảm với niềm sầu muộn và giọt nước mắt chính là những mặt hạn chế, tiêu cực Đó là cái ác, cái xấu, những mặt trái của con người,
cái khốc liệt của chiến tranh, …
Tất cả những điều này đều được phản ánh trong văn học.?
• Văn học không phản ánh cuộc sống một cách đơn điệu, một chiều
mà ở góc nhìn đa chiều Trong mặt tốt, tích cực có cái tiêu cực, hạn chế
• Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật
6,0
• Khái quát, đánh giá những vấn đề đã nghị luận
1,5
Trang 21ĐỀ SỐ 7:
Câu 1 (8 điểm)
Chuyện kể rằng, có một vòng tròn rất hoàn mỹ Nó rất tự hào về thân hình tròn trĩnh đến từngmilimet của mình Thế nhưng một buổi sáng thức dậy, nó thấy mình bị mất đi một góc lớn hình tamgiác Buồn bực, vòng tròn ta đi tìm mảnh vỡ đó Vì không còn hoàn hảo nên nó lăn rất chậm Nó bắt đầungợi khen những bông hoa dại đang toả sắc bên đường, nó vui đùa cùng ánh nắng mặt trời, tâm tình cùngsâu bọ… Một ngày kia nó tìm được một mảnh hoàn toàn vừa khít và ghép vào Nó lăn đi và nhận ra mìnhđang lăn quá nhanh Đến nỗi, không kịp nhận ra những bông hoa đang cố mỉm cười với nó Vòng tròn thấyrằng, cuộc sống khác hẳn đi khi nó lăn quá nhanh Nó dừng lại, đặt mảnh vỡ bên đường rồi chầm chậm lăn
đi
Hãy bình luận về ý nghĩa triết lí của câu chuyện trên
Câu 2 (12 điểm):
Sách Lí luận văn học (tập 3, Phương Lựu chủ biên - NXB ĐHSP, 2011) viết:
Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú.
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? hãy làm rõ cách hiểu của mình qua một vài sáng tác (thuộcvăn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945) của một tác giả mà anh (chị) đã học, đọc thêm
………HẾT………
GỢI Ý Câu 1 (8 điểm)
về đời sống - xã hội chứ không phải thuộc về lĩnh vực văn học - nghệ thuật
- Bài viết đúng là bài văn nghị luận xã hội, bố cục rõ ràng, trình bày sạch sẽ; lập luận chặt chẽ, diễnđạt trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp
Trang 222 Về nội dung
Bài làm cần đạt được những ý cơ bản sau:
- Khái quát được ý nghĩa triết lí cuả câu chuyện về chiếc vòng tròn:
Chiếc vòng tròn là biểu tượng của sự hoàn hảo Bài học về cái vòng tròn cho chúng ta thấy một điềutưởng như nghịch lí đó là: đôi khi sự khiếm khuyết thiếu hụt chính là biểu hiện chứng tỏ con người là conngười với ý nghĩa đúng đắn, nhân bản nhất Đây chính là triết lí về con người bất toàn Chính sự bất toàn làđộng cơ để con người hoà nhập cùng cộng đồng và vươn tới những giá trị tốt đẹp và ngày một hoàn thiện
- Bàn luận về triết lí trên: đây là một triết lí khá sâu sắc.
