ĐOÀN THỊ ANH ĐÀO MÔ HÌNH TÀI TRỢ CHO CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP BẰNG VỐN VAY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP... ĐOÀN THỊ ANH ĐÀO MÔ HÌNH
Trang 1ĐOÀN THỊ ANH ĐÀO
MÔ HÌNH TÀI TRỢ CHO CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP BẰNG VỐN VAY
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3ĐOÀN THỊ ANH ĐÀO
MÔ HÌNH TÀI TRỢ CHO CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP BẰNG VỐN VAY
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 5Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn
của người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo Những số liệu
phục vụ cho việc phân tích, nhận xét và đưa ra kết luận trong luận văn nghiên cứu này
do tác giả thu thập từ nguồn đáng tin cậy và được ghi chú nguồn gốc
Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, được đúc kết
từ quá trình học tập, quá trình làm việc và kết quả nghiên cứu trong thực tiễn của tác giả
TP Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 9 năm 2019
Tác giả
Đoàn Thị Anh Đào
Trang 7TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÓM TẮT
ABSTRACT
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề : 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 3
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu : 4
1.5 Cấu trúc luận văn: 4
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 Tài trợ dự án xây dựng từ nguồn vốn của doanh nghiệp: 6
2.2 Tài trợ dự án xây dựng từ nguồn vốn nhà nước: 9
Chương 3 MÔ HÌNH TÀI TRỢ DỰ ÁN XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP BẰNG VỐN VAY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH11 3.1 Mô hình tài trợ dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: 11
3.2 Các điều kiện thực hiện mô hình tài trợ: 13
Chương 4 QUÁ TRÌNH TÀI TRỢ DỰ ÁN XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP BẰNG NGUỒN VỐN VAY THEO CHƯƠNG TRÌNH 41 15
4.1 Thực trạng thực hiện Chương trình tài trợ theo Quyết định 41/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố 15
4.2 Quá trình thực hiện đầu tư xây dựng một dự án trường mầm non công lập và quá trình thực hiện tài trợ cho dự án bằng vốn vay: 16
Trang 84.3 Các rủi ro/ các vấn đề phát sinh: 33
4.3.1 Đối với chủ đầu tư (bên đi vay): 34 4.3.2 Đối với tổ chức tín dụng (bên cho vay): 37
Chương 5 GIẢI PHÁP TÀI TRỢ CHO CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP BẰNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 39 5.1 Những điểm hạn chế và không phù hợp kiến nghị điều chỉnh trong Chương trình huy động vốn, cho vay đầu tư xây dựng các dự án trường mầm non công lập 39 5.2 Giải pháp phát hành trái phiếu chính quyền địa phương 41 Chương 6 KẾT LUẬN 44 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 4.1 Tổng hợp chi phí dự án trường mầm non phường 15 quận 8 23 Bảng 4.2 Bảng thuyết minh tính lãi vay đưa vào tổng mức đầu tư 24 Bảng 4.3 Lịch trả nợ 31
Trang 11Mô hình tài trợ cho các dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Việc xây dựng nhiều trường mầm non nhằm đáp ứng lượng trẻ em độ tuổi mầm non đang tăng, nâng cao cơ sở vật chất, thiết bị cho giáo dục trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cần lượng vốn đầu tư rất lớn nhưng khả năng ngân sách có hạn Do đó Ủy ban nhân dân Thành phố đã ra Quyết định số 41/2014/QĐ-UBND ngày 26/11/2014 ban hành Quy định về Chương trình huy động vốn, cho vay đầu tư xây dựng trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là chương trình 41) nhằm giải quyết vấn đề này Đây là mô hình mới của thành phố trong việc đầu tư xây dựng các trường mầm non bằng nguồn tài trợ nợ Mục tiêu nghiên cứu nhằm phân tích
mô hình tài trợ cho các dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến 2018 Chương trình này mặc dù mang lại hiệu quả xã hội, giúp mở rộng mạng lưới trường mầm non trên địa bàn, đáp ứng cơ sở vật chất khang trang, tiện ích cho công tác nuôi dạy trẻ bậc học mầm non nhưng còn nhiều điểm chưa phù hợp trong quá trình thực hiện tài trợ đồng thời làm
quyền thành phố cần điều chỉnh và đề xuất phương thức huy động vốn khác là trái phiếu chính quyền địa phương
Từ khóa: tài trợ, trường mầm non, dự án xây dựng
Trang 12Ho Chi Minh City
The construction of many kindergartens to meet the increasing number of preschool children and to improve educational facilities and equipment in Ho Chi Minh city needs a huge investment but the budget is limited Therefore, the City People's Committee issued Decision No.41/2014/QD-UBND dated November 26,
2014, promulgating the Regulation on the program of mobilizing capital and providing loans for construction of public kindergartens in Ho Chi Minh City (also called program 41) to solve the problem This is a new model of the city to invest in the construction of kindergartens by sponsor loans The objective of this study is to analyze the funding model for public kindergarten projects by loans in Ho Chi Minh City from 2015 to 2018 This program brings about social efficiency and helps to expand the network of kindergartens in the area with spacious facilities and utilities for raising preschool children However, there are many points that are not yet appropriate
in the process of financing and it also increases public debt From these analyses, we can see the limitations of program 41 that the city government needs to adjust and propose another method of capital mobilization which is municipal bonds
Keywords: financing, kindergarten, construction project.
