CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc BÁO CÁO Kết quả thực hiện sáng kiến Kính gửi: Hội đồng công nhận sáng kiến - Tên sáng kiến: Giải pháp tăng cường kiểm soát v
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO Kết quả thực hiện sáng kiến
Kính gửi: Hội đồng công nhận sáng kiến
- Tên sáng kiến:
Giải pháp tăng cường kiểm soát và chống thất thu thuế nhà thầu nước ngoài của hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 01/4/201…
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặc điểm, tình hình trước khi có sáng kiến:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước (NSNN) Do vậy,
để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, Nhà nước cần có hệ thống thuế phù hợp, trong đó quản lý thuế có vai trò quan trọng, bảo đảm cho việc thu đúng, thu đủ, kịp thời, tránh thất thoát nguồn thu cho NSNN Với các quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về kế toán ở nước ta, nếu như các tổ chức, cá nhân hiểu và làm đúng, tích cực các quy định của chính sách pháp luật thì quản lý thuế được hiệu lực, hiệu quả, hạn chế được các hành vi gian lận, hạch toán sai, khai sai … làm thất thu cho NSNN
Với việc phát triển kinh tế nhiều thành phần trên nhiều lĩnh vực, cùng với đó là sự du nhập ngày càng ồ ạt của các thương hiệu, nhà đầu tư nước ngoài với bề dày kinh nghiệm trong kinh doanh đã hình thành lên một xu hướng đó là các doanh nghiệp tại Việt Nam kinh doanh lĩnh vực nhà hàng, khách sạn nhận sử dụng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài
Đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch cộng với mạng xã hội, tại tỉnh ta, ngày càng có nhiều hơn các doanh nghiệp mạnh dạn tìm hiểu và tiếp cận đầu tư vào việc kinh doanh nhận sử dụng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài để kinh doanh như thương hiệu khách sạn U (Hồng
(Mẫu: 05/SK)
Trang 2mặt lợi nhuận cho các nhà đầu tư Việt Sự chuyên nghiệp và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các nước phát triển đã hỗ trợ rất lớn cho việc quản trị
hệ thống, một trong những lỗ hổng rất lớn của doanh nghiệp ở nước ta nói chung và ở tỉnh ta nói riêng, một tỉnh đang được đánh giá là có tiềm năng về phát triển kinh tế, nhưng yếu về quản trị doanh nghiệp và nhân sự
Có thể thấy rằng, doanh thu của các doanh nghiệp có sử dụng hệ thống phần mềm quản trị doanh nghiệp theo thương hiệu của nước ngoài tại tỉnh ta ngày một tăng với tốc độ trung bình khoảng 25 đến 40%/năm trong hai năm đầu bắt đầu kinh doanh, và với các năm tiếp theo là từ 18 đến 22%/năm, lợi nhuận trong 2 năm đầu khoảng 10 đến 20%, nhưng các năm tiếp theo trung bình từ 40 đến 50%, cao điểm có thể đạt tới 80% với việc đưa ra chiến lược kinh doanh đột phá
Vì vậy, nếu chúng ta không có những biện pháp kiểm soát và quản lý thuế nhà thầu nước ngoài đối với khoản doanh thu cung cấp dịch vụ của các đơn vị này thì sẽ vô hình chung không tạo điều kiện kinh doanh công bằng cho các thương hiệu trong nước mà mặt khác còn gây nên tình trạng thất thu thuế
2 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
* Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến:
Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ thì việc cho phép bên Việt Nam sử dụng nhãn hiệu kèm theo việc thu tiền chuyển quyền sử dụng của bên nước ngoài không phải là hoạt động nhượng quyền thương mại (thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại), cũng không phải là hoạt động cung cấp dịch vụ khoa học và công nghệ liên quan đến sở hữu trí tuệ (thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Khoa học và công nghệ) mà là hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ nhưng không phải là hoạt động chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ
Trang 3Năm 2014, khi Thông tư 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính về thuế nhà thầu nước ngoài (NTNN) có hiệu lực từ ngày 01/10/2014, thay thế cho Thông tư 60/2012/TT-BTC và công văn số 15888/BTC-CST ngày 07/11/2016 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chính sách thuế nhà thầu đối với hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu được xác định:
Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
- Tại Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 6/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức,
cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam
(có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2014) quy định: “Thu nhập từ tiền bản
quyền là khoản thu nhập dưới bất kỳ hình thức nào được trả cho quyền sử dụng, chuyển quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, bản quyền phần mềm (bao gồm: các khoản tiền trả cho quyền sử dụng, chuyển giao quyền tác giả và quyền chủ sở hữu tác phẩm; chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp: chuyển giao công nghệ, bản quyền phần mềm).”.
