Bằng nghiên cứu “Tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của các công ty ngành dược phẩm trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010-2018” giúp giải thích
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC CÔNG TY DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC CÔNG TY DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PSG.TS TRẦN THỊ HẢI LÝ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của các công ty nhóm ngành dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2010-2018” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu phân tích và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, đáng tin cậy và được công bố rộng rãi trên các Website
Tác giả
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH v
TÓM TẮT vi
ABSTRACT vii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu: 1
1.2 Ý nghĩa của đề tài: 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.4 Câu hỏi nghiên cứu: 2
1.5 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu: 3
Phạm vi nghiên cứu: 3
Phương pháp nghiên cứu: 3
1.6 Đối tượng nghiên cứu: 3
1.7 Dữ liệu nghiên cứu: 3
1.8 Bố cục của bài nghiên cứu: 3
PHẦN KẾT CHƯƠNG 1 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 5
2.1 Tổng quan lý thuyết, các biện pháp quản trị vốn luân chuyển: 5
2.1.1 Tổng quan lý thuyết vốn luân chuyển: 5
2.1.2 Các giải pháp quản trị vốn luân chuyển: 8
2.1.3 Lý thuyết về khả năng sinh lời: 10
2.2 Các mô hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam có liên quan: 11
2.3 Vài nét về nguồn gốc và sự phát triển ngành dược: 24
2.4 Đặc thù ngành dược phẩm tại Việt Nam: 25
2.5 Vài chỉ tiêu tài chính của ngành Dược: 26
PHẦN KẾT CHƯƠNG 2 29
Trang 53.1 Dữ liệu và mô hình nghiên cứu: 30
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu: 30
3.1.2 Phương pháp xử lý dữ liệu: 30
3.1.3 Cơ sở lựa chọn mô hình: 30
3.1.4 Mô hình nghiên cứu: 31
3.2 Mô tả các biến và giả thuyết trong mô hình nghiên cứu: 32
3.2.1 Biến phụ thuộc: 32
3.2.2 Biến độc lập: 32
3.2.3 Biến kiểm soát: 35
3.2.4 Kỳ vọng về tác động của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời: 37
3.3 Các bước phân tích định lượng: 37
PHẦN KẾT CHƯƠNG 3 39
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1 Tổng quan ngành dược phẩm : 40
4.2 Kết quả nghiên cứu: 40
4.2.1 Thống kê mô tả: 40
4.2.2 Phân tích tương quan giữa các biến: 45
4.2.3 Kết quả phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu: 47
4.3 Kiểm định hồi quy: 53
4.3.1 Kiểm định phương sai thay đổi: 53
4.3.2 Kiểm định tự tương quan: 53
PHẦN KẾT CHƯƠNG 4 57
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận chung: 59
5.2 Đề xuất khuyến nghị: 59
5.2.1 Quản trị khoản phải thu: 60
5.2.2 Quản trị hàng hóa lưu kho: 61
5.2.3 Quản trị khoản phải trả 61
5.3 Hạn chế của đề tài: 62
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3 1: Kỳ vọng về tác động của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời 37
Bảng 4 1: Bảng thống kê mô tả các biến được sử dụng 41
Bảng 4 2: Ma trận tương quan giữa các biến nghiên cứu 45
Bảng 4 3 Kết quả phân tích hồi quy theo phương pháp Pooled OLS 48
Bảng 4 4 :Kết quả hồi quy các mô hình theo mô hình FEM 50
Bảng 4 5: So sánh mô hình Pooled OLS và mô hình FEM 52
Bảng 4 6: Kiểm định phương sai sai số thay đổi mô hình tác động cố định FEM 53
Bảng 4 7: Kiểm định tự tương quan 53
Bảng 4 8: Kết quả mô hình GLS khắc phục phương sai thay đổi và 54
Bảng 4 9: Bảng tổng hợp kết quả các biến độc lập và biến kiểm soát 57
DANH MỤC HÌNH Hình 2 1: Đường biểu diễn thời gian của dòng tiền và hoạt động kinh doanh 8
Hình 2 2 : Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí lưu giữ hàng, chi phí mua hàng, tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho 9
Hình 2 3: Tỷ suất lợi nhuận gộp của một số doanh nghiệp dược 27
Hình 2 4: Giá vốn hàng bán trên doanh thu một số doanh nghiệp dược phẩm 28
Hình 2 5: Vòng quay hàng tồn kho của một số doanh nghiệp dược 29
Hình 3 1: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm 36
Hình 4 1: Thống kê mô tả các biến độc lập 42
Hình 4 2: Thống kê mô tả các biến kiểm soát 44
Trang 8TÓM TẮT
Quản trị vốn luân chuyển chiếm vị trí hàng đầu trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời của công ty Các nhà quản trị tài chính luôn tìm kiếm những phương pháp phù hợp về cách sử dụng các thành phần vốn luân chuyển giúp tăng thêm khả năng sinh lời Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá tác động của các thành phần vốn luân chuyển đến các chỉ số khả năng sinh lời của các công ty dược phẩm ở Việt Nam Nghiên cứu đã sử dụng nguồn dữ liệu từ báo cáo tài chính của hai mươi công ty dược phẩm được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán ở Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018 Nghiên cứu được phân tích dựa trên các mô hình hồi quy đa biến theo các phương pháp Pooled OLS, FEM và GLS Các biến đưa vào nghiên cứu trong mô hình bao gồm: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động gộp (GOP) là biến phụ thuộc để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp Kỳ thu tiền bình quân (AR), kỳ luân chuyển hàng tồn kho (INV), kỳ trả tiền bình quân (AP) và chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) là biến độc lập đo lường quản trị hiệu quả vốn luân chuyển Ngoài ra, mô hình còn sử dụng các biến kiểm soát là tỷ số thanh toán hiện hành (CR), tỷ số nợ (DEBT), quy mô công ty (SIZE) và tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm Kết quả các thành phần của vốn luân chuyển bằng phương pháp hồi quy GLS tồn tại mối tương quan âm với khả năng sinh lời của doanh nghiệp Bài nghiên cứu này đóng góp thêm một bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời, để từ đó các nhà quản trị có thể đưa ra một số đề xuất để tăng cường hiệu quả quản trị vốn luân chuyển, giúp công ty thuộc nhóm ngành dược phẩm cải thiện khả năng sinh lời
Từ khóa: vốn luân chuyển, chu kỳ luân chuyển tiền mặt, lợi nhuận, chu kỳ
hàng tồn kho, chu kỳ khoản phải thu, chu kỳ khoản phải trả, ngành dược phẩm
Trang 9ABSTRACT
Management of working capital has an leading position in improving the efficiency and profitability of the company Financial managers are always looking for appropriate methods on how to use working capital components to increase profitability The purpose of the article is to assess the impact of working capital components on profitability of pharmaceutical companies in Vietnam The study used financial data of twenty pharmaceutical companies listed on the Vietnamese stock market over the period from 2010 to 2018 The article uses multivariate regression model according to: Pooled OLS, FEM and GLS The Gross operating profit (GOP)
is a dependent variable to measure the coporate profitability The number of days accounts receivable (AR), number of days inventories (INV), number of days accounts payable (AP) and cash conversion cycle (CCC) are independent variables
to measure governance efficiency working capital In addition, the model uses control variables as the current ratio (CR), debt ratio (DEBT), firm size (SIZE) and annual GDP growth rate The results of components of working capital by GLS regression are negative correlated with profitability This article is an empirical evidence on the impact of working capital management on profitability, so that managers can have solutions to improve management efficiency of working capital, helping pharmaceutical companies to increase profitability
Keywords: Working capital, cash conversion cycle, profitability, Inventories
turnover, accounts receivable, accounts payable, pharmaceutical
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu:
Hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều phải đối mặt với những thách thức trong quản lý, buộc các doanh nghiệp phải tìm cho mình những hướng đi mới Trong quá trình đối phó với những thách thức này, việc kiểm soát tài chính trong doanh nghiệp nói chung và quản trị vốn luân chuyển nói riêng là yếu tố quan trọng trong quyết định tài chính của doanh nghiệp