Trang 13Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề :
Hệ thống giáo dục Việt Nam đang được quan tâm đầu tư và nâng cao chất lượng giáo dục vì đầu tư cho giáo dục là quốc sách hàng đầu, là đầu tư phát triển Trong giai đoạn 2001 - 2010, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học tăng nhanh Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục cũng tăng theo, từ 15,3% năm 2001 lên 20% tổng chi ngân sách năm 2010 Công tác xã hội hoá giáo dục đã đạt được những kết quả quan trọng, nhất là việc huy động các nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất xây dựng các trường học và đóng góp kinh phí cho giáo dục Các nguồn đầu tư cho ngành giáo dục ngày càng được kiểm soát chặt chẽ hơn và đáp ứng hiệu quả sử dụng cho xã hội Cơ sở vật chất nhà trường dần được cải thiện Tỷ lệ phòng học kiên cố tăng từ 52% năm 2006 lên 71% năm 2010 Tuy nhiên cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường còn thiếu và lạc hậu Vẫn còn tình trạng phòng học tạm tranh tre, nứa lá ở mầm non và phổ thông, nhất là ở nơi vùng sâu, vùng xa Số lượng, chủng loại và chất lượng các phương tiện dạy học cũng như thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn chưa đảm bảo so với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục Quỹ đất dành cho các cơ sở giáo dục chưa đạt chuẩn quy định Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2020 đối với giáo dục mầm non là hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm xuống dưới 10% (Chính Phủ, 2012)
Do đó, các trường mầm non đang được triển khai đầu tư nhiều dự án xây dựng mới, cũng như nâng cấp, mở rộng các trường cũ nhằm đáp ứng được số lượng trẻ em độ tuổi mầm non đang gia tăng, nâng cao cơ sở vật chất, thiết bị cho ngành giáo dục tại Việt Nam
Tại thành phố Hồ Chí Minh, việc đầu tư xây dựng các trường học vẫn là một trong những nhóm dự án được chú trọng vì mục tiêu phát triển nguồn lực con
Trang 14người nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hàng năm thành phố đã dành khoảng 2.000 tỷ đồng cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học (Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM, 2016) Trong hệ thống giáo dục hiện nay, thành phố rất quan tâm đến công tác chăm lo phát triển giáo dục mầm non, các cơ
sở vật chất được đầu tư xây dựng mới tăng dần qua các năm tuy nhiên vẫn chưa đủ
để đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của người dân địa phương, công nhân lao động tại các khu công nghiệp trong thành phố, do đó đã phát sinh khá nhiều điểm giữ trẻ tự phát tại các địa phương Bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước hiện nay đối với hoạt động nuôi dạy trẻ chưa chặt chẽ, thiếu sự quan tâm kiểm tra, giám sát chất lượng nuôi dạy trẻ nhất là đối với các cơ sở mầm non ngoài công lập (Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, 2014) Từ đó đã dẫn đến các hành vi ngược đãi đối với trẻ tại các nhóm trẻ tự phát, cơ sở nuôi dạy trẻ ngoài công lập chưa đủ chuẩn mà nhiều
cơ quan thông tấn báo chí đã đăng tải thông tin như : vụ bạo hành ở cơ sở mầm non Mầm Xanh ở Quận 12; vụ bạo hành tại cơ sở mầm non Ánh Sao Vàng, huyện Bình Chánh
Ngoài ra việc giữ trẻ ở độ tuổi từ 6 tháng tuổi đến 18 tháng tuổi tại các trường mầm non công lập vẫn chưa được quan tâm trong khi nhu cầu giữ trẻ ở độ tuổi này rất lớn đặc biệt là giới công nhân lao động và dân nhập cư từ nơi khác đến nên họ phải gửi con ở các nhóm trẻ tự phát thiếu an toàn, người giữ trẻ hầu như chưa được đào tạo bài bản về chuyên môn, thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh khi giải quyết tình huống xảy ra ở trẻ
Tỉ lệ dân số tại thành phố tăng nhanh; tiêu chuẩn về chất lượng giáo dục ngày càng được chú trọng về công tác giảng dạy, thiết bị giảng dạy, sĩ số học sinh trong mỗi lớp; dẫn đến áp lực về cơ sở vật chất giáo dục yêu cầu ngày càng cao Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra các giải pháp để giải quyết tình trạng nêu trên, một trong các giải pháp là ưu tiên xây dựng các trường mầm non để giải quyết tình trạng thiếu lớp đối với trẻ em mầm non và hạn chế được tình trạng bạo hành trẻ Tuy nhiên để có thể xây dựng được nhiều trường mầm non đáp ứng nhu cầu thực tế cần lượng vốn đầu tư rất lớn nhưng khả năng ngân sách có hạn, do
Trang 15đó Ủy ban nhân dân Thành phố đã ra Quyết định số 41/2014/QĐ-UBND ngày 26 tháng 11 năm 2014 ban hành Quy định về Chương trình huy động vốn, cho vay đầu