- Tại Điểm a Khoản 2 Điều 13 Thông tư số 103/2014/TT-BTC quy định: Tỷ lệ (%) thuế TNDN tính trên doanh thu tính thuế đối với thu nhập bản quyền là 10%
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp nước ngoài có phát sinh khoản thu nhập được trả cho quyền sử dụng nhãn hiệu mà phù hợp với quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ thì khoản thu nhập này thuộc đối tượng chịu thuế TNDN và tỷ lệ (%) thuế TNDN tính trên doanh thu tính thuế
là 10%
Về thuế giá trị gia tăng (GTGT)
Căn cứ quy định tại Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT, Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế GTGT và Thông tư số 103/2014/TT-BTC,
Trang 4trường hợp doanh nghiệp nước ngoài nhận tiền từ hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu mà phù hợp với quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ thì
phải chịu thuế GTGT và thuế suất thuế GTGT là 10% (nếu áp dụng theo
phương pháp khấu trừ) hoặc tỷ lệ (%) thuế GTGT tính trên doanh thu tính
thuế là 5% (nếu áp dụng theo phương pháp trực tiếp).
Nhưng do chính sách thuế nhà thầu nước ngoài là một chính sách thuế đòi hỏi sự am hiểu kỹ và phân tích được bản chất của nghiệp vụ phát sinh để
áp dụng đúng vào việc tính số tiền thuế nộp thay cho nhà thầu nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam mà điều này lại còn đang là vấn đề chưa giải quyết được triệt để do trình độ kế toán thuế tại các doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều sai sót khi không đọc kỹ và hiểu rõ về chính sách dẫn đến việc chưa thực hiện đúng việc tự kê khai và tự nộp thuế theo đúng quy định
Từ các vấn đề trên, nhóm nghiên cứu xác định việc rất cần thiết phải thực hiện công việc kiểm soát để chống thất thu thuế nhà thầu nước ngoài của hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn nhằm thực hiện chức năng của ngành một cách đầy đủ, chính xác
* Mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Sáng kiến: “Giải pháp tăng cường kiểm soát và chống thất thu thuế nhà thầu nước ngoài của hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn”của nhóm nghiên cứu thực hiện với mục đích, đó là:
- Giải pháp kiểm soát thuế Nhà thầu nước ngoài của hoạt động chuyển
quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn được thực hiện thông qua các cuộc kiểm tra thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành, nhóm nghiên cứu sẽ căn cứ việc theo dõi dòng tiền luân chuyển và xác định doanh nghiệp có nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài hay không?