+ Triết lí này đã nhìn nhận con người và đời sống ở góc độ nhân bản, con người bao giờ cũng cóphần Con và phần Người, phần ưu điểm và hạn chế, tích cực và tiêu cực Xét từ góc độ triết học, sự tồn tạicủa hai mặt đối lập và thống nhất trong cùng một cá thể là một tất yếu
+ Quá trình sống, học tập, lao động, hoà nhập với cộng đồng của con người là một quá trình học hỏi,đấu tranh, vươn đến sự hoàn thiện Đó chính là ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa tồn tại của mỗi con người
- Mở rộng, nâng cao vấn đề, liên hệ thức tiễn:
+ Trong cuộc sống, mỗi con người cần biết rõ những hạn chế, khiếm khuyết của mình đểkhắc phục vươn lên, học hỏi mọi người, hoàn thiện bản thân; mặt khác, trong hành trình đó, con ngườikhông nên cầu toàn, không nên đòi hỏi bản thân sự hoàn hảo tuyệt đối, vì đó là điều không thể Nên biếtchấp nhận mình để hoà nhập với cộng đồng
+ Cần có cách nhìn nhận đánh giá con người và ứng xử theo quan điểm nhân bản: đó là biết
đề cao những mặt tích cực, độ lượng, chấp nhận và chia sẻ những mặt hạn chế; giúp đỡ nhau cùng hoànthiện
Câu chuyện về cái vòng tròn là một thông điệp triết lí về sự tồn tại của con người Đặt trongthời kì hội nhập và phát triển của xã hội hiện nay, triết lí nhân sinh của câu chuyện là bài học sống và ứng
xử sâu sắc với tất cả mọi người Đối với các bạn trẻ đang ở độ tuổi phát triển và hoàn thiện nhân cách thìtriết lí trên càng có giá trị thực tiễn trong hành trang vào đời
Câu 2 (12 điểm)
I Về hình thức
Biết cách làm bài văn nghị luận văn học, sử dụng kết hợp các thao tác nghị luận giải quyết một vấn
đề văn học theo định hướng yêu cầu của đề bài Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả,dùng từ và ngữ pháp
II Về nội dung
Có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo rõ các ý sau:
1 Nêu cách hiểu của bản thân về nhận định:
Trang 23Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú.
- Khái niệm phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn địnhcủa hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng táccủa một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay trong văn học dân tộc
- Trong nhận định trên, khái niệm phong cách được đề cập là phong cách nghệ thuật của một nhàvăn, không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách Chỉ có những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh
(nhà văn ưu tú) mới có được phong cách riêng độc đáo.
- Nhà văn có phong cách nhà văn chính là nhà văn phải đem lại một tiếng nói mới cho văn học,
đó là sự độc đáo mà đa dạng, bền vững mà luôn đổi mới Đặc biệt nó phải có tính chất thẩm mĩ nghĩa làđem lại cho người đọc sự hưởng thụ thẩm mĩ dồi dào Phong cách không chỉ là dấu hiệu trưởng thành củamột nhà văn mà khi đã nở rộ thì nó còn là bằng chứng của một nền văn học đã trưởng thành
- Phong cách nghệ thuật có cội nguồn từ cá tính sáng tạo của nhà văn Cá tính sáng toạ klà
sự hợp thành của những yếu tố như thế giới quan, tâm lí, khí chất, cá tính sinh hoạt Phong cách của nhàvăn cũng mang dấu ấn của dân tộc và thời đại
- Có thể nhận ra phong cách của nhà văn trong tác phẩm Có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩmthì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách nhà văn thể hiện Cụ thể:
+ Qua cái nhìn, cách cảm thụ giàu tính khám phá nghệ thuật đối với cuộc đời
+ Qua giọng điệu riêng, gắn liền với cảm hứng sáng tác
+ Nét riêng trong sự lựa chọn, xử lý đề tài, xác định chủ đề, xác định đối tượng miêu tả + Tính thống nhất, ổn định trong cách sử dụng các phương thức và phương tiện nghệ thuật Các biểu hiện của phong cách văn học không tồn tại tách rời mà bao hàm lẫn nhau hay tồn tạithông qua nhau Tất cả tạo thành một nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đemlại cho hiện tượng văn học một tính chỉnh thể toàn vẹn
2 Làm rõ cách hiểu của bản thân qua một vài sáng tác (thuộc văn học lãng mạn Việt Nam 1945) của một tác giả đã học, đọc thêm
1930-Học sinh có thể chọn một vài tác phẩm của một cây bút lãng mạn (thơ hoặc văn xuôi): Nguyễn Tuân,Xuân Diệu, Thạch Lam, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Huy Cận Tuy nhiên học sinh phải đảm bảo yêu cầu:
- Tác phẩm, tác giả được chọn để minh hoạ là văn học lãng mạn thuộc giai đoạn 1930-1945
- Phần minh hoạ phải bám sát vấn đề lí luận đã lí giải, phải làm nổi bật nét độc đáo (cái mới) mà tác
giả đem đến cho văn học, nghĩa là cách cảm nhận độc đáo về thế giới và hệ thống bút pháp phù hợp với cách cảm nhận ấy được tác giả thể hiện như thế nào trong tác phẩm.