Quản trị vốn luân chuyển chiếm vị trí hàng đầu trong việc kiểm soát tài chính
và được nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau Quản trị vốn luân chuyển là kiểm soát tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn Chẳng hạn như một công ty tập trung chủ yếu nguồn vốn vào tài sản cố định mà không quan tâm đến nhu cầu vốn ngắn hạn thì có thể gặp phải tình trạng ngưng trệ trong sản xuất hoặc mất khả năng thanh toán trong ngắn hạn Do đó, việc cân bằng giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn là cực kỳ quan trọng nhằm duy trì tốt chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, tận dụng hết nguồn vốn sẵn có và giảm thiểu chi phí
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu chuyển có vai trò đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, nếu vốn luân chuyển không được cung cấp đầy đủ và kịp thời sẽ làm ngưng trệ trong kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro và khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Horne và Wachowicz, 2004)
Xuất phát từ mục tiêu tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, tiếp tục duy trì tính thanh khoản của công ty Do đó, cần có các biện pháp để quản trị vốn luân chuyển hiệu quả nhằm cân bằng hai mục tiêu này
Nhận thức được tầm quan trọng vấn đề nêu trên, qua quá trình tìm hiểu các công ty trên TTCK thì ngành dược phẩm là yếu tố hàng đầu đối với cuộc sống của chúng ta, nó ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người và là sản phẩm cần thiết đối với người dân nên thị trường này không có nhiều biến động luôn ổn định Mặc dù phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế, công nghệ và xã hội nhưng ngành dược phẩm luôn nhận được sự quan tâm của toàn xã hội và là ngành đang trong
Trang 11giai đoạn phát triển, cổ phiếu của những công ty thuộc nhóm ngành này luôn được xem là có khả năng phát triển và thu hút sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Bằng nghiên cứu “Tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của các công ty ngành dược phẩm trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010-2018” giúp giải thích rõ hơn vai trò của quản trị vốn luân chuyển, đồng thời thấy dược mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển với khả năng sinh lời của các công
ty thuộc nhóm ngành dược phẩm ở Việt Nam, giúp cho các doanh nghiệp có góc nhìn toàn diện hơn về quản trị vốn luân chuyển và đề ra các chính sách quản lý hiệu quả cho đầu tư và tài trợ vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp mình
1.2 Ý nghĩa của đề tài:
Thứ nhất, vốn luân chuyển đã tác động như thế nào đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, để các nhà quản trị xem xét, cân nhắc kỹ hơn khi đưa ra các phương
án về kiểm soát dòng tiền, giúp công ty sử dụng hiệu quả nhất các nguồn vốn ngắn hạn, nâng cao khả năng sinh lời
Thứ hai, kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thêm thông tin cho các nhà đầu
tư để đưa các quyết định có nên đầu tư vào cổ phiếu của các công ty thuộc nhóm ngành dược phẩm hay không
1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công ty ngành dược phẩm được niêm yết trên hai sàn HNX và HOSE
- Phân tích, kiểm chứng mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công ty ngành dược phẩm được niêm yết sàn HOSE và HNX
- Từ kết quả đó, đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời cho các công ty ngành dược phẩm
1.4 Câu hỏi nghiên cứu:
Căn cứ mục tiêu nghiên cứu, người viết đặt ra một số câu hỏi sau:
Thứ nhất, nghiên cứu các thành phần của vốn luân chuyển đã tác động đến khả năng sinh lời của các công ty nhóm ngành dược phẩm niêm yết trên TTCK như thế nào?
Trang 12Thứ hai, đưa ra một số khuyến nghị để nâng cao khả năng quản trị vốn luân chuyển nhằm gia tăng khả năng sinh lời của các công ty dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu vốn luân chuyển tác động đến khả năng sinh lời của các công ty thuộc nhóm ngành dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam
Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu 20 công ty thuộc nhóm ngành dược phẩm trong khoảng thời gian chín năm từ năm 2010 đến năm 2018
Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, công cụ sử dụng phân tích là phần mềm phân tích thống kê Stata 12.0 với phương pháp phân tích hồi quy
dữ liệu bảng bằng mô hình bình phương bé nhất (Pooled Ordinary Least Square – Pooled OLS), mô hình tác động cố định (Fixed effecttive model-FEM) và mô hình bình phương bé nhất tổng quát (Generalized Least Square – GLS)
1.6 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu quản trị vốn luân chuyển tác động đến khả năng sinh lời của các công ty cổ phần dược phẩm được niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX
1.7 Dữ liệu nghiên cứu:
Dữ liệu nghiên cứu dựa trên báo cáo tài chính của 20 công ty1 thuộc nhóm ngành dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2018
1.8 Bố cục của bài nghiên cứu:
- Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Trang 13- Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các mô hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam có liên quan
- Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
PHẦN KẾT CHƯƠNG 1
Thông qua chương 1: Giới thiệu nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu về “Tác động của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời” của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam Qua đó, thấy được ý nghĩa của đề tài và làm nền tảng cho các chương tiếp theo
Trang 14CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC MÔ
HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Tổng quan lý thuyết, các biện pháp quản trị vốn luân chuyển:
2.1.1 Tổng quan lý thuyết vốn luân chuyển:
Vốn luân chuyển được sử dụng để đo lường khả năng thanh khoản, là toàn bộ giá trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, là những tài sản tham gia vào chu kỳ kinh doanh của công ty Vốn luân chuyển với tên gọi khác là vốn luân chuyển ròng
Vốn luân chuyển ròng = tài sản ngắn hạn – nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn là các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Tài sản ngắn hạn là tài sản có thể tạo ra tiền mặt trong khoảng thời gian một năm, bao gồm các khoản: vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ còn phải trả có thời hạn thanh toán trong vòng một năm (Baveld, 2012), bao gồm các khoản: nợ phải trả cho nhà cung cấp, vay ngắn hạn, ký quỹ, thuế và khoản phải trả cho người lao động
Quản trị vốn luân chuyển rất quan trọng đối với một công ty, đặc biệt là các công ty trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và phân phối Đối với các công ty này, vốn luân chuyển có giá trị chiếm hơn một nửa tổng giá trị tài sản của họ (Raheman
& Nasr, 2007) Quản trị vốn luân chuyển là quản trị dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp, đảm bảo công ty có đủ dòng tiền để quá trình hoạt động kinh doanh được diễn ra liên tục trên cơ sở giảm thiểu rủi ro và có khả năng thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn Do đó, khả năng của quản trị vốn luân chuyển tùy thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Filbeck, Krueger & Preece, 2007; Faulkender & Wang, 2006)
Để duy trì các hoạt động kinh doanh của mình, công ty cần phải có nguồn vốn
để tài trợ cho hoạt động đầu tư của mình Khoản đầu tư thường tập trung vào lượng hàng hóa lưu kho (kể cả nguyên liệu thô dùng cho quá trình sản xuất hoặc các sản phầm hàng hóa dùng để bán), các khoản thu của khách hàng và khoản tiền mặt tối thiểu để doanh nghiệp tiếp tục hoạt động một cách bình thường, đó chính là tài sản ngắn hạn và có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt Các khoản đầu tư này được tài
Trang 15trợ từ các khoản nợ ngắn hạn và khoản tín dụng nhận được từ nhà cung cấp (A.Preve
& Sarria-Allende, 2010)
