1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của mở rộng tín dụng đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các công ty niêm yết việt nam

78 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt quá trình bùng nổ tín dụng này, các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước ở Trung Quốc đã có sự gia tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính sử dụng trong cấu trúc vố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THẮM

ẢNH HƯỞNG CỦA MỞ RỘNG TÍN DỤNG

ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ VÀ QUYẾT ĐỊNH TÀI TRỢ

CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ THẮM

ẢNH HƯỞNG CỦA MỞ RỘNG TÍN DỤNG

ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ VÀ QUYẾT ĐỊNH TÀI TRỢ

CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ kinh tế “Ảnh hưởng của mở rộng tín

dụng đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các công ty niêm yết Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hỗ trợ từ phía Giảng viên hướng

dẫn là TS Nguyễn Thị Uyên Uyên Các số liệu được sử dụng để phân tích, đánh giá trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng và được tổng hợp từ những nguồn thông tin đáng tin cậy Nội dung Luận văn đảm bảo không sao chép bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

TP.HCM, ngày 19 tháng 06 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Thị Thắm

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I DANH MỤC BẢNG BIỂU III TÓM TẮT IV ABSTRACT V

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 3

1.4 Bố cục của đề tài 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 6

2.1 Tổng quan lý thuyết 6

2.1.1 Các quyết định tài chính của doanh nghiệp 6

2.1.2 Khung lý thuyết về mở rộng tín dụng 11

2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm 19

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 27

3.2 Phương pháp nghiên cứu 28

3.2.1 Mô hình nghiên cứu và mô tả biến 28

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu và trình tự thực hiện 32

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Mô tả thống kê 33

4.2 Kết quả hồi quy 36

4.2.1 Mở rộng tín dụng và tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp 36

4.2.2 Mở rộng tín dụng và tài trợ cho vay 39

4.2.3 Mở rộng tín dụng và phát hành vốn cổ phần 40

4.2.4 Mở rộng tín dụng và đầu tư doanh nghiệp 43

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

5.1 Kết luận và kiến nghị 45

5.2 Hạn chế của đề tài 47

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ LỤC 51

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.2- 1 Định nghĩa và cách tính biến 31

Bảng 4.1- 1 Mô tả thống kê phân theo các nhóm doanh nghiệp 33

Bảng 4.1- 2 Mô tả thống kê các biến nghiên cứu 34

Bảng 4.1- 3 Giá trị trung bình 4 biến INV, LEVERAGE, LOAN, EQUITY 35

Bảng 4.1- 4 Giá trị trung bình các biến nghiên cứu phân theo giai đoạn mở rộng tín dụng 36

Bảng 4.2- 1 Tỷ lệ đòn bẩy tài chính trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng 37

Bảng 4.2- 2 Kiểm định ATT - Tỷ lệ đòn bẩy tài chính trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng 38

Bảng 4.2- 3 Tài trợ cho vay trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng 39

Bảng 4.2- 4 Kiểm định ATT-Tài trợ cho vay trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng 40

Bảng 4.2- 5 Phát hành vốn cổ phần trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng 41

Bảng 4.2- 6 Kiểm định ATT- Phát hành vốn cổ phần trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng 42

Bảng 4.2- 7 Đầu tư của doanh nghiệp trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng 43

Bảng 4.2- 8 Kiểm định ATT- Đầu tư trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng 44

Trang 6

tả thống kê và phương pháp ảnh hưởng trung bình của Abadie-Imben ATT (Treatment to the treated) trên mẫu dữ liệu gồm 510 công ty trong giai đoạn 2009 –

2018 bài nghiên cứu cho thấy mở rộng tín dụng có tác động đến quyết định đầu tư

và quyết định tài trợ, với các nhóm doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau thì tác động này cũng khác nhau

Thứ nhất, mở rộng tín dụng ngân hàng có tác động gia tăng tỷ lệ đòn bẩy tài

chính trong các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước

Thứ hai, chưa tìm thấy tác động rõ ràng của mở rộng tín dụng đến tài trợ cho

vay của các nhóm doanh nghiệp

Thứ ba, mở rộng tín dụng ngân hàng có tác động gia tăng phát hành vốn cổ

phần ở nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn, doanh nghiệp có sở hữu Nhà nước Tuy nhiên, ở nhóm các công ty có quy mô nhỏ lại có tác động ngược lại

Cuối cùng, mở rộng tín dụng ngân hàng có tác động tích cực đến quyết định

đầu tư ở các nhóm doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước

Từ khóa: Mở rộng tín dụng, Quy mô doanh nghiệp, Sở hữu nhà nước, Quyết định

đầu tư, Quyết định tài trợ

Trang 7

ABSTRACT

The study examine the impact of credit expansion on the implementation of investment decisions and financing decisions of research enterprises, is a small-scale enterprise , large-scale enterprises, state-owned enterprises and non-state-owned enterprises in Vietnam With the use of statistical descriptive methods and methods of average influence of Abadie-Imben ATT (Treatment to the treated) on

510 companies in the period of 2009 - 2018 showed that the credit expansion has an impact on investment decisions and financing decisions, with different groups of businesses having different characteristics

First, credit expansion has an impact on increasing leverage ratios in

large-scale enterprises and state-owned enterprises

Secondly, there is no clear impact of credit expansion on loan financing of

business groups

Thirdly, expanding credit has an impact on increasing the issue of equity in

large-scale and state-owned enterprises However, the smal-scale enterprises has the opposite effect

Finally, credit expansion has a positive impact on investment decisions in

groups of businesses, especially non-state-owned enterprises

Keywords: Credit expansion, Enterprise size, State ownership, Investment

decision, Financing decision

Trang 8

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Lý do chọn đề tài

Chính sách tiền tệ và cung cấp khoản vay ngân hàng thường được sử dụng để kích thích tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia mới nổi Một hiện tượng trong những năm gần đây là có sự tăng trưởng tín dụng đáng kể từ năm 2008 tại các thị trường mới nổi lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil (Onaran, 2013) Riêng Trung Quốc, việc cung cấp các khoản vay ngân hàng đã gia tăng đáng kể trong năm

2009 và năm 2010 sau khi thông qua một chính sách tiền tệ mở rộng Jianfu Shen, Michael Firth, Winnie P.H Poon (2016) đã trưng ra bằng chứng cho thấy, để giảm thiểu những cú sốc từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, thông qua chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ để kích thích tăng trưởng kinh tế vào cuối năm

2008, Chính quyền trung ương Trung Quốc đã thay đổi chính sách tiền tệ sang mức

độ nới lỏng, được quản lý bởi một số công cụ để thúc đẩy cung cho vay ngân hàng giữa cuối năm 2008 và năm 2010 Trong suốt quá trình bùng nổ tín dụng này, các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước ở Trung Quốc đã có

sự gia tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính sử dụng trong cấu trúc vốn nhiều hơn trong việc thực hiện quyết định đầu tư trong khi các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước thì lại không có thay đổi đáng kể trong việc lựa chọn nguồn tài trợ thông qua hình thức vay vốn của ngân hàng

Trong khi đó, ở Việt Nam, năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng ở mức 17%, có điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế Nhờ vậy, tín dụng đã tăng ngay từ đầu năm và tăng đều qua các tháng Ðến hết tháng 6 năm 2018, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt quanh mức 7% Trong bối cảnh đó, theo số liệu báo cáo trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia thì chỉ trong 10 tháng của năm 2018, cả nước có 109.611 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 1.115.952 tỷ đồng, tăng 4,3% về số doanh

Trang 9

nghiệp và tăng 9,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 20171. Tuy nhiên, số doanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản cũng ngày càng gia tăng Cụ thể, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn của cả nước là 24.467 doanh nghiệp, tăng 24,7% so với cùng kỳ của năm 2017; số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể là 53.937 doanh nghiệp, tăng 62,6%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 13.307 doanh nghiệp, tăng 35,9%2 Vậy, nguyên nhân của tình trạng này là do đâu? Có phải là do thiếu hay do hạn chế trong

hệ thống quản lý, nguồn vốn không được đảm bảo, các tổ chức tín dụng chưa phối hợp tốt với các doanh nghiệp; doanh nghiệp đầu tư ồ ạt vào những lĩnh vực chưa hiểu rõ thị trường hay không? Liệu sự khác biệt giữa các doanh nghiệp có quy mô lớn và các doanh nghiệp có quy mô nhỏ; giữa các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước

và các doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước thì chính sách mở rộng tín dụng của hệ thống Ngân hàng Việt Nam có tác động như thế nào đến quyết định đầu tư

và quyết định tài trợ của các doanh nghiệp Việt Nam? Với mong muốn làm rõ hơn

về sự sai khác đó, đi sâu vào phân tích tác động của mở rộng tín dụng đối với những thay đổi trong việc thực hiện các quyết định tài chính của doanh nghiệp, nghiên cứu

tại nền kinh tế Việt Nam, tác giả đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của mở rộng tín dụng đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các công ty niêm yết Việt Nam” cho Luận văn Thạc sĩ của mình với mong muốn kết quả nghiên

này sẽ nới rộng thêm bằng chứng về ảnh hưởng của mở rộng tín dụng đến việc thực hiện quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các công ty