Trang 24- Quá trình lấy dẫn chứng, học sinh phải nhìn nhận tác phẩm theo nguyên tắc chỉnh thể (vì các biểuhiện của phong cách văn học không tồn tại tách rời mà bao hàm lẫn nhau hay tồn tại thông qua nhau)
Tự dưới thấp hãy nhìn thông cao vợi Nhìn mây trời
Chứ không phải thế nhân
Còn nếu bạn giữa vinh quang chói lọi Hãy tự mình vượt qua nó bạn ơi
Tự trên cao hãy nhìn xuống suốiXuống cỏ hoa
Chứ không phải con người."
Câu 2 (12 điểm):
Về thơ, Nguyễn Công Trứ tâm sự: "Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời", còn Tố Hữu lại khẳng định rằng "Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó"
Bằng việc phân tích bài thơ "Vội vàng" (Xuân Diệu), anh (chị) hãy trình bày ý kiến của mình về
những quan niệm trên
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Câu 1:
1 Nội dung bài thơ và vấn đề đặt ra:
- Một số khái niệm:
+ Đố kị: cảm thấy khó chịu, ghét bỏ người có thể hơn mình ở một điều gì đó.
+ Hợm hĩnh: lên mặt, kiêu căng vì cho rằng mình có cái hơn hẳn người khác (tiền của, địa vị…)
Trang 25+ Làm chủ: khả năng chi phối, điều khiển, quản lý chính bản thân mình.
- Nội dung lời khuyên thứ nhất: không nên đố kị với những người tạm thời hơn mình, cần biết tự chủbằng bản lĩnh để tạo cho tâm hồn sự thanh thản, an nhiên
- Nội dung lời khuyên thứ 2: không nên tự đắc với những gì mình đạt được Chỉ nên xem nó nhưmột nỗ lực, cố gắng để dâng hiến trong muôn vàn những sự dâng hiến khác của bao người
2 Lý giải:
- Không nên đố kị với những người tạm thời hơn mình vì sự đố kị khiến tâm hồn ta vẩn đục, nhâncách ta trở nên tầm thường và mất đi sự tỉnh táo, sáng suốt Cần xác định mục tiêu sống của mình và dồntâm sức để thực hiện mục tiêu ấy Nếu có thể, hãy cố gắng phân tích nguyên nhân thành công của ngườikhác để tự rút kinh nghiệm cho mình
- Không nên chìm đắm, tự thỏa mãn trong vinh quang vì vinh quang, thành công chỉ có ý nghĩa nhấtthời, không phải là điều vĩnh viễn tồn tại Nếu chìm đắm trong vinh quang, tự mãn với thành công là ta đãdừng lại cuộc hành trình đáng ra cần tiếp tục, đã tự giới hạn phạm vi thành công của chính mình Cần nhìnrộng ra xung quanh để thấy không chỉ thành công của mình mà thấy cả những nỗ lực, cố gắng của ngườikhác
- Tuy nhiên, để mọi cảm xúc không trở nên thái quá, để cách ứng xử có sự chừng mực, hợp lý, rấtcần bản lĩnh, sự hiểu biết để kiểm soát, điều chỉnh bản thân
Câu 2:
1 Tìm hiểu vấn đề (6 đ):
- Quan niệm của Nguyễn Công Trứ:
+ Nội dung quan niệm:"nợ" vừa là duyên nợ, vừa là trách nhiệm của người cầm bút với thơ ca;
"chuốt" là chỉnh sửa, lựa chọn một cách công phu sao cho đạt tiêu chuẩn cao nhất về mặt thẩm mĩ Từ ư
nghĩa cụ thể của từ dùng, có thể thấy NCT đã đặt ra yêu cầu về trách nhiệm của nghệ sĩ trong lao động thơca
+ Cơ sở quan niệm của NCT: lao động thơ là lao động nghệ thuật - nó đòi hỏi công phu, tâm huyết
và sự sáng tạo Sáng tạo sẽ đem đến cái mới, công phu tâm huyết sẽ tạo nên sự hoàn hảo và chiều sâu Vănchương tồn tại bởi nội dung tư tưởng song tồn tại bằng ngôn từ nghệ thuật Nếu chất liệu ngôn từ không