Đối với những công ty có tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn tức là vốn luân chuyển dương Điều này nghĩa là công ty sẵn có một lượng tiền mặt nhiều hơn lượng tiền mặt mà công ty cần để chi trả trong vòng 12 tháng Tuy nhiên, việc thặng dư vốn luân chuyển sẽ không đem lại kết quả cao vì tài sản ngắn hạn có khả năng sinh lời thấp
Đối với những công ty có tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn, lúc này vốn luân chuyển bị âm tức là công ty gặp trở ngại về khả năng thanh toán, không có đủ vốn để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn buộc công ty phải vay nợ hay bán tài sản để trang trải các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán (A.Preve & Sarria-Allende, 2010)
2.1.1.1 Kỳ thu tiền khoản phải thu (hay còn gọi là kỳ thu tiền bình quân):
Kỳ thu tiền khoản phải thu được tính từ khi sản phẩm hàng hóa của công ty được bán cho đến khi thu được tiền của khách hàng Khi công ty áp dụng biện pháp thắt chặt tín dụng bằng cách thu hẹp kỳ thu tiền bình quân sẽ giúp công ty hạn chế rủi
ro, thu được tiền nhanh chóng, cải thiện được tính thanh khoản Nhưng nếu công ty thực hiện nới lỏng chính sách tín dụng tức kéo dài kỳ thu tiền thì sẽ làm cho doanh thu và khả năng sinh lời của công ty tăng, thu hút thêm lượng đông đảo khách hàng,
có thêm nhiều đơn hàng mới, giúp công ty tiếp tục giữ mối quan hệ lâu dài với khách hàng Bên cạnh đó, có khả năng xảy ra trường hợp không thu hồi được nợ, các khoản
nợ xấu tăng lên, công ty gặp phải khó khăn về dòng tiền và tính thanh khoản làm tăng rủi ro trong kinh doanh Theo Wort và Zumwalt (1985) cho rằng các chương trình chiết khấu khi bán hàng sẽ khuyến khích khách hàng thanh toán sớm cho dù công ty sẵn sàng chấp nhận doanh thu thấp nhưng công ty sẽ thu được tiền mặt nhanh hơn, cải thiện tình hình thanh toán và giảm khả năng không thu được nợ từ khách hàng khi đến hạn thanh toán Theo lý thuyết quản trị dòng tiền, kỳ thu tiền của khách hàng càng ngắn, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty sẽ tốt hơn (Churchill and Mullins, 2001; Farris and Hutchison, 2002, 2003; Stewart, 1995)
Trang 162.1.1.2 Kỳ luân chuyển hàng tồn kho:
Là thời gian trung bình cần thiết để đưa nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm cuối cùng và bán cho người tiêu dùng (A.Preve & Sarria-Allende, 2010) Hàng tồn kho là tài sản mà công ty dự trữ để cung cấp kịp thời cho khách hàng Tuy nhiên, khi lượng hàng hóa tồn kho vẫn giữ ở mức cao sẽ giúp doanh nghiệp tránh được ngưng trệ trong quá trình sản xuất, tránh những khoản lỗ trong kinh doanh do thiếu hụt hàng hóa, chi phí vận chuyển giảm, giảm rủi ro và tránh được sự biến động về giá nhưng sẽ phát sinh các chi phí như chi phí bảo quản, chi phí lưu kho Nếu hàng tồn kho giữ ở mức thấp sẽ giúp công ty giảm bớt chi phí quản
lý, giải phóng được lượng tiền mặt để có thể tái đầu tư nhằm gia tăng doanh thu Mặc
dù giảm lượng hàng tồn kho có thể có lợi và cũng có hại, nhưng các tác giả nghiên cứu trước cho rằng khi công ty lưu giữ ít hàng tồn kho thì sẽ cải thiện được tính thanh khoản cũng như khả năng sinh lời của công ty (Capkun et al, 2009); (Chen et al, 2005); (Koumanakos, 2008); (Swamidass, 2007) Ngày nay, có nhiều biện pháp để kiểm soát hàng tồn kho hiệu quả, tính toán mức tồn kho hợp lý đáp ứng được nhu cầu của khách hàng (Milgrom and Roberts, 1988)
2.1.1.3 Kỳ thanh toán khoản phải trả (hay gọi là kỳ trả tiền bình quân):
Kỳ thanh toán khoản phải trả là thời gian tính từ khi công ty mua hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh cho cho đến khi công ty thanh toán cho người bán Kỳ trả tiền cho người bán càng dài, thời gian nắm giữ tiền mặt lâu hơn sẽ cải thiện được tính thanh khoản (Stewart, 1995) Ngoài ra, nếu chu kỳ thanh toán dài, nhà cung cấp sẽ bị thiếu tiền và ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa (Raghavan and Mishra, 2011) Tuy nhiên, khi công ty được mở rộng chu kỳ thanh toán, công ty sẽ không nhận được khoản chiết khấu thanh toán sớm vả sẽ ảnh hưởng đến vị thế và uy tín của công ty (Fawcett et al., 2010) Theo Deloof (2003), Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2007) cho rằng kỳ phải trả người bán càng ngắn thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cao hơn
2.1.1.4 Chu kỳ luân chuyển tiền mặt:
Một chỉ tiêu dùng để đo lường khả năng quản trị vốn luân chuyển là chu kỳ
Trang 17đưa ra Chu kỳ luân chuyển tiền mặt gồm kỳ thu tiền khoản phải thu, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thanh toán khoản phải trả
Các nhà quản lý sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền mặt để đánh giá khả năng quản trị vốn luân chuyển trong chu kỳ hoạt động kinh doanh của công ty Chu kỳ luân chuyển tiền mặt bắt đầu khi công ty mua nguyên liệu, vật liệu dùng để sản xuất, bán sản phẩm và đến khi thu tiền của khách hàng (Sathyamoorthi và Walley-Dima, 2008)
(Nguồn: Tài chính doanh nghiệp, Vũ Việt Quảng, 2017, Trang 884)
2.1.2 Các giải pháp quản trị vốn luân chuyển:
2.1.2.1 Quản trị hàng tồn kho:
Công việc kiểm soát hàng tồn kho thực sự là công việc quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bởi lẽ giá trị tồn kho chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng giá trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Mục đích kiểm soát hàng tồn kho là kiểm soát và đầu tư vào hàng tồn kho có hiệu quả Các nhà quản lý cần lập kế hoạch rõ ràng, cụ thể nhu cầu của từng loại hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu tồn kho phù hợp với từng nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình Bởi vì khoản dự trữ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được liên tục, nhằm phòng ngừa rủi ro khi có biến cố bất thường xảy ra
Chu kỳ luân
chuyển tiền mặt
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho
Kỳ thu tiền khoản phải thu
Kỳ thanh toán khoản phải trả
Chu kỳ luân chuyển tiền mặt
Thời gian
Mua hàng lưu kho
(NVL, hàng hóa) Bán hàng lưu
kho Thời gian lưu
kho
Kỳ thu tiền khoản phải thu
Kỳ thanh toán khoản phải trả
Chu kỳ hoạt động kinh doanh Trả tiền mua hàng Thu tiền bán hàng
Hình 2 1: Đường biểu diễn thời gian của dòng tiền và hoạt động kinh doanh
ngắn hạn của doanh nghiệp
Trang 18Một trong những mô hình kiểm soát hàng tồn kho mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp chính là mô hình EOQ (Economic Order Quantity)
Mô hình EOQ được thể hiện ở hình 2.2 trong đó:
C: chi phí tồn trữ Q: số lượng hàng hóa tồn kho S: số lượng hàng hóa phân phối, tiêu thụ O: chi phí cho mỗi lần mua hàng
(Nguồn: Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Trần Ngọc Thơ, 2005, Trang 749)
𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑚𝑢𝑎 ℎà𝑛𝑔 = 𝑆
𝑄 x O 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ư𝑢 𝑘ℎ𝑜 = 𝑄
2 x C 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑖 𝑝ℎí = 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑚𝑢𝑎 ℎà𝑛𝑔 + 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ư𝑢 𝑘ℎ𝑜
= 𝑆
𝑄 x O + 𝑄
2 x C Gọi Q* là lượng hàng tối ưu, tại mức sản lượng tối ưu Q* để tổng chi phí là thấp nhất ta có:
Chi phí mua hàng = Chi phí lưu kho
Hình 2 2 : Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí lưu giữ hàng,
chi phí mua hàng, tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho
Qui mô mua hàng Chi phí
Q* (mức hàng hóa tối ưu)
Trang 19Do đó, doanh nghiệp cần phải tính toán lượng hàng tồn kho tối ưu Q* để tại
đó công ty có thể giảm chi phí lưu kho ở mức tối thiểu
2.1.2.2 Quản trị khoản phải thu hay quản trị tín dụng:
Khi công ty bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ, công ty có thể yêu cầu khách hàng thanh toán trước hoặc cho phép khách hàng thanh toán chậm được gọi là cấp chính sách bán hàng tín dụng cho khách hàng
Việc cấp chính sách bán hàng tín dụng cho khách hàng của mình cũng là một cách nhằm tăng thêm doanh thu bán hàng nhưng công ty cũng phải gánh chịu các chi phí phát sinh khi công ty thực hiện mở rộng các chính sách tín dụng cho khách hàng
Trước khi quyết định cấp chính sách bán hàng tín dụng cho khách hàng của mình Công ty cần thiết lập các điều khoản cấp tín dụng, chính sách thu hồi nợ thông qua:
- Thực hiện đánh giá tình hình thanh toán của khách hàng: cần phải phân biệt những khách hàng tiềm năng, có uy tín trong thanh toán, khách hàng chậm thanh toán
và những khách hàng không có khả năng trả nợ để từ đó có thể đưa ra các chính sách tín dụng hợp lý
- Thỏa thuận bán hàng: các thỏa thuận này được thiết lập thông qua các hợp đồng kinh tế trong đó nêu rõ về kỳ hạn thanh toán, lãi suất chiết khấu, kỳ hạn chiết khấu …
- Hoạch định chính sách thu hồi nợ: Mỗi khi công ty đã cấp tín dụng cho khách hàng, công ty phải thiết lập chính sách thu hồi nợ đối với các khoản phải thu phát sinh
2.1.3 Lý thuyết về khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời hay tỷ suất sinh lời (Profitability) phản ảnh mối quan hệ giữa lợi nhuận và qui mô của doanh nghiệp Khả năng sinh lời cho chúng ta biết hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định để các nhà quản lý và nhà đầu tư ra quyết định một cách tốt nhất
Một số chỉ số về khả năng sinh lời của doanh nghiệp:
Trang 20 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA = Return on Assets): là tỷ số giữa lợi nhuận đạt được so với tổng tài sản trong kỳ Tỷ suất sinh lời trên tài sản được xác định như sau:
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lời so với tài sản, tức là một đồng tài sản bỏ ra thì khả năng thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ số này càng cao tức là tài sản của doanh nghiệp sử dụng càng hiệu quả
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE = Return on Equity): là tỷ số giữa lợi nhuận đạt được và vốn chủ sở hữu trong kỳ Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
có công thức là:
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ảnh mức sinh lời của vốn kinh doanh, tức là cứ một đồng vốn kinh doanh bỏ ra trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng cao thì cho thấy mức độ hiệu quả về việc sử dụng vốn của doanh nghiệp là tốt
Theo Ukaegbu (2014), chỉ số đại diện cho khả năng sinh lời là tỷ suất sinh lời hoạt động gộp (GOP = Gross Operating Profit) được xác định bằng chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn hàng bán, chia cho tổng tài sản không bao gồm tài sản tài chính
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lời so với tổng tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không bao gồm tài sản tài chính Chỉ số này cũng
đo lường hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
2.2 Các mô hình nghiên cứu trước trên thế giới và Việt Nam có liên quan:
Tác động của vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp đã thu hút sự quan tâm của các tác giả trong và ngoài nước Các tác giả xem xét mối tương
ROA =
Lợi nhuận ròngTổng tài sản
Trang 21quan giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của doanh nghiệp tức là nghiên cứu mối tương quan giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và khả năng sinh lời
Đa số các nghiên cứu cho thấy nếu rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt thì sẽ tăng khả năng sinh lời tức hai biến này có mối tương quan âm với nhau
2.2.1 Kỳ thu tiền khoản phải thu tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp:
Kỳ thu tiền khoản phải thu là thời gian trung bình từ khi bán hàng cho đến khi thu được tiền của khách hàng hoặc thời gian trung bình doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng vốn
Doanh nghiệp càng rút ngắn kỳ thu tiền thì càng thắt chặt các chính sách tín dụng, sẽ đảm bảo doanh nghiệp thu được tiền thu được tiền về nhanh chóng, gia tăng các hoạt động đầu tư sinh lời
Ngược lại, nếu kéo dài kỳ thu tiền thì có khả năng thu hút được thêm nhiều khách hàng và sẽ có nhiều đơn hàng mới nhưng bên cạnh đó có khả năng phát sinh thêm nhiều khoản nợ phải thu của khách hàng có khả năng không thu hồi được nợ,
nợ xấu phát sinh Doanh nghiệp sẽ phải chịu các chi phí liên quan đến việc duy trì khoản phải thu như chi phí do khối lượng công việc gia tăng, chi phí tìm thêm nguồn tài trợ, chi phí cho các khoản nợ xấu
Theo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, kỳ thu tiền có mối tương quan ngược chiều với khả năng sinh lời của doanh nghiệp Điều này có nghĩa rằng các nhà quản lý có thể cải thiện khả năng sinh lời bằng việc giảm thời gian khoản phải thu khách hàng Kết quả này được thể hiện ở những nghiên cứu về quản trị vốn luân chuyển tác động đến khả năng sinh lợi của công ty của các tác giả sau:
Ukaegbu (2014) đã xem xét ảnh hưởng của vốn luân chuyển với khả năng sinh lời của những công ty ở các quốc gia có trình độ công nghiệp khác nhau, thì có nhu cầu vốn luân chuyển khác nhau Tác giả dùng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm 102 công ty trong đó mỗi nước tác giả chọn ra 20 công ty đó là: Ai Cập, Nigeria, Kenya
và 42 công ty ở Nam Phi vào khoảng thời gian năm 2005 đến năm 2009 Biến đại diện cho khả năng sinh lời là tỷ suất sinh lời hoạt động gộp (GOP) Các biến độc lập gồm kỳ thu tiền (AR), kỳ phải trả (AP), kỳ luân chuyển hàng tồn kho (INV), chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) Các biến kiểm soát: qui mô công ty (SIZE) được đo lường
Trang 22bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản, qui mô hội đồng quản trị (CR) được đo lường
số lượng giám đốc
Nghiên cứu đã đưa ra kết quả là hệ số của khoản phải thu là âm ở cả bốn quốc
Nigeria và Nam Phi, các công ty ở Ai Cập thì không có ý nghĩa Điều này cũng là kết
thì khả năng sinh lời của công ty càng giảm và công ty muốn gia tăng khả năng sinh lời thì phải có chính sách tăng cường thu hồi nợ Do đó, việc kiểm soát các khoản phải thu là rất quan trọng, nếu công ty hạn chế chính sách bán hàng tín dụng thì dòng tiền giảm dẫn đến khả năng thanh khoản kém Do đó, công ty cần phải có chính sách bán hàng tín dụng phù hợp để đảm bảo khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời
Như được trích dẫn trong nghiên cứu của Ukaegbu (2014):
Theo Deloof (2003) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển
và khả năng sinh lời của mẫu gồm 1009 công ty phi tài chính ở Bỉ từ năm 1992 đến năm 1996 với biến phụ thuộc là tổng thu nhập hoạt động (GOI) để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp Các biến độc lập: chu kỳ luân chuyển tiền mặt, kỳ các khoản phải thu, kỳ khoản phải trả, kỳ hàng tồn kho được dùng làm thước đo quản trị vốn luân chuyển
Bằng phương pháp phân tích hồi quy và phân tích tương quan Tác giả cho thấy có tồn tại một mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ suất sinh lời hoạt động gộp và kỳ khoản phải thu, kỳ hàng tồn kho và kỳ khoản phải trả
Deloof đưa ra kết luận rằng việc giảm kỳ các khoản phải thu xuống đến mức hợp lý thì cũng có thể giúp cải thiện giá trị của cổ đông
Theo Haq và cộng sự (2011) cho rằng quản trị vốn luân chuyển ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng sinh lời của công ty Mục tiêu quản trị vốn luân chuyển là quản
lý tài sản ngắn hạn sao cho công ty có thể trang trải được các chi phí cho hoạt động kinh doanh và có thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn Nếu quản lý không tốt vốn luân chuyển sẽ dẫn đến giảm khả năng thanh khoản và giảm khả năng sinh lời
Nghiên cứu Smith và Begermann (1997) ở các công ty thuộc lĩnh vực công
Trang 23mạnh rằng quản trị vốn luân chuyển đạt hiệu quả là tạo ra sự cân bằng giữa khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản Khi công ty muốn tối đa hóa lợi nhuận thì có thể
đe dọa nghiêm trọng đến tính thanh khoản và việc theo đuổi tính thanh khoản có xu hướng làm giảm khả năng sinh lời
Kết quả nghiên cứu của Gill và cộng sự (2010) về mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lời trên mẫu gồm 88 công ty ở Hoa Kỳ từ năm 2005 đến
2007 Khả năng sinh lời được đo lường bằng tổng lợi nhuận hoạt động Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất và cho rằng mối tương quan âm giữa
