Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe Cán bộ tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
PHAN THỊ MAI LAN
ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI BAN BẢO VỆ, CHĂM SÓC
SỨC KHỎE CÁN BỘ TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
PHAN THỊ MAI LAN
ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI BAN BẢO VỆ, CHĂM SÓC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả
Phan Thị Mai Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn thạc sỹ Nội khoa, tôi được sự giúp
đỡ tận tình của các Thầy, Cô, bạn bè và gia đình
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên,
phòng Đào tạo - bộ phận đào tạo sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Cô trong bộ môn Nội đã truyền
thụ cho tôi những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trịnh Xuân
Tráng, người thầy đã chỉ bảo rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn chân thành đến Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ
tỉnh Cao Bằng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, những người đã luôn cổ vũ, động viên
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Sau cùng tôi xin dành tình cảm và lòng biết ơn vô hạn tới gia đình đã
luôn bên tôi những lúc thuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả
Phan Thị Mai Lan
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI Body mass index: Chỉ số khối cơ thể
BVSKCB Bảo vệ sức khỏe cán bộ
ĐTĐ Đái tháo đường
EGIR European Group for Study of Insulin Resistance: Nhóm nghiên
cứu kháng insulin của châu Âu
HATT Huyết áp tâm thu
HATTr Huyết áp tâm trương
HCCH Metabolic syndrome: Hội chứng chuyển hóa
HDL-C High Density Lipoprotein cholesterol: Lipoprotein tỉ trọng cao
IDF International Diabetes Federation: Liên đoàn Đái tháo đường
Quốc tế JNC Joint National Committee: Uỷ ban tăng huyết áp quốc tế của Hoa
TBMMN Tai biến mạch máu não
TG Triglyceride
THA Tăng huyết áp
RLGMLĐ Rối loạn glucose máu lúc đói
WHO World Health Organization: Tổ chức Y tế Thế giới
WHR Waist hip ratio: Tỉ lệ vòng bụng/vòng mông
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Một số đặc điểm hội chứng chuyển hóa 3
1.2 Một số yếu tố liên quan đến HCCH 12
1.3 Tình hình mắc hội chứng chuyển hóa trên thế giới và ở Việt Nam 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Địa điểm nghiên cứu .20
2.3 Thời gian nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.5 Chỉ tiêu nghiên cứu 21
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.7 Một số tiêu chuẩn được áp dụng trong nghiên cứu 27
2.8 Phương tiện nghiên cứu 28
2.9 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29
2.10 Đạo đức nghiên cứu 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Một số yếu tố liên quan với hội chứng rối loạn chuyển hóa 36
Chương 4: BÀN LUẬN 43
4.1 Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Cao Bằng 43
4.2 Một số yếu tố liên quan với hội chứng rối loạn chuyển hóa 48
KẾT LUẬN 58
KIẾN NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn xác định béo bụng theo vòng eo của IDF – 2005 7
Bảng 2.1 Đánh giá BMI áp dụng cho người châu Á 27
Bảng 2.2 Phân độ THA của Hội tim mạch Việt Nam năm 2018 28
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 32
Bảng 3.2 Giá trị một số chỉ tiêu nhân trắc của đối tượng nghiên cứu ở hai giới 33
Bảng 3.3 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo BMI 34
Bảng 3.4 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo phân độ THA của Hội tim mạch Việt Nam năm 2018 34
Bảng 3.5 Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo giới 35
Bảng 3.6.Tỷ lệ mắc các yếu tố chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa xếp theo nhóm tuổi 35
Bảng 3.7 Tỷ lệ mắc từng yếu tố chẩn đoán HCCH theo giới 36
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa chỉ số BMI và hội chứng chuyển hóa 36
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa giới và hội chứng chuyển hóa 37
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa độ tuổi và hội chứng chuyển hóa 37
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa mức độ hoạt động thể lực với HCCH 38
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa hút thuốc lá với HCCH 38
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa stress với HCCH 39
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thói quen ăn mặn với HCCH
39
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thói quen ăn nhiều đạm với HCCH 40
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tiền sử tăng huyết áp với HCCH 40
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tiền sử đái tháo đường với HCCH 41
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tiền sử gan nhiễm mỡ với HCCH 41
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tiền sử bệnh tim mạch với HCCH 42
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tiền sử tai biến mạch máu não với HCCH 42
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Cơ chế vận chuyển glucose trong kháng insulin 10 Biểu đồ 3.1 Phân loại đối tượng nghiên cứu theo giới 32 Biểu đồ 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc 33
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng chuyển hóa là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng được quan tâm nhất trong thiên niên kỷ XXI Theo Hiệp hội đái tháo đường thế giới (IDF) HCCH là một tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch như béo phì bụng, kháng Insulin, rối loạn lipid máu, dung nạp glucose bất thường và tăng huyết áp, ảnh hưởng đến chất lượng sống của con người và tốn kém đáng kể ngân sách về y tế toàn dân của nhiều nước trên thế giới [33], [42] Hội chứng chuyển hóa ngày càng tăng trên thế giới, tỷ lệ này ở các nước phát triển khá cao
và đang có xu hướng gia tăng báo động ở các nước đang phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội [77]
Trên thế giới có khá nhiều những nghiên cứu về HCCH như ở châu Âu,
tỷ lệ HCCH trong cộng đồng khoảng 24% dân số song nếu chỉ tính ở lứa tuổi trên 50 thì tỷ lệ đó là 40% [85] Tại Hoa Kỳ theo tiêu chuẩn NCEP - ATP III thì tỷ lệ hội chứng chuyển hóa ở nam là 22,8% và nữ là 22,6% Còn trên đối tượng là cán bộ nhân viên trong trường đại học Putra Maylaysia thì tỷ lệ HCCH cũng theo NCEP - ATP III là 33,5% [60]
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyên Văn Thành và cộng sự tại Bạc Liêu nhận thấy tỷ lệ HCCH ở đối tượng cán bộ tỉnh ủy quản lý chiếm 24% [31] Còn theo Trang Mộng Hải Yến (2014) nghiên cứu ở đối tượng cán bộ tỉnh ủy quản