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu trưng ra bằng chứng cho thấy hệ thống Ngân hàng Việt Nam mở rộng tín dụng tác động đến việc thực hiện quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các nhóm doanh nghiệp nghiên cứu, là doanh nghiêp có quy mô nhỏ, doanh nghiệp có quy mô lớn, doanh nghiệp sở hữu Nhà

1 Nguồn: Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia: https://dangkykinhdoanh.gov.vn

2 Nguồn: Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia: https://dangkykinhdoanh.gov.vn

Trang 10

nước và doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước tại Việt Nam Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu này, nội dung bài nghiên cứu sẽ giải quyết các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, đánh giá mối quan hệ của mở rộng tín dụng ngân hàng đối với ba

khía cạnh: sự thay đổi của đòn bẩy tài chính và tài trợ cho vay; sự thay thế giữa vốn vay và vốn cổ phần; những thay đổi trong mức độ đầu tư của doanh nghiệp

Thứ hai, đánh giá những khác biệt về ba khía cạnh trên giữa doanh nghiệp có

quy mô lớn với doanh nghiệp có quy mô nhỏ; giữa doanh nghiệp sở hữu Nhà nước với doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước Qua đó đưa ra nhận xét về những ảnh hưởng khác nhau của những rào cản thị trường và mở rộng tín dụng của hệ thống Ngân hàng đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của doanh nghiệp

1.3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính và giá cổ phiếu được thu thập trong vòng mười năm kể từ năm 2009 đến năm 2018 của

510 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Vì trong giai đoạn 2007 – 2008, khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra đã đem đến nhiều hệ quả tiêu cực cho nền kinh tế Việt Nam và đặc biệt là làm cho tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trở nên xấu đi rất nhiều Bước qua năm 2009, kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi trở lại nhưng do còn chịu hậu quả của cuộc khủng hoảng nên vẫn còn trong giai đoạn vô cùng khó khăn Tiếp theo sau

đó, Việt Nam dần dần từng bước khôi phục và phát triển nền kinh tế nhờ việc thông qua khá nhiều các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước, đặc biệt là chính sách

mở rộng tín dụng của hệ thống Ngân hàng đã giúp cho một số doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận tốt hơn vơi nguồn vốn từ đó chủ động trong quá trình sản xuất kinh doanh hơn Đến năm 2013, chính sách này được phổ biến rộng rãi và qua đó, nền kinh tế Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến tích cực rõ rệt Chính vì vậy, tác giả chia khoảng thời gian này ra hai giai đoạn, giai đoạn 2009 – 2012 gọi là thời kỳ trước mở rộng tín dụng và giai đoạn 2013–2018 gọi là thời kỳ mở rộng tín dụng Dữ liệu được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu từ website vietstock.vn,

Trang 11

cafef.vn và cophieu68.com Mẫu dữ liệu bao gồm các công ty được niêm yết trên

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSX)

Nguồn dữ liệu trên được tác giả trình bày theo dữ liệu bảng, được nghiên cứu theo phương pháp định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 13.0 nhằm hoàn thành mục tiêu so sánh, đánh giá sự sai khác theo như yêu cầu đặt ra

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt DID (Difference-In-Differences) hay còn gọi là phương pháp sai biệt kép, kết hợp với phương pháp ảnh hưởng trung bình của Abadie-Imben ATT (Treatment to the treated) để ước lượng sự khác biệt, so sánh những thay đổi trong tài trợ doanh nghiệp và tỷ lệ đầu tư giữa các nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn với nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ; giữa nhóm doanh nghiệp sở hữu Nhà nước với nhóm doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng ngân hàng Từ đó đưa ra kết luận về sự sai khác trong ảnh hưởng của mở rộng tín dụng ngân hàng đến từng nhóm doanh nghiệp nghiên cứu

1.4 Bố cục của đề tài

Nội dung bài nghiên cứu bao gồm năm chương, được trình bày và sắp xếp theo thứ tự như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan

chung về bài nghiên cứu, bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mở rộng tín dụng ngân hàng, tài trợ doanh nghiệp và các quyết định đầu tư của doanh nghiệp Trong

chương này, tác giả trình bày tổng quan lý thuyết về mở rộng tín dụng ngân hàng, quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của doanh nghiệp Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những bằng chứng thực nghiệm trên thế giới để có một cái nhìn tổng thể về vấn đề mở rộng tín dụng ngân hàng cũng như các quyết định trong chính sách của doanh nghiệp và thấy được sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp khi phản ứng

Trang 12

với sự mở rộng tín dụng ngân hàng như thế nào, từ đó làm cơ sở lý luận cho bài nghiên cứu này

Chương 3: Dữ liệu, mô hình và phương pháp nghiên cứu Đây là chương sẽ

thể hiện một cách cụ thể và chi tiết về các dữ liệu nghiên cứu, các biến cũng như

mô hình và trình tự hồi quy, các kiểm định có liên quan

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Từ những kết quả hồi quy và kiểm định, tác

giả tiến hành xử lý và báo cáo kết quả, đồng thời trình bày ý nghĩa của các kết quả thu được Không những thế, tác giả còn đi sâu vào tìm hiểu một cách chi tiết mối quan hệ giữa mở rộng tín dụng ngân hàng với cấu trúc vốn, tài trợ cho vay, phát hành vốn cổ phần và đầu tư Đồng thời tác giả so sánh sự khác biệt trong động thái của các nhóm doanh nghiệp khi có mở rộng tín dụng ngân hàng

Chương 5: Kết luận Đây là chương giúp tác giả tổng kết lại các kết quả của

bài nghiên cứu khi trình bày vấn đề nghiên cứu, từ đó đưa ra những hạn chế của bài nghiên cứu này Qua đó làm tiền đề cho những bài nghiên cứu kế tiếp

Trang 13

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG

CHỨNG THỰC NGHIỆM

2.1 Tổng quan lý thuyết

2.1.1 Các quyết định tài chính của doanh nghiệp

Hiện nay, khi nhắc đến các quyết định tài chính của doanh nghiệp, điều đó hàm ý đến các quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối Hay nói cách khác, quản trị tài chính doanh nghiệp sẽ có liên quan đến việc tìm kiếm nguồn tiền và sử dụng tiền như thế nào để giá tăng giá trị doanh nghiệp và tối đa hóa thu nhập của chủ sở hữu Đó là những quyết định chiến lược đặc biệt quan trọng liên quan đến sự phát triển, tồn vong của một doanh nghiệp và cũng là đề tài tốn nhiều giấy mực của giới học thuật về tài chính kinh tế Tuy nhiên, khi mở rộng tín dụng ngân hàng xảy ra, quyết định đầu tư và quyết định tài trợ là hai quyết định chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc nhất Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu về hai quyết định này để từ đó xem xét sự ảnh hưởng của mở rộng tín dụng

2.1.1.1 Quyết định đầu tư

Trần Ngọc Thơ (2018) cho rằng quyết định đầu tư là một trong các quyết định quan trọng nhất của doanh nghiệp khi hoạch định chiến lược tài chính vì thông qua quyết định đầu tư, giá trị cho doanh nghiệp sẽ được tạo ra Một quyết định đầu tư đúng đắn sẽ đem lại giá trị cho doanh nghiệp, qua đó làm gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu Tuy nhiên, nếu một quyết định đầu tư thiếu chính xác sẽ là một tổn thất đối với doanh nghiệp bởi không những không đem lại lợi ích mà còn làm thiệt hại tài sản của doanh nghiệp

Đối với quyết định đầu tư, mua sắm tài sản, nhà quản trị phải xác định nên dành bao nhiêu cho tiền mặt, bao nhiêu cho khoản phải thu và bao nhiêu cho hàng tồn kho để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Bởi vì mỗi tài sản với những đặc trưng riêng biệt sẽ có tốc độ chuyển hóa thành tiền riêng và khả năng sinh lợi cũng khác nhau