kỳ thu tiền khoản phải thu với khả năng sinh lời nhưng lại tồn tại mối tương quan dương giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Theo Mona (2012) đã nghiên cứu tác động của chính sách vốn luân chuyển năng động và bảo thủ lên giá trị của công ty cho mẫu gồm 57 công ty Jordan giai đoạn 2001-2009 Chính sách vốn luân chuyển bảo thủ được đo lường bằng tỷ lệ tài sản ngắn hạn so với tổng tài sản, tỷ lệ này đã tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời và giá trị của công ty Chính sách vốn luân chuyển năng động được đo lường bằng khoản đầu tư dài hạn có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời và giá trị công
ty
Cũng được trích dẫn trong nghiên cứu của Pais và Gamma (2015):
Silva (2011) và Gomes (2013) tìm thấy tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa mức vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của doanh nghiệp, các công ty có mức vốn luân chuyển tối ưu thì sẽ tối đa hóa giá trị doanh nghiệp của họ
Trích dẫn tại nghiên cứu của Raheman và cộng sự (2010):
Shah và Sana (2006) sử dụng mẫu rất nhỏ của bảy công ty ngành dầu khí để điều tra mối quan hệ này trong giai đoạn 2001-2005 Họ cũng cho ta kết luận rằng bằng biện pháp quản lý hiệu quả vốn luân chuyển thì các nhà quản trị có thể tạo ra lợi nhuận thêm cho các cổ đông
Hai nhà nghiên cứu Dong và Su (2010) dựa trên dữ liệu được thu thập từ 130
công ty với 390 quan sát niêm yết trên TTCK Việt Nam năm 2006-2008 Hai nhà nghiên cứu đã dùng biến chu kỳ luân chuyển tiền mặt là thước đo chủ đạo trong các biện pháp quản lý vốn luân chuyển, xem xét mối liên hệ giữa khả năng sinh lời và
Trang 24chu kỳ luân chuyển tiền mặt và các thành phần của vốn luân chuyển cho các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
Tác giả dùng biến lợi nhuận gộp (GROSSPR) là biến phụ thuộc để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp, kỳ thu tiền khoản phải thu (AR), kỳ thanh toán khoản phải trả (AP), kỳ tồn kho (INV), chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) là các biến độc lập Biến kiểm soát gồm: Qui mô công ty được tính bằng logarit tự nhiên của doanh số (LOS), tỷ lệ nợ (DR), tài sản tài chính cố định (FATA) Bốn mô hình được nghiên cứu:
GROSSPRit = 𝛽0 + 𝛽1ARit + 𝛽2DRit + 𝛽3LOSit + 𝛽4FATAit + ε Bằng phương pháp phân tích hồi quy cho thấy hệ số khoản phải thu là âm có nghĩa khi khoản phải thu tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh lời của công ty Biến DR là biến kiểm soát đại diện cho đòn bẩy tài chính, từ phân tích hồi quy cho thấy các biến DR, LOS, FATA có mối quan hệ dương với khả năng sinh lời
Nhìn chung, các yếu tố của vốn luân chuyển có tương quan âm với khả năng sinh lời Tuy nhiên, khuyết điểm của nghiên cứu này là thời gian nghiên cứu ngắn,
do đó mẫu không có ý nghĩa, không là mẫu chung cho các doanh nghiệp Nghiên cứu chỉ đề cập đến các yếu tố nội bộ chứ chưa xem xét đến ảnh hưởng các yếu tố từ bên ngoài chẳng hạn như mức độ hoạt động của nền kinh tế
Nghiên cứu tác động giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời được ThS Từ Thị Kim Thoa và TS Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) của 208 công ty được niêm yết trên HOSE và HNX trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2012 bằng các phương pháp khác nhau Mô hình được hai tác giả nghiên cứu:
GOP = β0 + β1RPit + β2SIZEit + β3LEVit +β4FARit + β5CRit + ε
Bằng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như phân tích tương quan, phân tích hồi quy và thống kê mô tả, hai tác giả chứng minh rằng chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC), kỳ thu tiền (RP), kỳ lưu kho (IP) và kỳ phải trả (PP) đều có quan hệ ngược chiều đến khả năng sinh lời và có ý nghĩa về mặt thống kê Nghĩa là công ty có thể
Trang 25khuếch đại khả năng sinh lời bằng cách hạn chế kỳ thu tiền, kỳ lưu kho và kỳ phải trả
Nghiên cứu này được thực hiện trong phạm vi thời gian ngắn và tác giả cũng chưa nghiên cứu mối quan hệ vốn luân chuyển với giá trị thị trường cũng như khả năng thanh khoản của các công ty này
Nghiên cứu của (Baveld, 2012) nhấn mạnh mối liên hệ cùng chiều của khoản phải thu và tỷ suất sinh lời gộp (GOP) Do đó, những công ty hoạt động với quy mô lớn sẽ gia tăng khả năng sinh lời thông qua việc kéo giãn khoản phải thu và khuếch đại chính sách bán chịu
Khác với các nghiên cứu trên về kỳ thu tiền khoản phải thu thì nghiên cứu của nhóm tác giả Islam và cộng sự (2018) về ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời thuộc lĩnh vực dược phẩm ở Bangladesh Dữ liệu nghiên cứu của chín công ty dược phẩm được niêm yết trên sàn chứng khoán (DSE) ở Bangladesh giai đoạn 2011-2015
Doanh thu thuầnCác khoản phải trả
Giá vốn hàng bán
Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) = AR + IV - AP
Trang 26Qui mô công ty được tính bằng logarit của doanh thu
Hai phương pháp mà tác giả đo lường mối liên quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trong nghiên cứu này là dùng phân tích ma trận tương quan Pearson
và phân tích hồi quy Kết luận về những thành phần vốn luân chuyển của ngành dược phẩm tại Bangladesh là: Thời gian phải thu, thời gian tồn kho, chu kỳ luân chuyển tiền mặt có mối tương quan dương với khả năng sinh lời nhưng thời gian tồn kho thì tác động không đáng kể Thời gian phải trả có tương quan âm nhưng không đáng kể đến khả năng sinh lời Ngoài ra, các biến kiểm soát: tỷ số thanh toán hiện thời (CR),
tỷ lệ nợ (DR) có liên quan âm, biến quy mô thì tương quan dương với khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là chỉ nghiên cứu những công ty thuộc nhóm ngành dược phẩm trong khoảng thời gian ngắn, dữ liệu không có sẵn Để có được kết quả chính xác hơn có thể thu thập dữ liệu theo quý và là hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai
2.2.2 Tác động của kỳ phải trả đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp:
Kỳ phải trả là thời gian trung bình từ khi mua hàng hóa cho tới khi trả hết tiền cho người bán, hoặc thời gian trung bình công ty chiếm dụng vốn của người bán Khi kéo dài thời gian trả cho người bán, doanh nghiệp sẽ tận dụng được nguồn vốn tạm thời để đầu tư nhằm tăng lợi nhuận Tuy nhiên, nếu kéo dài thời gian thanh toán quá lâu có thể làm mất uy tín của doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng sinh lời
Cũng được trích dẫn trong nghiên cứu của Pais và Gamma (2015):
Falope và Ajilore (2009) cũng có kết quả nghiên cứu khá tương đồng với kết quả của những nghiên cứu trước Mục đích của hai tác giả này là hướng tới xác định ảnh hưởng của vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời thông qua phân tích dữ liệu
Tài sản ngắn hạn
Tỷ số thanh toán hiện hành (CR) =
Nợ ngắn hạnTổng nợ
Hệ số nợ (DR) =
Tổng tài sản
Trang 27bảng gồm 50 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigerian trong thời gian chín năm từ 1996-2005 Hai tác giả tìm thấy mối tương quan âm giữa khả năng sinh lời kỳ phải trả trung bình Hai tác giả cũng phát hiện rằng không có gì khác biệt đáng kể giữa các doanh nghiệp nhỏ và lớn nên cả hai loại công ty này có thể gia tăng khả năng sinh lời chỉ bằng cách giảm chu kỳ luân chuyển tiền mặt
Trích dẫn tại nghiên cứu của Raheman và cộng sự (2010):
Raheman và cộng sự (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn luân chuyển
và khả năng sinh lời của 204 công ty được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Karachi từ năm 1998-2007 thuộc lĩnh vực sản xuất ở Pakistan Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tương quan với: Biến phụ thuộc là lợi nhuận hoạt động ròng (NOP) là thước đo khả năng sinh lời của công ty Các biến độc lập của nghiên cứu để quản trị vốn luân chuyển gồm: Kỳ thu tiền trung bình (ACP), vòng quay hàng tồn kho (ITID), kỳ thanh toán trung bình (APP), chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC), Chu
kỳ giao dịch ròng (NTC) Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu:
NOP it = β0 + β1WCMit + β2GWCTRit + β3CATARit + β4CLTARit +
và Bluementhal, 1994)
Nghiên cứu này chỉ nghiên cứu các công ty trong lĩnh vực sản xuất, chưa so sánh các chỉ số nghiên cứu với chỉ số của ngành Ngoài ra, ông đề xuất thêm biện
Trang 28pháp để nâng cao hiệu quả quản lý vốn luân chuyển là nên thuê công ty tư vấn hỗ trợ riêng cho lĩnh vực tài chính.