Trang 26hiện được trọn vẹn, tính nghệ thuật của tác phẩm giảm sút, sức hấp dẫn nghệ thuật kém sẽ khiến những giátrị còn lại dù có cũng khó phát huy tác dụng Thơ ca lại càng đòi hỏi điều này vì nó có những đặc trưngmang tính loại biệt (trong phạm vi dung lượng giới hạn, thơ cần biểu đạt một cách sâu sắc, tinh tế tư tưởng,
tình cảm, khát vọng bằng hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mĩ và có sức mê hoặc mạnh mẽ) "Chuốt lời" vì thế sẽ là sự thể hiện của tài năng, cũng là sự thể hiện trách nhiệm của nhà thơ với thơ và với người
đọc
- Quan niệm của Tố Hữu:
+ Nội dung quan niệm: "câu thơ" là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ, cũng là hình thức tồn tại của những tư tưởng tình cảm mà nhà thơ gửi gắm "Đọc" là hành động tiếp nhận và thưởng thức của người đọc "Tình người" là nội dung tạo nên giá trị đặc trưng của thơ - là nội dung tình cảm, cảm xúc của
thơ Từ ý nghĩa cụ thể của từ ngữ, có thể hiểu ý kiến của TH đề cập đến giá trị của thơ từ góc nhìn củangười thưởng thức, tiếp nhận thơ: giá trị của thơ là giá trị của những tư tưởng tình cảm được biểu hiện trongthơ Tình cảm, cảm xúc càng sâu sắc mạnh mẽ, càng lớn lao đẹp đẽ sẽ càng khiến thơ lay động lòng người
+ Cơ sở quan niệm của TH: đặc trưng của thơ là thể hiện tư tưởng qua sự rung động của tâm hồn,qua các cung bậc của tình cảm Với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng Vớingười đọc thơ, đến với bài thơ là để trải nghiệm một tâm trạng, một cảm xúc và tìm một sự đồng cảm sẻchia về mặt tình cảm với nhà thơ - sẻ chia những điều đang làm mình trăn trở Vì thế, khi đến với một bàithơ, người đọc chú ý tới tình cảm, cảm xúc chứ ít chú ý tới hình thức biểu đạt cảm xúc ấy (vốn là công việc
của nhà nghiên cứu) Tuy nhiên, nói "không thấy câu thơ" không có nghĩa là "câu thơ" không tồn tại mà là
"câu thơ" đã đồng nhất với tình người, là nội dung cảm xúc đã lặn vào trong chính cái hình thức biểu đạt và
hình thức trở thành dạng tồn tại, hình thức tồn tại của tình cảm
- Đánh giá và đề xuất ý kiến: hai ý kiến không hề mâu thuẫn mà là sự bổ sung để mang đến mộtnhận thức tương đối toàn diện về thơ Từ hai ý kiến này có thể xác định: thơ hay là thơ lay động tâm hồncon người bằng cảm xúc, tình cảm Song để có thơ hay, nhà thơ bên cạnh sự sâu sắc của tình cảm, sự phongphú của cảm xúc cần nghiêm túc trong lao động nghệ thuật mà trước hết là lựa chọn, chỉnh sửa và sáng tạotrong sử dụng ngôn ngữ
2 Phân tích bài thơ (6 đ):
2.1 Nội dung cảm xúc: là sự thể hiện một tình yêu cuộc sống mãnh liệt
- Niềm say mê cuộc sống khiến XD phát hiện ra một thiên đường trên mặt đất- một thiên đường trànđầy xuân sắc và vô cùng hấp dẫn
- Yêu cuộc sống, nhà thơ cũng ý thức sâu sắc về giá trị cuộc sống nên khát khao đảo lộn quy luậtcuộc sống, ngăn cản bước đi của thời gian để gìn giữ những vẻ đẹp của sự sống
- Cũng vì niềm say mê với cuộc sống nên nhà thơ mới hốt hoảng lo âu, thậm chí oán giận thời giantrôi chảy vô tình
Trang 27- Tình yêu cuộc sống đã tiếp thêm sức mạnh để nhà thơ không buông trôi theo sự trôi chảy của thờigian, sự phôi pha tàn úa của sự sống mà tăng cường độ sống để sống mạnh mẽ, trọn vẹn và tận độ bằng việcgiao cảm và hưởng thụ sự sống.