Trang 14

Quyết định đầu tư liên quan đến tổng giá trị tài sản cũng như giá trị tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn cần có đồng thời cũng liên quan đến mối quan hệ cân đối giữa từng loại tài sản này Cụ thể có thể kể đến một số quyết định đầu tư như:

- Quyết định tồn quỹ tiền mặt, tồn kho; quyết định chính sách bán chịu hàng hóa và các quyết định đầu tư tài chính ngắn hạn khác

- Quyết định mua sắm mới, quyết định thay thế những tài sản cố định đã cũ hay quyết định đầu tư dự án, đầu tư tài chính dài hạn

- Quyết định sử dụng đòn bẩy hoạt động và quyết định điểm hòa vốn

Khi nhắc đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp, quyết định đầu tư dài hạn

có tính chất chiến lược và giữ vị trí vô cùng quan trọng bởi đây là nhân tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai:

- Đa phần các quyết định đầu tư dài hạn đều ảnh hưởng ít nhiều đến quy mô cũng như trình độ công nghệ của doanh nghiệp, qua đó tác động đến chất lượng của những sản phẩm trong tương lai và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

- Các quyết định đầu tư dài hạn thường yêu cầu phải sử dụng một nguồn lực tài chính khá lớn của doanh nghiệp để thực hiện Nếu quyết định này là đúng đắn sẽ đem đến hiệu quả sử dụng vốn rất lớn

- Nếu xảy ra sai lầm trong các quyết định đầu tư dài hạn thường rất khó sửa chữa, tốn rất nhiều thời gian hoặc không thể sửa chữa được gây nên những tổn thất

vô cùng lớn cho doanh nghiệp, có thể dẫn doanh nghiệp đến tình trạng kiệt quệ hoặc đứng bên bờ vực thẳm của sự phá sản

Chính vì vậy, để có thể đi đến một quyết định đầu tư đúng đắn đòi hỏi nhà quản trị phải thận trọng cân nhắc kỹ lưỡng nhiều vấn đề, xem xét tính toán đến nhiều yếu tố, trường hợp có thể xảy ra

Quyết định đầu tư của doanh nghiệp có thể chịu tác động của các nhân tố:

Trang 15

- Chính sách kinh tế của Nhà nước: trên cơ sở pháp luật về kinh tế và các

chính sách kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang để các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch vĩ mô

- Yếu tố thị trường: hiện nay các doanh nghiệp đang tồn tại trong thị trường

cạnh tranh, chính vì vậy vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là phải làm sao để sản xuất các sản phẩm phù hợp với nhu cầu hiện tại và thị hiếu của người tiêu dùng, đồng thời dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai để lựa chọn phương thức đầu tư thích hợp nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh cho bản thân doanh nghiệp mình trên thị trường

- Lãi suất tiền vay và thuế: sự thay đổi trong lãi suất tiền vay cũng như trong

chính sách thuế sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí đầu tư của doanh nghiệp, từ đó tác động trực tiếp đến lợi nhuận thu được của doanh nghiệp từ các hoạt động đầu tư

- Sự tiến bộ của khoa học công nghệ: đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức

đối với doanh nghiệp, không những yêu cầu doanh nghiệp phải có quyết định phù hợp trong sự lựa chọn các trang thiết bị, phương pháp khấu hao tài sản cố định, chất lượng và giá thành sản phẩm, …mà còn đòi hỏi doanh nghiệp phải dám chấp nhận mạo hiểm để phát triển những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp không tiếp cận kịp thời với những tiến bộ này rất có thể sẽ cho ra đời những sản phẩm lạc hậu, không có thị trường tiềm năng để tiêu thụ và doanh nghiệp đó sẽ sớm bị loại ra khỏi thị trường

- Mức độ rủi ro của đầu tư: mỗi quyết định đầu tư kèm theo những lợi nhuận

có thể mang lại đó là mức độ rủi ro do những biến động trong tương lai Việc đo lường mức độ rủi ro trong tương lai sẽ giúp các nhà quản trị mạnh dạn đầu tư hoặc hạn chế đầu tư hơn

- Khả năng tài chính của doanh nghiệp: để thực hiện một dự án, một quyết

định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải có chi phí, không chỉ chi phí thực hiện mà còn cả chi phí duy trì dài hạn trong tương lai Tuy nhiên, một doanh nghiệp lại có mức khả năng tài chính bị giới hạn nên không thể thực hiện những quyết định đầu

Trang 16

tư vượt quá khả năng tài chính của bản thân Và đây chính là một nhân tố nội tại ảnh hưởng đến việc ra các quyết định đầu tư

2.1.1.2 Quyết định tài trợ

Nguồn tài trợ của doanh nghiệp chính là các nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để đầu tư, mua sắm tài sản cho doanh nghiệp, hay còn gọi là nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp

Để tài trợ cho các quyết định đầu tư của doanh nghiệp, các nhà quản trị phải tìm kiếm những nguồn vốn thích hợp, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay, vốn vay ngắn hạn hay vay dài hạn Các nguồn vốn đó có thể huy động từ đâu, huy động bao nhiêu và bằng cách nào, chi phí huy động tính như thế nào Họ còn nghiên cứu xem còn hình thức tài trợ nào khác phù hợp với doanh nghiệp hay không và một tổ hợp tài trợ như thế nào thì được xem là tối ưu Đó là các vấn đề cần đặt ra trước khi quyết định tài trợ cho doanh nghiệp, Trần Ngọc Thơ (2018)

Một số quyết định liên quan đến nguồn vốn có thể kể đến là:

- Quyết định huy động nguồn vốn ngắn hạn bao gồm quyết định vay ngắn hạn hay sử dụng tín dụng thương mại, quyết định vay ngân hàng hay sử dụng tín phiếu công ty

- Quyết định huy động nguồn vốn vay dài hạn bao gồm quyết định sử dụng nợ hay sử dụng vốn cổ phần, quyết định vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty, quyết định sử dụng vốn cổ phần thường hay vốn cổ phần ưu đãi

Có một quyết định tài trợ đúng đắn và hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo nguồn vốn hoạt động cũng như tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên, để ra một quyết định tài trợ đúng đắn là không dễ dàng đối với bất kỳ một nhà quản trị nào, điều này không chỉ đòi hỏi người ra quyết định phải nắm bắt tốt tình hình thực

tế, biết và sử dụng thành thạo các công cụ tính toán mà còn phụ thuộc rất nhiều vào những nhân tố quan trọng khác

Trang 17

Quyết định tài trợ của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng bởi một số nhân tố như:

- Quy mô doanh nghiệp: một doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có lợi thế trong

nền kinh tế cạnh tranh hiện nay vì quy mô của doanh nghiệp thể hiện kết quả của một quá trình phát triển lâu dài, tương ứng với một tiềm lực tài chính vững mạnh, vì vậy doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm và tiếp cận các nguồn tài trợ

- Khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp: một doanh nghiệp có tốc độ tăng

trưởng cao sẽ có nhu cầu về tài chính khá nhiều Nếu nguồn lợi nhuận giữ lại không

đủ, doanh nghiệp buộc sẽ phải sử dụng đến nhiều nguồn tài trợ khác

- Rủi ro doanh nghiệp: là những rủi ro tiềm ẩn trong tài sản của doanh nghiệp,

phát sinh do quản lý, do hoat động kinh doanh hoặc do bất cân xứng thông tin, … Khi rủi ro doanh nghiệp càng lớn thì tỷ lệ nợ tối ưu của doanh nghiệp sẽ càng thấp

- Thuế thu nhập doanh nghiệp: đây là nhân tố có ảnh hưởng đến nợ vay của

doanh nghiệp Khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tăng cao, doanh nghiệp sẽ

có xu hướng sử dụng nợ do lợi ích từ tấm chắn thuế đem lại

- Xếp hạng tín nhiệm: từ tình hình thực tế của doanh nghiệp cũng như lịch sử

huy động vốn của doanh nghiệp, xếp hạng tín nhiệm cho thấy khả năng linh hoạt tài chính hay còn gọi là khả năng huy động vốn của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp được phép sử dụng những nguồn tài trợ nào với chi phí và quy mô ra sao Khả năng huy động vốn còn giúp doanh nghiệp tìm kiếm được những nguồn vốn hợp lý trong những điều kiện có tác động xấu