Trích dẫn tại nghiên cứu của Raheman và cộng sự (2010):
Nghiên cứu ảnh hưởng của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của Lazaridis
và Tryfonidis (2006) ở Ai Cập với 131 công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Athens từ năm 2001-2004
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp được đo lường thông qua biến tỷ suất sinh lời hoạt động gộp (GOP) Các yếu tố của vốn luân chuyển là kỳ phải thu (AR), kỳ tồn kho (INV), kỳ phải trả (AP), chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC)
Dựa trên kết quả phân tích hồi quy và phân tích tương quan, ông kết luận là có mối tương quan âm và có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lời và các thành phần của vốn luân chuyển được đo lường bằng CCC, AR, AP và INV
Tác giả khuyên các nhà quản trị để tăng khả năng sinh lời cho công ty bằng biện pháp thu hẹp chu kỳ luân chuyển tiền mặt và các yếu tố của vốn luân chuyển đạt hiệu quả tối ưu nhất
Tác giả Võ Xuân Vinh (2013) thực hiện nghiên cứu dữ liệu 80 doanh nghiệp
được thu thập từ các báo cáo tài chính hợp nhất được kiểm toán hằng năm của các công ty lĩnh vực ngành công nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong khoảng thời gian
từ năm 2007 đến năm 2011 với 400 quan sát bằng phương pháp thống kê mô tả Tác giả sử dụng ROA để đo lường khả năng sinh lời và đã đưa ra mô hình nghiên cứu:
ROAit= β0 + β1WCMit + β2CRit + β3DRit +β4LOSit + εitTrong đó: WCM là đại diện cho quản trị vốn luân, bao gồm: thời gian thu tiền (AR), thời gian tồn kho (INV), thời gian trả tiền (AP), chu kỳ luân chuyển tiền (CCC)
CR: tỷ lệ thanh khoản, DR: tỷ lệ nợ, LOS: quy mô doanh nghiệp
Kết quả cho thấy:
Kỳ thu tiền bình quân (AR), kỳ luân chuyển hàng tồn kho (INV) và chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) có tương quan âm với khả năng sinh lời Mối liên quan
Trang 29này chỉ ra rằng kỳ thu tiền, thời gian lưu kho và chu kỳ luân chuyển tiền mặt được rút ngắn thì tạo ra khả năng sinh lời nhiều hơn
Tác giả chú ý đến thời gian trả tiền không có tác động rõ rệt đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp và các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu chưa quan tâm đến việc quản trị các khoản phải trả để tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp
Các biến còn lại: tỷ lệ thanh khoản (CR), tỷ lệ nợ (DR), qui mô doanh nghiệp (LOS) Trong đó, tỷ lệ nợ (DR) có mối tương quan âm với khả năng sinh lời với mức
ý nghĩa 1% nhưng qui mô doanh nghiệp (LOS), tỷ lệ thanh khoản (CR) có mức ý nghĩa 5% thì có mối tương quan dương với ROA
2.2.3 Tác động của kỳ luân chuyển hàng tồn kho đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp:
Chỉ tiêu này là khoảng thời gian trung bình cần thiết để chuyển nguyên vật liệu thô sang thành phẩm và bán thành phẩm Việc rút ngắn kỳ luân chuyển hàng tồn kho sẽ đẩy nhanh quá trình kinh doanh làm tăng doanh thu và giảm các chi phí liên quan đến việc nắm giữ hàng tồn kho, từ đó làm tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Như được trích dẫn trong nghiên cứu của Ukaegbu (2014):
Mosa và cộng sự (2012) nghiên cứu mối tương quan giữa vốn luân chuyển
và khả năng sinh lời của 33 công ty thực phẩm ở Tehran (thủ đô của Iran) trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2011 bằng cách sử dụng các biến số vốn luân chuyển khác nhau như chu kỳ thu nợ, thời gian thanh toán nợ, doanh thu hàng tồn kho và chu kỳ luân chuyển tiền mặt cộng thêm biến thanh toán nợ trung hạn Họ thấy rằng việc tăng các biến số vốn luân chuyển làm giảm khả năng sinh lời Nhóm tác giả này đề xuất với các nhà quản lý rằng phải giảm vòng quay hàng tồn kho xuống mức tối thiểu để nâng cao khả năng sinh lời cho công ty
Pais và Gamma (2015) nghiên cứu tác động của quản lý vốn luân chuyển với
khả năng sinh lời của các công ty ở Bồ Đào Nha, mẫu gồm 6.063 doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong khoảng thời gian từ 2002-2009 Biến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là thước đo khả năng sinh lời Các biến độc lập bao gồm: kỳ thu tiền (AR), kỳ
Trang 30phải trả (AP), kỳ luân chuyển hàng tồn kho (INV), chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) Các biến kiểm soát: quy mô công ty (SIZE), tốc độ tăng trưởng doanh thu (SGWAY), đòn bẩy tài chính (DEBT), tỷ lệ tài sản ngắn hạn (CAR), tỷ lệ nợ ngắn hạn (CLR) Công thức tính kỳ luân chuyển hàng tồn kho (INV) như sau:
Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến INV có mối quan hệ nghịch biến với khả năng sinh lời
Các biến kiểm soát SIZE, SGWAY, GDPGR và CLR đều có ý nghĩa thống kế
và có tương quan dương với ROA nhưng biến DEBT thì tương quan âm với ROA
Một cách tổng quát, những kết quả trên cho thấy một thực tế rằng các chính sách quản trị vốn luân chuyển hiệu quả sẽ làm tăng khả năng sinh lời
Tuy nhiên, nghiên cứu này bị giới hạn là chỉ nghiên cứu ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ và hướng nghiên cứu cho tương lai mà tác giả đưa ra là cần xét đến tâm
lý của các nhà quản lý doanh nghiệp khi xem xét mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và lợi nhuận của doanh nghiệp
Cũng được trích dẫn trong nghiên cứu của Pais và Gamma (2015):
Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2007) đã nghiên cứu “tác động của vốn
luân chuyển đến khả năng sinh lời” của những công ty vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng của 8872 công ty từ năm 1996-2002
Cũng như các nghiên cứu trước, nhóm tác giả cho rằng các nhà quản trị có thể gia tăng khả năng sinh lời bằng cách giảm kỳ hàng tồn kho
Trích dẫn tại nghiên cứu của Raheman và cộng sự (2010):
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản của tác giả Padachi (2006) như một thước đo khả năng sinh lời cho nghiên cứu gồm 58 công ty thuộc lĩnh vực sản xuất
có quy mô nhỏ ở Mauritian (Nam Phi) từ năm 1998 đến 2003 Ông giải thích rằng, quản lý vốn luân chuyển tốt góp phần tích cực vào việc tạo ra giá trị công ty Nếu tập
Hàng tồn kho
Giá vốn hàng bán
Trang 31trung nhiều vào hàng tồn kho, khoản phải thu thì sẽ giảm khả năng sinh lời của công
Như được trích dẫn trong nghiên cứu của Ukaegbu (2014):
Shin và Soenen (1998) nhấn mạnh rằng quản trị vốn luân chuyển là cần thiết
để tạo ra giá trị cổ đông Chu kỳ thương mại thuần – Net Trade Cycle (NTC)2 là thước
đo để đo lường quản trị vốn luân chuyển Mối liên hệ giữa chu kỳ thương mại thuần
và khả năng sinh lời được kiểm tra thông qua dữ liệu của 58.985 quan sát ở Mỹ từ năm 1975-1994 Kết quả nghiên cứu cho thấy chu kỳ thương mại thuần (NTC) có quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời nghĩa là khi một công ty có NTC ngắn thì
sẽ làm tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Raheman và Nasr (2007) đã chọn 94 công ty ở Pakistan được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Karachi trong khoảng thời gian 6 năm từ 1999- 2004 để làm mẫu nghiên cứu mức độ ảnh hưởng các biến số khác nhau của vốn luân chuyển bao gồm: kỳ thu tiền của khoản phải thu (AR), kỳ tồn kho (INV), kỳ phải trả (AP) và chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) đến lợi nhuận hoạt động ròng Nghiên cứu phân tích có một mối quan hệ nghịch biến giữa kỳ thu tiền khoản thu, kỳ phải trả, kỳ tồn kho và chu kỳ luân chuyển tiền mặt với khả năng sinh lời của công ty Hai tác giả nhận thấy khi chu kỳ luân chuyển tiền mặt tăng lên thì khả năng sinh lời của công ty giảm Vì vậy, các nhà quản lý muốn tăng khả năng sinh lời bằng cách giảm chu kỳ luân chuyển tiền mặt ở mức thấp nhất