2.2 Hình thức biểu đạt:
- Lời thơ là lời nói với rất nhiều dấu hiệu ngữ pháp (sử dụng hư từ, hô ngữ ) và hình thức đối thoạigiúp nhà thơ thể hiện trực tiếp con người cá nhân, giọng điệu cá nhân mở đường cho sự thổ lộ giãi bày cảmxúc một cách tự nhiên và nồng nhiệt
- Ngôn ngữ rất giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, đặc biệt rất trẻ trung, hiện đại và đầy táo bạo giúp tácgiả chuyển tải bức thông điệp tinh thần một cách độc đáo, gây ấn tượng mạnh mẽ
Trang 28ĐỀ SỐ 9:
Câu hỏi 1: ( 8 điểm)
“Người cậy ở tâm, cây nương ở rễ.” ( Ngạn ngữ Trung Hoa)
Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về quan niệm trên
Câu hỏi 2: ( 12 điểm)
Nhà văn I.X Tuocghenhev khẳng định:
“Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác.”
Anh/ chị hiểu quan niệm trên như thế nào?
Phân tích truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam để làm sáng tỏ quan niệm đó
ĐÁP ÁN
Câu hỏi 1
I YÊU CẦU VỀ KỸ NĂNG
- Học sinh biết vận dụng kết hợp các thao tác nghị luận để làm bài văn nghị luận xã hội.
- Tổ chức bài viết rõ ràng, lập luận bài viết chặt chẽ, diễn đạt sáng rõ, lưu loát
II YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG
Hướng dẫn chấm chỉ nêu những định hướng chính Học sinh có thể có nhiều cách sắp xếp và
tổ chức bài làm theo nhiều hướng khác nhau nhưng cần đáp ứng những kiến thức cơ bản sau:
1 Giải thích quan niệm – Người cậy ở tâm, cây nương ở rễ
- Câu ngạn ngữ có cách diễn đạt ngắn gọn, súc tích, cân xứng, giàu hình ảnh Một ý thể hiện
“người”, ý còn lại thể hiện “cây”, cây và người có mối liên quan Làm người thì nhờ ở tấm lòng (hiểurộng là đạo đức, nhân cách), loài cây thì dựa vào gốc rễ Câu ngạn ngữ đã khẳng định phẩm chất cầnthiết phải có để làm nền tảng tạo nên giá trị của con người - đó là tấm lòng, đạo đức, nhân cách caođẹp Ở cây cối, phần quý nhất chính là phần gốc rễ của nó Cây chỉ có thể sống được, toả bóng mát,cho đời hương hoa quả ngọt khi có bộ rễ vững chắc; con người chỉ đẹp, chỉ thể hiện được giá trị củamình khi giữ được cái nền tảng tâm hồn cao quý
2 Suy nghĩ về quan niệm:
- Câu ngạn ngữ là lời nhận xét đúng đắn về giá trị con người thông qua đối chiếu giá trị mộtthực thể trong thiên nhiên Từ đó mà mở ra một quan niệm sống tích cực - làm người là phải biếtnâng niu, giữ gìn tấm lòng, đạo đức nhân cách tốt đẹp Trong cuộc sống không có con người nàođược đồng loại của mình ngợi ca mà lại thiếu đi cái tâm cao quý, không ai đi gửi gắm niềm tin vàomột con người có nhân cách không ra gì
- Đạo đức, nhân cách cao đẹp là những phẩm chất không thể thiếu để làm nên giá trị của mộtcon người nhưng nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận những yếu tố khác như tài năng chẳng hạn.Nhưng nếu cho rằng tài năng sẽ làm nên giá trị quyết định của một con người e chưa thỏa đáng, bởitài năng chỉ là lá cành, quả ngọt còn tấm lòng, đạo đức mới là nền tảng vững bền để lá quả kia nươngtheo, nhờ vào mà đâm chồi nẩy lộc
- Học sinh biết đưa ra những ví dụ cụ thể để chứng minh được sự đúng đắn của vấn đề
3 Bài học nhận thức và hành động:
- Từ việc nhận thức về tính đúng đắn của lời khuyên trên, học sinh biết rút ra bài học thiếtthực cho bản thân - bên cạnh việc học tập tiếp thu kiến thức khoa học, phải không ngừng rèn luyện
Trang 29đạo đức, nhân cách sống để trở thành người hữu ích.