lý tại Long An, HCCH chiếm 30,34% [39] Nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú
và CS (2012) cho thấy tỷ lệ cán bộ hưu trí bị HCCH trên địa bàn tỉnh Nghệ An
là 35,1% [14]
Nhiều nghiên cứu cho thấy người mắc HCCH thường có nguy cơ bị tai biến tim mạch gấp 3 lần và có nguy cơ tử vong gấp 2 lần, nguy cơ phát triển đái tháo đường (ĐTĐ) gấp 5 lần so với những người không bị hội chứng này [1] Có nhiều yếu tố góp phần vào HCCH như thói quen ăn uống, chế độ sinh hoạt, lối sống tĩnh tại,… việc kiểm soát được các yếu tố góp phần làm giảm nguy cơ bị HCCH
Trang 10Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ ( BVCSSKCB) Cao Bằng là nơi khám, chữa bệnh, theo dõi và quản lý sức khỏe các cán bộ trung cao cấp trên địa bàn đặc biệt là đối tượng cán bộ hưu trí trong tỉnh Họ là những người khi còn công tác luôn phải làm việc trong tình trạng áp lực, cường độ lao động trí
óc cao, dinh dưỡng không hợp lý, ít hoạt động thể lực…từ đó hình thành những nguy cơ mắc rối loạn chuyển hóa cao
Nghiên cứu đặc điểm HCCH ở đối tượng cán bộ hưu là việc làm rất quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhằm phòng chống một số bệnh liên quan đến HCCH, từ đó đưa ra giải pháp và kiến nghị phù hợp và hiệu quả trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cán bộ hưu Chính vì vậy
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở
các đối tượng được quản lý tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Cao Bằng” với 02 mục tiêu:
1 Mô tả một số đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Cao Bằng
2 Phân tích một số yếu tố liên quan với đặc điểm của hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng trên
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số đặc điểm hội chứng chuyển hóa
1.1.1 Khái niệm hội chứng chuyển hóa
Hội chứng chuyển hóa không phải là một bệnh lý xa lạ Tulp Nicolaes
và cộng sự (1593 - 1674) ghi nhận mối liên quan giữa tăng lipid máu, béo phì
và khuynh hướng chảy máu Eskil Kylin (1920), người Thụy Điển đề xuất một hội chứng bao gồm “Tăng huyết áp, tăng glucose và tăng acid uric” và Maranon, người Tây Ban Nha sau đó cũng đề cập Vague (1947) cho rằng béo phì dạng nam là loại béo phì thường phối hợp với những rối loạn chuyển hóa
đó là ĐTĐ type 2 và bệnh tim mạch Gerald Reaven (1988) giới thiệu lại khái niệm hội chứng X bao gồm các yếu tố nguy cơ như THA, bất thường dung nạp glucose, tăng triglyceride (TG), giảm HDL-Cholesterol Sau đó Stout đề nghị hội chứng đề kháng insulin vì muốn nhấn mạnh đề kháng insulin là nguyên nhân trực tiếp trong bệnh mạch vành (BMV) và nguyên nhân của các tiêu chí trong hội chứng [90]
Các chuyên gia ĐTĐ tại Áo đã đặt tên hội chứng là CHAOS: Coronary heart disease, Hypertension and Hyperlipidemia, Adult-onset diabetes, Obesity, Stroke Sau này có những bất thường chuyển hóa khác được quy cho nhiều hội chứng như béo phì, Microlbumine niệu (MAU), bất thường về tiêu sợi huyết và rối loạn đông máu Ngoài ra còn có các yếu tố khác như tăng acid uric máu, gia tăng khuếch tán ngược Na+ - Lithium, gia tăng PAI -1 (Plasminogen activator inhibitor-1)
- Nhiều thuật ngữ đồng nghĩa HCCH bao gồm:
- Hội chứng chuyển hóa (Metabolic Syndrome)
- Hội chứng X chuyển hóa (Metabolic X Syndrome)
- Hội chứng đa chuyển hóa (Plurimetabolic Syndrome)
- Hội chứng rối loạn chuyển hóa (Dysmetabolic Syndrome)
Trang 12- Hội chứng kháng insulin (Insuline Resistance Syndrome)
- Hội chứng Reaven (Reaven Syndrome)
- Tứ chứng chết người (Deadly Quarter)
- Tăng huyết áp có rối loạn lipid máu (Dyslipidemic Hypertension) Đến năm 1998, Tổ chức Y tế Thế giới đã tổng kết hội thảo của chuyên gia thế giới và thống nhất gọi hội chứng này là Hội chứng chuyển hóa (Metabolism syndrom) và đề nghị HCCH như một công cụ cho đánh giá thực hành lâm sàng và nghiên cứu Hội chứng chuyển hóa được định nghĩa là một nhóm các rối loạn liên quan đến chuyển hóa bao gồm rối loạn lipid máu, béo trung tâm, tăng huyết áp, rối loạn glucose máu khi đói [41]
1.1.2 Các dấu hiệu của Hội chứng chuyển hóa [33]
Hội chứng chuyển hóa bao gồm một nhóm các yếu tố nguy cơ tập hợp lại trên một người bệnh:
- Tình trạng béo bụng: biểu hiện qua số đo vòng eo
- Rối loạn lipid máu: là tình trạng rối loạn các chất béo trong máu như triglycerid máu cao, HDL-C máu thấp, LDL-C cao, tạo nên mảng xơ vữa ở thành động mạch
- Tăng huyết áp: được định nghĩa là khi huyết áp (huyết áp tâm thu và/hoặc huyết áp tâm trương) cao hơn mức bình thường (Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg đối với người trưởng thành, và khi huyết áp tâm thu hoặc huyết áp tâm trương ≥ 95th percentile đối với trẻ em)
- Tình trạng kháng insulin hoặc không dung nạp đường: là tình trạng cơ thể không thể sử dụng đường và insulin một cách hiệu quả Khi thức ăn hấp thụ vào máu, chúng sẽ được biến chế thành đường (glucose) Đây là một loại đường đơn và cũng là nhiên liệu chính cung cấp cho mỗi tế bào trong cơ thể Tuy nhiên, để hấp thụ đường từ máu vào bên trong tế bào, cơ thể cần một chất gọi
là insulin Insulin được sản xuất từ tế bào beta của tuyến tụy và được coi là chìa
Trang 13khóa mở những ổ khóa trên thành của tế bào Một khi những cánh cửa này mở rộng, đường (Glucose) sẽ đi vào tế bào để nuôi dưỡng cơ thể Kháng insulin xảy ra khi những “ổ khóa” (insulin receptors) bị “rỉ sét” hoặc những “chìa khóa” (insulin) bị “bẻ gẫy” Cơ thể bây giờ, phải chế ra nhiều insulin hơn để đáp ứng với một môi trường mới Nói một cách dễ hiểu, thay vì chỉ cần một chìa khóa
để mở một cánh cửa, bây giờ cơ thể cần nhiều chìa khóa hơn để “chỉ” mở một cánh cửa Ban đầu cơ thể còn đủ khả năng sản xuất insulin cần thiết Lâu dần, càng ngày càng nhiều “ổ khóa” bị hư hỏng hơn Tụy tạng không còn sức thích ứng nữa Trong máu tuy số lượng insulin rất cao, nhưng vẫn không đủ để mở những ổ khóa đã mỗi ngày một hư hại hơn Thiếu insulin, đường không vào trong tế bào được dẫn đến mức đường trong máu tăng dần