Trang 5- Trên cơ sở các quy định của pháp luật và nghiệp vụ, kỹ năng kiểm tra của ngành, nhóm nghiên cứu sẽ đối chiếu lượng tiền chuyển ra nước ngoài, tra soát tài khoản thuộc tổ chức kinh doanh dịch vụ gì và yêu cầu phía tổ chức tại Việt Nam cung cấp thông tin theo quy định, nếu dòng tiền đó được xác định là chuyển cho các doanh nghiệp nước ngoài để thanh toán tiền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài, nhưng tổ chức tại Việt Nam chưa thực hiện kê khai thuế NTNN thay cho nhà thầu nước ngoài thì yêu cầu tổ chức tại Việt Nam thông báo cho các nhà thầu nước ngoài việc phải nộp thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam và kiến nghị xử lý truy thu, xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chưa kê khai nộp thuế theo quy định, góp phần chống thất thu cho Ngân sách nhà nước
3 Phạm vi triển khai áp dụng:
* Phạm vi về quy mô: Giải pháp tăng cường kiểm soát và chống thất thu thuế nhà thầu nước ngoài của hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn được nghiên cứu và thực hiện một cách nghiêm túc và áp dụng trong thực tế các cuộc kiểm tra thuế, nhằm kiểm định chất lượng và kết quả của giải pháp
* Phạm vi về không gian: Giải pháp tăng cường kiểm soát và chống thất thu thuế nhà thầu nước ngoài của hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn được áp dụng từ Cơ quan quản lý thu, cụ thể tới từng phòng chức năng thực hiện nhiệm vụ quản lý doanh nghiệp tới các tổ chức doanh nghiệp có kế hoạch kiểm tra
* Phạm vi về thời gian: Giải pháp tăng cường kiểm soát và chống thất thu thuế nhà thầu nước ngoài của hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn
áp dụng từ ngày 01/04/201 đến ngày 31/3/201
II NỘI DUNG
Trang 61 Mô tả sáng kiến:
Bước đầu, nhóm nghiên cứu thực hiện thống kê số lượng các doanh nghiệp thuộc kế hoạch kiểm tra của năm 201 của cơ quan quản lý thu và thực hiện thu thập thông tin về ngành nghề kinh doanh cụ thể của từng doanh nghiệp, đối tác hợp tác kinh doanh của doanh nghiệp và nhãn hiệu mà doanh nghiệp sử dụng để kinh doanh Bằng các nghiệp vụ kiểm tra, thu thập và xử lý thông tin dữ liệu của ngành, nhóm nghiên cứu đã xác định có 10 doanh nghiệp thuộc kế hoạch kiểm tra có kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn có
sử dụng các nhãn hiệu của nước ngoài đã phát sinh doanh thu
Hình thức hợp tác kinh doanh của các doanh nghiệp này với các nhãn hiệu nước ngoài là doanh nghiệp tại Việt Nam ký kết hợp đồng quản lý khách sạn, nhà hàng với công ty nước ngoài có trụ sở tại nước ngoài (thường là các nhãn hiệu lớn) để quản lý nhà hàng, khách sạn và đặt theo thương hiệu của nhà quản lý là các công ty nước ngoài Theo định kỳ, hàng tháng hoặc theo quý, theo năm, doanh nghiệp tại Việt Nam cung cấp số liệu về doanh thu của toàn bộ hoạt động dịch vụ có sử dụng nhãn hiệu của công ty nước ngoài và chuyển tiền theo tỷ lệ phần trăm quy định trên hợp đồng nguyên tắc ký kết ban đầu giữa hai đơn vị qua ngân hàng trực tiếp vào tài khoản của công ty nước ngoài
Việc xác định doanh thu của hoạt động chuyển quyền nhãn hiệu này là các giao dịch chuyển tiền theo tỷ lệ phần trăm doanh thu thực tế tại Việt Nam
và các doanh nghiệp có nhà hàng, khách sạn này đều thực hiện ký kết hợp đồng với các công ty có nhãn hiệu nước ngoài nên nhóm nghiên cứu xét thấy cần yêu cầu cung cấp hợp đồng nguyên tắc cả bản tiếng Anh và bản dịch để đảm bảo thông tin nhận được là chính xác
Mỗi một cuộc kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu yêu cầu cung cấp sổ chi tiết tài khoản tiền gửi ngân hàng (chi tiết theo từng ngân hàng) và kèm theo bảng kê (có xác nhận của ngân hàng) cùng các Ủy nhiệm