tư xây dựng trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhằm giải quyết lượng vốn đầu tư xây dựng trường mầm non (gọi tắt là Chương trình 41) Chương trình được thực hiện theo Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐND ngày 14 tháng 6 năm 2014 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hỗ trợ giáo dục mầm non Thành phố Hồ Chí Minh
Từ đó tác giả nhận thấy đây là mô hình mới của thành phố trong việc thực hiện giải pháp xây dựng các trường mầm non đáp ứng kịp thời nhu cầu đi học cho trẻ em trong độ tuổi mầm non trên toàn thành phố, cơ sở vật chất đạt chuẩn chất
lượng giáo dục và bảo vệ quyền trẻ em, vì vậy tác giả đã chọn đề tài: mô hình tài
trợ cho các dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến 2018
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến 2018 Chương trình 41 mặc dù mang lại hiệu quả xã hội giúp mở rộng mạng lưới trường mầm non trên địa bàn, đáp ứng cơ sở vật chất khang trang, tiện ích cho công tác nuôi dạy trẻ bậc học mầm non nhưng còn nhiều điểm chưa phù hợp trong quá trình thực hiện tài trợ đồng thời làm tăng nợ công cho ngân sách Từ đó rút ra những hạn chế và đưa ra các kiến nghị, đề xuất cho chính quyền thành phố
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu : các dự án xây dựng trường mầm non công lập được tài trợ bằng vốn vay trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2018
Đối tượng nghiên cứu : mô hình tài trợ các dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay
Trang 161.4 Phương pháp nghiên cứu :
Tác giả thu thập dữ liệu thứ cấp về các dự án xây dựng trường mầm non trên địa bàn TP.HCM từ năm 2015 đến năm 2018 theo danh mục dự án được duyệt tại Quyết định số 41/2014/QĐ-UBND ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm nguồn vốn, thời gian hoàn thành dự án, chi phí của dự án từ lúc phê duyệt tổng mức đầu tư đến khi phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành, thời gian giải ngân vốn vay, lãi suất cho vay, vốn gốc và lãi dự kiến của dự án, kế hoạch trả nợ vay
Việc thu thập dữ liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo của Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình quận huyện trên địa bàn TP.HCM
Do các dự án xây dựng đều phải thực hiện theo quy trình đầu tư công như dự
án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và quy trình tài trợ dự án được thực hiện theo những văn bản hướng dẫn của các Sở chuyên ngành nên tác giả chọn mẫu một
dự án trên tổng số dự án được duyệt thực hiện tại Quyết định số UBND ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
41/2014/QĐ-để tìm hiểu chi tiết về mô hình tài trợ theo Chương trình 41 Bằng cách phân tích quá trình thực hiện dự án, quá trình tài trợ dự án để thấy được mối quan hệ giữa hai quá trình này Theo đó tác giả lập các bảng dữ liệu về chi phí dự án, dữ liệu giải ngân, kế hoạch trả nợ gốc và lãi theo kỳ hạn trả để thực hiện mô tả, so sánh và đưa
ra các nhận định về mô hình tài trợ trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập và phân tích
1.5 Cấu trúc luận văn:
Luận văn thạc sĩ này ngoài tài liệu tham khảo và các phụ lục, được bố cục
dẫn đến mô hình tài trợ các dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu Chương
2, tác giả nêu lên cơ sở lý thuyết liên quan đến việc tài trợ cho dự án xây dựng Chương 3, tác giả đề cập mô hình tài trợ các dự án xây dựng trường mầm non bằng vốn vay trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Ở chương 4, tác giả đưa ra thực trạng thực hiện xây dựng các dự án trường mầm non công lập trong chương trình
Trang 1741; đồng thời chọn mẫu dự án tiêu biểu trong chương trình để phân tích các bước thực hiện dự án và các bước tài trợ dự án mà tác giả đã tham gia, qua đó thấy được quá trình thực hiện dự án có ảnh hưởng đến quá trình tài trợ dự án để từ đó rút ra những rủi ro, những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình 41 Tại chương 5, tác giả nêu lên những điểm hạn chế, không phù hợp của chương trình 41
đề xuất chính quyền thành phố cần điều chỉnh và đưa ra giải pháp tài trợ cho các dự
án đầu tư xây dựng trường mầm non công lập bằng phương án phát hành trái phiếu chính quyền địa phương Cuối cùng là chương 6, tác giả tóm tắt nội dung và kết luận
Trang 18Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Để thực hiện đầu tư một dự án xây dựng nói chung và đầu tư một dự án trường mầm non nói riêng có thể sử dụng từ nhiều nguồn tài trợ dài hạn khác nhau,