- Quan điểm của cổ đông và ban giám đốc: nếu nhà quản lý ưa mạo hiểm,

doanh nghiệp có thể sử dụng nợ nhiều hơn nhưng nếu là những người thận trọng, nhà quản lý sẽ nghiêng về sử dụng vốn cổ phần Đối với các cổ đông, nếu họ không muốn chia quyền kiểm soát doanh nghiệp, chắc hẳn họ sẽ không muốn phát hành cổ phiểu nhiều

- Ngoài ra, các yếu tố khác từ môi trường bên ngoài như lạm phát, lãi suất

cũng ảnh hưởng đến chi phí sử dụng nguồn tài trợ, từ đó ảnh hưởng đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp

Trang 18

2.1.2 Khung lý thuyết về mở rộng tín dụng ngân hàng

- Mở rộng nguồn vốn huy động

Mở rộng nguồn vốn huy động là làm tăng quy mô nguồn vốn tại ngân hàng ở dưới mọi hình thức huy động ngắn hạn, dài hạn, đồng tiền huy động là VNĐ hay ngoại tệ

Quy mô nguồn vốn của ngân hàng thương mại quyết định quy mô của khối lượng tín dụng mà ngân hàng có thể phát ra Vốn kinh doanh của ngân hàng thực chất là tiền gởi của người ký thác Một ngân hàng có quy mô vốn lớn có thể phát ra một khối lượng tín dụng lớn và thời hạn tín dụng có thể dài hơn Tất nhiên rủi ro cũng nhiều hơn

Mở rộng tín dụng phải đảm bảo khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vốn cho nền kinh tế theo một cơ cấu hợp lý và phù hợp với tốc độ phát triển trong từng thời kỳ Do vậy, để mở rộng hoạt động tín dụng trước tiên phải huy động được nguồn vốn từ nền kinh tế và dân cư Nguồn vốn càng nhiều thì khả năng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, xã hội ngày càng được đảm bảo đầy đủ Nguồn vốn huy động tăng trưởng qua các năm cũng thể hiện sự tăng trưởng và phát triển của ngân hàng thương mại trong quá trình cạnh tranh, là nền tảng cho việc mở rộng tín dụng

Trang 19

- Mở rộng đối tượng cho vay

Mở rộng đối tượng cho vay là làm tăng số lượng khách hàng Ngoài ra mở rộng đối tượng cho vay còn là tăng phạm vi không gian cung cấp tín dụng đến từng địa bàn, khu vực dân cư

Mở rộng đối tượng cho vay có thể thực hiện bằng cách khuyến khích, kích thích các nhóm khách hàng của đối thủ cạnh tranh chuyển sang sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình Nếu trước đây sản phẩm này chỉ nhằm vào một đối tượng nhất định trên thị trường thì nay thu hút thêm nhiều đối tượng khác Một số sản phẩm đứng dưới góc độ khách hàng xem xét thì đòi hỏi phải đáp ứng nhiều mục tiêu sử dụng khác nhau, do đó có thể nhắm vào những nhóm khách hàng khác nhau hoặc ít quan tâm tới sản phẩm dịch vụ của ngân hàng một cách dễ dàng Nhóm khách hàng này có thể được xếp vào thị trường còn bỏ trống mà ngân hàng có thể khai thác Việc tăng đối tượng cho vay còn được thực hiện trên cơ sở đa dạng hoá các đối tượng cho vay, mở rộng đối tượng khách hàng phục vụ

Việc mở rộng phạm vi không gian cung cấp tín dụng nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch, qua đó làm tăng số lượng khách hàng, sản phẩm được sử dụng nhiều hơn Để mở rộng phạm vi không gian cung cấp tín dụng đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định để sản phẩm có thể tiếp cận được với khách hàng và thích ứng với từng khu vực và ngân hàng phải tổ chức được mạng lưới giao dịch tối ưu

- Mở rộng quy mô cho vay

Mở rộng quy mô cho vay là làm tăng doanh số cho vay, dư nợ cho vay đối với các ngành, các thành phần kinh tế, các nhóm khách hàng

Mở rộng tín dụng luôn luôn phải trả lời các câu hỏi: quy mô của khoản tín dụng là bao nhiêu? Thời hạn cho vay bao nhiêu là thích hợp? Sử dụng hình thức cho vay nào? Lĩnh vực cho vay nào đang có xu hướng phát triển?

Trang 20

Mở rộng quy mô cho vay góp phần mở rộng quy mô sản xuất của các thành phần kinh tế, giúp khách hàng phát huy hết tiềm năng góp phần phát triển kinh tế đất nước

Người đi vay có xu hướng không muốn kéo dài thời hạn tín dụng khi họ có thể

tự bù đắp bằng vốn tự có Do vậy, khi người đi vay muốn kéo dài thời hạn tín dụng thường là do nhu cầu sử dụng vốn mà bản thân họ không thể tự bù đắp được khi nguồn vốn tín dụng bị ngân hàng thu hồi trở lại

Về phía ngân hàng luôn luôn muốn có một thời hạn tín dụng càng ngắn càng tốt vì thời hạn tín dụng ngắn cho phép ngân hàng tránh được rủi ro về lãi suất và đảm bảo hơn về khả năng thanh toán Hơn nữa nguồn vốn mà ngân hàng huy động được thường là vốn ngắn hạn, do đó ngân hàng cũng không muốn chọn kỳ hạn dài

vì có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán

Tính chất của nguồn vốn huy động được với thời hạn dài hay ngắn, lãi suất cao hay thấp cũng quyết định việc ngân hàng lựa chọn kỳ hạn tín dụng nào

Trang 21

Hiện nay có 3 loại kỳ hạn cho vay:

- Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng

để bù đắp sự thiếu hụt vốn luân chuyển của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

- Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm, được

sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh

- Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên 20-30 năm, thậm chí 40 năm, được cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới

Việc mở rộng kỳ hạn cho vay giúp cho khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn, giúp ngân hàng có thêm nhiều sản phẩm vay vốn cung cấp nhu cầu đa dạng của khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng lựa chọn hình thức phù hợp với nhu cầu

sử dụng vốn của mình

- Mở rộng điều kiện cho vay

Mở rộng điều kiện cho vay là mở rộng những điều kiện đối với khách hàng vay vốn, bằng những cơ chế chính sách như tài sản đảm bảo tiền vay, đối tượng khách hàng vay không phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay, theo mức độ tín nhiệm của từng khách hàng để có cơ chế chính sách ưu đãi về lãi suất, biện pháp áp dụng bảo đảm tiền vay phù hợp

Điều kiện cho vay áp dụng chung cho tất cả khách hàng, tuy nhiên tuỳ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng có thể áp dụng cho vay khác nhau, bao gồm:

- Cho vay có bảo đảm là hình thức cho vay trong đó các khoản nợ vay được bảo đảm bằng tài sản của người đi vay hoặc của bên thứ ba Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng sẽ phát mại tài sản để thu hồi nợ

Trang 22

- Cho vay không có bảo đảm là hình thức tín dụng trong đó các khoản nợ vay không cần bảo đảm bằng tài sản hoặc chỉ bảo đảm một phần bằng tài sản

Mở rộng điều kiện cho vay sẽ giúp cho khách hàng được tiếp cận vốn ngân hàng thuận tiện, nhất là cơ chế về đảm bảo tiền vay, lãi suất vay và các chính sách đãi ngộ đối với khách hàng truyền thống, có khả năng tài chính tốt, vay trả thường xuyên, có uy tín và số tiền vay lớn

Mở rộng điều kiện cho vay phải đi đôi với kiểm soát được chất lượng tín dụng Khâu thẩm định đánh giá khách hàng, kiểm soát tốt dòng tiền khách hàng trong quá trình vay vốn sẽ là những yếu tố tích cực giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng, phát hiện những khách hàng tốt để cho vay

Mở rộng điều kiện cho vay sẽ tăng được số lượng khách hàng vay, qua đó dư

nợ vay cũng tăng theo, sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng tín dụng

- Mở rộng phương thức cho vay

Mở rộng phương thức cho vay có nghĩa là mở thêm, tăng thêm nhiều phương thức cho vay khác Ngân hàng thương mại có nhiều phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu của từng khách hàng, bao gồm:

- Cho vay từng lần, áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn từng lần, mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng lập thủ tục và ký hợp đồng tín dụng Số tiền cho vay bằng tổng nhu cầu vốn của dự án trừ đi vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự có

và các nguồn vốn khác (nếu có), mỗi hợp đồng tín dụng có thể phát tiền vay một lần hay nhiều lần phù hợp với tiến độ hay yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng

- Cho vay theo hạn mức áp dụng đối với khách hàng vay vốn ngắn hạn có nhu cầu vay vốn thường xuyên, hoạt động kinh doanh ổn định Căn cứ vào phương án hay kế hoạch sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ, ngân hàng và khách hàng cùng xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời gian nhất định

- Cho vay theo dự án đầu tư áp dụng đối với khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ, thông thường được

áp dụng đối với cho vay trung và dài hạn

Trang 23

- Cho vay trả góp là phương thức cho vay mà việc trả nợ được phân ra làm nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay Ngân hàng và khách hàng cùng xác định và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay

- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là việc ngân hàng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức cho vay để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt

- Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng là việc ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

- Cho vay hợp vốn là việc ngân hàng cùng với một hoặc một số tổ chức tín dụng khác thực hiện việc cho vay một hoặc một phần dự án, phương án

- Cho vay theo hạn mức thấu chi là việc ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với quy định của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

- Cho vay theo các phương thức khác là việc dựa theo nhu cầu của khách hàng

và thực tế phát sinh, ngân hàng sẽ xem xét cho vay theo các phương thức khác phù hợp với đặc điểm hoạt động và không trái với quy định của pháp luật

Việc đa dạng hoá các hình thức, phương thức cấp tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng có thêm nhiều sản phẩm dịch vụ để phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng lựa chọn hình thức phù hợp với mục đích sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống của mình, giúp cho ngân hàng thương mại phân tán rủi ro trong hoạt động

Trang 24

2.1.2.2 Ảnh hưởng của mở rộng tín dụng ngân hàng đến quyết định tài trợ và quyết định đầu tư của doanh nghiệp

Mở rộng tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp là việc gia tăng quy

mô, khối lượng tín dụng ngân hàng, tuy nhiên song song đó vẫn phải đảm bảo chất lượng tín dụng nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng là tăng lợi nhuận, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển, Diamond (1984)

Mở rộng tín dụng ngân hàng sẽ giúp các doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu

về vốn, từ đó mở rộng cơ hội đầu tư, gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh thúc đẩy các doanh nghiệp này mở rộng quy mô sản xuất

Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp Vì vậy việc mở rộng tín dụng cũng sẽ giúp các doanh nghiệp có nhiều điều kiện hơn để phát triển

- Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành nên cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay hiếm có doanh nghiệp nào chỉ sử dụng vốn chủ sở hữu để hoạt động Việc sử dụng nợ vay sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng vốn với chi phí sử dụng vốn rẻ hơn do được lợi từ chính sách thuế Mặc dù vậy, không phải khi nào doanh nghiệp cũng được vay và sử dụng vốn vay tùy ý để tránh làm tăng chi phí vốn cũng như làm doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Chính vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu

để tận dụng tối đa lợi thế và đảm bảo mức chi phí rẻ nhất tại mức rủi ro có thể chấp nhận được

- Tín dụng ngân hàng bổ sung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh Đối với các doanh nghiệp hiện nay, vốn vẫn luôn là vấn đề khó khăn nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp còn khá phổ biến và nghiêm trọng Trong đó, tín dụng ngân hàng là một hình thức tốt nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, giúp cho các doanh nghiệp không bỏ

lỡ cơ hội đầu tư, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, từ đó làm cho quá

Trang 25

trình lưu thông được thông suốt, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

- Tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệp tăng cường quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả, Diamond (1984) Sau thời gian vay vốn của ngân hàng, doanh nghiệp không chỉ phải trả phần vốn gốc mà còn phải hoàn trả cả phần lãi sau một thời hạn quy định Vì vậy, các doanh nghiệp sau khi sử dụng vốn vay trong sản xuất kinh doanh không chỉ cần thu hồi vốn mà còn phải tìm ra nhiều biện pháp khác nhau và hiệu quả để sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay của vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất ngân hàng thì doanh nghiệp mới có thể trả được nợ và thu lãi

- Tín dụng ngân hàng tác động tích cực đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy cạnh tranh Trong điều kiện nền kinh tế thị trưòng, hoạt động của các doanh nghiệp chịu

sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, Vì vậy, hoạt động của các doanh nghiệp phải đạt hiệu quả kinh tế nhất định theo quy định chung của thị trường thì mới đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh Để có thể đáp ứng các nhu cầu từ thị trường, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng lao động đồng thời không ngừng cải tiến công nghệ một cách thích hợp, … Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu

tư Lúc này, thông qua hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp được cấp một số vốn

để hoàn thành những mục tiêu trên, góp phần tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh

- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp hiện nay Hiện nay, nhu cầu tập trung vốn đã đưa đến sự hình thành các công ty cổ phần, là một loại hình doanh nghiệp dựa trên cơ sở góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh Thực hiện theo xu hướng trên và để phù hợp với sự phát triển, các doanh nghiệp đang tiến hành cổ phần hoá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hiện nay Tuy nhiên, khi các công ty cổ phần mới thành lập hay mới được cổ phần hoá, vốn vẫn còn hạn hẹp so với yêu cầu của kỹ thuật và công nghệ hiện đại

Trang 26

Lúc này, tín dụng ngân hàng sẽ góp phần tạo điều kiện để các doanh nghiệp nâng cao vốn, phục vụ cho các mục đích kinh doanh

2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm

Trước đây, vấn đề mở rộng tín dụng ngân hàng liệu có ảnh hưởng như thế nào đến việc ra các quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của doanh nghiệp đã là một trong những điều trăn trở đối với các nhà nghiên cứu về kinh tế học Từ đó đã xuất hiện rất nhiều các bài nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này trên thế giới

Trước tiên phải kể đến những nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ khi đã tìm ra bằng chứng cho thấy những tác động của cho vay ngân hàng đối với chính sách của các doanh nghiệp Leary (2009) điều tra tác động của sự thay đổi trong cho vay tín dụng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thông qua hai sự kiện: năm 1961, với

sự nổi lên của thị trường chứng chỉ tiền gửi và năm 1966, khi có sự sụt giảm mạnh đột ngột trong tín dụng từ các ngân hàng Theo đó những đặc điểm của các doanh nghiệp, là doanh nghiệp có quy mô lớn hay doanh nghiệp có quy mô nhỏ; là doanh nghiệp sở hữu Nhà nước hay doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước đều có liên quan đến tình trạng bất cân xứng thông tin cũng như chi phí giao dịch, qua đó làm

cơ sở để các nhà quản trị có thể xác định mức độ nợ mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong một giai đoạn cụ thể Leary (2009) cũng đưa ra các bằng chứng để xác định rằng, các doanh nghiệp có quy mô lớn và các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước nhờ vào việc dễ dàng tiếp cận các khoản vay ngân hàng nên cũng dễ dàng thay thế việc tài trợ bằng vốn cổ phần và nguồn tài trợ nội bộ bởi các nguồn vay nợ ngân hàng từ bên ngoài Bài nghiên cứu của Erel cùng các cộng sự (2012) lại cho rằng, các doanh nghiệp có mức xếp hạng tín nhiệm thấp, hay được xếp vào hạng mức không đầu tư thì khả năng huy động vốn vay sẽ thấp Điều đó yêu cầu các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm những nguồn vốn khác ngoài

nợ để kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp cho các hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh Ngược lại, các doanh nghiệp có mức xếp hạng cao sẽ dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn vay hơn và khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng tốt

Trang 27

hơn Thường thì các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và các doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước sẽ có mức xếp hạng tín nhiệm thấp, các doanh nghiệp có quy mô lớn

và các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước là những doanh nghiệp nổi tiếng, các báo cáo tài chính minh bạch nên xếp hạng tín nhiệm cũng sẽ cao hơn