ĐÁP ÁN
Câu hỏi 2
I YÊU CẦU VỀ KỸ NĂNG
- Học sinh biết vận dụng kết hợp các thao tác nghị luận (đặc biệt là các thao tác giải thích,
phân tích, chứng minh) để làm bài văn nghị luận văn học
- Tổ chức bài viết rõ ràng, lập luận bài viết chặt chẽ, diễn ðạt lýu loát, có chất vãn
II YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo các nội dung cơbản sau:
1 Giải thích quan niệm của I.X Tuocghenhev :
- Ý tưởng của I.X Tuocghenhev khá rõ Nhà văn khẳng định yếu tố quan trọng làmnên tài năng của một nhà văn là cách viết, cách thể hiện riêng đầy cá tính sáng tạo (mà I.X
Tuocghenhev đã diễn đạt đầy ấn tượng là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác) Ở quan niệm của mình, I.X
Tuocghenhev đã đề cao phong cách nghệ thuật của người viết văn (tính độc đáo trong sáng tạonghệ thuật của nhà văn gắn liền với một quan niệm nhất định về con người và cuộc đời, kéo dàithành vệt đậm đầy cảm hứng trong chuỗi sáng tác của họ)
2 Chứng minh cái giọng riêng biệt (phong cách) của Thạch Lam qua truyện ngắn
“Hai đứa trẻ”
- Thể hiện ở việc chọn loại truyện “không có chuyện” (không giàu sự tình, không thiên vềcốt truyện, hành động mà chỉ đi sâu vào tâm trạng, không khí) Cốt truyện “Hai đứa trẻ” (như rấtnhiều truyện ngắn khác của Thạch Lam) nhẹ nhàng, gần như không có cốt truyện nhưng khó quên.Dưới ngòi bút của Thạch Lam, con người, nhịp điệu cuộc sống hiện ra đều đều không thay đổi,không có gì khiến bạn đọc phải hồi hộp chờ đợi Tất cả thoang thoảng, man mác và vẩn vơ theo tâmtrạng nhân vật Liên Chính điều đó lại làm nên nét riêng của tác phẩm
- Thể hiện ở tài miêu tả những nét tinh tế, nhẹ nhàng của cảm xúc, tâm trạng, tình cảm: tâmtrạng của nhân vật Liên trước cảnh chiều về, đêm xuống, canh khuya (lúc chuyến tàu đêm băng quaphố huyện nghèo) Liên vừa nhận ra nét nên thơ, thân thuộc lẫn nét lặng lẽ, man mác buồn của cảnhchiều và đêm; mong ngóng chuyến tàu đổ xuống bao khát khao về ảnh hình một chút thế giới trong
mơ tưởng (học sinh biết so sánh Thạch Lam với Nam Cao và Nguyễn Tuân, hai tác giả cùng thờivới Thạch Lam cũng rất thành công trong việc miêu tả tâm lí nhân vật, từ đó làm nổi bật lên nétriêng của Thạch Lam ở phương diện này)
- Thể hiện ở những câu văn và những miêu tả giàu chất thơ: Thạch Lam là con người vừahiện thực vừa lãng mạn Chất thi vị của đời sống có mặt trong “Hai đứa trẻ” qua các trang viết vềchiều tà, đêm tối
- Thể hiện ở những nhân vật không có sự phức tạp của nội tâm, cũng dường như không cótính cách gì sắc nét không phân tuyến chính diện phản diện như các tác phẩm của những nhà văncùng thời, mà là những con người đang lặng lẽ đắm chìm trong tăm tối, buồn bã với những tâmtrạng không rõ ràng, những ranh giới tình cảm mong manh Liên trong “Hai đứa trẻ” là một nhânvật như vậy