có thể chia làm hai loại nguồn tài trợ: tài trợ bên trong và tài trợ bên ngoài
2.1 Tài trợ dự án xây dựng từ nguồn vốn của doanh nghiệp:
Xem xét việc đầu tư cho các dự án xây dựng sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp, có thể sử dụng các loại nguồn tài trợ như:
a Nguồn tài trợ bên trong: còn gọi là nguồn vốn nội bộ, đây là nguồn tiền để tài
trợ cho các khoản đầu tư lấy từ các quỹ mà doanh nghiệp đã để lại từ khấu hao và
từ thu nhập không chi trả cổ tức Các cổ đông thường hài lòng với việc tái đầu tư từ nguồn tài trợ này vào những dự án có giá trị hiện tại thuần dương (NPV >0) vì họ
kỳ vọng sẽ giúp cho giá cổ phần của họ tăng Việc thực hiện đầu tư dự án từ nguồn vốn tài trợ này yêu cầu doanh nghiệp phải có sự tính toán trong việc sử dụng lợi nhuận cho tái đầu tư là bao nhiêu thay vì chi trả cổ tức, từ đó doanh nghiệp cần có chính sách chi trả cổ tức phù hợp (Brealey và cộng sự, 2011)
Sử dụng nguồn tài trợ bên trong giúp cho doanh nghiệp chủ động và kịp thời quyết định đầu tư dự án; đồng thời tránh được chi phí phát hành chứng khoán mới; tránh áp lực thanh toán nợ và lãi vay; không bị chia sẻ quyền kiểm soát; tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Bên cạnh đó việc sử dụng nguồn vốn này cũng gây ra một số hạn chế nhất định trong hoạt động của doanh nghiệp như: không đủ năng lực tài chính để đầu tư cho các dự án có quy mô lớn; không tạo động lực thúc đẩy các nhà quản lý mở rộng quy mô doanh nghiệp; không có tác động của đòn bẫy tài chính để làm tăng thu nhập cho chủ sở hữu
Ngoài ra doanh nghiệp vẫn có lúc bị thâm hụt tài chính, để bù đắp thâm hụt doanh nghiệp phải thực hiện cắt giảm cổ tức để gia tăng lợi nhuận giữ lại hoặc doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn tài trợ bên ngoài bằng cách phát hành nợ hay phát hành cổ phiếu mới (Brealey và cộng sự, 2011)
Trang 19b Nguồn vốn tài trợ bên ngoài: bao gồm nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu và
nguồn vốn từ phát hành nợ
b.1 Nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu là hình thức tài trợ vốn được huy động
từ các nhà đầu tư bằng cách phát hành cổ phiếu ra công chúng, bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
Nguồn vốn cổ phiếu thường: không có kỳ hạn và không phải hoàn vốn từ đó
sẽ giúp doanh nghiệp chủ động sử dụng vốn trong kinh doanh và đầu tư dự án quy
mô lớn mà không chịu áp lực trả nợ Việc chi trả cổ tức phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và chính sách cổ tức của công ty Nguồn vốn này giúp tăng hệ số vốn chủ sở hữu, tăng tỷ lệ đảm bảo nợ của công ty, tăng mức độ tín nhiệm và giảm rủi ro tài chính Khi công ty có chiều hướng phát triển tốt, lợi nhuận cao, cổ phiếu thường dễ bán hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu nên dễ dàng phát hành thêm cổ phần để huy động vốn Nguồn vốn cổ phần thường cũng có những hạn chế như: doanh nghiệp phải chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát công ty cho các cổ đông mới, gây khó khăn cho việc quản lý và điều hành kinh doanh của công ty Chia sẻ quyền phân chia thu nhập cao cho các cổ đông mới, gây bất lợi cho các cổ đông cũ khi công ty có triển vọng kinh doanh tốt trong tương lai Chi phí phát hành cổ phiếu thường cao hơn chi phí phát hành của cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu, do đầu tư vào cổ phiếu thường có mức độ rủi ro cao hơn nhiều so với đầu tư vào các loại chứng khoán khác Lợi tức cổ phần không được khấu trừ thuế, dẫn đến chi phí sử dụng vốn cổ phiếu thường cao hơn nhiều so với chi phí sử dụng
nợ Ngoài ra việc phát hành thêm cổ phiếu thường ra công chúng cũng dễ dẫn đến hiện tượng “loãng giá” cổ phiếu của công ty
Nguồn vốn cổ phần ưu đãi: có đặc điểm của cổ phần thường nhưng có những ràng buộc nhất định như doanh nghiệp phải trả cổ tức cho cổ phần ưu đãi trước khi chi trả cổ tức cho cổ phần thường, cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng Quản trị và quyết định những vấn đề quan trọng của công ty, vì vậy nó có cả đặc điểm của trái phiếu (Ross và cộng sự, 2013)
Do tính chất lưỡng tính của cổ phiếu ưu đãi, nên việc sử dụng cổ phiếu ưu đãi sẽ
Trang 20phù hợp trong bối cảnh nếu như việc sử dụng trái phiếu và cổ phiếu thường đều làm bất lợi cho doanh nghiệp, cổ phiếu ưu đãi là một nguồn tài trợ ít quan trọng hơn nợ (Brealey và cộng sự, 2011)
b.2 Nguồn vốn từ phát hành nợ: bên cạnh việc phát hành cổ phiếu mới,
doanh nghiệp có thể thực hiện phát hành nợ bằng các hình thức như vay vốn dài hạn của các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu với mục tiêu đầu tư vào các dự án nhằm làm giảm áp lực về vốn cho doanh nghiệp Việc tài trợ dự án là hoạt động cung cấp tài chính cho dự án đầu tư trong đó nhà đầu tư căn cứ chủ yếu vào dòng tiền phát sinh từ dự án để hoàn tất trách nhiệm tài chính, căn cứ vào chính tài sản và năng lực sinh lợi của dự án là giá trị bảo đảm các trách nhiệm tài chính Công ty điều hành dự án là đơn vị chịu trách nhiệm hoàn toàn về hoạt động của dự án, được hạch toán riêng Trách nhiệm giữa các bên tham gia dự án cao hơn và có mối liên quan chặt chẽ với nhau
Vay vốn dài hạn của các ngân hàng là hình thức huy động vốn mà theo đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Khoản vay dài hạn thường được hoàn trả theo phương thức đều đặn, thường xuyên, có thể sau một thời kỳ ân hạn ban đầu (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2003) Tài sản bảo đảm cho các khoản vay thường chính là tài sản hình thành từ vốn vay, ví dụ như bất động sản và công trình trên đất đối với dự án đầu tư bất động sản; nhà máy và máy móc thiết bị đối với công trình xây dựng nhà máy sản xuất… Ngoài ra, một số ngân hàng, ngoài tài sản hình thành từ vốn vay, có thể yêu cầu bổ sung khoảng 20 -30% tài sản khác trước khi tài sản hình thành từ vốn vay hoàn thành
Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức được quy định trước Mệnh giá trái phiếu (giá trị danh nghĩa của trái phiếu) là giá trị ghi trên trái phiếu và được xem là số vốn gốc Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định số lãi tiền vay mà người phát hành
Trang 21phải trả Mệnh giá cũng thể hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn Lãi suất trái phiếu (lãi suất danh nghĩa) thường được ghi trên trái phiếu hoặc do người phát hành công bố Lãi suất này được xác định theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá trái phiếu và cũng là căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu Kỳ hạn (thời gian đáo hạn) là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả vốn lần cuối Trái phiếu có 3 loại: ngắn hạn (thời gian dưới 1 năm), trung hạn (thời gian từ 1 năm đến 5 năm) và dài hạn (thời gian từ 5 năm trở lên)
Kỳ trả lãi là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu Lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi của trái phiếu thường được trả một hoặc hai lần mỗi năm Giá phát hành là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành Thông thường giá phát hành được xác định theo tỷ
lệ phần trăm (%) của mệnh giá Tùy theo tình hình của thị trường và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách thích hợp Có thể phân biệt 3 trường hợp: giá phát hành bằng mệnh giá (ngang giá), giá phát hành dưới mệnh giá (giá chiết khấu) và giá phát hành trên mệnh giá (giá gia tăng)
2.2 Tài trợ dự án xây dựng từ nguồn vốn nhà nước:
Tương tự như các nguồn tài trợ đầu tư dự án của doanh nghiệp, chúng ta sẽ xem xét việc đầu tư các dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước, có thể sử dụng các loại nguồn vốn tài trợ như:
a Nguồn vốn ngân sách Nhà nước (tài trợ bên trong): là nguồn vốn nằm trong dự
toán ngân sách Nhà nước được Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định; là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được xây dựng dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Quốc hội, 2015) Dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước thường được xây dựng định kỳ hàng năm
b Nguồn vốn Nhà nước ngoài ngân sách (tài trợ bên ngoài): vốn Nhà nước ngoài
ngân sách là vốn theo quy định của pháp luật nhưng không bao gồm vốn ngân sách Nhà nước (Chính phủ, 2015) Vốn Nhà nước ngoài ngân sách bao gồm các nguồn vốn như công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa
Trang 22phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất (Quốc hội, 2013)
Nhà nước không thể thực hiện việc phát hành cổ phiếu như doanh nghiệp, do
đó nguồn vốn tài trợ ngoài ngân sách khi đầu tư xây dựng dự án hầu hết là sử dụng nguồn vốn từ phát hành nợ Việc phát hành nợ như vay vốn, phát hành công trái, trái phiếu cũng phải tuân thủ các quy định liên quan đến việc phát hành chứng khoán của Chính phủ
Việc tài trợ cho dự án xây dựng thuộc đầu tư công của địa phương bằng hình thức vay vốn của các tổ chức tín dụng cũng tương tự như cách thức tài trợ cho dự
án xây dựng của doanh nghiệp từ vốn vay do đó cũng có những rủi ro trong quá trình thực hiện tài trợ Theo kết quả nghiên cứu của Blanc-Brude và cộng sự, bên cho vay sẽ xác định hệ thống rủi ro thông qua quản lý rủi ro trong các hợp đồng và thiết kế dự án Họ sẽ kiểm soát đáng kể và chia sẻ trách nhiệm quan trọng cùng với bên đi vay để thực hiện dự án Khu vực công không hoàn toàn có sự đảm bảo rủi ro
về nợ (Blanc-Brude và cộng sự, 2007)
Vì vậy để triển khai đầu tư một loạt các dự án trường mầm non công lập, giảm áp lực về nguồn vốn ngân sách, Ủy ban nhân dân thành phố có thể sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài như nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước, nguồn phát hành trái phiếu chính quyền địa phương và đặc biệt là nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng
Tác giả chưa tìm thấy các mô hình nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam về mô hình tài trợ các dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay tương tự như thành phố Hồ Chí Minh
Trang 23Chương 3
MÔ HÌNH TÀI TRỢ DỰ ÁN XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP BẰNG VỐN VAY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1 Mô hình tài trợ dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh:
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-UBND ngày 26 tháng 11 năm 2014 quy định về Chương trình huy động vốn, cho vay đầu tư xây dựng trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Chương trình 41) nhằm tài trợ vốn cho các dự án xây dựng trường mầm non Việc đầu tư này sẽ được tài trợ từ nguồn vốn vay của công
ty Đầu tư tài chính thành phố và một số Ngân hàng tham gia chương trình Đây là một mô hình mới của thành phố về tài trợ cho các dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay theo danh mục dự án đề nghị của các địa phương và tại các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố Mô hình tài trợ này cũng phù hợp với cơ
sở lý thuyết nêu trên
Hình 1 Mô hình tài trợ dự án xây dựng trường mầm non công lập bằng vốn vay
Chủ đầu tư xây dựng
Ủy ban nhân dân Thành phố
Sở Kế hoạch – Đầu tư
Sở Tài chính
Phòng Tài chính – Kế hoạch quận
huyện
Dự án xây dựng trường mầm non công lập trên địa bàn Thành phố
Trang 24Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chọn chủ thể vay vốn là các chủ đầu tư của các dự án được phê duyệt tham gia Chương trình 41 và chọn các đơn vị
tổ chức tín dụng là Công ty Đầu tư tài chính thành phố và một số Ngân hàng để tham gia cho vay đối với các dự án thuộc Chương trình 41
Các chủ đầu tư dự án (bên đi vay) trực tiếp ký hợp đồng tín dụng với các tổ chức tín dụng (bên cho vay) Khi có khối lượng hoàn thành nghiệm thu, bên đi vay lập hồ sơ đề nghị thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước để kiểm soát và xác nhận giá trị khối lượng thực hiện (thủ tục hồ sơ như dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước)
và gửi hồ sơ đến bên cho vay để giải ngân vốn vay theo hợp đồng và tiến độ thực hiện của dự án
Sau khi công trình hoàn thành nghiệm thu bàn giao, bên đi vay phối hợp Phòng Tài chính – Kế hoạch quận, huyện làm việc với bên cho vay thống nhất số liệu đã giải ngân và lập lịch trả nợ vay của dự án, nợ gốc được chia đều theo số năm trả nợ vay Căn cứ lịch trả nợ vay, bên đi vay báo cáo Phòng Tài chính – Kế hoạch quận, huyện tổng hợp đăng ký kế hoạch vốn với Sở Kế hoạch – Đầu tư và Sở Tài chính thành phố để đề xuất bố trí kế hoạch vốn đầu tư trả nợ vay trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt
Trên cơ sở kế hoạch vốn được Ủy ban nhân dân thành phố duyệt giao cho bên
đi vay, bên đi vay lập thủ tục trả nợ vay gửi Kho Bạc Nhà nước thực hiện giải ngân
nợ gốc và lãi vay chuyển trả trực tiếp đến bên cho vay Thời hạn trả nợ gốc và lãi vay được thực hiện định kỳ hai lần/năm trong thời gian 05 ngày làm việc đầu tháng
3 (lần 1) và đầu tháng 9 (lần 2) hàng năm
Sau khi dự án hoàn thành nghiệm thu và bàn giao đưa vào sử dụng, chủ đầu tư quyết toán các chi phí của dự án bao gồm lãi vay trong thời gian thi công Sau khi hoàn thành việc trả nợ gốc và lãi vay của dự án, chủ đầu tư sẽ quyết toán bổ sung toàn bộ chi phí lãi vay vào dự án Hồ sơ quyết toán được gửi cho cơ quan chức năng thẩm tra và phê duyệt quyết toán Sau đó hồ sơ được gửi đến bên cho vay để hoàn tất hồ sơ thủ tục vay
Trang 253.2 Các điều kiện thực hiện mô hình tài trợ:
Việc thực hiện mô hình này cần đảm bảo các điều kiện khi tham gia như sau: Các dự án đầu tư xây dựng trường mầm non công lập phải phù hợp quy hoạch được duyệt, được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua chủ trương đầu tư, đã có sẵn đất sạch hoặc đã thực hiện xong bồi thường giải phóng mặt bằng để đủ điều kiện khởi công được ngay
Chủ thể vay vốn (còn gọi bên đi vay) là chủ đầu tư các dự án đầu tư xây dựng trường mầm non công lập cũng là Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình các quận, huyện (các đơn vị này thuộc loại hình đơn vị sự nghiệp công lập) Các tổ chức tín dụng, Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố (còn gọi là bên cho vay) đăng ký với Sở Tài chính hạn mức vốn vay và cam kết chấp hành đầy đủ các điều kiện của Chương trình huy động vốn nêu trên Trình tự thủ tục đầu tư xây dựng các dự án trường mầm non công lập tương tự như các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Nguồn vốn đầu tư các dự án từ nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, Công
ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố Ngân sách thành phố bố trí kế hoạch vốn
để trả nợ gốc và lãi vay Thời hạn vay tối đa của một dự án là 8 năm Thời gian bắt đầu trả nợ gốc và lãi vay là thời gian công trình hoàn thành nhưng tối đa không quá
24 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên Mức vốn vay tối đa bằng với tổng mức đầu tư của dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
Lãi suất vay vốn được tính bằng lãi suất tiết kiệm cá nhân kỳ hạn 12 tháng (loại trả sau) của Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam cộng phí quản lý không quá 2%/ năm nhưng tối đa không quá mức lãi suất huy động tiền đồng Việt Nam kỳ hạn 12 tháng bình quân của 4 ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố gồm Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh được công bố hàng
Trang 26tháng (loại trả sau) cộng phí quản lý 2%/năm Lãi suất này do Sở Tài chính thành phố thông báo bằng văn bản hàng tháng Kỳ điều chỉnh lãi suất mỗi 6 tháng một lần
Trang 27
Chương 4 QUÁ TRÌNH TÀI TRỢ DỰ ÁN XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP BẰNG NGUỒN VỐN VAY THEO CHƯƠNG TRÌNH 41
4.1 Thực trạng thực hiện Chương trình tài trợ theo Quyết định 41/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố
Tổng số dự án được phê duyệt thực hiện theo chương trình gồm 86 dự án xây dựng trường mầm non công lập, danh mục các dự án được phê duyệt tại Quyết định
số 6483/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2014 và Quyết định số UBND ngày 11 tháng 9 năm 2015 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và danh sách các tổ chức tín dụng tham gia chương trình cho vay Hạn mức cho vay của các tổ chức tín dụng cũng được cơ quan tài chính công bố (6.100 tỷ đồng của
4541/QĐ-05 tổ chức tín dụng tham gia chương trình bao gồm 4 ngân hàng và 1 công ty Đầu
tư Tài chính Nhà nước thành phố) theo văn bản số 9387/STC-ĐTSC ngày 08 tháng
12 năm 2015
Trong số 86 dự án bắt đầu được triển khai từ năm 2015, đến nay đã có 79 dự
án đã hoàn thành với 1.063 phòng học đáp ứng nhu cầu học tập của khoảng 31.900 trẻ, trong đó có 07 dự án được đầu tư xây dựng tại 06 khu chế xuất, khu công nghiệp (khu chế xuất Tân Thuận, khu chế xuất Linh Trung 1, khu chế xuất Linh Trung 2, khu công nghiệp Tân Tạo, khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, khu công nghiệp Lê Minh Xuân) Các dự án hầu hết đều hoàn thành nghiệm thu đưa vào sử dụng, kịp thời giúp khắc phục tình trạng thiếu trường lớp cho bậc học mầm non, đáp ứng nhu cầu dạy và học của giáo viên và các nhóm trẻ Các phòng học đều được trang bị đầy đủ các thiết bị, phương tiện dạy học góp phần nâng cao chất lượng phát triển toàn diện trẻ nhỏ Có 02 dự án bị chậm tiến độ thi công do đang thực hiện công tác giải phóng mặt bằng (trong đó 01 dự án đang đề xuất đưa ra khỏi chương trình) Còn 05 dự án chưa đủ điều kiện khởi công được ngay phải đưa
ra khỏi chương trình do vướng mặt bằng
Trang 28Tổng mức đầu tư được duyệt của 81 dự án đang thực hiện theo chương trình
là 4.369.220 triệu đồng trong đó tổng giá trị lãi vay dự kiến 1.137.179 triệu đồng, như vậy tỷ lệ lãi vay dự kiến tính trên tổng mức đầu tư là:
1.137.179
4.369.220−1.137.179 x 100 = 35,18%
Trong số 79 dự án nghiệm thu đưa vào sử dụng có 12 dự án đang thực hiện tổng quyết toán dự án và 67 dự án đã được phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành Như vậy các dự án trong chương trình hầu hết đang trong giai đoạn trả lãi vay sau 2 năm ân hạn Khả năng kết thúc chương trình vào năm 2024
Các dự án khi tham gia Chương trình 41 đều phải tuân thủ quy trình thực hiện
dự án đầu tư như dự án thực hiện từ nguồn vốn ngân sách và quy trình thực hiện vay vốn để đầu tư dự án được triển khai thống nhất theo văn bản hướng dẫn của các
Sở chuyên ngành Vì vậy việc chọn một dự án mẫu để phân tích có thể thấy được những vấn đề trong quá trình thực hiện tài trợ bằng vốn vay của Chương trình 41
Để hiểu chi tiết hơn, tác giả đã chọn dự án đầu tư xây dựng trường mầm non Phường 15 Quận 8 (nay được gọi là trường mầm non Hoa Phượng thuộc Phường
15 Quận 8) mà tác giả đã tham gia để phân tích mô hình tài trợ này
4.2 Quá trình thực hiện đầu tư xây dựng một dự án trường mầm non công lập
và quá trình thực hiện tài trợ cho dự án bằng vốn vay:
Việc xem xét quá trình thực hiện đầu tư xây dựng một dự án trường mầm non công lập và quá trình thực hiện tài trợ cho dự án bằng vốn vay để giúp cho chúng ta thấy sự tương quan giữa hai quá trình này có mối liên hệ với nhau sẽ dẫn đến nhiều vấn đề phát sinh và rủi ro trong quá trình thực hiện
Trước tiên, chúng ta sẽ xem xét quá trình thực hiện của dự án xây dựng trường mầm non Phường 15 Quận 8
4.2.1 Quá trình thực hiện đầu tư xây dựng của dự án trường mầm non Phường 15 Quận 8:
Đầu tiên dự án phải được phê duyệt chủ trương đầu tư theo Nghị quyết số 22/2012/NQ-HĐND ngày 05 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng nhân dân thành phố Sau đó dự án được phê duyệt trong kế hoạch đầu tư xây dựng giai đoạn 2014-
Trang 292015 của thành phố theo Nghị quyết số 28/2013/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm
2013 của Hội đồng nhân dân thành phố
Năm 2014, dự án được thành phố giao vốn chuẩn bị đầu tư theo Quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch vốn số 459/QĐ-UBND ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Khi triển khai thực hiện dự án phải qua 3 giai đoạn: chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng (Chính phủ, 2015)
a Giai đoạn chuẩn bị dự án:
Chủ đầu tư dự án đã tiến hành lập dự toán chuẩn bị đầu tư, lập hồ sơ dự án đầu tư xây dựng trường mầm non Phường 15 Quận 8 để phục vụ cho 160 trẻ trong
độ tuổi nhà trẻ với 8 nhóm lớp và 360 trẻ trong độ tuổi mẫu giáo với 12 nhóm lớp gồm các nội dung chính sau:
1 Tên dự án: Trường mầm non Phường 15 Quận 8
2 Chủ đầu tư: Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình Quận 8
3 Tổ chức tư vấn lập dự án: Công ty cổ phần kỹ thuật xây dựng và thương mại B.R.I.G.H.T
4 Chủ nhiệm lập dự án: KTS Lâm Việt Châu
5 Mục tiêu đầu tư xây dựng: nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của bậc học mầm non trên địa bàn Phường 5 và khu vực lân cận
6 Nội dung và quy mô đầu tư xây dựng:
Quy mô xây dựng: là 20 phòng học và các phòng chức năng Hạng mục chính: tầng cao 02 tầng (trệt, 1 lầu, mái bê tông cốt thép), chiều cao công trình (tính
chiều cao công trình (tính từ nền sân đến đỉnh mái) 3,85m, diện tích xây dựng
nhà trẻ và mẫu giáo; trang thiết bị cho khối văn phòng, bếp ăn, phòng giặt và đồ
7 Địa điểm xây dựng: tại khu dân cư Rạch Lào Phường 15 Quận 8
Trang 308 Diện tích đất sử dụng phù hợp quy hoạch: 3.777,7 m2
9 Phương án xây dựng (còn gọi là thiết kế cơ sở), bao gồm các nội dung: Phương án kết cấu: của các khối nhà chính, nhà bảo vệ, nhà xe giáo viên, tường rào, sân chơi ngoài trời, sân đường nội bộ, hồ nước ngầm (chữa cháy, sinh hoạt), hố ga, bể tự hoại 5 ngăn, cây xanh thảm cỏ, hệ thống xử lý nước thải
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật: cao độ thiết kế (cốt nền sân), hệ thống cấp điện, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, đường giao thông, hệ thống phòng cháy chữa cháy (đã được thẩm định của công an phòng cháy chữa cháy thành phố), bảo vệ môi trường
10 Loại, cấp công trình: công trình công cộng, cấp III
12 Nguồn vốn đầu tư: ngân sách thành phố tập trung
13 Hình thức quản lý dự án: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
14 Thời gian thực hiện: 2014-2017
Dự án trường mầm non Phường 15 Quận 8 là dự án nhóm C, đã được Ủy ban nhân dân Quận 8 phê duyệt dự án đầu tư xây dựng theo Quyết định số 9158/QĐ-UBND ngày 28 tháng 10 năm 2014 với các nội dung trên do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phân cấp quyết định đầu tư theo Quyết định số 126/2007/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2007
Sau khi dự án được phê duyệt, Chủ đầu tư lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu phải lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật đấu thầu và đã được