- Tình trạng tiền đông máu: tăng fibrinogen và chất ức chế hoạt hóa plasminogen -1 (PAI-1) cao trong máu Bình thường, trong cơ thể, máu lưu thông trong lòng mạch ở trạng thái thể dịch nhờ sự cân bằng giữa hệ thống hoạt hoá và ức chế đông máu Khi xảy ra một tổn thương mạch máu, các yếu tố đông máu (trong đó có fibrinogen) sẽ cùng với nội mạc mạch máu và tiểu cầu phối hợp xảy ra một loạt các phản ứng để tạo nút cầm máu là cục đông tại vị trí tổn thương Hệ thống kiểm soát đông máu sẽ đảm bảo sao cho cục đông không lan rộng mà chỉ khu trú và đủ để cầm máu ở vị trí tổn thương Tình trạng tăng đông máu xảy ra khi mất cân bằng giữa hệ thống hoạt hoá và ức chế đông máu do tăng hoạt hoá đông máu hoặc do giảm ức chế đông máu, tiêu sợi huyết dẫn đến cục máu đông lan rộng quá giới hạn cần thiết, gây tắc nghẽn mạch
- Tình trạng tiền viêm: Protein phản ứng C (CRP) tăng cao trong máu Protein phản ứng C (C reactive protein - CRP) là một glycoprotein được gan sản xuất có đặc điểm là kết tủa với polysaccharid C của phế cầu Bình thường, không thấy protein này trong máu Tình trạng viêm cấp với phá huỷ mô trong
cơ thể gây giải phóng các interleukin 1 và 6 sẽ kích thích sản xuất protein này
và gây tăng nhanh nồng độ protein phản ứng C trong huyết thanh Khi tình
Trang 14trạng viêm cấp kết thúc, protein phản ứng C (CRP) nhanh chóng mất đi Vì vậy, protein C phản ứng được coi như một chỉ dấu phản ánh sự hoạt hóa phản ứng viêm hệ thống
1.1.3 Các tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH ở người trưởng thành
Chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn của WHO (1999): [41]
Theo WHO thì HCCH được xác định khi có tăng glucose máu khi đói (glucose máu ≥ 6,1 mmol/l) hoặc insulin tăng cao trong máu hoặc đã được chẩn đoán đái tháo đường cộng với ít nhất 2 trong các yếu tố sau:
- Béo phì (BMI ≥ 30 hoặc tỷ số VE/VM > 0,9 đối với nam và > 0,85 đối với nữ)
- Rối loạn lipid máu: triglyceride ≥ 1,7 mmol/l hoặc HDL - C < 0,9 mmol/l đối với nam và < 1,0 mmol/l đối với nữ
- Huyết áp ≥ 140/90 mmHg hoặc đã được chẩn đoán tăng huyết áp
- Microalbumin niệu: tốc độ bài tiết ≥ 20 µg/phút
Chẩn đoán HCCH theo NCEP - ATP III (2001): [95]
Hội chứng chuyển hóa được xác định theo tiêu chuẩn của chương trình giáo dục cholesterol quốc gia Mỹ, kênh điều trị cho người lớn (NCEP - ATP III - National Cholesterol Education Program Adult Treatment Panel III) khi có từ 3 trong 5 yếu tố:
- Rối loạn Glucose máu khi đói (Glucose máu ≥ 5,6 mmol/l)
- Béo bụng (vòng eo >102 đối với nam và > 88 cm đối với nữ)
- Triglycerid máu cao ( ≥ 1,7 mmol/l)
- HDL - C thấp (< 1mmol/l ở nam và < 1,3 mmol/l ở nữ)
- Huyết áp ≥ 130/85 mmHg
Chẩn đoán HCCH theo Nhóm tư vấn kháng Insuin châu Âu
(EGIR - 2003): [45]
Bắt buộc phải có tăng Insulin máu cộng thêm với 2 yếu tố khác:
- Vòng eo ≥ 94 cm đối với nam và ≥ 80 cm đối với nữ
Trang 15- Tryglicerid máu ≥ 2,0 mmol/L hoặc HDL cholesterol < 1,0 mmol/L hoặc đang điều trị rối loạn lipid máu
- Huyết áp tâm thu ≥ 140 hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg hoặc đang dùng thuốc huyết áp
- Glucoza máu lúc đói ≥ 6,1 mmol/l
Chẩn đoán HCCH theo IDF ( 2005): [87]
IDF đã đưa ra một tiêu chuẩn về HCCH trong đó điều kiện tiên quyết là béo bụng cộng với từ 2 yếu tố trở lên trong 4 yếu tố:
- Glucose máu khi đói cao ( 5,6 mmol/l); hoặc đã được chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 trước đó
- Triglycerid máu cao ( 1,7 mmol/l); hoặc đã được chẩn đoán, điều trị các rối loạn lipid bằng thuốc
- HDL - C thấp ( <1mmol/l ở nam và <1,3 mmol/l ở nữ); hoặc đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc
- Huyết áp 130/85 mmHg hoặc đã được chẩn đoán cao huyết áp
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn xác định béo bụng theo vòng eo của IDF - 2005
Nhóm các quốc gia Số đo xác định béo bụng (cm)
Nữ ≥ 80 Các nước Nam Á và Trung Quốc Nam ≥ 94
Nữ ≥ 80
Nữ ≥ 85
Người châu Phi khu vực Sahara Giống tiêu chuẩn châu Âu Vùng Trung Đông và Địa Trung Hải Giống tiêu chuẩn châu Âu
1.1.4 Cơ chế bệnh sinh HCCH
Cho đến nay cơ chế bệnh sinh của HCCH còn chưa được hiểu biết đầy đủ, nhưng béo phì (nhất là béo bụng), kháng insulin, rối loạn lipid máu, sự bất thường glucose máu và THA là những biểu hiện cơ bản của HCCH
Trang 16* Béo phì và phân phối mỡ bất thường
Béo bụng liên quan các yếu tố nguy cơ chuyển hoá gồm: Tăng nồng độ apolipoprotein B huyết thanh, tăng LDL – C và tăng khả năng PAI – 1 với tình trạng suy giảm tiêu sợi huyết [74] HCCH không những chỉ ảnh hưởng tới béo toàn thân mà còn đối với những người có trọng lượng bình thường song có tăng chu vi vòng bụng hay còn gọi là béo bụng (béo trung tâm) Cơ chế bệnh sinh
và tương tác giữa các yếu tố tạo ra HCCH chưa sáng tỏ song kháng insulin được coi là giả thuyết có cơ sở nhất về cơ chế của hội chứng [90] Kết quả từ những đối tượng không bị ĐTĐ của nghiên cứu Framingham Offspring kháng insulin không phải là yếu tố duy nhất và độc lập tạo ra HCCH Béo bụng có liên quan rất rõ với kháng insulin Người ta nhận thấy giữa độ dày lớp mỡ dưới da bụng
và kháng insulin có mối liên quan tuyến tính thuận với nhau [54]
ATP III coi béo phì như một yếu tố chính làm tăng hội chứng chuyển hóa, ít nhất là khía cạnh dịch tễ Béo phì còn là yếu tố thuận lợi góp phần làm tăng huyết áp, tăng nồng độ cholesterol máu, hạ thấp nồng độ HDL-cholesterol, làm tăng nồng độ glucose máu Tất cả những yếu tố này kết hợp lại làm tăng
nguy cơ bệnh lý tim mạch
Trong các thể loại béo phì, thể béo bụng có liên quan với hội chứng chuyển hóa chặt chẽ hơn cả Các mô mỡ dư thừa là nguồn phóng thích vào tuần hoàn các acide béo không este hóa (NEFA: nonesterified fatty acid) các cytokin; PAI-1 (plasiminogen activator inhibitor-1) và adiponectin Các yếu
tố này đã làm tăng sự đề kháng insulin, tăng tạo khả năng gây viêm của lớp
tế bào nội mô mạch máu, tạo thuận lợi cho mảng xơ vữa hình thành và phát triển [55], [56]
* Kháng insulin
Tế bào β đảo tụy là nơi tiết ra insulin và insulin lưu hành trong máu đến các tế bào đích truyền tín hiệu và thực hiện nhiệm vụ của mình, insulin là hormone đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa carbonhydrat với cơ chất
Trang 17chính là glucose, vì vậy khi có bất thường về insulin sẽ gây lên các rối loạn trong chuyển hóa carbonhydrat “Kháng insulin là một tình trạng (của tế bào,
cơ quan, hay cơ thể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đạt được đáp ứng sinh học bình thường” [36]
Insulin truyền tín hiệu bằng cách gắn vào các receptor đặc hiệu trên màng
tế bào, các thụ thể này thuộc nhóm tyrosine kinase receptor, giống như receptor cho các yếu tố tăng trưởng Các receptor hoạt động nhờ sự kết hợp của 2 tiểu đơn vị Các thông tin của insulin sẽ không bị thay đổi khi chúng được truyền qua các receptor đặc hiệu nhưng cũng có thể thay đổi khi truyền tin qua các receptor được hình thành bởi 1 tiểu đơn vị của thụ thể insulin và 1 tiểu đơn vị của các yếu tố phát triển giống insulin (IGF1) Insulin có ái lực với receptor đặc hiệu cao gấp 100 đến 150 lần so với các receptor của IGF1, chính vì vậy ở nồng