Tương tự, Mohammad (2011) cũng đã thử nghiệm mối quan hệ giữa vốn
luân chuyển với khả năng sinh lời của các công ty công nghiệp ở Iran từ năm 2001 đến năm 2006, chu kỳ luân chuyển tiền mặt được dùng làm biến độc lập và tỷ suất sinh lời hoạt động gộp làm biến phụ thuộc Một mối quan hệ nghịch biến được tìm
2 NTC =(Khoản phải thu + Hàng tồn kho – Phải trả người bán)*365/Doanh thu thuần
Trang 32thấy giữa kỳ lưu hàng tồn kho và khả năng sinh lời Ông cho rằng các doanh nghiệp muốn cải thiện khả năng sinh lời thì phải giảm chu kỳ luân chuyển tiền mặt
Eljelly (2004) cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản của 27 công ty phi tài chính ở Ả rập Xê út từ năm 1996 đến năm
2000 Biến độc lập được sử dụng trong các mô hình hồi quy làm thước đo tính thanh khoản là chu kỳ luân chuyển tiền mặt và tỷ số thanh toán hiện thời Biến phụ thuộc
là thu nhập hoạt động ròng trước khấu hao đo lường khả năng sinh lời của công ty
Enqvist và cộng sự (2012) đã xem xét vai trò của chu kỳ hoạt động kinh doanh trong mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và vốn luân chuyển của doanh nghiệp bằng cách chọn mẫu 1136 quan sát của năm công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Helsinki giai đoạn 1990 đến 2008 Ông nghiên cứu mối tương quan này trong tình trạng nền kinh tế Phần Lan ở các thời điểm khác nhau: bình thường, thịnh vượng
và suy thoái Tác giả dùng chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) là thước đo chính, là biện pháp toàn diện và hoàn hảo trong việc quản trị vốn luân chuyển, chu kỳ luân chuyển tiền mặt có quan hệ đồng biến (nghịch biến) với khả năng sinh lời của công
ty trong giai đoạn nền kinh tế bình thường và thịnh vượng (suy thoái) Công ty có thể đạt được khả năng sinh lời cao hơn bằng cách kiểm soát hàng tồn kho một cách hiệu quả Bên cạnh đó, giảm thời gian thu hồi nợ, kỳ phải trả người bán được rút ngắn thì
sẽ tăng thêm khả năng sinh lời cho công ty
Nhìn chung, tác giả đã chỉ ra rằng quản trị vốn luân chuyển hiệu quả là điều cần thiết để tạo ra khả năng sinh lời, nhóm tác giả có xét đến vai trò của chu kỳ kinh doanh trong mối quan hệ này Vì vậy, nên đưa vào kế hoạch tài chính của doanh nghiệp
Trích dẫn tại nghiên cứu của Raheman và cộng sự (2010):
Uyar (2009) cho thấy mối tương quan ngược chiều, có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của 166 công
ty niêm yết tại TTCK Istanbul (ISE-Thổ Nhĩ Kỳ) trong năm 2007 bằng phân tích tương quan ANOVA và Pearson Kết quả cho thấy ngành bán buôn / bán lẻ có chu
kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) ngắn hơn so với ngành sản xuất Hơn nữa, chu kỳ
Trang 33Trích dẫn tại nghiên cứu của Raheman và cộng sự (2010):
Tiếp theo là nghiên cứu mối liên hệ giữa hiệu quả hoạt động của công ty và vốn luân chuyển của Wang (2002) tại Nhật Bản và Đài Loan Ông cho rằng mối tương quan âm giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
và tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE), nhưng cả hai mối tương quan này phản ứng mạnh với yếu tố ngành
Theo tác giả (Zeeshan Ahmed, 2016) cho rằng mối liên hệ giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của bảy công ty ngành dược phẩm tại Pakistan trong vòng 8 năm từ 2005 đến 2012 đã cho thấy có sự liên hệ nghịch biến giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công ty dược phẩm ở Pakistan Kết quả cuối cùng của các mô hình hồi quy giống như kết quả của Deloof (2003), Shin và Soenen (1998), Padachi (2006) chu kỳ luân chuyển tiền mặt quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời
Khác với kết quả của những nghiên cứu trên (Sharma & Kumar, 2011) nghiên cứu ảnh hưởng của vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của các công ty ở Ấn Độ với dữ liệu của 263 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Bombay từ năm 2002-
2008 Hai nhà khoa học đã phân tích bằng hồi quy đa nhân tố OLS và tìm thấy có sự tương quan dương giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lời Điều này có nghĩa rằng khi các công ty Ấn Độ gia tăng chu kỳ luân chuyển tiền mặt thì khả năng sinh lời nhiều hơn Tác giả suy luận rằng, Ấn Độ là thị trường đang phát triển, các công ty dường như sinh lời nhiều hơn khi mở rộng chính sách bán chịu để có nhiều khách hàng hơn, nhiều doanh thu hơn và đạt được khả năng sinh lời cao hơn
2.3 Vài nét về nguồn gốc và sự phát triển ngành dược:
Từ thời kỳ Bắc thuộc năm 938, nền y dược Việt Nam chữa bệnh bằng các loại thảo dược do bị ảnh hưởng nền y dược Trung Quốc
Giai đoạn 1946 – 1954, ngành dược chủ yếu phát triển lĩnh vực đông dược, sử dụng các nguyên liệu chủ yếu từ những cây thuốc có sẵn trong nước
Giai đoạn 1954 – 1975, phát triển các doanh nghiệp ngành dược do nhà nước quản lý
Trang 34Sau năm 1975, ngành dược phát triển trải qua 3 thời kỳ:
Giai đoạn 1975 – 1990: Mức tiêu thụ thuốc trên đầu người khoảng 0,5 – 1USD/năm Ngành dược trong giai đoạn này ở Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước
Giai đoạn 1990 – 2005: Có nhiều chủng loại thuốc phong phú, đa dạng hơn và các công ty phân phối và sản xuất thuốc phát triển rộng
Giai đoạn 2005 đến nay: Các công ty dược sản xuất thuốc theo các tiêu chuẩn GMP nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng ngày càng tăng phù hợp với xu thế toàn cầu hóa của ngành dược trong tiến trình hội nhập quốc tế
Ngành dược phẩm là một trong những ngành kinh tế quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước Ngành công nghiệp dược phẩm bao gồm các công ty hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất các loại thuốc để phòng ngừa và trị bệnh cho người
Sản phẩm phần lớn của ngành công nghiệp dược phẩm là các loại thuốc đông dược và tân dược Đông dược là các loại thuốc được sản xuất từ cây cỏ, động vật Tân dược là các loại thuốc được sản xuất từ hóa chất và các loại vi nấm Tác dụng của các loại thuốc tân dược có hiệu lực mạnh hơn các loại thuốc đông dược
Đặc điểm ngành dược:
Các sản phẩm của ngành dược bao gồm cả sản phẩm đông dược và tân dược
do đó những sản phẩm này mang đầy đủ đặc tính của hàng hóa Ngoài ra, còn có một
số đặc trưng riêng:
- Yêu cầu về trình độ kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến Để sản xuất một loại thuốc mới đòi hỏi phải có sự kết hợp những thành tựu của các lĩnh vực lý, hóa, sinh
- Mang tính xã hội cao: sản phẩm dược phục vụ nhu cầu chữa bệnh của toàn
xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người nên đòi hỏi chất lượng phải được đảm bảo, an toàn khi sử dụng
Trang 352.5 Vài chỉ tiêu tài chính của ngành Dược:
Mỗi ngành nghề đều có một vài chỉ số tài chính đặc thù phản ánh khả năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực đó Xem xét ba chỉ tiêu tài chính:
- Tỷ suất lợi nhuận gộp:
Tỷ suất lợi nhuận gộp được tính bằng tỷ lệ phần trăm chênh lệch giữa doanh thu và giá vốn hàng bán Các công ty dược trong nước bị chi phối vào nguồn nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu từ các quốc gia khác Bên cạnh đó, đối với các sản phẩm dược chi phí nguyên liệu, vật liệu đầu vào lại chiếm đến 70% giá vốn hàng bán Do đó, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng bởi chi phí nguyên liệu, vật liệu đầu vào Những doanh nghiệp nào trong ngành mà không bị nguyên liệu, vật liệu đầu vào chi phối thì sẽ giảm bớt chi phí và có lợi nhuận nhiều hơn
Bởi vậy, khi so sánh nhiều doanh nghiệp sản xuất dược, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận gộp là phù hợp, giúp nhà đầu tư biết được doanh nghiệp nào mang lại lợi nhuận cao hơn
Trang 36Hình 2 3: Tỷ suất lợi nhuận gộp của 20 doanh nghiệp dược
năm 2010-2018
(Nguồn: Tính toán từ bộ dữ liệu)
- Tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu:
Đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành dược nhìn chung chi phí bán hàng đều lớn do các doanh nghiệp dành nguồn lực đáng kể để đầu tư vào kênh phân phối, triển khai rộng khắp các chương trình bán hàng thông thường và bán hàng theo đơn
Với tình hình cạnh tranh gắt gao trong ngành dược phẩm như hiện nay, có thể nói tỷ số giá vốn hàng bán trên doanh thu sẽ thể hiện cho việc đầu tư vào kênh phân phối Những công ty nào có chi phí bán hàng không quá cao so với mặt bằng chung của các doanh nghiệp trong toàn ngành sẽ có lợi thế trong việc tiếp cận đến khách hàng
AMV BCP DBT DCL DHG DHT DMC DNM HAI IMP LDP MKV NDP OPC PMC PPP TRA VFG VMD VPS
TỶ SUẤT LỢI NHUẬN GỘP
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Trang 37Hình 2 4: Giá vốn hàng bán trên doanh thu 20 doanh nghiệp dược phẩm
năm 2010 - 2018 (Nguồn: Tính toán từ bộ dữ liệu)
- Số vòng quay hàng tồn kho:
Số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng kiểm soát hàng hóa trong kho của doanh nghiệp như thế nào số vòng quay hàng tồn kho bằng giá vốn hàng bán trên hàng tồn kho bình quân Vòng quay hàng tồn kho càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có càng ít hàng tồn kho, khẳng định vị thế của doanh nghiệp về hệ thống phân phối
AMV BCP DBT DCL DHG DHT DMC DNM HAI IMP LDP MKV NDP OPC PMC PPP TRA VFG VMD VPS
TỶ SUẤT GIÁ VỐN HÀNG BÁN TRÊN DOANH THU
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Trang 38Hình 2 5: Vòng quay hàng tồn kho của 20 doanh nghiệp dược
năm 2010 -2018
(Nguồn:Tính toán từ bộ dữ liệu)
PHẦN KẾT CHƯƠNG 2
Nội dung chương này đã trình bày lý thuyết các thành phần của vốn luân
chuyển bao gồm: kỳ thu tiền khoản phải thu, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ phải
trả cho người bán và chu kỳ luân chuyển tiền mặt Bên cạnh đó, tác giả cũng đã khảo
sát các mô hình nghiên cứu có liên quan của các tác giả trong nước và trên thế giới ở
các quốc gia, các lĩnh vực khác nhau Từ đó, làm cơ sở để xem xét “tác động của vốn
luân chuyển đến khả năng sinh lời” của các công ty ngành dược được niêm yết trên
TTCK Việt Nam
Ngoài ra, cũng trong chương này tác giả giới thiệu thêm vài nét về nguồn gốc
và phát triển của ngành, các chỉ số tài chính đặc thù năm 2010 - 2018 của ngành nhằm
cung cấp tổng quan tình hình hoạt động kinh doanh của một số công ty thuộc nhóm
Trang 39CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3.1 Dữ liệu và mô hình nghiên cứu:
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:
Dữ liệu trong nghiên cứu là dữ liệu bảng được thu thập từ các bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đã được kiểm toán của 20 công ty ngành dược niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX từ 2010 - 2018 Việc lựa chọn các công ty đã niêm yết, các báo cáo được kiểm toán thể hiện tính chính xác, minh bạch, hợp lý Những công ty chưa niêm yết thì số liệu không phản ảnh chính xác hoạt động kinh doanh của công ty ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
3.1.2 Phương pháp xử lý dữ liệu:
Những công thức tính các chỉ số tài chính dùng làm biến đưa vào mô hình được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel Ứng dụng phần mềm thống kê Stata12.0 chạy mô hình nghiên cứu để đưa ra kết quả cụ thể về mối quan hệ giữa các biến độc lập, biến kiểm soát đối với biến phụ thuộc
3.1.3 Cơ sở lựa chọn mô hình:
Theo mô hình bài nghiên cứu của Ukaegbu (2014): “Tầm quan trọng của quản
lý vốn luân chuyển trong việc xác định khả năng sinh lời của công ty: Bằng chứng từ các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Phi”, dựa vào nghiên cứu của nhóm tác giả Pais và Gamma (2015) để lựa chọn biến GDPPR trong mô hình nghiên cứu, của tác giả Islam và cộng sự (2018): “Tác động của quản lý vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp - Bằng chứng thực nghiệm từ ngành dược phẩm Bangladesh” để xây dựng mô hình nghiên cứu của riêng mình
Đối với bài của nhóm tác giả Islam và cộng sự (2018) Đây là mô hình nghiên cứu trên đất nước Bangladesh, một nước thuộc khu vực Châu Á và thuộc nhóm nước đang phát triển, khá tương đồng với Việt Nam Vì vậy, dựa vào mô hình bài nghiên cứu này tác giả áp dụng để nghiên cứu “tác động của vốn luân chuyển đối với khả năng sinh lời” của các công ty ngành dược tại Việt Nam
Trang 40Tác giả chọn giai đoạn nghiên cứu bắt đầu năm 2010 và thu thập dữ liệu đến năm 2018 do cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra trong giai đoạn 2007-2008 đã ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta, đặc biệt là các ngành trong lĩnh vực chế biến xuất nhập khẩu, bất động sản, nhiều công ty đã rơi vào tình trạng khó khăn do không đáp ứng được nhu cầu thanh khoản Năm 2010, nền kinh tế dần dần hồi phục, các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn trong việc quản trị tính thanh khoản và quản trị vốn luân chuyển do vốn luân chuyển và tính thanh khoản đóng vai trò quan trọng đối với khả năng sinh lời, rủi ro và giá trị của công ty (Smith, 1980)
3.1.4 Mô hình nghiên cứu:
Để phân tích “tác động của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời” của các công ty dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam Tác giả đề xuất bốn mô hình nghiên cứu để xem xét ảnh hưởng của từng biến độc lập đại diện cho các thành phần của vốn luân chuyển và biến kiểm soát tác động như thế nào đối với biến phụ thuộc đại diện cho khả năng sinh lời của công ty:
GOPit = β0 + β1ARit + β2SIZEit + β3DEBTit +β4GDPGRt + β5CRit + ε(1)
GOPit = β0 + β1APit + β2SIZEit + β3DEBTit +β4GDPGRt + β5CRit + ε(2)
GOPit = β0 + β1INVit + β2SIZEit + β3DEBTit +β4GDPGRt + β5CRit + ε(3)
GOPit = β0 + β1CCCit + β2SIZEit + β3DEBTit +β4GDPGRt + β5CRit + ε(4)
Trong đó:
β0: hệ số chặn
β1, β2, β3, β4, β5: các tham số chưa biết của mô hình
ε: sai số
i: ký hiệu đại diện cho các công ty
t: ký hiệu đại diện cho năm
Biến phụ thuộc:
GOP (Gross Operating Profit): Tỷ suất sinh lời hoạt động gộp
Biến độc lập:
AR (Accounts Receivable): Kỳ thu tiền khoản phải thu
AP (Accounts Payable): Kỳ thanh toán khoản phải trả
INV (Inventories Turnover): Kỳ luân chuyển hàng tồn kho