Trang 7chi hoặc phiếu kế toán để xác định nội dung của việc chuyển tiền Nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn việc luân chuyển dòng tiền, nhóm nghiên cứu cũng tập trung và các nghiệp vụ phát sinh có dấu hiệu chi bằng tiền mặt, nhưng nội dung chi không rõ ràng, ghi chung chung và yêu cầu doanh nghiệp giải trình
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng phác thảo sơ đồ về doanh thu từ việc sử dụng các dịch vụ có nhãn hiệu nước ngoài theo từng tháng, và đồng thời phân tích so sánh với các nhà hàng, khách sạn khác để xác định và có cách nhìn khái quát nhất về sự phát triển của phần dịch vụ này cung cấp cho lãnh đạo và các báo cáo phân tích phát triển kinh tế xã hội của cơ quan
2 Tính mới của sáng kiến:
Sáng kiến "Giải pháp tăng cường kiểm soát và chống thất thu thuế nhà thầu nước ngoài của hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn" có điểm mới đó là:
- Hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn là một hoạt động dịch
vụ mới phát sinh, được điều chỉnh và hướng dẫn bởi thông tư riêng về thuế nhà thầu nước ngoài, cũng như được làm rõ trong các văn bản của Vụ Chính sách - Tổng Cục thuế tới các doanh nghiệp lớn có phát sinh nghiệp vụ
- Mặt khác, sáng kiến cũng thúc đẩy tính chủ động của cán bộ trong công tác tìm kiếm, thu thập, khai thác và phân tích thông tin về dòng tiền luân chuyển Công việc này đòi hỏi cán bộ cần có cái nhìn bao quát, phán đoán, tỉ
mỉ trong từng phân tích để xác định doanh thu thực tế nhận được của các công
ty nước ngoài có phát sinh hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó tính ra thuế GTGT và thuế TNDN cuar nhà thầu nước ngoài phải nộp tại Việt Nam
Đặc biệt, thuế NTNN của hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn
Trang 8căn cứ theo công văn số 15888/BTC-CST ngày 07/11/2016 của Bộ Tài chính
về việc hướng dẫn chính sách thuế nhà thầu đối với hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu, hiện tại là một nguồn thu từ chính sách mới, nhưng trong tương lai sẽ là nguồn thu có tính phát triển tốt qua các năm, do có định hướng kinh tế và là xu hướng phát triển tất yếu trong tương lai
Mặt khác, qua việc rà soát, kiểm tra này, nhóm nghiên cứu cũng đã áp dụng các biện pháp nhằm tuyên truyền và hướng dẫn các doanh nghiệp có phát sinh hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài thực hiện kê khai và nộp thay thuế nhà thầu nước ngoài Đây là một biện pháp
để đảm bảo tính nghiêm minh trong việc thực thi các quy định về pháp luật thuế
Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai thực hiện sáng kiến, cán bộ cơ quan quản lý thu đã chủ động tuyên truyền về ý nghĩa của chính sách mới, trực tiếp lắng nghe những phản hồi, thắc mắc từ phía các doanh nghiệp và trong tầm hiểu biết của mình, giải đáp một cách dễ hiểu nhất những thắc mắc
đó Đây là một việc làm rất cần thiết trong việc triển khai chính sách mới tới toàn thể các tổ chức, cá nhân kinh doanh, tránh gây những hiểu lầm hoặc hiểu sai về chính sách
3 Đánh giá lợi ích thu được:
Sáng kiến: "Giải pháp tăng cường kiểm soát và chống thất thu thuế nhà thầu nước ngoài của hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn" đã được triển khai trên thực tế và đạt được những lợi ích nhất định, cụ thể:
Thông tư 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính về thuế nhà thầu nước ngoài (NTNN) có hiệu lực từ ngày 01/10/2014 và công văn số 15888/BTC-CST ngày 07/11/2016 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chính sách thuế nhà thầu đối với hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu khi được ban hành đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của không chỉ các cơ quan ngành