độ insulin sinh lý thì sự gắn của insulin với thụ thể IGF1 sẽ không có ý nghĩa [67]
Sự gắn insulin và receptor của màng tế bào là hiện tượng truyền tín hiệu
để thực hiện quá trình phosphoryl hóa và dephosphoryl hóa, 4 loại protein từ IRS1 đến IRS4 được phát hiện trong cấu trúc của receptor insulin Tín hiệu của insulin được đưa vào tế bào khi quá trình phosphoryl hóa ở receptor được thực hiện [73], [94] Có 2 cách truyền tín hiệu của insulin vào tế bào: [67], [78], [94]
+ Cách 1: Thông quá các chất truyền tin: AKT/PKB
+ Cách 2: Thông qua các Protein tín hiệu: Ras/Raf/MAP
Kháng insulin có thể do giảm hiệu quả của chất truyền tin, các protein tín hiệu chính Sự giảm này làm xáo trộn quá trình truyền tín hiệu của insulin dẫn đến kết quả là kháng insulin ở tế bào đích Tùy thuộc vào khiếm khuyết tín hiệu của insulin do giảm hiệu quả của chất truyền tin, protein tín hiệu dẫn đến
sự đề kháng insulin sẽ ở các mức độ khác nhau [49], [88]
Sự truyền tín hiệu của insulin gây nên quá trình chuyển glucose vào tế bào và sự vận chuyển glucose qua các chất vận chuyển từ nội bào tới màng
Trang 18plasma trên bề mặt [59], [67] Có ít nhất 12 loại protein vận chuyển khác nhau ở các loại tế bào khác nhau [64] GLUT - 4 là chất vận chuyển glucose thông qua insulin gặp ở hầu hết các loại tế bào (tế bào gan, não, cơ, mỡ …) GLUT-1 gặp nhiều ở tế bào não, GLUT - 2 gặp nhiều ở tế bào gan, GLUT-3 gặp chủ yếu ở đường tiêu hóa Một số nghiên cứu trên tế bào cơ, mỡ cho thấy sự khiếm khuyết gây kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có liên quan đến chất vận chuyển glucose GLUT - 4 trong con đường vận chuyển glucose phụ thuộc insulin
Hình 1.1 Cơ chế vận chuyển glucose trong kháng insulin
Nguồn: Diabetes in cardiovascular Disease 2013
* Rối loạn lipid máu
Tăng acid béo tự do sẽ làm tăng nồng độ insulin trong máu và gây nhiễm độc mỡ tế bào beta tụy làm tế bào này sẽ chết nhanh hơn so với chết theo chương trình Khi acid béo tự do và TG tích luỹ trong tế bào beta tụy làm tăng tổng hợp NO gây ra rối loạn chức năng tế bào và hậu quả của hiện tượng này làm các tế bào beta tụy bị tổn thương, giảm số lượng tế bào beta tụy sẽ làm mất khả năng duy trì tiết insulin Khi sự kháng insulin được thiết lập, có sự giải phóng acid béo đến gan làm tăng quá trình tổng hợp TG, tuy nhiên dưới điều kiện insulin ngăn cản sự tăng bài tiết LDL-C vào tuần hoàn, đồng thời
Protein vận chuyển GLUT4
Protein vận chuyển GLUT4
Kích hoạt hệ thống vận chuyển
Thiếu hụt hệ thống vận chuyển
Tín hiệu insulin thông qua PI3 kinase, PDK1 AKT/PKB
Tín hiệu insulin thông qua PI3 kinase, PDK1 AKT/PKB
Recetor
tiếp nhận
insulin
Trang 19lipoprotein lipase cũng được tiết ra ở các mô ngoại vi Sự tăng TG là yếu tố quan trọng biểu hiện sự kháng insulin và là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán của HCCH Ngoài ra, còn có sự rối loạn một loại lipoprotein nữa trong HCCH, đó là sự giảm HDL-C do rối loạn của cholesterol ester transferase Vì vậy, sự kết hợp tăng TG và giảm HDL-C có mối liên quan mật thiết đến HCCH
Do đó trong chẩn đoán HCCH các nghiên cứu thường lấy TG và HDL-C làm tiêu chuẩn chấn đoán HCCH [7], [25], [66], [75]
* Sự bất thường glucose máu
Sự bất thường glucose máu [gồm ĐTĐ typ 2, RLGMLĐ và giảm dung nạp glucose] có mối liên quan mật thiết đến cơ chế bệnh sinh trong HCCH Nhiều nghiên cứu thấy rằng có nối liên quan giữa RLGMLĐ với sự đề kháng insulin ở người, động vật có vú, và cả loài gặm nhấm Ở những người được dự đoán là sẽ tiến triển thành ĐTĐ typ 2 thì sự đề kháng insulin, rối loạn chức năng tế bào beta tụy là những nguyên nhân của sự bất thường glucose máu này Có sự phối hợp giữa RLGMLĐ và giảm dung nạp glucose máu với nguy cơ bệnh tim mạch và tiến triển thành ĐTĐ typ 2 Trong đó, có vai trò tích luỹ chất AGE (advanced glycation end products) kết hợp với tăng đường máu có mối liên quan đến bệnh tim mạch bằng sự tác động lên thụ cảm thể AGE ở thành động mạch gây ra một phản ứng viêm làm tăng sinh tế bào và hình thành mảng vữa xơ động mạch Sự tác động của AGEs được giải thích theo cơ chế sau: AGEs tác động trực tiếp như một cytokine với thành mạch máu bằng cách gắn kết với proteoglycans của tế bào nội mạc thành mạch và tạo ra một phản ứng viêm [2], [91]
* Tăng huyết áp
Mặc dù mối liên quan giữa sự đề kháng insullin với huyết áp ở nhiều nghiên cứu vẫn còn chưa được thống nhất trong cơ chế bệnh sinh của HCCH Một số nghiên cứu còn thấy sự hạn chế của mối liên quan giữa kháng insulin với bệnh tim mạch Tuy nhiên, cơ chế bệnh sinh hiện nay cho rằng mối liên quan giữa kháng insulin với huyết áp được giải thích là do tăng hoạt động của hệ thần kinh
Trang 20giao cảm, làm tăng hoạt động tế bào cơ trơn thành mạch, tăng vận chuyển ion Ca++
và tăng sự giữ muối trong lòng mạch Sự tăng hoạt động thần kinh giao cảm cũng
có nghĩa là tăng sự kích thích của adrenergic receptor hay có mối liên quan giữa
sự kích thích beta adrenergic receptor với đề kháng insulin [29], [63], [93]
1.2 Một số yếu tố liên quan đến HCCH
1.2.1 Khẩu phần ăn và thói quen ăn uống
Chế độ ăn có mối liên hệ mật thiết với HCCH Khi chế độ ăn không cân đối, dư thừa năng lượng sẽ dẫn đến vượt quá nhu cầu của cơ thể làm cơ thể tích lũy quá mức Việc tích lũy này diễn ra trong thời gian dài sẽ làm cơ thể mất cân bằng, hệ thống chống nhiễm mỡ của cơ thể sẽ mất khả năng tự cân bằng Khi
đó lượng triacylglycerol sẽ lắng đọng và tích lũy dần dần tại các mô không phải
Ngoài ra, các chất sinh năng lượng có trong thức ăn như protid, lipid, glucid khi vào cơ thể đều có thể chuyển hóa thành chất béo dự trữ Như vậy một khẩu phần ăn không chỉ nhiều lipid mới gây béo mà ăn quá thừa các thức
ăn khác như bột, đường, đồ ngọt đều có thể gây béo Các thói quen ăn nhiều vào bữa tối, ăn nhiều bữa, ăn thức ăn nhiều năng lượng, thích ăn xào rán đã được chứng minh trong một số nghiên cứu trên đối tượng người trưởng thành
bị thừa cân, béo phì [14], [20], [16]
Khi chế độ ăn cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu, nếp sống làm việc tĩnh tại, ít tiêu hao năng lượng sẽ làm cân nặng của cơ thể tăng lên [68] Như vậy HCCH sẽ có xu hướng gia tăng cùng với sự gia tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì Mặt