Đối với quyết định đầu tư của doanh nghiệp, các nghiên cứu đều cho thấy sự sẵn có của các nguồn tài trợ từ bên ngoài có thể ảnh hưởng đến kết quả đầu tư của doanh nghiệp Một số nghiên cứu đã tìm hiểu sự thay đổi về quyết định đầu tư của doanh nghiệp trong thời kỳ khủng hoảng tài chính năm 2007, đây là thời kỳ tín dụng bị hạn chế do những cú sốc tiêu cực từ cuộc khủng hoảng, dẫn đến việc giảm cung vốn từ các ngân hàng, làm cho các doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tài trợ, từ đó kéo theo nhiều khó khăn trong những quyết định đầu tư Almeida và các cộng sự (2011) đã chỉ ra rằng, các doanh nghiệp

có tỷ lệ nợ dài hạn lớn đã giảm đầu tư của họ từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 Lemmon và Roberts (2010) cũng đã tiến hành nghiên cứu về các sự kiện

là những nguyên nhân gây ra việc giảm lượng vốn chủ sỡ hữu, đồng thời kiểm tra các tác động của vốn chủ sở hữu trên mô hình tài chính của các doanh nghiệp Lemmon và Roberts (2010) đồng ý rằng, các doanh nghiệp ở mức xếp hạng tín nhiệm thấp đã giảm phát hành chứng khoán cũng như giảm đầu tư sau khi xảy ra các cú sốc ngoại sinh đối với nền kinh tế Nói chung, các nhà nghiên cứu đều xác nhận rằng những sự thay đổi về cung vốn từ nền kinh tế sẽ có tác động đáng kể đến hành vi của các nhà quản trị doanh nghiệp, bao gồm cả các quyết định đầu tư và quyết định tài trợ Duchin, Ozbas và Sensoy (2010) cũng đã nghiên cứu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp

và thấy rằng, khi khủng hoảng tài chính diễn ra, các doanh nghiệp đa phần đều sẽ bị hạn chế về tài chính cũng như hạn chế về khả năng huy động nguồn tài trợ, điều đó làm cho đầu tư của doanh nghiệp sẽ giảm mạnh Bên cạnh đó, Kahle và Stulz (2013) lại cho rằng, các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước có sự sụt giảm trong đầu tư nhiều hơn, đồng thời phát hành nợ cũng nhiều hơn so với các doanh nghiệp không

Trang 28

có sở hữu Nhà nước trong cuộc khủng hoảng này Kahle và Stulz (2013) đã không tìm thấy những ảnh hưởng thay thế giữa phát hành nợ và phát hành cổ phần

Song song đó cũng đã có rất nhiều bài nghiên cứu thảo luận về vai trò của các khoản vay ngân hàng đối với quyết định đầu tư của doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Diamond (1984), các khoản vay ngân hàng có thể tạo điều kiện thuận lợi giúp cho đầu tư của doanh nghiệp hiệu quả hơn vì các ngân hàng có thể giám sát các doanh nghiệp và qua đó giảm thiểu các vấn đề về bất cân xứng thông tin Tuy nhiên, có một hạn chế xảy ra là các ngân hàng có thể can thiệp vào các quyết định của doanh nghiệp, hoàn toàn có khả năng xảy ra việc ngân hàng trích xuất các khoản thặng dư của doanh nghiệp (Rajan, 1992) Đây là chi phí của các khoản vay ngân hàng Chi phí này có thể trở nên trầm trọng trong một quốc gia mà hệ thống ngân hàng chiếm ưu thế trên thị trường vốn

Với các doanh nghiệp hoạt động tại Nhật Bản, Kang và Stulz (2000) thấy rằng, những doanh nghiệp chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng và không thể sử dụng các nguồn vốn vay thay thế khác sẽ phải chịu những tác động bất lợi khá lớn

về hiệu suất chứng khoán và đầu tư Năm 2012, Wu và Yao cũng đã lập luận rằng việc khai thác nguồn vốn vay ngân hàng cũng có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng đầu tư quá mức đối với các doanh nghiệp Để khắc phục tình trạng đó, phát hành nợ (đối với các doanh nghiệp tăng trưởng kém) và phát hành cổ phần mới (đối với các doanh nghiệp tăng trưởng cao) có thể được sử dụng như là công cụ nhằm giảm thiểu khai thác nguồn vốn vay ngân hàng

Tương tự như tình hình ở Nhật Bản, hệ thống ngân hàng vẫn đang giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong thị trường vốn của Trung Quốc Tuy nhiên, các ngân hàng lớn ở Trung Quốc đang được Chính phủ kiểm soát hoàn toàn, mặc dù đã có rất nhiều cải cách đáng kể từ những năm 1978 Năm 2003, một cuộc cải cách để chuyển đổi các ngân hàng Nhà nước thành các tổ chức niêm yết, cổ phần hóa và thương mại cạnh tranh, theo như nghiên cứu của Hao, Shi và Yang (2014) Cuộc cải cách kết thúc với kết quả là năm ngân hàng thương mại lớn ở Trung Quốc đã được

Trang 29

niêm yết trên sàn giao dịch Hồng Kông và Trung Quốc đại lục bắt đầu từ năm 2005 Sau đó, Martin (2012) đã đưa ra một đề tài tranh luận đó là liệu các ngân hàng có nên tiếp tục được sử dụng để thực hiện các chính sách của Chính quyền Trung ương hay họ nên hoạt động dựa hoàn toàn trên nguyên tắc thương mại Tuy nhiên, dù kết quả cuộc tranh luận có như thế nào thì việc cổ phần hóa và thương mại hóa các ngân hàng cũng góp phần giúp các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn vốn vay ngân hàng Và cũng nhờ thương mại cạnh tranh mà chi phí sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp có thể được giảm thiểu rất nhiều

Nhiều nghiên cứu tại Trung Quốc đã chỉ ra rằng, các doanh nghiệp có quy mô lớn và các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước vẫn ưu tiên sử dụng nợ ngân hàng (Song, 2005; Yeh, Shu và Chiu, 2013) Cull và Xu (2000; 2003) đã đưa ra những nghiên cứu làm bằng chứng để chứng minh các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng Lúc này các ngân hàng được sử dụng như một công cụ chính sách để tài trợ các khoản đầu tư cho các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước Nghiên cứu của Podpiera (2006) cho thấy, các ngân hàng không xem xét lợi nhuận của các doanh nghiệp trong quyết định cho vay, ngay cả sau khi tiến hành các cuộc cải cách Đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước, tình trạng bất cân xứng thông tin xảy ra nghiêm trọng do ngân hàng không có hồ sơ lịch sử tín dụng của các doanh nghiệp (Firth và các cộng sự, 2009), chính vì vậy các doanh nghiệp này gặp khá nhiều khó khăn trong việc huy động vốn

từ các ngân hàng Qua đó, các doanh nghiệp phải tìm kiếm những nguồn tài trợ khác, mặc dù có thể khó khăn hơn và chi phí sử dụng vốn cũng cao hơn Tuy nhiên, các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước lại dễ dàng vay

nợ ngân hàng vì đây là những doanh nghiệp khá nổi tiếng, có hồ sơ và lịch sử tín dụng rõ ràng nên sẽ dễ dàng cho các ngân hàng đưa ra quyết định cho vay Từ đó, các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước có thể dễ dàng thay thế nguồn tài trợ vốn cổ phần bởi nguồn vốn vay nợ từ bên ngoài

Cho vay ngân hàng cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi đầu tư của các doanh nghiệp ở Trung Quốc Bài nghiên cứu của Firth, Lin và Wong (2008) đã chỉ ra việc

Trang 30

các ngân hàng đã hỗ trợ việc chi tiêu vốn đối với các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước mặc dù các doanh nghiệp này có hiệu suất làm việc khá kém, điều đó có thể dẫn đến các vấn đề về đầu tư quá mức Lý do ở đây là bởi Chính phủ Trung Quốc

có thể trực tiếp can thiệp vào các quyết định đầu tư của doanh nghiệp thông qua hệ thống ngân hàng Doanh nghiệp sở hữu Nhà nước phải tăng chi tiêu vốn ngay cả khi các cơ hội đầu tư không mang lại nhiều lợi nhuận, nhằm đạt được nhiều mục tiêu xã hội của Chính phủ (Firth và các cộng sự, 2012) Trong thời kỳ mở rộng tín dụng, các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước được Chính phủ khuyến khích vay nhiều hơn và đầu tư vào bất động sản nhiều hơn (Deng và các cộng sự, 2015) Ngoài ra, Leow và Ramzy (2009) đã chỉ ra rằng khi mở rộng tín dụng diễn ra tại Trung Quốc, chỉ có 10% sự gia tăng của các khoản vay ồ ạt chảy vào các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Nhà quản trị của các doanh nghiệp có quy mô nhỏ đã quyết định gia tăng tỷ lệ vốn vay trong cấu trúc vốn, tuy nhiên, sự gia tăng này không nhiều Trong khi đó, Lardy (2012) lại đưa ra một kết quả khác Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ được vay nhiều hơn trong năm 2009 và năm 2010, song song đó, tốc độ tăng trưởng của cho vay tại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ lại cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp có quy mô lớn Lúc này, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ đã gia tăng việc tài trợ bằng nợ ngân hàng cho các khoản đầu tư Như vậy, mở rộng tín dụng đã có ảnh hưởng đến các chính sách doanh nghiệp tại Trung Quốc; tuy nhiên, những tác động cụ thể không rõ ràng ngay lập tức