Trang 9dọc mà kể cả các cơ quan trong tỉnh cũng đã nhận ra được tính cần thiết và cấp bách của việc thực hiện các hướng dẫn để kiểm soát nguồn thu này
Cụ thể tại kết luận số 123 của chủ tịch UBND tỉnh đã trực tiếp đề nghị ngành có chức năng quản lý thu chủ động phối hợp cùng các cơ quan, các sở ban ngành trong tỉnh thực hiện kiểm tra và rà soát lĩnh vực thuế nhà thầu nước ngoài đối với hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn
Kết quả sau 1 năm triển khai sáng kiến, thực hiện 10 cuộc kiểm tra tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn có thương hiệu nước ngoài, nhóm nghiên cứu đã có những kết quả như sau:
- Có 10/10 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn thuộc danh sách kiểm tra đều có hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài nhưng mới chỉ có 02/10 doanh nghiệp thực hiện kê khai và nộp thuế thay NTNN (chiếm tỷ lệ 20%), còn lại 08/10 doanh nghiệp đều chưa thực hiện kê khai và nộp thay thuế nhà thầu nước ngoài bao gồm thuế GTGT
và thuế TNDN của hoạt động dịch vụ này
- Tại 02 doanh nghiệp có thực hiện kê khai, nhóm nghiên cứu đã kiểm tra việc thực hiện kê khai của doanh nghiệp qua đối chiếu với sổ chi tiết tài khoản tại các ngân hàng, sao kê có chứng thực của ngân hàng và kết quả là, các doanh nghiệp có kê khai nhưng việc xác định doanh thu chưa đúng với hướng dẫn của Thông tư 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính về thuế nhà thầu nước ngoài (NTNN) có hiệu lực từ ngày 01/10/2014 Nhóm nghiên cứu
đã hướng dẫn doanh nghiệp đồng thời tính lại số thuế GTGT, TNDN của nhà thầu nước ngoài truy thu thêm số tiền 58 triệu đồng và phạt vi phạm hành chính do khai sai (20% số thuế truy thu) và tính tiền chậm nộp theo quy định
- Tại 8 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn có hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài đã thực hiện truy thu thuế GTGT của nhà thầu nước ngoài, số tiền: 248,6 triệu đồng, thuế TNDN
Trang 10của nhà thầu nước ngoài, số tiền: 208,4 triệu đồng, phạt vi phạm hành chính
do khai sai và tính tiền chậm nộp theo quy định
- Tại 8 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn có hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của nước ngoài đã thực hiện truy thu Các doanh nghiệp khi được phổ biến về chính sách thuế nhà thầu nước ngoài với đầy đủ các căn cứ do nhóm nghiên cứu nêu ra đều nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện
Qua việc áp dụng thực hiện sáng kiến trong 1 năm qua, nhóm nghiên cứu đưa ra một số nhận xét cơ bản, cụ thể:
- Các doanh nghiệp kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn do chủ quan, không cập nhật kịp thời các công văn hướng dẫn chính sách thuế cũng như chưa lắng nghe đầy đủ các hướng dẫn tại hội nghị đối thoại, dẫn đến chưa chủ động thực hiện nộp và kê khai thay thuế nhà thầu nước ngoài của dịch vụ đặt phòng trực tuyến của các trang mạng nước ngoài Khi được cán bộ của cơ quan quản lý thu chủ động phổ biến, giải đáp thắc mắc thì đều nhận thấy sự đúng đắn và đạo lý trong mỗi chính sách thuế mà cơ quan quản lý nhà nước ban hành nên rất nghiêm túc thực hiện và triển khai trong các kỳ kinh doanh sau
-Về phía cơ quan quản lý nhà nước, đã có nhiều biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế, nhưng do nhiều yếu tổ khách quan và chủ quan, một số doanh nghiệp chưa kịp thời nắm bắt chính sách, lúc này vai trò của người cán bộ cơ quan quản lý thu thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tại các đơn
vị thực sự cần là tuyên truyền, hướng dẫn và giải đáp thắc mắc, giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về chính sách
Đánh giá khách quan, nhóm nghiên cứu đã truy thu số tiền thuế GTGT
và TNDN của nhà thầu nước ngoài là: 515 triệu đồng trong năm thực hiện sáng kiến