Trang 21khác, theo Hales và Barker, những người bị suy dinh dưỡng lúc nhỏ mà khi trưởng thành bị béo phì thì khả năng mắc HCCH rất lớn [46] Trong khi đó Việt Nam lại
là một đất nước trải qua nhiều năm chiến tranh, là nước đang phát triển, năm 2009
có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi là 29,3%; suy dinh dưỡng nhẹ 17,5%; suy dinh dưỡng gày còm 7,1% [37]
Vì vậy nguy cơ mắc HCCH ở người béo phì ở Việt Nam là rất cao Tuy nhiên HCCH vẫn có thể xuất hiện ở cả người có cân nặng bình thường Một số nghiên cứu dịch tễ cho thấy chế độ ăn nhiều quả chín, rau và nhiều chất xơ làm giảm nguy cơ mắc bệnh mạn tính
ở nhóm làm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (11,8%) Tư thế lao động cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng So sánh với nhóm họat động đứng,
đi lại trong nhà, người làm những công việc ở tư thế ngồi tăng 20% nguy cơ thừa cân - béo phì Nghiên cứu của Zeitina LJ (2006) cho thấy, khoảng cách đi lại gần như không có liên quan đến thừa cân - béo phì Tuy nhiên người sử dụng phương tiện cơ giới làm phương tiện di chuyển giao thông liên quan đến thừa cân - béo phì cao hơn 70% so với người đi bộ hoặc đạp xe đạp [58]
Theo nghiên cứu của Trương Tuyết Mai và Nguyễn Thị Lâm (2014) cho thấy đối tượng thừa cân, béo phì có hoạt động tích cực là rất thấp, hầu hết các đối tượng có thời gian hoạt động tĩnh tại cao [21]
Như vậy, cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng tỷ lệ béo phì và các rối loạn chuyển hóa thường đi song song với giảm hoạt động thể lực trong lối sống
Trang 22tĩnh tại Do đó, việc thay đổi lối sống năng động, tăng cường hoạt động thể lực trong lối sống sẽ làm giảm tỷ lệ mắc HCCH và các rối loạn liên quan khác Nên hoạt động thể lực thường xuyên với cường độ thích hợp để duy trì sức khỏe tốt, nhất là những người có công việc tĩnh tại, ít hoạt động thể lực
Các yếu tố về gen: Ngày nay, người ta đã biết hội chứng chuyển hóa là
hậu quả tương tác giữa bệnh lý gen và yếu tố môi trường Những phát hiện của Stride và Hattersley năm 2002 đã nói lên tính phức tạp, đa dạng của các tổn thương gen trong hội chứng chuyển hóa [3]
1.2.3 Yếu tố kinh tế xã hội
Ở các nước phát triển, khi thiếu ăn không còn phổ biến nữa thì tỷ lệ béo phì lại cao hơn ở tầng lớp nghèo, ít học hơn so với các tầng lớp trên và béo phì tồn tại song song với thiếu dinh dưỡng, gặp nhiều ở đô thị hơn ở nông thôn [61] Tại châu Âu, bệnh béo phì và các bệnh liên quan được phổ biến trong nhóm người có tình trạng kinh tế và xã hội thấp Nhóm người có thu nhập trên,
có xu hướng tiêu thụ nhiều thịt, chất béo và chất bột đường, còn những người
có thu nhập cao thì tiêu thụ nhiều trái cây và rau quả Ngoài ra những người nghèo thường có ít điều kiện vào phòng tập thể dục - thể thao được trang bị nhiều tiện nghi Bệnh béo phì ở giới trẻ thường xuyên tiếp tục tăng cao, nó mang lại cho xã hội một gánh nặng lớn về người khuyết tật và tử vong, cũng
như những thách thức về kinh tế [62]
1.2.4 Tuổi
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tuổi là một yếu tố liên quan đến HCCH
Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa tăng theo tuổi Tỷ lệ này tăng nhanh ở lứa tuổi trung niên Nghiên cứu National Health anh Nutrition Examaination Survey III (NHANES III, 1988 đến 1994) khi đánh giá 8814 người trưởng thành
ở Mỹ cho thấy: tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn ATP III - 2001
ở lứa tuổi 20 đến 29 là 6,7% đã tăng vọt lên 43,5% ở lứa tuổi 60 đến 69, và
42% ở lứa tuổi trên 70), tỷ lệ chung là 22% [53]
Trang 231.2.5 Giới
Nhiều tác giả cho rằng béo trung tâm là một yếu tố quan trọng cấu thành hội chứng chuyển hóa Béo trung tâm lại thường gặp ở nam nhiều hơn nữ, vì thế hội chứng chuyển hóa cũng gặp ở nam nhiều hơn Nhận xét này đã được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu Wilson PW, D'Agostino RB, Parise H, Sullivan L, Meigs JB, 2005 khi nghiên cứu hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn ATP III cập nhật năm 2005 báo trước sự xuất hiện của bệnh tim mạch
và đái tháo đường cho thấy, tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa là 26,8% đối với nam và 25% đối với nữ ở 3323 người có tuổi từ 22 đến 81 không mắc bệnh tim mạch và đái tháo đường tại thời điểm nghiên cứu [96]
1.2.6 Hút thuốc lá và bia rượu
Thuốc lá và bia rượu là những thói quen có ảnh hưởng không nhỏ tới rối loạn dinh dưỡng Lipid cung như tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa Nhiều nghiên cứu cho thấy: mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia với việc gia tăng tỷ lệ hội chứng chuyển hóa Điều này có thể lý giải một phần nguyên nhân tỷ lệ mắc bệnh của nam giới trong một số cộng đồng khác nhau thường cao hơn ở nữ giới Hút thuốc lá là nguồn sản sinh ra các gốc tự do, tăng độ kết dính tiểu cầu và làm giảm HDL-C [61]
Rượu làm tăng triglycerid máu đáng kể trên các bệnh nhân có tăng tryglycerid nguyên phát hay thứ phát Rượu được chuyển thành triglycerid, gây
ra tình trạng nhiễm mỡ và tăng sản xuất Lipoprotein tỷ trọng thấp(VLDL) từ gan Ở một số người bệnh, do cơ chế thích ứng làm tăng thanh thải triglycerid nên hàm lượng tryglycerid vẫn bình thường Khi cơ chế thích ứng bị tổn thương
do uống rượu kéo dài sẽ gây tăng rất nhiều tryglycerid [50]
Tổ chức Y tế thế giới đã định nghĩa đối tượng được coi là lạm dụng rượu khi lượng rượu tiêu thụ trên 3 đơn vị/ngày đối với nam và trên 2 đơn vị/ngày đối với nữ (1 đơn vị rượu tương đương 10g etanol) [27]
Trang 241.3 Tình hình mắc hội chứng chuyển hóa trên thế giới và ở Việt Nam
* Trên thế giới
Tổ chức Y tế thế giới coi béo phì là đợt sóng đầu tiên của một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa ở các nước đã và đang phát triển Người ta gọi đó là “Hội chứng thế giới mới” (New world syndrome) gây nên các gánh nặng về kinh tế
- xã hội và chăm sóc sức khỏe ở các nước nghèo Đi liền với thừa cân, béo phì
là các bệnh mạn tính khi bước vào độ tuổi trưởng thành Đó là biểu hiện của HCCH ở các mức độ, trong đó có vai trò quan trọng của yếu tố dinh dưỡng HCCH như là một vấn đề thời sự được quan tâm do sự gia tăng về tần suất trong dân số chung cũng như ở một số đối tượng nguy cơ cao như tăng huyết