Cũng có rất nhiều các quan điểm cho rằng, những rào cản thị trường cũng như việc cung cấp tín dụng ảnh hưởng không nhỏ đến cấu trúc vốn và quyết định đầu tư của doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Faulkender và Petersen (2006), Sufi (2009), Saretto và Tookes (2013), doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước là các doanh nghiệp tiếp cận tốt với thị trường trái phiếu, có mức xếp hạng tín nhiệm cao và sẽ được tạo nhiều điện kiện tốt hơn trong vay vốn tín dụng Khi mở rộng tín dụng diễn ra, các doanh nghiệp này phát huy thế mạnh của bản thân, thay đổi cấu trúc vốn thông qua việc tiến hành vay nợ nhiều hơn, gia tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp cao hơn so với các doanh nghiệp không có khả

Trang 31

năng tiếp cận tốt với thị trường vốn, là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước

Đặc biệt là bài nghiên cứu của Shen, Firth và Poon (2016), khám phá những vấn đề liệu một cú sốc cho vay ngân hàng có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các doanh nghiệp được niêm yết tại Trung Quốc từ năm 2008 đến năm 2010 Shen, Firth và Poon (2016) đã tìm ra rằng, những sự thay đổi trong tín dụng ngân hàng đã ảnh hưởng đáng kể lên đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước Đây là những doanh nghiệp có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng dễ dàng, nên khi tăng tín dụng ngân hàng, tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp này cũng tăng lên và tăng đáng kể so với các doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay ngân hàng, là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước Đồng thời, Shen, Firth và Poon (2016) cũng đã cho rằng việc phát hành vốn cổ phần đều

đã giảm trong các doanh nghiệp khi xảy ra mở rộng tín dụng Mặc dù các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước đã nhận được nguồn tài trợ khá lớn từ các khoản vay ngân hàng, song việc phát hành vốn cổ phần lại giảm không đáng kể Trong khi đó, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước lại giảm phát hành vốn cổ phần nhiều hơn Và trong suốt quá trình mở rộng tín dụng đó, không có tác dụng thay thế giữa vốn vay và vốn

cổ phần tại Trung Quốc Cuối cùng, Shen, Firth và Poon (2016) đã chỉ ra rằng chỉ

có doanh nghiệp sở hữu Nhà nước tăng đáng kể trong tỷ lệ đầu tư của doanh nghiệp khi mở rộng tín dụng diễn ra Sự gia tăng đầu tư này được thúc đẩy bởi sự can thiệp của Chính phủ, và được tài trợ bởi các khoản vay ngân hàng

Tóm lại, những bài nghiên cứu thực nghiệm trước đây hầu hết đều có chung quan điểm về ảnh hưởng của mở rộng tín dụng đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của doanh nghiệp Khi xảy ra mở rộng tín dụng, các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước đa phần đều gia tăng việc sử dụng nợ để tài trợ cho các khoản đầu tư, thông qua đó cũng làm tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Mặc dù đã tiếp cận được một nguồn vốn vô cùng lớn từ các khoản

Trang 32

vay ngân hàng, nhưng việc phát hành vốn cổ phần lại giảm không đáng kể trong các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước lại không Các nghiên cứu không tìm ra sự thay thế giữa vốn vay và vốn cổ phần Ngoài ra, mở rộng tín dụng còn làm tăng tỷ lệ đầu tư của các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước Khi tiếp cận được nguồn vốn vay lớn và dễ dàng, các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp sở hữu Nhà nước có thể thực hiện được các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư lớn nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp Trong khi đó, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp không có

sở hữu Nhà nước do không có lịch sử tín dụng, mức xếp hạng tín nhiệm thấp và cũng không nổi tiếng trên thị trường nên mặc dù mở rộng tín dụng có diễn ra nhưng vẫn gặp khá nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn vay ngân hàng Chính vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước đã tiến hành phát hành vốn cồ phần để huy động vốn cho doanh nghiệp có thể tiếp tục thực hiện các

dự án đầu tư, nhằm thay thế nguồn tài trợ nợ khó tiếp cận Tuy nhiên, việc phát hành vốn cổ phần trong các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp không có

sở hữu Nhà nước lại tăng không nhiều Những khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay cũng kéo theo nhiều khó khăn trong việc thực hiện các dự án đầu tư, từ đó tỷ lệ đầu

tư của các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước không có nhiều chuyển biến tích cực

Từ những bài nghiên cứu trên đây, có thể thấy rất nhiều nhà kinh tế học trên thế giới đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với vấn đề mở rộng tín dụng và những tác động đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các doanh nghiệp Cũng đã có rất nhiều lý thuyết và bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm được đưa ra nhằm làm sáng tỏ hơn về vấn đề này Tuy nhiên, các nhóm doanh nghiệp có rất nhiều những đặc thù khác nhau đồng thời mỗi nền kinh tế trên thế giới cũng có những phản ứng khác nhau trong quá trình mở rộng tín dụng, nên đến nay vẫn chưa có một kết quả chung thống nhất về việc liệu mở rộng tín dụng ảnh hưởng như thế nào đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các nhà quản trị doanh nghiệp Nhưng những bằng chứng thực nghiệm trên đã tạo ra những cái nhìn cơ bản cho các nhà quản trị

Trang 33

tài chính ra quyết định phù hợp với doanh nghiệp mình đang quản lý, cộng với năng lực quản trị của bản thân để đem lại được những giá trị cao nhất cho doanh nghiệp của mình

Tại Việt Nam, hiện vẫn chưa xuất hiện những bài nghiên cứu toàn diện về vấn

đề này Tuy nhiên, các nhà kinh tế học Việt Nam vẫn đang tìm tòi nghiên cứu những ảnh hưởng nhất định của mở rộng tín dụng đến doanh nghiệp, từ đó cố gắng tạo một tiền đề vững chắc để các nhà quản trị ra những quyết định đúng đắn, không những đem đến giá trị cho doanh nghiệp mà còn là một tín hiệu tốt cho nền kinh tế

Như vậy, những tác động của mở rộng tín dụng đến các quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các doanh nghiệp Việt Nam liệu có giống với các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới hay không, có những điểm gì khác biệt trong việc thực hiện các quyết định tài chính của doanh nghiệp Việt Nam? Tác giả sẽ tìm hiểu kỹ hơn thông qua việc tiến hành thực hiện mô hình nghiên cứu và đưa ra kết quả trong những chương tiếp theo

Trang 34

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Dữ liệu nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính và giá cổ phiếu được thu thập trong vòng 10 năm kể từ năm 2009 đến năm 2018 Vì trong giai đoạn 2007 – 2008, khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra đã đem đến nhiều hệ quả tiêu cực cho nền kinh tế Việt Nam và đặc biệt là làm cho tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trở nên xấu đi rất nhiều Bước qua năm 2009, kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi trở lại nhưng do còn chịu hậu quả của cuộc khủng hoảng nên vẫn còn trong giai đoạn vô cùng khó khăn Tiếp theo sau đó, Việt Nam dần dần từng bước khôi phục và phát triển nền kinh tế nhờ việc thông qua khá nhiều các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước, đặc biệt là chính sách mở rộng tín dụng đã giúp cho một số doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận tốt hơn với các nguồn vốn từ đó chủ động trong quá trình sản xuất kinh doanh hơn Đến năm 2013, chính sách này được phổ biến rộng rãi và qua đó, nền kinh tế Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến tích cực rõ rệt Chính vì vậy, tác giả chia khoảng thời gian này ra hai giai đoạn, giai đoạn 2009 – 2012 gọi là thời kỳ trước

mở rộng tín dụng và giai đoạn 2013 – 2018 gọi là thời kỳ mở rộng tín dụng Dữ liệu được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu từ website vietstock.vn, cafef.vn

và cophieu68.com Mẫu dữ liệu bao gồm 510 doanh nghiệp được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố

Hồ Chí Minh (HSX)

Nguồn dữ liệu trên được tác giả trình bày theo dữ liệu bảng, được nghiên cứu theo phương pháp định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm stata 13.0 nhằm hoàn thành mục tiêu so sánh, đánh giá sự sai khác theo như yêu cầu đặt ra

Trang 35

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Mô hình nghiên cứu và mô tả biến