áp, béo phì, phụ nữ mạn kinh, đái tháo đường [15], [27] Người ta ước tính có khoảng 20-25% người trưởng thành trên thế giới mắc hội chứng chuyển hóa và những người này có nguy cơ tử vong cao hơn gấp 2 lần và nguy cơ bị cơn đau tim hay đột qụy tăng gấp 3 lần và nguy cơ bị đái tháo đường cao gấp 5 lần [22]
Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về HCCH Theo tiêu chuẩn của NCEP thì HCCH được ước tính là 24% người trưởng thành ở Mỹ, trong đó tỷ
lệ này nguời có dộ tuổi trên 50 chiếm tới 44% Với định nghĩa của WHO, HCCH có mặt ở 5-22% phụ nữ tuổi từ 40-45 [95], [57]
Một nghiên cứu cắt ngang ở Venezuela đã nghiên cứu ở đối tượng từ 20 tuổi trở lên cho biết tỷ lệ mắc HCCH theo NCEP là 31,2% trong đó tỷ lệ này ở nam cao hơn ở nữ Tỷ lệ mắc HCCH cũng tăng theo tuổi cùng mức độ béo phì
Tỷ lệ này có sự khác biệt giữa các nhóm đàn ông chủng tộc khác nhau, đàn ông
da đỏ có tỷ lệ mắc thấp nhất (17%) so với người da đen (27,2%) và người da trắng (33,3%) nhưng không có sự khác biệt giữa các nhóm phụ nữ Các yếu tố HDL - C (65,3%), béo bụng (42,9%) và yếu tố huyết áp (38,1%) là thường gặp nhất trong HCCH Cách sống không lành mạnh cũng làm tăng nguy cơ của hội
chứng này [44]
Trang 25Nghiên cứu tại Hồng Kông đã xác định tỷ lệ HCCH ở các đối tượng trong
độ tuổi lao động theo ba tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO, NCEP và EGIR cho thấy tỷ lệ mắc HCCH dao động từ 8,9% đến 13,4% tùy theo tiêu chuẩn chẩn đoán [71]
Một nghiên cứu khác ở Hồng Kông, theo định nghĩa của NCEP đã xác định tỷ lệ mắc HCCH tăng từ 3,1% ở lứa tuổi 25-29 đến 41% ở độ tuổi trên 70 Còn tỷ lệ mắc chung trong nghiên cứu sau khi điều chỉnh tuổi và giới theo định nghĩa béo phì đối với người chấu Á là 21,2% [68]
Nghiên cứu trên dân cư thành thị ở Ấn Độ sử dụng tiêu chuẩn của NCEP thì tỷ lệ HCCH là 41,1%, trong đó yếu tố HDL-C thấp chiếm tỷ lệ cao nhất (65,5%), sau đó là yếu tố huyết áp (55,4%), thấp nhất là yếu tố rối loạn glucose máu khi đói (26,7%) [84]
Nghiên cứu của Heng KS và cộng sự (2013) trên đối tượng là đội ngũ nhân viên trường Đại học Putra Malaysia từ 20 đến 65 tuổi cho biết tỷ lệ HCCH của nhóm đối tượng này theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Harmonised, IDF và NCEP ATP III lần lượt là 38,3%, 38,8% và 33,5%
Tỷ lệ HCCH tăng theo nhóm tuổi, ở nam cao hơn ở nữ ở dưới độ tuổi 50 nhưng trên độ tuổi 50 tỷ lệ này ở nữ lại cao hơn ở nam [60] Trước đó một nghiên cứu khác cũng tại Malaysia của Mohamud và cộng sự (2012) cho tỷ lệ HCCH ở người dân Malaysia theo tiêu chuẩn Harmonised, IDF và NCEP ATP III lần lượt là 42,5%, 37,2% và 34,3% [81]
* Tại Việt Nam
Cùng với xu hướng chung của thế giới và khu vực, Việt Nam đang bước vào thời kì hiện đại hóa, công nghiệp hóa, kinh tế đang có bước tăng trưởng nhanh, đời sống xã hội đã được cải thiện và tăng lên, đây là điều kiện thuận lợi
để HCCH xuất hiện đặc biệt là đối tượng cán bộ công chức
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Linh ở người cao tuổi có gan nhiễm mỡ không do rượu cho thấy tỷ lệ HCCH là 42,5% [17]
Trang 26Theo nghiên cứu của Nguyên Văn Thành và cộng sự ở đối tượng cán bộ thuộc diện quản lý của ban BVCSSKCB tỉnh Bạc Liêu cho thấy kết quả HCCH chiếm tỷ lệ 24% trong đó ở nhóm tuổi < 60 là 29,4%, ở nhóm tuổi ≥ 60 là 20,9%, nam chiếm tỷ lệ 21,8% nữ chiếm 32% [31]
Nghiên cứu của Trang Mộng Hải Yên và cộng sự năm 2014 ở đối tượng cán bộ tỉnh ủy quản lý tại Long An cho thấy HCCH chiếm 30,34%, nhóm tuổi
50 - <60 chiếm 65,96% và 89,39% cán bộ bị thừa cân béo phì Tình trạng thừa cân béo phì làm tăng nguy cơ mắc HCCH lên 12,14 lần, và có chỉ số WHR tăng
sẽ có nguy cơ mắc HCCH tăng gấp 4,57 lần [39]
Nghiên cứu của Lê Nguyễn Trung Đức Sơn và cộng sự năm 2000 đã chỉ
ra tỷ lệ HCCH ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh là 12%, có liên quan đến tuổi, tỷ lệ phần trăm mỡ và nghề nghiệp [92]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Trung Thu năm 2015 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH ở người trung niên bị tiền đái tháo đường là 46,7% (41,5% ở nam và 49,8% ở nữ) [32]
Năm 2007, Nguyễn Hữu Toản và cộng sự đã công bố nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của cán bộ công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh trên tạp chí Y học thực hành Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ béo phì của cán bộ công nhân viên bệnh viện Chợ Rẫy chiếm 32,5% và tỷ lệ này không hề thua kém bất kỳ một quốc gia nào trong khu vực như Malaysia (21%), Singapore (30,44%), thậm chí ngang với các nước công nghiệp như Đức (47,3%), Anh (31,5%), Mỹ (44,4%) Mức độ thừa cân béo phì liên quan đến tốc độ phát triển bệnh tim mạch và làm tăng tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, đặc biệt là ở những người trẻ và béo bụng [29]
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Huy cho biết tỷ lệ mắc HCCH ở người trưởng thành tại Khánh Hòa là 15,7% theo định nghĩa của NCEP - ATP III, trong đó độ tuổi > 54 có tỷ lệ cao nhất là 21,5% và yếu tố HDL - C thấp gặp nhiều nhất là 37% [33]
Trang 27Nghiên cứu của Nguyễn Viết Quỳnh Thư và cộng sự năm 2007 trên 504 nhân viên y tế cho biết tỷ lệ mắc HCCH ở nhân viên ngành y tế thành phố Hồ Chí Minh theo tiêu chuẩn IDF (International Diabetes Federation) và ATP III lần lượt là 22% và 13% [35]
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Việt, Tạ Văn Bình và cộng sự nghiên cứu
về HCCH ở khu vực nội thành Hà Nội trong 2 năm 2008 – 2009 trên 550 đối tượng của 4 quận nội thành Hà Nội theo tiêu chuẩn IDF 2005 chiến 28,9% trong
đó nữ cao hơn nam có ý nghĩa thống kê [38]
Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú trên cán bộ hưu trí tỉnh Nghệ An cho biết tỷ lệ mắc HCCH theo ATP III là 35,1%, chủ yếu gặp ở nữ chiếm 70,1% cao gấp 2,5 lần ở nam chỉ chiếm 29,9% [24]
Một nghiên cứu khác của Võ Thị Dễ trên tạp chí Y học thực hành năm
2013 nghiên cứu về tần suất và đặc điểm HCCH trong cộng đồng tỉnh Long
An năm 2010 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH theo IDF, NCEP ATP III và NCEP ATP III điều chỉnh lần lượt là 10,4%; 12,4% và 17,2% Tỷ lệ mắc HCCH tăng dần theo tuổi [10]
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 183 cán bộ hưu trí diện BVCSSK đang được quản lý sức khỏe tại
Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe tỉnh Cao Bằng
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Đang bị bệnh nhiễm trùng cấp tính nặng
- Bệnh nhân mắc bệnh ác tính hay suy tim, suy gan, suy thận nặng
- Bệnh nhân mắc các bệnh ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose và lipid máu: Thận hư nhiễm mỡ, Cushing, to đầu chi
- Bệnh nhân đang dùng các loại thuốc ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose, lipid máu: corticoid, thuốc ức chế miễn dịch
- Những cán bộ không sẵn sàng tham gia nghiên cứu và không có khả năng cung cấp thông tin sau khi đã giải thích mục đích nghiên cứu
- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu muốn bỏ cuộc có thể chấm dứt trong bất kỳ thời gian nào
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại phòng khám Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Cao Bằng
2.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08/2018 đến tháng 2/2019
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: Cán bộ diện BVSKCB được khám lâm sàng, cận lâm sàng
Chọn toàn bộ các bệnh nhân có HCCH và không có HCCH không phân biệt giới tính đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Trang 29+ Tiền sử gan nhiễm mỡ
+ Tiền sử tai biến mạch máu não
+ Tiền sử và/ hoặc đang sử dụng rượu
+ Tiền sử và/ hoặc đang hút thuốc
Trang 302.6 Phương pháp thu thập số liệu
- Lập danh sách cán bộ đang được quản lý, chăm sóc sức khỏe tại Ban BVCSSK tỉnh Cao Bằng
- Chuẩn bị dụng cụ đo chiều cao cân nặng, vòng eo, vòng mông; tập huấn cho cán bộ y tế thực hiện đo
2.6.1 Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng
Tất cả các cán bộ thoả mãn tiêu chuẩn trên đều được hỏi bệnh, thăm khám theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất Xác định các thông tin về:
- Tuổi đời, giới, dân tộc
- Khám lâm sàng: toàn thân, đo HA, khám tim, phổi
* Phỏng vấn các hành vi nguy cơ
Các hành vi nguy cơ ( hút thuốc lá, uống rượu bia, ăn mặn, hoạt động thể lực) thu thập bằng cách phỏng vấn các đối tượng Kỹ năng phỏng vấn của cán
bộ y tế bảo đảm tính chính xác của thông tin, nên phải được tập huấn kỹ
- Đánh giá thói quen hút thuốc lá: Bằng cách hỏi đối tượng xem họ có hút thuốc không, thời gian bắt đầu hút, số lượng hút hiện tại và trước kia Cũng chú
ý cả việc hút thuốc thụ động, hút thuốc lào và nhai thuốc lào khi ăn trầu Người
có thói quen hút thuốc lá: là người thường xuyên, liên tục, ngày nào cũng hút, mỗi ngày ít nhất là 10 điếu thuốc lá
- Thói quen uống rượu: khai thác đầy đủ thông tin về loại rượu thường uống, số lượng, tần suất sử dụng Sử dụng đơn vị uống chuẩn để tính lượng ethanol đã uống Đơn vị uống chuẩn là lượng đồ uống có rượu bao gồm 10
Trang 31gram rượu nguyên chất (ethanol) Đó là lượng rượu mà một người bình thường
có thể chuyển hoá được trong một giờ
Cách tính một đơn vị uống chuẩn ở các loại đồ uống có rượu:
+ Với nam giới: dưới 04 đơn vị uống chuẩn / ngày
+ Với nữ giới: dưới 02 đơn vị uống chuẩn / ngày
+ Một tuần có 2 ngày không uống rượu
- Khẩu phần ăn: chủ yếu quan tâm đến thói quen ăn mặn, lượng rau xanh, quả chín
Thói quen ăn mặn khá phổ biến trong chế biến thức ăn hàng ngày và sử dụng muối, nước mắm, bột canh để chấm thức ăn Việc đánh giá tương đối khó khăn, do đó chủ yếu thông qua phỏng vấn đối tượng Người có thói quen ăn mặn: là người ăn thích ăn mặn hơn người trong gia đình (ăn mặn liên tục từ 4 -
7 ngày/tuần)
Để lượng hoá được rau xanh, quả chín ta dùng đơn vị chuẩn tương đương với 80 gram rau xanh, quả chín (1/2 bát con rau xanh; 01 quả kích thước trung bình các loại quả: táo Trung Quốc, lê, cam, dứa; 03 quả chuối; 01 cốc nước quả tươi hoặc sinh tố ) Ngày điều tra là các ngày trong tuần kể cả những ngày mà bữa ăn có thể được cải thiện hơn ngày thường (ngày nghỉ )
- Đánh giá về hoạt động thể chất bao gồm về loại công việc, phương tiện
đi lại, thể thao, vui chơi giải trí thường xuyên của các đối tượng trong 12 tháng qua
+ Hoạt động nặng: đào đất, cày ruộng, tập tạ, chạy nhanh, khuân vác, gánh đất, cưa xẻ, chạy đường dài, thể thao gắng sức, đạp xe ≥ 16 km/giờ
Trang 32+ Hoạt động vừa: làm ruộng, đạp xe, đi bộ vừa phải, lau chùi nhà cửa, bơi lội, leo cầu thang, chơi cầu lông, bóng chuyền, công nhân điện nước
+ Hoạt động nhẹ: tập thể dục nhẹ, đi bộ chậm, tập dưỡng sinh, bán hàng, làm thủ công, làm vườn cắt hoa/tỉa cành, cán bộ văn phòng
+ Nghỉ hoặc không hoạt động: xem tivi, đọc sách báo, ngồi/nằm nghỉ thư giãn
2.6.2 Đo huyết áp
Đo HA bằng máy HA kế đồng hồ được kiểm chuẩn và đo lại bằng HA kế cột thuỷ ngân LPK2 sản xuất tại Nhật Bản
- Các điều kiện về đối tượng khi đo HA:
+ Không được hoạt động mạnh trước khi đo 1 giờ
+ Nghỉ ngơi, thoải mái ít nhất 5-10 phút trước khi đo HA
+ Không uống cà phê, các loại đồ uống có cafein 30 phút trước khi đo, không uống rượu trước khi đo
+ Không hút thuốc lá 30 phút trước khi đo
+ Không dùng các loại kích thích giao cảm ngoại lai (như: thuốc chống ngạt mũi, thuốc nhỏ mắt làm giãn đồng tử)
+ Khi đo đối tượng cần được yên tĩnh, dễ chịu, thoải mái, không lạnh, không mót tiểu, không tức giận hoặc xúc động
- Tư thế đối tượng: ngồi trên ghế, lưng được nâng thẳng, tay để trần và nâng ngang tim
- Đo 2 lần cách nhau hai phút rồi lấy trung bình của hai lần đo Nếu 2 lần đo chênh lệch >10mHg thì đo lần 3 và lấy số trung bình của lần đo thứ 2 và thứ 3
- Một số lỗi thường gặp khi đo HA: không biết đối tượng đã uống cafein trong vòng 30 phút trước đó hay không, không đo đúng tư thế, không đo HA 2 lần hoặc đo lại ngay dưới 1 phút, làm tròn số khi đọc kết quả
Trang 33Khai thác tiền sử bệnh tật liên quan đến HCCH: Tăng huyết áp, ĐTĐ, gout, rối loạn lipid máu, tiền sử gia đình (bố, mẹ, anh chị em ruột mắc các bệnh liên quan đến HCCH)
2.6.3 Đo chiều cao, cân nặng, vòng eo, vòng mông
Đo VE, vòng mông theo phương pháp đo nhân trắc học thông thường bằng thước dây không giãn FIGURE FINDER, độ chính xác tính bằng mm Đo chiều cao bằng thước gắn vào cân SMIC độ chính xác tính bằng cm Cân nặng: dùng cân SMIC sản xuất tại Trung Quốc, độ chính xác tính bằng 0,1kg
Các mốc đo:
+ Cân nặng: Dùng cân SMIC sản xuất tại Trung Quốc, độ chính xác tính bằng 0,1kg Trọng lượng cơ thể được ghi theo kg với một số lẻ Cân đối tượng: khi cân chỉ mặc quần áo gọn nhất và trừ bớt cân nặng quần áo khi tính kết quả Đối tượng được đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân bố đều cả hai chân Cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng
+ Vòng eo: Đo vòng eo bằng thước dây không co giãn, kết quả được ghi theo cm với một số lẻ Vòng eo đo tương ứng với điểm giữa ở bờ dưới xương sườn cuối với bờ trên mào chậu trên đường nách giữa
+ Đo vòng mông: Ở mức nhô nhất phía sau mấu chuyển lớn xương đùi chiếu ngang gò mu Nếu khó xác định, để đối tượng cử động khớp háng rồi sờ vào mấu chuyển lớn để xác định mấu chuyển Khi đó, đối tượng đứng thẳng,
cơ mông chùng, bỏ hết vật dụng trong túi quần để đo chính xác từng mm
+ Đo chiều cao: Chiều cao được ghi theo cm và 1 số lẻ Đối tượng bỏ giầy, dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước đo Gót chân, mông, vai, chẩm theo một đường thẳng áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn thẳng theo một đường thẳng nằm ngang Hai tay buông thõng hai bên mình Kéo thước từ dưới lên, khi áp sát đến đỉnh đầu nhìn vào thước đọc kết quả
+ Cân nặng: Đặt cân ở vị trí ổn định trên một mặt phẳng, đối tượng chỉ mặc quần áo mỏng, không đi giầy dép, không đội mũ hoặc cầm một vật gì
Trang 34Chỉnh cân ở vị trí thăng bằng Đối tượng đứng trên bàn cân, tay buông thõng, nhìn thẳng về phía trước Ghi số đo trên bàn cân chính xác tới từng mức 0,1kg Tất cả các số đo nhân trắc đều được đo 2 lần và ghi vào hồ sơ
2.6.4 Các kỹ thuật xét nghiệm
* Sinh hóa: Định lượng nồng độ glucose, cholesterol, HDL-C, TG, ure
và creatinin máu lúc đói:
Định lượng nồng độ glucose, choleaterol, HDL-C và TG máu lúc đói được tiến hành tại phòng xét nghiệm Hóa sinh - Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán
bộ tỉnh Cao Bằng bằng phương pháp enzyme trên máy hoá sinh bán tự động của Hoa Kỳ Các mẫu xét nghiệm được lấy máu tĩnh mạch lúc đói vào buổi sáng (qua
1 đêm không ăn cách xa bữa ăn ít nhất 8 giờ)
* Điện tâm đồ:
- Sử dụng máy ghi điện tâm đồ (ECG) 3 cần của Nhật
- Ghi trên 12 chuyển đạo thông dụng, 3 chuyển đạo mẫu (DI, DII, DIII), 3 chuyển đạo đơn cực chi (aVR, aVL, aVF), 6 chuyển đạo trước tim (V1, V2, V3,
V4, V5, V6)
- Máy chạy tốc độ 25 mm/s, test mV là biên độ N (10 mm/V) hoặc N/2 khi biên độ vượt quá giới hạn
- Đọc kết quả điện tâm đồ: Do bác sỹ chuyên khoa thực hiện
- Xác định tần số tim, trục điện tim, góc anpha, các sóng điện tim, đoạn
ST, sóng T, tình trạng dầy thất, block nhánh, rối loạn nhịp tim
- Chẩn đoán dầy thất trái trên ĐTĐ: Chỉ số Sokolow - Lyon:
SV1 + RV5/RV6 > 35 mm
- Tình trạng thiếu máu cơ tim
- Xác định nhồi máu cơ tim:
+ Dấu hiệu “trực tiếp”: sóng Q hoặc QS, ST chênh lên, T(-)
+ Dấu hiệu “gián tiếp”: ST chênh xuống, T(+)
+ Xác định vị trí của nhồi máu cơ tim trên điện tâm đồ: Trước bên, trước vách, trước vách rộng, sau dưới, dưới nội tâm mạc
Trang 352.7 Một số tiêu chuẩn được áp dụng trong nghiên cứu
* Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
- Chỉ số khối cơ thể BMI: Chỉ số khối cơ thể BMI (kg/m2) được tính bằng tỷ lệ cân nặng (CN) tính theo kg chia cho chiều cao (CC) bình phương tính theo mét:
Tính chỉ số khối cơ thể (BMI: Body Mass Index)
Trọng lượng cơ thể ( kg)
BMI ( Kg/m2) =
[ Chiều cao cơ thể ( m)]2
Bảng 2.1: Đánh giá BMI áp dụng cho người châu Á
Phân loại BMI (kg/m 2 )
*Tiêu chuẩn đánh giá vòng eo, chỉ số WHR
Theo WHO áp dụng VE cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương (2000):
Trang 36* Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp
Theo chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm của Bộ Y tế Việt Nam việc phân loại THA được quy định như sau:
Bảng 2.2 Phân độ THA của Hội tim mạch Việt Nam năm 2018
Phân loại THA HATT (mmHg) HATTr (mmHg)
THA tâm thu đơn độc ≥ 140 < 90
Tiền tăng huyết áp: Kết hợp HA bình thường và Bình thường cao, nghĩa là HATT từ 120- 139 mmHg và HATTr từ 80-90 mmHg
* Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa
Hội chứng chuyển hóa được xác định dựa theo tiêu chuẩn của tổ chức NCEP ATP III, có điều chỉnh tiêu chuẩn đánh giá béo bụng đối với người Châu
Á HCCH được xác định khi có từ 3 yếu tố trở lên trong 5 yếu tố [30]:
- Béo bụng (vòng eo ≥ 90 cm đối với nam và ≥ 80 cm đối với nữ)
- Rối loạn Glucose máu khi đói (Glucose máu ≥ 5,6 mmol/l)
- Triglycerid máu cao (≥ 1,7 mmol/l)
- HDL - C thấp (< 1mmol/l ở nam và < 1,3 mmol/l ở nữ)
- Huyết áp ≥ 130/85 mmHg
2.8 Phương tiện nghiên cứu
- Mẫu bệnh án nghiên cứu - Cân bàn
- Máy đo huyết áp - Thước đọc điện tim
Trang 37- Týp đựng máu
- Cân SMIC của trung Quốc, có gắn thước đo chiều cao Độ chính xác tính bằng 0,1kg và 1mm được kiểm tra độ chính xác của cân và chiều cao (thường
2 lần trong ngày là đầu mỗi buổi đo)
- Thước dây nhựa không giãn FIGURE FINDER, độ chính xác tới 1mm
và được đối chiếu chuẩn đúng với thước chuẩn kim loại Thuỵ Sỹ vào đầu mỗi buổi đo
- HA kế cột thuỷ ngân LPK2 sản xuất tại Nhật Bản; băng cuốn dành cho người bình thường (chiều dài x chiều rộng: 12 x 26 cm) và người lớn quá khổ (chiều dài x chiều rộng: 12 x 40 cm)
- Máy điện tim 3 cần Fukuda 7102 của Nhật Bản, thước đọc điện tim, compa
2 đầu nhọn
- Máy xét nghiệm hoá sinh máu được tiến hành trên máy xét nghiệm sinh hoá tự động tại Nhà điều dưỡng thuộc Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Cao Bằng
- Sau mỗi ngày kiểm tra lại số liệu thu thập
- Chuẩn hóa kỹ thuật đo chiều cao, trọng lượng cơ thể, vòng eo và
phương pháp ghi chép
2.9 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Làm sạch số liệu trước khi nhập vào máy tính
- Các số liệu thu thập, làm sạch; được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1
Số liệu của nghiên cứu được xử lý theo các thuật toán thống kê y học trên
Trang 38máy vi tính bằng chương trình phần mềm SPSS 22.0 Tỷ suất chênh OR (Odd
- ratio), OR > 1 là có yếu tố nguy cơ
+ Tính tỷ lệ phần trăm
+ Nhận định sự khác biệt (có ý nghĩa thống kê) khi: P < 0,05
2.10 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu sẽ thực hiện khi được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y Dược Thái Nguyên thông qua
- Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu và có quyền rút khỏi nghiên cứu mà không cần giải thích
- Các thông tin về đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật
- Kết quả thông tin thu thập được chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu nhằm đưa ra khuyến cáo cho cộng đồng để kiểm soát các yếu tố nguy cơ
Trang 39SƠ ĐỒ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Phân loại đối tượng nghiên cứu theo giới
Nhận xét: Tỉ lệ nam giới trong nghiên cứu chiếm 75,9%, cao hơn tỉ lệ nữ
giới chiếm 24,1%
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới
Giới Nhóm tuổi
Nhận xét: Số đối tượng nghiên cứu trong độ tuổi từ 60-69 chiếm cao
nhất (46,5%); tiếp theo đó là nhóm tuổi từ 70-79 (32,7%), số đối tượng thuộc
nhóm tuổi từ 50 - 59 và nhóm ≥ 80 chiếm 10,4%
75.9
24.1
Nam Nữ