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp ảnh hưởng trung bình của Abadie-Imben ATT (Treatment to the treated) Đây là phương pháp được phát triển dựa trên nền tảng của phương pháp khác biệt trong khác biệt DID (Difference-In-Differences) hay còn gọi là phương pháp sai biệt kép để ước lượng

sự khác biệt, so sánh những thay đổi trong tài trợ doanh nghiệp và tỷ lệ đầu tư giữa các nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn với nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ, giữa nhóm doanh nghiệp sở hữu Nhà nước với nhóm doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước trước và trong giai đoạn mở rộng tín dụng Từ đó đưa ra kết luận về sự sai khác trong ảnh hưởng của mở rộng tín dụng ngân hàng đến từng nhóm doanh nghiệp nghiên cứu Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các bài nghiên cứu khi muốn so sánh những sự sai khác và cũng là phương pháp ước lượng được dùng trong paper gốc

Phương pháp sai biệt kép DID tính tới hai sự khác biệt Đầu tiên là sự khác biệt theo thời gian trước và trong thời kỳ mở rộng tín dụng của mỗi nhóm doanh nghiệp đang được nghiên cứu Liệu đối với từng nhóm doanh nghiệp nghiên cứu, mở rộng tín dụng có ảnh hưởng như thế nào, các quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các nhà quản trị doanh nghiệp có gì thay đổi trong giai đoạn mở rộng tín dụng so với giai đoạn trước khi mở rộng tín dụng diễn ra? Sự sai khác tiếp theo xảy ra chéo giữa các nhóm doanh nghiệp nghiên cứu Tác giả so sánh sự khác biệt trong quyết định đầu tư và quyết định tài trợ giữa nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn với nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ, giữa nhóm doanh nghiệp sở hữu Nhà nước với nhóm doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước trong hai giai đoạn nghiên cứu

Phương pháp DID được trình bày trong mô hình của bài nghiên cứu sẽ là:

y = 𝜷0 + 𝜷1 d + 𝜹0 d2 + 𝜹1 d2d + u

Trang 36

Trong đó:

y là biến chịu sự tác động từ những ảnh hưởng của mở rộng tín dụng ngân hàng Trong bài nghiên cứu này, để nghiên cứu tác động của mở rộng tín dụng ngân hàng đến quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của doanh nghiệp, tác giả nghiên cứu sự tác động đó cụ thể đến tỷ lệ đầu tư, tài trợ cho vay, tỷ lệ đòn bẩy tài chính và phát hành vốn cổ phần

d là biến giả thể hiện sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp khi xảy ra

mở rộng tín dụng ngân hàng Ở đây, tác giả nghiên cứu 2 nhóm doanh nghiệp nên

sẽ ký hiệu lần lượt là dA và dB Với dA = 1 là nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn,

dA = 0 là doanh nghiệp có quy mô nhỏ, dB = 1 là doanh nghiệp sở hữu Nhà nước

và dB = 0 là doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước

d2 là biến giả về thời gian: d2 = 0 nếu xét trên giai đoạn trước khi mở rộng tín dụng ngân hàng 2009 – 2012, d2 = 1 nếu xét trên giai đoạn mở rộng tín dụng ngân hàng 2013 – 2018

Tiếp đến, tác giả xây dựng các biến dùng để đo lường sự thay đổi trong quyết định đầu tư và quyết định tài trợ của các doanh nghiệp, hay cụ thể hơn đó là

đo lường tình hình sử dụng các nguồn tài trợ cũng như mức độ đầu tư của doanh nghiệp Tỷ lệ đòn bẩy tài chính và tài trợ cho vay là 2 biến dùng để thể hiện tỷ lệ sử dụng nợ của doanh nghiệp và mức cung ứng vốn vay của các nhóm doanh nghiệp Biến phát hành vốn cổ phần sẽ trình bày khả năng huy động vốn cổ phần của doanh nghiệp Cuối cùng, tỷ lệ đầu tư của doanh nghiệp hàm ý những thay đổi trong quyết

Trang 37

định đầu tư của doanh nghiệp Các biến trên có khá nhiều cách để đo lường, tuy nhiên sau khi tham khảo paper gốc cũng như đánh giá về mức độ cụ thể rõ ràng trong cách tính, tác giả đã lựa chọn cách tính được trình bày như trong bảng 3.2-1

Theo đó:

Biến “Tỷ lệ đòn bẩy tài chính” thể hiện tỷ lệ sử dụng nợ cũng như khả năng

huy động vốn của doanh nghiệp

Biến “Tài trợ cho vay” thể hiện mức cung tiền của ngân hàng và các tổ chức

tín dụng khác đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau

Biến “Phát hành vốn cổ phần” thể hiện tỷ lệ lượng tiền thu được từ việc

phát hành vốn cổ phần sau khi đã thanh toán, chi trả cổ tức so với Tổng tài sản của doanh nghiệp

Biến “Tỷ lệ đầu tư” cho biết mức độ đầu tư của một doanh nghiệp thay đổi

như thế nào so với kỳ trước đó

Ngoài các biến chính trên, tác giả còn xem xét các biến kiểm soát như:

Biến “Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của tổng tài sản” nhằm xem xét

giá trị của doanh nghiệp so với giá trị thị trường

Biến “Dòng tiền” để đánh giá kết quả thu nhập của doanh nghiệp qua đó

đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Biến “Nắm giữ tiền mặt” cho biết tỷ lệ tiền mặt doanh nghiệp đang nắm giữ,

từ đó giúp các nhà quản trị đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý

Biến “Quy mô tổng tài sản” nhằm giúp tác giả định hình và phân chia các

doanh nghiệp vào các nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ và nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn

Biến “Tỷ lệ sở hữu Nhà nước” nhằm giúp tác giả định hình và phân chia các doanh nghiệp vào các nhóm doanh nghiệp sở hữu Nhà nước với nhóm doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước

Trang 38

Tỷ lệ đầu tư INV = Sự thay đổi trong tài sản cố định+Khấu hao

Tài sản cố định ban đầu

Các biến kiểm soát

Tỷ số giá trị thị

trường trên giá

trị sổ sách

MTBV = Giá trị thị trường của tổng tài sản

Giá trị sổ sách của tổng tài sản

Dòng tiền CF = (Thu nhập sau thuế + Khấu hao)

Tổng tài sản của kỳ trước đó

Nắm giữ tiền

mặt

CASH = Tiền và tương đương tiền

Tổng tài sản của kỳ trước đó

Trang 39

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu và trình tự thực hiện

3.2.2.1 Công cụ thực hiện

Để hoàn thành mục tiêu của bài nghiên cứu, tác giả nhờ vào sự hỗ trợ của hai công cụ tính toán và thống kê khá phổ biến là phần mềm Excel và phần mềm Stata Sau khi tập hợp xong các dữ liệu thô, tác giả đã sử dụng phần mềm Excel để lọc dữ liệu, tính toán các chỉ số và sắp xếp lại theo trình tự các biến của mô hình hồi quy Sau khi đã hoàn thành xong dữ liệu đầu vào bằng phần mềm Excel, tác giả tiếp tục

sử dụng phần mềm Stata 13.0 để chạy mô hình hồi quy và các ước lượng liên quan

3.2.2.2 Trình tự thực hiện

Bước một, tác giả tiến hành thống kê mô tả dữ liệu Trước hết, để trả lời cho

các câu hỏi nghiên cứu đặt ra, tác giả đã xác định các nhóm doanh nghiệp nghiên cứu thông qua quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ sở hữu Nhà nước dựa trên mẫu 510 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Theo đó, 20% các doanh nghiệp có logarit

tự nhiên của tổng tài sản (LNTA) lớn nhất sẽ được xếp vào nhóm các doanh nghiệp

có quy mô lớn; 20% các doanh nghiệp có logarit tự nhiên của tổng tài sản (LNTA)

bé nhất được xếp vào nhóm các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Tương tự như vậy, các doanh nghiệp có tồn tại sở hữu Nhà nước trong vốn chủ sở hữu thuộc nhóm các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước, các doanh nghiệp có sở hữu Nhà nước bằng 0 thuộc nhóm các doanh nghiệp không có sở hữu Nhà nước Thông qua đó, tác giả

mô tả các chỉ số của các biến tính được trong hai giai đoạn

Bước hai, tác giả sử dụng ước lượng khác biệt trong khác biệt DID để tìm ra

những tác động khác nhau của mở rộng tín dụng đối với các nhóm doanh nghiệp khác nhau, bằng cách so sánh những thay đổi trong tài trợ doanh nghiệp và tỷ lệ đầu

tư ở các nhóm nghiên cứu trước và trong thời kỳ mở rộng tín dụng

Ngày đăng: 22/10/2019, 23:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm