Cấu trúc vốn được đo bằng 3 biến: nợ ngắn hạn STD, nợ dài hạn LTD, Tổng nợ TD và hiệu quả doanh nghiệp đo bằng 2 biến: Tỉ suất sinh lợi trên tài sản ROA và Tỉ suất sinh lợi trên vốn cổ p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU
QUẢ CỦA CÁC CÔNG TY THUỘC NGÀNH NĂNG LƯỢNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu
độc lập của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS ĐINH THỊ THU HỒNG Các nội dung và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào Tất cả các tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận
văn đều được trích dẫn đầy đủ và rõ ràng
TP.HCM, ngày 5 tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Hồ Thị Trúc Viên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo khoa Tài Chính và khoa Sau Đại học; Quý
Thầy Cô trường Đại học Kinh tế Tp HCM đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho
tôi Đặc biệt là người hướng dẫn khoa học, TS Đinh Thị Thu Hồng, Cô đã hướng dẫn rất
tận tình, chu đáo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Công Ty Điện Lực Hóc Môn đã tạo điều kiện
cho tôi được tham gia khóa học và luôn hỗ trợ tôi suốt trong quá trình học tập và công
tác
Tôi cũng trân trọng bày tỏ tình cảm của mình đối với tập thể lớp và những cá nhân,
bạn bè đã cùng học tập và chia sẻ với nhau trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận
văn cũng như mãi về sau này
Cuối cùng, tôi muốn nói lời cảm ơn đến gia đình đã luôn đồng hành, động viên và
hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập Nhất là Ba Mẹ tôi luôn nhắc nhở tôi phải học tập
không ngừng để trưởng thành
Hồ Thị Trúc Viên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC ĐỒ THỊ viii
TÓM TẮT ix
ABSTRACT x
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Bố cục của luận văn 3
Kết luận chương 1 3
CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 4
2.1 Khung lý thuyết 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.1.1 Cấu trúc vốn của DN 4
2.1.1.2 Hiệu quả của doanh nghiệp 4
2.1.2 Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả của DN qua các lý thuyết 6
2.2 Các nghiên cứu trước đây về cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hiệu quả của DN 11
2.2.1 Nghiên cứu của Dimitris Margaritis, Maria Psillaki (2010) 11
2.2.2 Nghiên cứu của Samuel Fosu (2013) 12
2.2.3 Nghiên cứu của Kwangmin Park, SooCheong (Shawn) Jang (2013) 12
2.2.4 Nghiên cứu của Wan Shahzlinda Shah Bt Shahara và Wan Shahdila Shah Bt Shaharb (2015) 13
2.2.5 Nghiên cứu của Oyakhilome W Ibhagui, Felicia O Olokoyo (2018) 14
2.2.6 Nghiên cứu của Nguyễn Văn Duy, Đào Trung Kiên, Nguyễn Thị Hằng, Đào Thị Hương (2014) 14
2.2.7 Nghiên cứu của Ngô Văn Toàn và Vũ Bá Thành (2016) 15
2.2.8 Nghiên cứu của Võ Minh Long (2017) 15
Trang 62.2.9 Nghiên cứu Le Thi Phuong Vy và Phan Thi Bich Nguyet (2017) 16
Kết luận chương 2 17
CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 18
3.2 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu định lượng 18
3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu 18
3.2.2 Mô hình nghiên cứu 21
3.3 Mô tả các biến và cách tính 21
3.3.1 Biến độc lập 21
3.2.3 Biến phụ thuộc 22
3.3 Phương pháp kỹ thuật 23
3.3.1 Thống kê mô tả 23
3.3.2 Các kiểm định cần thiết 23
3.3.3 Hồi quy bằng mô hình GMM GMM 24
Kết luận chương 3 25
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Phân tích thực trạng cấu trúc vốn và hiệu quả của các công ty ngành năng lượng 26 4.1.1 Tổng quan về các công ty ngành năng lượng Việt Nam 26
4.1.2 Thực trạng CTV của các DN ngành năng lượng niêm yết trên TTCK VN 28
4.1.3 Thực trạng hiệu quả của các DN ngành năng lượng niêm yết trên TTCK VN 29
4.1.4 Thực trạng mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả của các DN ngành năng lượng niêm yết trên TTCK VN 30
4.2 Thống kê mô tả các biến 31
4.3 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 32
4.4 Tác động của đòn bẩy đến hiệu quả công ty niêm yết ngành năng lượng 33
4.4.1 Ước lượng bằng các mô hình: (1) Pool OLS, (2) FEM, (3) REM cho ROA 33
4.4.2 Ước lượng bằng các mô hình Pool OLS, FEM, REM cho ROE 33
4.5 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 34
4.5.1 Kiểm định hiện tượng tự đa cộng tuyến 34
4.5.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 35
4.5.3 Kiểm định phương sai sai số thay đổi (White test) 35
4.6 Tác động của CTV đến hiệu quả DN ngành năng lượng bằng GMM 37
Kết luận chương 4 40
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 41
5.1 Kết luận 41
Trang 75.2 Hàm ý nghiên cứu 41
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 43
Kết luận chương 5 43
PHỤ LỤC 47
Phụ lục 1: Tập đoàn năng lượng lớn nhất thế giới chuẩn bị vào Việt Nam 47
Phụ lục 2 Các công ty năng lượng Anh "ngắm nghía" thị trường Việt Nam 48
Phụ lục 3a Đa dạng hóa liên quan và không liên quan 48
Phụ lục 3b Ngành năng lượng Việt Nam đang đi ngược xu thế 48
Phụ lục 4a: Danh sách 44 công ty niêm yết thuộc ngành năng lượng, điện khí 49
Phụ lục 4b: Danh sách công ty ngành năng lượng/Điện khí 56
Phụ lục 5: Dữ liệu chạy mô hình (trích) 57
Phụ lục 6: Cấu trúc vốn và hiệu quả DN BQ qua các năm 57
Phụ lục 7: Kết quả chạy mô hình 58
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
(Energy Industries Council)
(variance-inflating factor)
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp ảnh hưởng của CTV đến hiệu quả DN của các nghiên cứu
trước 17
Bảng 3.1: Cấu trúc vốn DN qua các năm Error! Bookmark not defined Bảng 3.2: Hiệu quả DN qua các năm Error! Bookmark not defined Bảng 3.3: Mối quan hệ giữa hiệu quả DN và cấu trúc vốn Error! Bookmark not defined Bảng 3.4: Bảng kỳ vọng ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả DN 20
Bảng 3.5: Các tính và thu thập dữ liệu các biến phụ thuộc 22
Bảng 3.6: Các kiểm định nhằm phát hiện những vi phạm của mô hình 23
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 31
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 32
Bảng 4.3: Tổng hợp ảnh hưởng của CTV đến ROA theo các mô hình ước lượng 33
Bảng 4.4: Ước lượng bằng các mô hình Pool OLS, FEM, REM cho ROE 34
Bảng 4.5: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 35
Bảng 4.6: Kiểm định hiện tượng tự tương quan 35
Bảng 4.7: Kiểm định phương sai sai số thay đổi 36
Bảng 4.8: Kiểm định phương sai sai số thay đổi bằng Breusch & Pagan 37
Bảng 4.9: Ước lượng tác động của CTV đến ROA 38
Bảng 4.10: Ước lượng tác động của CTV đến ROE 39
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Mối quan hệ giữa đòn bẩy, dòng tiền tự do, đa dạng hóa và hiệu quả DN 9
Hình 3.5 :Mô hình nghiên cứu 23
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước 23
Hình 4.1: Cấu trúc vốn DN giai đoạn 2012-2018 28
Hình 4.2: Hiệu quả DN giai đoạn 2012-2018 29
Hình 4.4: Mối quan hệ giữa TD và ROE giai đoạn 2012-2018 30
Trang 11TÓM TẮT
Luận văn thực hiện nhằm mục tiêu chủ yếu là nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố cấu trúc vốn lên hiệu quả của các công ty ngành năng lượng/ điện khí niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Cấu trúc vốn được đo bằng 3 biến: nợ ngắn hạn (STD), nợ dài hạn (LTD), Tổng nợ (TD) và hiệu quả doanh nghiệp đo bằng 2 biến: Tỉ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) và Tỉ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE)
Phương pháp nghiên cứu sử dụng là: PooL OLS, FEM và REM Dữ liệu được thu thập chủ yếu từ báo cáo tài chính của 44 công ty ngành năng lượng điện khí niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Do mô hình bị vi phạm gây
ra một số hạn chế (khuyết tật của mô hình) nên cuối cùng đã ước lượng bằng mô hình GMM 2 bước
Cuối cùng, luận văn cũng chỉ ra hàm ý khi doanh nghiệp cấu trúc vốn có nợ thì nó sẽ là đòn bẩy để gia tăng tỷ suất sinh lời cho chủ sở hữu nhưng nó cũng đầy rủi ro Dưới tác động của 3 biến kiểm soát quy mô doanh nghiệp (SIZE), Tăng trưởng doanh thu (SGROWTH) và Tỉ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản (TANG) Kết quả từ GMM cho thấy SIZE và SGROWTH tác động tích cực đến hiệu quả doanh nghiệp, riêng biến TANG thì ảnh hưởng tiêu cực
Ngoài ra, đề tài cũng chỉ ra những hạn chế trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Từ khóa: cấu trúc vốn, hiệu quả doanh nghiệp, Công ty ngành năng lượng/điện khí
Trang 12ABSTRACT
The thesis focuses on studying the effects of capital structure factors on the efficiency of energy / gas power companies listed on Vietnam's stock market
Capital structure is measured by 3 variables: short-term debt (STD), long-term debt (LTD), Total debt (TD) and enterprise efficiency measured by 2 variables: Return on assets (ROA) and Ratio return on equity (ROE)
The research methods used are: POLL OLS, FEM and REM Data are collected mainly from the financial statements of 44 companies of electricity and gas industry listed on the Vietnam stock market Because the violated model causes some limitations (defects of the model), it is finally estimated by 2-step GMM model
Finally, the thesis also indicates that when capital structure enterprises have debt, it will
be a leverage to increase profitability for owners but it is also risky Under the impact
of 3 corporate size control variables (SIZE), SGROWTH revenue growth and fixed assets on total assets (TANG) Results from GMM show that SIZE and SGROWTH have positive impacts on business efficiency whereas TANG has negative ones
In addition, the thesis also pointed out the limitations in the research process and proposed the next research direction
Keywords: capital structure, business efficiency, energy / gas industry company
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Lý do chọn đề tài
Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả của các công ty là vấn đề nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu, đã có nhiều giả thuyết giải thích mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và tác động của nó lên hiệu quả hoạt động của
DN như là một vấn đề cốt lõi trong tài chính Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu cho đến thời điểm hiện tại còn chưa thống nhất:
Cấu trúc vốn liên quan đến tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu mà công ty sử dụng cho nguồn tài trợ của mình
Theo quan điểm truyền thống cho rằng khi một doanh nghiệp bắt đầu vay mượn trong cấu trúc vốn của mình thì thuận lợi vượt trội hơn bất lợi: Do chi phí
nợ thấp, kết hợp với thuận lợi từ tấm chắn thuế sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) khi nợ tăng Trái với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958 và 1963) đã tìm hiểu xem WACC thay đổi ra sao khi DN gia tăng hay giảm bớt vay mượn, đã chứng minh rằng trong những điều kiện nhất định thì một cấu trúc vốn có nợ hoàn toàn có thể là một cấu trúc vốn tối ưu Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, các DN có cơ hội kinh doanh giống nhau và tỉ suất sinh lợi mong đợi hàng năm giống nhau thì phải có tổng giá trị giống nhau bất chấp cấu trúc vốn nào hay cách thức cấp vốn ra sao MM đã kết luận rằng nếu tất cả DN có TSSL mong đợi giống nhau và giá trị giống nhau thì cũng phải có WACC giống nhau ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu
Trong cơ chế thị trường và thời kỳ hội nhập, có được càng nhiều vốn càng tốt, song điều quan trọng hơn là với số vốn đó doanh nghiệp phân bổ vào các khâu nào với tỷ trọng là bao nhiêu cho hợp lý và đạt được hiệu quả tốt nhất Nói cách khác, là nếu doanh nghiệp có vốn thì chưa đủ, điều quan trọng là sử dụng vốn đó như thế nào để đáp ứng yêu cầu kinh doanh và nâng cao hiệu quả của đồng vốn Nếu doanh nghiệp có cơ cấu vốn hợp lý thì không chỉ quyết định sử dụng vốn có hiệu quả mà còn tiết kiệm được vốn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Với lập luận rằng trong thị trường của một nước đang phát triển như Việt Nam, mức lợi của nợ từ khoản tiết kiệm thuế có thể thấp hơn chi phí
Trang 14kiệt quệ tài chính Thêm nữa, vai trò giám sát nợ không lớn vì sự bất cân xứng nặng nề trong thông tin và hệ thống tài chính kém phát triển Vì những lý do này,
em đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả của các công ty
thuộc ngành năng lượng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
để làm luận văn tốt nghiệp, với mong muốn chủ yếu đi vào phân tích cấu trúc vốn của các công ty thuộc ngành năng lượng niêm yết tại Việt Nam; xem xét ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả của các công ty này và đưa ra một số khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Vận dụng một số lý thuyết nền tảng cũng như các nghiên cứu thực nghiệm
về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả của doanh nghiệp, luận văn kỳ vọng đạt được 2 mục tiêu:
- Phân tích cấu trúc vốn của các công ty ngành năng lượng được niêm yết trên thị trường chứng khoán
- Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả của các doanh nghiệp thuộc ngành năng lượng được niêm yết trên thị trường chứng khoán
- Trên cơ sở đó đề xuất các chính sách nhằm xây dựng cấu trúc vốn hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ trả lời câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Cấu trúc vốn của các công ty ngành năng lượng như thế nào?
- Cấu trúc vốn có tác động đến hiệu của các công ty thuộc ngành năng lượng hay không? Và chiều hướng tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả của các công ty ngành này như thế nào?
- Đề xuất các chính sách gì nhằm xây dựng cấu trúc vốn hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Trang 151.4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Về phạm vi không gian: nghiên cứu cấu trúc vốn và hiệu quả của 40 doanh nghiệp thuộc ngành năng lượng được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khóan của Việt Nam
- Về phạm vi thời gian: giai đoạn 2012 – 2018
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sẽ sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu các nguồn dữ liệu thu thập được để có cái nhìn tổng quan và thiết thực về cấu trúc vốn cho các doanh nghiệp Việt Nam và mô hình hồi quy Pool OLS, FEM, REM
và GMM để ước tính ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả của các công ty ngành năng lượng niêm yết trên thị trường chứng khóan VN, từ đó lựa chọn mô hình phù hợp
1.6 Bố cục của luận văn
Luận văn được bố cục thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Kết luận chương 1
Luận văn trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu của luận văn, giới thiệu tổng quan các vấn đề liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn
Trang 16CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Khung lý thuyết
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Cấu trúc vốn của DN
Cấu trúc vốn của DN là nói đến nguồn vốn của một doanh nghiệp tài trợ cho
số tài sản của nó và hỗn hợp vốn sở hữu và nợ (Brounen và cộng sự, 2006)
Theo Trần Ngọc Thơ trong cuốn sách Tài chính DN hiện đại (2003) thì “Cấu trúc vốn là sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp Ngược lại, cấu trúc tài chính là sự kết hợp nợ vay ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp”
Cấu trúc vốn có thể được đo bằng nhiều cách khác nhau: Nợ dài hạn trên tổng
số tài sản; Nợ ngắn hạn trên tổng số tài sản và Tổng nợ trên tổng tài sản (Cespedes và cộng sự, 2010; Chakraborty, 2010; Kayo và Kimura, 2011; Pandey, 2001, Phan Thi Bich Nguyet và cộng sự, 2017) Ngoài ra, mỗi tỉ lệ nợ có thể được xác định bằng giá trị sổ sách hoặc giá trị thị trường để đo lường cấu trúc vốn Cụ thể, các tỉ lệ tổng nợ trên giá trị sổ sách của tổng tài sản được sử dụng chủ yếu hơn các tỉ lệ khác Từ đó cho thấy, với cách đo lường theo giá sổ sách và đo lường theo giá thị trường sẽ có thể cho những kết quả khác nhau, khiến cho DN có những hình dung khác nhau về cấu
trúc vốn và sẽ cân nhắc hoạch định cấu trúc vốn theo giá nào
2.1.1.2 Hiệu quả của doanh nghiệp
Hiệu quả của doanh nghiệp có thể hiểu là hiệu quả kinh doanh của DN, thể hiện mối quan hệ tương đối giữa kết quả kinh doanh và phương tiện tạo ra kết quả Chính vì vậy nên chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, kết quả kinh doanh thường
là lợi nhuận hoặc doanh thu, trong đó có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu lợi nhuận (lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận kế toán trước thuế và lãi vay, lợi nhuận thuần của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận gộp) Phương tiện tạo ra kết quả cũng được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như tài sản (tổng tài sản, từng loại tài sản), tổng
Trang 17vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu, chi phí, thậm chí là doanh thu (trong trường hợp kết quả kinh doanh thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận)
Do có nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cũng như phương tiện tạo ra kết quả kinh doanh đó nên có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và mỗi chỉ tiêu đó sẽ có một mức ý nghĩa nhất định Thông thường có
3 cách để đo hiệu quả DN được sử dụng: (1) Tỉ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA); (2) Tỉ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), dựa trên nghiên cứu của Jiraporn và Liu (2008) và Tian và Zeitun (2007); và (3) Tobin’s Q, dựa trên nghiên cứu của Nigel
và Sarmistha (2007) và King và Santor (2008) Trong khi Tobin’s Q được sử dụng để nắm bắt hiệu quả thị trường của DN thì ROA và ROE được sử dụng để trình bày hiệu quả kế toán Chỉ số thang Tobin’s Q được tính toán như giá trị thị trường trên giá trị
sổ sách của công ty Giá trị thị trường của DN chứa giá trị thị trường của nợ và của giá trị thị trường của vốn sở hữu Giá trị thị trường của nợ có thể được xem xét bởi giá trị sổ sách, trong khi vốn hóa thị trường hiện tại của vốn sở hữu được sử dụng như giá trị thị trường của cổ phần
Tỉ số ROA (Return on total assets) thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh Đây là một chỉ tiêu khá toàn diện trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, thể hiện mỗi đồng tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh có thể mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Độ lớn của chỉ tiêu này cao thể hiện hiệu quả trong sử dụng tài sản của doanh nghiệp Tỉ suất sinh lời trên tài sản thường được coi
là một tiêu chí đánh giá sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tính toán bằng cách chia lợi nhuận ròng cho tổng tài sản
Tỉ số ROE (Return on Equity) thể hiện hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được các chủ sở hữu (các nhà đầu tư) đặc biệt quan tâm
do phản ánh trực tiếp mỗi đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Do đó, các chủ sở hữu khi thuê các nhà quản lý trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường đưa ra các điều khoản cụ thể yêu cầu duy trì hoặc tăng trưởng tỉ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu ROE được tính toán bằng cách chia lợi nhuận ròng cho tổng vốn sở hữu
Trang 182.1.2 Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả của DN qua các lý thuyết
Sự lựa chọn giữa nợ và vốn chủ sở hữu là gì và chúng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Đó là một chủ đề chính trong lý thuyết tài chính kể từ khi Modigliani và Miller (1958) đã công bố rằng cơ cấu vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo Tuy nhiên, sau đó Modigliani và Miller (1963)
và cả Jang và cộng sự (2008) đã đảo ngược khẳng định này, khi cho rằng giá trị doanh nghiệp được tối đa hóa khi DN được tài trợ hoàn toàn bằng nợ Vấn đề đặt ra: bản chất của mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả DN là gì? Các tranh luận về chủ
đề này dựa trên sự xem xét bốn lý thuyết: lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết đại diện và lý thuyết định thời điểm thị trường:
(1) Lý thuyết đánh đổi (Trade - Off Theory)
Lý thuyết đánh đổi cho rằng có một mức cấu trúc vốn tối ưu để giá trị doanh nghiệp được tối đa hóa Tại điểm tối ưu, lợi nhuận biên của nợ bằng chi phí biên của
nợ và hiệu quả công ty được tối đa hóa (Tang và Jang, 2007; Jang và cộng sự, 2008)
So với huy động nguốn vốn từ vốn sở hữu, thì việc tài trợ bằng nợ sẽ rẻ hơn vì nó được khấu trừ từ tấm chắn thuế Mặc dù vậy, việc sử dụng nợ quá mức hay lạm dụng
nợ có thể sẽ gây ra rủi ro cho DN do khả năng phá sản lúc bấy giờ gia tăng cao hơn Theo lý thuyết đánh đổi, với lập luận rằng các công ty đặt ra một tỷ lệ nợ mục tiêu tối ưu được xác định bởi đánh đổi giữa lợi ích (khấu trừ thuế) và chi phí nợ (chi phí phá sản) nên DN cần cân nhắc thận trọng
Một số nghiên cứu thực nghiệm đã dày công nghiên cứu để tìm ra các yếu tố quyết định cấu trúc vốn bằng lý thuyết đánh đổi, bao gồm cả những nghiên cứu của Ferri và Jones (1979), Castanias (1983), và Tang và Jang (2007) Bradley và cộng sự (1984) Bên cạnh đó còn xem xét lý thuyết và bằng chứng của giả thuyết đánh đổi Dựa theo nguyên lý của thuyết này, Kester (1986), Titman và Wessels (1988), và Rajan và Zingales (1995) đã tìm thấy sự ủng hộ mạnh mẽ cho một mối quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy và hiệu quả DN
(2) Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory)
Giả thuyết của lý thuyết này cho rằng: Các nhà đầu tư bên ngoài và nhà quản lý
có cùng một nguồn thông tin về doanh nghiệp, được gọi là thông tin cân xứng Tuy nhiên, trên thực tế nhà quản lý thường có thông tin tốt hơn so với các nhà đầu tư bên
Trang 19ngoài, lúc này được gọi là thông tin bất cân xứng Các nguồn thông tin này ít nhiều
sẽ tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Cũng theo Myers và cộng sự (1984), chênh lệch thông tin sẽ làm cho vốn chủ sở hữu bị đánh giá sai trên thị trường, điều này làm cho tài sản của các cổ đông bị tổn thất hay bị đánh giá cao Nếu doanh nghiệp tài trợ dự án mới bằng cách phát hành cổ phiếu thì thông thường các cổ phiếu này sẽ
bị định giá thấp do các nhà quản lý có thể không thể truyền đạt hết triển vọng tươi sáng cho các nhà đầu tư tiềm năng Kết quả là các nhà đầu tư bên ngoài không phân biệt được giữa dự án tốt và dự án xấu, cho nên họ xem việc doanh nghiệp phát hành
cổ phiếu mới là tín hiệu xấu và họ yêu cầu một phần bù cho giá trị đầu tư, dẫn đến doanh nghiệp chỉ có thể phát hành cổ phiếu với mức giá thấp Theo Asquith và cộng
sự (1986), khi doanh nghiệp công bố thông tin rằng; Họ sẽ phát hành cổ phiếu, thông thường sẽ pha loãng giá cổ phiếu dẫn đến giá cổ phiếu sẽ sụt giảm và làm giá trị vốn hóa thị trường trước khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu Do vậy, doanh nghiệp có thể sẽ lựa chọn tài trợ dự án mới bằng nợ vay So với vốn chủ sở hữu, nợ vay sẽ ít bị đánh giá thấp hơn; Điều này là do các hợp đồng vay nợ đã giới hạn khả năng thua lỗ của trái chủ nên sẽ an toàn hơn
Ngoài ra, cũng theo Myers và cộng sự (1984), các nhà quản lý có khuynh hướng phát hành cổ phiếu khi doanh nghiệp được định giá cao và ngược lại sẽ vay nợ khi bị định giá thấp Doanh nghiệp cũng huy động vốn chủ sở hữu từ bên ngoài khi chi phí kiệt quệ tài chính cao và ngược lại doanh nghiệp sẽ vay nợ khi chi phí kiệt quệ tài chính thấp Bên cạnh đó, theo Eckbo (1986) và Sunder (1999), doanh nghiệp có thể phát hành nợ hoặc vốn chủ sở hữu để tài trợ cho đầu tư mới với điều kiện nợ phải được nợ phải được đảm bảo bằng tài sản và lợi nhuận Do đó, các nhà đầu tư khi đầu
tư vào nợ ít bị lộ những sai sót trong việc đính giá các doanh nghiệp và việc công bố vấn đề nợ sẽ dễ có tác động làm giảm giá cổ phiếu so với việc công bố về vốn chủ sở hữu
Thêm nữa, lý thuyết trật tự phân hạng cũng giải thích dòng tiền tác động đến cấu trúc vốn doanh nghiệp như thế nào Theo đó, nều nguồn vốn nội sinh không đảm bảo thì các doanh nghiệp sẽ sử dụng nợ vay Ngược lại, nếu doanh nghiệp có dòng tiền nội sinh lớn hơn tương đối so với các khoản đầu tư thì doanh nghiệp sẽ sử dụng nợ
Trang 20vay ít hơn Doanh nghiệp có thể dùng dòng tiền thừa này để trả bớt nợ vay hoặc mua
cổ phiếu quỹ, và việc này sẽ làm cho doanh nghiệp tăng tỷ số nợ
Lý thuyết trật tự phân hạng dựa trên giả thuyết tồn tại sự chênh lệch thông tin giữa nhà quản lý và nhà đầu tư bên ngoài POT cho rằng: Những quyết định về cấu trúc vốn không dựa trên tỷ lệ nợ/ tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc phân hạng trong cấu trúc vốn và rút ra được 4 vấn đề sau:
Các doanh nghiệp thích nguồn tài trợ nội bộ hơn là bên ngoài (bất đối xứng thông tin được cho là có liên quan chỉ đối với tài trợ bên ngoài)
Cổ tức là ổn định Vì vậy, việc cắt giảm cổ tức không được sử dụng để tài trợ cho chi tiêu vốn Do đó, thay đổi trong nhu cầu tiền mặt không được áp dụng khi thay đổi cổ tức ngắn hạn
Nếu cần huy động nguồn vốn ngoại sinh để đầu tư thì các doanh nghiệp sẽ làm việc theo trật tự phân hạng, từ nợ an toàn đến nợ có rủi ro hơn, đến các chứng khoán chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi, và cuối cùng là vốn cổ phần thường như một phương sách cuối cùng
Tỷ lệ nợ của mỗi doanh nghiệp là khác nhau và nó phản ánh yêu cầu tích lũy đối với tài trợ bên ngoài
Như vậy, Myers và cộng sự (1984) cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối
ưu với các doanh nghiệp
(3) Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Trong các mô hình đại diện của Jensen và Meckling (1976) và Jensen (1986), cho thấy có sự mâu thuẫn giữa người quản lý và cổ đông Lợi ích của người quản lý không trùng với nhà đầu tư Các nhà quản lý có xu hướng “lãng phí” dòng tiền tự do lên các “bổng lộc” mà họ được hưởng Như Jensen (1986) lập luận, số tiền tùy ý dành cho người quản lý càng lớn, khả năng người quản lý sẽ càng lớn sử dụng nó cho các bổng lộc Điều này có nghĩa là các nhà quản lý có thiên hướng mở rộng quy mô của các công ty của họ, ngay cả khi hành vi đó có nghĩa là thực hiện các dự án kém hoặc giảm giá trị doanh nghiệp Điều này được đề cập đến như là một vấn đề đầu tư quá mức Để giảm thiểu đầu tư quá mức các vấn đề, khả năng thúc đẩy lợi ích của người quản lý bị hạn chế bởi sự sẵn có của dòng tiền tự do Ràng buộc này có thể được thắt
Trang 21chặt hơn nữa thông qua huy động vốn vay Kết quả là, vấn đề đại diện có thể được giải quyết tối ưu thông qua một quyết định cấu trúc vốn, chẳng hạn như tăng đòn bẩy tài chính Mô hình này giả định một mối quan hệ tích cực giữa đòn bẩy và hiệu quả công ty
Các nghiên cứu trước đây cũng đã lập luận rằng mối quan hệ giữa cấu trúc vốn
và hiệu quả công ty là nội sinh (De Jong, 2002) Ví dụ như, theo Smith và Watts (1992) tuyên bố rằng đòn bẩy là nội sinh, trong khi Tobin’s Q được coi là ngoại sinh Tuy nhiên, McConnell và Servaes (1995) lại cho rằng: Tobin’s Q là nội sinh trong khi đòn bẩy là ngoại sinh Theo đó, Rajan và Zingales (1995), Demsetz và Villalonga (2001) và Harvey và công sự (2004) đã coi cả đòn bẩy và Tobin’s Q là các biến nội sinh, có nghĩa là có mối quan hệ nhân quả hai chiều Do đó, các quyết định cơ cấu vốn ảnh hưởng đến hiệu quả công ty và hiệu quả công ty cũng ảnh hưởng đến cấu trúc vốn Mối quan hệ giữa đòn bẩy, dòng tiền tự do, đa dạng hóa và hiệu quả công ty được Kwangmin Park, SooCheong (Shawn) Jang (2013) mô tả trong hình sau đây:
Hình 2.1: Mối quan hệ giữa đòn bẩy, dòng tiền tự do, đa dạng hóa và hiệu quả DN
Nguồn: Kwangmin Park, Soo Cheong (Shawn) Jang (2013)
(4) Lý thuyết định thời điểm thị trường
Khác với các lý thuyết về cấu trúc vốn trước đây, lý thuyết định thời điểm thị trường xem xét cấu trúc vốn trong điều kiện thị trường không hoàn hảo Lý thuyết định thời điểm thị trường giúp các nhà quản trị DN xác định thời điểm đúng đắn, thích hợp nhất của thị trường để đưa ra quyết định phát hành hay mua lại cổ phần
Lý thuyết cũng nghiên cứu mối tương quan giữa thời điểm thị trường với cấu trúc vốn của DN và mức độ tác động này kéo dài trong bao lâu Theo Baker và Wurgler vào năm 2002, DN sẽ phát hành chứng khóan khi giá thị trường của cổ phiếu
D Đa dạng hóa
Dòng tiền tự do
Hiệu quả công ty
Đòn bẩy
Trang 22cao và mua lại cổ phiếu ở mức giá thấp Mục đích của việc này là nhằm khai thác những biến động nhất thời của chi phí sử dụng vốn cổ phần trong mối tương quan với chi phí sử dụng vốn các nguồn vốn khác Lý thuyết định thời điểm thị trường có xu hướng dự báo đối lập với lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Trong thực tế, các DN thường có xu hướng phát hành cổ phiếu thay vì phát hành
nợ vay khi giá trị thị trường của cổ phiếu cao so với giá trị sổ sách và giá thị trường của cổ phiếu đó trong quá khứ; ngược lại sẽ mua lại cổ phiếu nếu giá thị trường của
cổ phiếu thấp so với giá trị sổ sách và giá cổ phiếu đó trong quá khứ Trong lý thuyết này không có cấu trúc vốn tối ưu, vì giả thuyết cho rằng các nhà quản lý tin rằng có thể điều chỉnh được thị trường Các quyết định tài chính điều chỉnh thị trường trở thành kết quả là cấu trúc vốn tối ưu theo thời gian, hay cấu trúc vốn hiện tại là kết quả tích lũy của những nỗ lực trong quá khứ để xác định thời điểm thị trường
Lý thuyết định thời điểm thị trường cho thấy rằng cả hiệu suất của cổ phiếu và các điều kiện của thị trường nợ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc vốn và quyết định tài chính của công ty, đều dựa trên các điều kiện hiện tại ở cả thị trường nợ và thị trường vốn Các công ty phát hành nợ hoặc vốn chủ sở hữu tùy thuộc vào thị trường nào có khả năng mang lại thuận lợi hơn cho doanh nghiệp (Baker và Wurgler, 2002)
Theo lý thuyết định thời điểm thị trường, niềm tin về giá trị của một công ty so với giá trị thị trường có thể ảnh hưởng đến chính sách cấu trúc vốn (Baker và Wurgler, 2002; Bie và Haan, 2007; Kayhan và Titman, 2007) Do đó, điều này ngụ ý rằng cấu trúc vốn là kết quả tích lũy của những nỗ lực trong quá khứ tại một thời điểm thị trường Do đó, trong bài nghiên cứu này, một đại diện cho thời điểm thị trường là tỷ
lệ giá trị thị trường so với giá trị sổ sách được sử dụng và dự kiến sẽ có mối quan hệ ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy của doanh nghiệp Các dự đoán của lý thuyết định thời điểm thị trường là phù hợp với các dự đoán được đề xuất trong lý thuyết trật tự phân hạng nêu trên (Baker và Wurgler, 2002; Bie và Haan, 2007; Faulkender, 2005; Hovakimian, 2006; Hovakimian, Hovakimian và Tehranian, 2004; Huang và Ritter, 2009)
Trang 23Lý thuyết định thời điểm thị trường đã khắc phục được hạn chế của các lý thuyết
về cấu trúc vốn trước đây và đã đưa ra giả thiết thiếu thực tế là thị trường hoàn hảo nhưng trên thực tế là thị trường thường tồn tại dạng không hoàn hảo
Thuyết định thời điểm thị trường tiếp cận dưới góc độ mới, nghiên cứu cấu trúc vốn trong điều kiện thị trường không hoàn hảo Song thuyết định thời điểm thị trường không cho thừa nhận việc tồn tại cấu trúc vốn tối ưu nên cũng không có mô hình lý thuyết xác định cấu trúc vốn tối ưu, cũng không cho thấy ảnh hưởng của các yếu tố: thuế, chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện đến cấu trúc vốn…
Việc nghiên cứu các lý thuyết về cấu trúc vốn giúp các nhà quản trị doanh nghiệp
có một cách hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về cấu trúc vốn của doanh nghiệp Mặc dù mỗi lý thuyết về cấu trúc vốn đều còn những hạn chế nhất định, chưa giải quyết triệt
để các vấn đề để tìm ra cách xác định cấu trúc vốn tối ưu nhưng cũng đã chứng tỏ rằng cấu trúc vốn rất hữu ích trong việc giảm chi phí sử dụng vốn bình quân của công
ty, có thể làm tối đa khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tóm lại, qua nghiên cứu các
lý thuyết về cấu trúc vốn, có thể thấy rằng việc hoạch định cấu trúc vốn được dựa trên nền tảng nguyên lý đánh đổi rủi ro và lợi nhuận Sử dụng nhiều nợ hơn làm gia tăng rủi ro của doanh nghiệp trong việc kiếm tìm lợi nhuận, nhưng với hệ số nợ cao nói chung đưa đến tỷ suất sinh lời kỳ vọng cao Vậy cấu trúc vốn tối ưu là cấu trúc vốn làm cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận, qua đó tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp hay giá cổ phiếu của doanh nghiệp Hơn nữa, nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thiết lập một cấu trúc vốn dựa trên cơ sở định tính và định lượng những nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Thiết lập cấu trúc vốn tối ưu là một nội dung quan trọng trong chính sách huy động vốn của một doanh nghiệp
Trong luận văn này chỉ giới hạn xem xét tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả
DN mà thôi
2.2 Các nghiên cứu trước đây về cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hiệu quả của DN 2.2.1 Nghiên cứu của Dimitris Margaritis, Maria Psillaki (2010)
Dimitris Margaritis, Maria Psillaki (2010) với bài báo “Cấu trúc vốn, quyền sở
hữu vốn sở hữu và hiệu suất doanh nghiệp” Bài viết này nghiên cứu mối quan hệ
giữa cấu trúc vốn, cơ cấu quyền sở hữu và hiệu suất công ty bằng cách sử dụng một mẫu dữ liệu của các công ty sản xuất của Pháp, với phương pháp phân tích bao dữ
Trang 24liệu (DEA) phi tham số để xây dựng một cách thực nghiệm đo lường hiệu quả công
ty Sử dụng các phép đo hiệu suất này, tác giả đã kiểm định các công ty hiệu quả hơn chọn nhiều hay ít nợ trong cơ cấu vốn của họ Kết quả nghiên cứu đã tóm tắt các tác động tương phản của hiệu quả về cấu trúc vốn theo hai giả thuyết cạnh tranh: giả thuyết hiệu quả - rủi ro và nhượng quyền - giá trị
Sử dụng hồi quy phân vị, để kiểm tra ảnh hưởng của hiệu quả đến đòn bẩy và từ
đó giá trị thực nghiệm của hai giả thuyết cạnh tranh trên các lựa chọn cấu trúc vốn khác nhau; kiểm định mối quan hệ trực tiếp từ đòn bẩy đến hiệu quả quy định bởi mô hình chi phí đại diện Jensen và Meckling (1976) Trong suốt phân tích này, cũng đã xem xét vai trò của cấu trúc quyền sở hữu và loại hình đối với cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
2.2.2 Nghiên cứu của Samuel Fosu (2013)
Samuel Fosu (2013) với bài báo “Cấu trúc vốn, cạnh tranh thị trường sản
phẩm và hiệu suất công ty: bằng chứng từ Nam Phi” Bài báo này nghiên cứu mối
quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả của công ty, đặc biệt quan tâm đến mức độ cạnh tranh ngành Bài viết áp dụng áp dụng chỉ số đo lường cạnh tranh Boone cho mối quan hệ giữa hiệu quả và đòn bẩy
Bài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng bao gồm 257 công ty Nam Phi trong giai đoạn 1998-2009, bài viết này xem xét ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả của công ty và xem xét mối quan hệ phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh thị trường sản phẩm Kết quả cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động cùng chiều và đáng kể đến hiệu quả của công ty
2.2.3 Nghiên cứu của Kwangmin Park, SooCheong (Shawn) Jang (2013)
Kwangmin Park, SooCheong (Shawn) Jang (2013) với bài báo “Cấu trúc vốn, dòng tiền tự do, đa dạng hóa và hiệu quả công ty: một phân tích toàn diện” Kết quả
nghiên cứu này cho thấy các mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, dòng tiền tự do, đa dạng hóa và hiệu quả công ty: cả bốn thành phần này đều liên quan chặt chẽ và có mối quan
hệ nội sinh phức tạp
Nghiên cứu này cho thấy đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tích cực lên hiệu quả công ty, ủng hộ hiệu ứng tín hiệu (Ross, 1977), trong khi hiệu suất công ty không có
Trang 25tác động trực tiếp đáng kể đến đòn bẩy nợ Tuy nhiên, hiệu quả có thể gián tiếp ảnh hưởng đến đòn bẩy thông qua đa dạng hóa không liên quan
Đa dạng hóa không liên quan là tìm cách tăng trưởng bằng cách hướng tới các thị trường mới với các sản phẩm mới mà về mặt công nghệ không liên quan đến các sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất Một vài doanh nghiệp theo đuổi chiến lược
đa dạng hóa không liên quan dựa trên một phần mong muốn có được lợi nhuận từ việc phân tán các công ty sở hữu Đa dạng hóa không liên quan có thể tạo giá trị chỉ bởi việc theo đuổi một chiến lược mua lại và tái cấu trúc Ngược lại, công ty đa dạng hóa liên quan có thể tạo giá trị bởi việc chia sẻ các nguồn lực và chuyển giao các năng lực giữa những đơn vị kinh doanh Nó có thể thực hiện trong một vài quá trình tái cấu trúc (phụ lục 3)
Các công ty hiệu quả thấp có xu hướng đa dạng hóa vào các doanh nghiệp không liên quan, từ đó tăng đòn bẩy nợ Nghiên cứu này đã thực nghiệm giả thuyết dòng tiền
tự do cho chiến lược đa dạng hóa và hiệu quả công ty Dòng tiền tự do trực tiếp làm giảm hiệu quả của công ty Tuy nhiên, việc giảm hiệu quả có thể được giảm bớt bằng cách tăng nợ, vì đòn bẩy nợ làm giảm dòng tiền tự do
Cuối cùng, trong mối quan hệ giữa đa dạng hóa và đòn bẩy nợ, nghiên cứu này cho thấy rằng giả thuyết chi phí giao dịch đã được ủng hộ trong ngành dịch vụ nhà hàng Ngoài ra, các nghiên cứu này còn chỉ ra hướng tiếp theo cần kiểm tra mối quan
hệ tổng thể giữa bốn biến được sử dụng trong nghiên cứu này trong các ngành công nghiệp khác như sản xuất và công nghiệp công nghệ cao
2.2.4 Nghiên cứu của Wan Shahzlinda Shah Bt Shahara và Wan Shahdila Shah
Bt Shaharb (2015)
Các tác giả Wan Shahzlinda Shah Bt Shahara và Wan Shahdila Shah Bt Shaharb
(2015) trong bài nghiên cứu về “Tác động của đòn bẩy DN đến hiệu quả: Bằng chứng
từ các công ty tuân thủ luật Shariah và không tuân thủ luật Shariah ở Malaysia” đã
xem xét tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả các công ty sản xuất ở Malaysia trong giai đoạn 2008-2012 Phương pháp của nghiên cứu đã được áp dụng để phân tích tác động này là Pool OLS (pooled ordinary least square) và GLS (Generalized least square)
Trang 26Tổng cộng trong mẫu nghiên cứu có 70 công ty niêm yết thuộc ngành xây dựng gồm những công ty tuân thủ và không tuân thủ theo luật Shariah được phân tích trong khoảng thời gian từ 2008 đến 2012
Kết quả chỉ ra rằng sự lựa chọn đòn bẩy của công ty tuân thủ theo luật Shariah
và các công ty không tuân thủ Shariah là hoàn toàn khác nhau Điều đó cho thấy tỷ lệ
nợ không ảnh hưởng đến hiệu quả của công ty tuân thủ luật Shariah dựa trên lợi nhuận của tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) nhưng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của công ty tuân thủ luật Shariah trên giá trị sổ sách (MTBV) có mối quan hệ tiêu cực Mặt khác, trong Công ty không tuân thủ luật Shariah cho thấy kết quả ngược lại; khi nợ dài hạn và tổng nợ có ảnh hưởng đến hiệu quả của DN không tuân thủ luật Shariah dựa trên ROE Trong khi, qui mô công ty cũng thể hiện mối quan hệ tích cực đối với hiệu quả của công ty không tuân thủ luật Shariah
2.2.5 Nghiên cứu của Oyakhilome W Ibhagui, Felicia O Olokoyo (2018)
Trong bài nghiên cứu của Oyakhilome W Ibhagui, Felicia O Olokoyo (2018)
“Đòn bẩy và hiệu quả công ty: Bằng chứng mới về vai trò quy mô của DN” đã chỉ ra
rằng tác động của đòn bẩy với hiệu quả công ty là ngược chiều và có ý nghĩa với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và tác động này sẽ giảm dần khi doanh nghiệp tăng trưởng và cuối cùng tác động này sẽ đảo chiều khi quy mô doanh nghiệp vượt qua ngưỡng ước tính Kết quả này vẫn giữ nguyên bất kể tỷ lệ nợ được sử dụng Theo các nghiên cứu trước đó, tác động của đòn bẩy với Tobin’s Q là cùng chiều đối với các công ty niêm yết của Nigeria Tuy nhiên, phát hiện mới là bằng chứng cho thấy mối quan hệ cùng chiều phụ thuộc vào quy mô của công ty
2.2.6 Nghiên cứu của Nguyễn Văn Duy, Đào Trung Kiên, Nguyễn Thị Hằng, Đào Thị Hương (2014)
Các tác giả Nguyễn Văn Duy, Đào Trung Kiên, Nguyễn Thị Hằng, Đào Thị
Hương (2014) đã nghiên cứu chủ đề “Ảnh hưởng của cấu trúc vốn, quy mô, tăng
trưởng doanh thu tới hiệu quả hoạt động các công ty Thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam” Nghiên cứu này nhằm tìm ra ảnh hưởng của các yếu tố cấu trúc vốn, quy
mô, tăng trưởng doanh thu tới hiệu quả hoạt động của các công ty Thủy sản niêm yết
Trang 27trên Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam giai đoạn 2008-2013 được đại diện bới chỉ tiêu ROE
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (Panel data) đã chỉ ra trong bốn yếu tố nghiên cứu chỉ có tỷ lệ nợ ngắn hạn có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các công ty, các nhân tố về tỷ lệ nợ dài hạn, quy mô và tăng trưởng công ty đều không có tác động lên ROE ở mức ý nghĩa thống kê 5% Mô hình giải thích được 15,99% sự thay đổi của ROE qua tỷ lệ nợ ngắn hạn của các công ty
2.2.7 Nghiên cứu của Ngô Văn Toàn và Vũ Bá Thành (2016)
Bài nghiên cứu “Tác động của đòn bẩy lên hiệu quả hoạt động công ty niêm yết tại Việt Nam” của Ngô Văn Toàn và Vũ Bá Thành (2016) điều tra tác động của đòn bẩy lên hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khóan Việt Nam, và sử dụng dữ liệu bảng mẫu là 144 quan sát trong khoảng thời gian từ 2010 -
2015 Các thước đo sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động (ROE, ROA, Tobin’s Q, EPS và PROF) là biến phụ thuộc Các thước đo về cấu trúc vốn (LTDTA, STDTA và TDTE) là biến độc lập Biến SIZE, TANG và GROWTH là biến kiểm soát mô hình Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động được đo lường bởi EPS quan
hệ cùng chiều với STDTA Tỉ số ROA quan hệ ngược chiều với TDTE Tỉ số ROE
và EPS có quan hệ cùng chiều với TDTE Riêng thu nhập trên một cổ phiếu EPS có quan hệ ngược chiều với LTDTA và ROE có quan hệ cùng chiều với LTDTA
2.2.8 Nghiên cứu của Võ Minh Long (2017)
Bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp: trường
hợp công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HSX)” của Võ Minh
Long (2017) kết quả cho thấy cấu trúc vốn được đo bằng tổng nợ trên tổng tài sản (DA), nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (SDA) và nợ dài hạn trên tổng tài sản (LDA) có tác động tích cực lên giá trị doanh nghiệp với biến đại diện là chỉ số Tobin’s Q Nghiên cứu cũng cho biết các biến như: quy mô doanh nghiệp (SIZE), tuổi đời doanh nghiệp (AGE), tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA), vòng quay tài sản (AT) có cùng kết quả với cấu trúc vốn nhưng tốc độ tăng trưởng doanh thu (GRTH) lại cho kết quả ngược lại (trường hợp không có biến giả ngành)
Ngoài ra, chưa có bằng chứng có sự tác động của tỷ số thanh toán ngắn hạn (CR)
và tỷ trọng tài sản cố định (TANG) đến giá trị doanh nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu
Trang 28cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về sự tác động của các ngành như: dược phẩm y tế và bất động sản đến giá trị doanh nghiệp lớn hơn so với ngành hàng tiêu dùng nhưng với ngành khác thì cho kết quả ngược lại và đều có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, chưa có sự tác động khác biệt của các ngành như: công nghiệp, nguyên vật liệu
và tiện ích cộng đồng so với ngành hàng tiêu dùng đến giá trị doanh nghiệp
2.2.9 Nghiên cứu Le Thi Phuong Vy và Phan Thi Bich Nguyet (2017)
Bài nghiên cứu “Capital structure and firm performance: Empirical evidence
from a small transition country” của Thi Phuong Vy Le và Thi Bich Nguyet Phan
(2017) nghiên cứu về cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của công ty, chỉ ra rằng tất
cả các tỷ số nợ có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả công ty Kết quả này thì không phù hợp với hầu hết các nghiên cứu được thực hiện ở các nước phát triển, đưa
ra các tỷ số nợ có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả công ty
Tuy nhiên, nó phù hợp với một số nghiên cứu trong bối cảnh thị trường các nước đang phát triển Hai tác giả này lập luận rằng, điển hình thị trường đang phát triển như Việt Nam, những lợi ích của nợ từ việc tiết kiệm thuế có thể ít hơn chi phí kiệt quệ tài chính Ngoài ra, vai trò giám sát của nợ không đáng kể vì bất cân xứng thông tin
và hệ thống tài chính kém phát triển Kết quả nghiên cứu này không còn phù hợp khi
sử dụng các phương pháp khác
Như vậy, nhìn chung các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả DN với biến phụ thuộc là ROA và ROE có sự khác nhau, đa số những nghiên cứu này được nghiên cứu trong điều kiện thị trường đang phát triển và tại Việt Nam
Từ đó đặt ra vấn đề cần nghiên cứu chiều hướng tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả của các công ty thuộc ngành năng lượng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 29Bảng 2.1: Tổng hợp ảnh hưởng của CTV đến hiệu quả DN của các nghiên cứu trước
Wan Shahzlinda Shah Bt Shahara và Wan Shahdila Shah Bt Shaharb (2015); Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phương Thảo
Trang 30CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Luận văn sử dụng dữ liệu được thu thập trong báo cáo tài chính của các công ty
đã niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX được tải xuống từ trang thông tin điện tử cophieu68.vn Các công ty này thuộc ngành năng lượng điện khí, gọi tắt là ngành năng lượng, gồm đầy đủ các báo cáo tài chính từ năm 2012 đến 2018
Để đảm bảo tính đồng nhất của bộ dữ liệu trong khoảng thời gian được xem xét, khi chọn dữ liệu trong bảng ban đầu là 8 năm (từ năm 2011 đến năm 2018) nhưng do phải tính tốc độ tăng trưởng doanh thu (biến SGROWTH) nên thực sự dữ liệu bảng chỉ còn 7 năm, bộ dữ liệu cuối cùng gồm 2.240 quan sát của 40 công ty ngành năng lượng điện khí trong 7 năm từ năm 2012 đến năm 2018
3.2 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu định lượng
3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng những giả thuyết sau đây để tìm ra mối quan hệ giữa cấu trúc vốn (gồm tỉ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản; nợ dài hạn trên tổng tài sản nợ, Tổng nợ trên tổng tài sản) và hiệu quả công ty (gồm ROA và ROE)
Mô hình ước lượng dựa trên nghiên cứu của Wan Shahzlinda Shah Bt Shahara
và Wan Shahdila Shah Bt Shaharb (2015) và các tác giả khác đã trình bày ở chương
2 để kỳ vọng các tác động của các yếu tố cấu trúc vốn lên hiệu quả DN theo bảng sau đây:
Trong đó cấu trúc vốn được đo lường bằng 3 chỉ tiêu: STD, LTD, TD lần lượt là
nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và tổng nợ trên tài sản và hiệu quả công ty được đó bằng ROA và ROE Các biến kiểm soát là: Tỉ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản (TANG);
Tỉ lệ tăng trưởng doanh thu (SGROWTH), và Quy mô công ty (SIZE)
Dựa trên hai lý thuyết điển hình về cấu trúc vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn và lý thuyết trật tự phân hạng, cùng những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới, những kỳ vọng dấu trong mô hình được mô tả như sau:
➢ Các biến độc lập:
Trang 31− Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản, Tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản, Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản
Các Tỷ lệ nợ có ảnh hưởng đến hiệu quả công ty Theo các nghiên cứu trước đây đã đề cập ở chương 2, công ty có tốc độ tăng trưởng cao thì có nợ cao, do đó ngân hàng sẵn sàng cho vay các công ty có tốc độ tăng trưởng tốt (Myers, 1984 và Rahim 2013) Điều này cũng tương tự như ý kiến của Barclay (1995) trong đó các công ty
có tốc độ tăng trưởng cao có xu hướng phát hành nợ dài hạn, và vì chúng ít rủi ro hơn nên có thể sử dụng nợ dài hạn nhiều hơn Tuy nhiên, lý thuyết trật tự phân hạng cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy và cơ hội tăng trưởng
Mặt khác, Myers (1977) lại lập luận rằng các vấn đề của công ty có thể được giảm bớt khi họ phát hành nợ ngắn hạn thay vì nợ dài hạn Từ đó sẽ hàm ý rằng có một mối quan hệ tiêu cực giữa tăng trưởng với nợ dài hạn và mối quan hệ tích cực với nợ ngắn hạn
Từ đó, theo như các nghiên cứu trước đã tổng hợp ở bảng 3.1 cấu trúc vốn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả DN, với kỳ vọng ảnh hưởng tiêu cực đến ROA và tích cực đến ROE
➢ Các biến kiểm soát:
− Quy mô doanh nghiệp (SIZE)
Bằng cách sử dụng hàm logarit của tổng tài sản doanh nghiệp làm đại diện cho quy mô của doanh nghiệp (SIZE) qua các năm
Các doanh nghiệp quy mô lớn thường tiếp cận với những nguồn huy động vốn
đa dạng dễ dàng hơn và có thể vay nợ nhiều hơn Do đó, các doanh nghiệp với quy
mô lớn hơn, hoạt động lâu năm trên thị trường thì sẽ mức nợ tương đối nhiều hơn so với các doanh nghiệp nhỏ Vì vậy, kỳ vọng mối tương quan cùng chiều giữa nợ và quy mô doanh nghiệp
Từ đó, với quy mô lớn hơn các doanh nghiệp sẽ sử dụng nhiều nợ hơn và tác động tích cực đến hiệu quả DN
− Tài sản cố định của doanh nghiệp (TANG)
Trang 32Để đo lường tác động của tài sản hữu hình (TANG) đến hiệu quả DN, ta sử dụng tỷ lệ tài sản hữu hình trên tổng tài sản, các tài sản hữu hình có thể được kể đến như là nhà máy, thiết bị Tài sản hữu hình được lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
Tài sản cố định của DN được đại diện bằng tỷ lệ giữa giá trị sổ sách của tài sản
cố định chia cho tổng tài sản Tỉ lệ này càng cao cho thấy DN có các cơ hội tăng trưởng càng cao nhưng cũng gây nên các chi phí kiệt quệ tài chính và các vấn đề liên quan đến nợ
Khi tỷ lệ TANG tăng cao các doanh nghiệp sẽ giảm việc sử dụng nợ để giảm rủi ro Mặt khác, một tỷ lệ giá trị sổ sách của tài sản tăng cũng có thể là do nhiều nguyên nhân khác chứ không phải chỉ do doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng
Do đó, kỳ vọng rằng khi tỷ lệ giá trị sổ sách của tài sản gia tăng sẽ có tác động tiêu cực lên hiệu quả DN
− Tỉ lệ tăng trưởng doanh thu (SGROWTH)
Khi tỷ lệ tăng trưởng doanh thu SGROWTH tăng cao các doanh nghiệp sẽ tăng việc sử dụng nợ, do có “nguồn” để bù đắp cho chi phí lãi vay Khi doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng tăng trưởng doanh thu càng sẽ có nhiều cơ hội để gia tăng hiệu quả hoạt động
Do đó, kỳ vọng rằng tỉ lệ tăng trưởng doanh thu SGROWTH có tác động tích cực lên hiệu quả DN
Bảng 3.1: Bảng kỳ vọng ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả DN
Kỳ vọng với biến phụ thuộc ROA
Kỳ vọng với biến phụ thuộc ROE
Chú thích: (-) tương quan nghịch; (+) tương quan thuận
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trang 33Các giả thuyết này sẽ được kiểm định bằng mô hình hồi quy dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập được của bài nghiên cứu
3.2.2 Mô hình nghiên cứu
Luận văn dựa theo mô hình nghiên cứu chính của Wan Shahzlinda Shah Bt Shahara và Wan Shahdila Shah Bt Shaharb (2015) và nghiên cứu khác có liên quan, với 2 mô hình ước lượng như sau:
➢ Biến đại diện cho cấu trúc vốn:
▪ STD (The short-term debt to total asset ratio):
Biến STD đo lường tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản
STD = Tổng nợ ngắn hạn
Tổng tài sản
▪ LTD (The long-term debt to total asset ratio):
Biến LTD đo lường tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản
LTD = Tổng nợ dài hạn
Tổng tài sản
▪ TD (Total debt to total assets ratio):
Biến TD đo lường tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản
TD = Tổng nợTổng tài sản
➢ Các biến kiểm soát:
▪ TANG : Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản
TANG = Tổng tài sản cố định
Tổng tài sản
Trang 34▪ SGROWTH : Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu
SGROWTH = DT kỳ này−DT kỳ trước
DT kỳ trước
▪ SIZE: Quy mô công ty: SIZE = log tài sản
Trong các nghiên cứu trước ngoài các biến kiểm soát TANG, SGROWTH, SIZE còn nhiều biến khác như: Mức thuế thu nhập DN hiện hành (TAX); “Rủi ro” từ
sự biến động (tính độ lệch chuẩn trong 3 năm liền kề) của thu nhập trước lãi và khấu hao (RISK); “Đầu tư” (INV) từ tỉ lệ mức chi tiêu vốn trên tài sản; Dòng tiền (CF) tính
từ tỉ lệ thu nhập sau thuế công khấu hao hằng năm trên tổng tài sản…
Tuy nhiên, trong luận văn này em chọn theo mô hình của Wan Shahzlinda Shah Bt Shahara và Wan Shahdila Shah Bt Shaharb (2015) nên em chỉ chọn 3 biến kiểm soát nói trên
Được tính từ bộ dữ liệu gồm: LN ròng và tổng tài sản (Link:
https://www.cophieu68.vn/categorylist.php
VCSH
𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔𝑇ổ𝑛𝑔 𝑉𝐶𝑆𝐻
Được tính từ bộ dữ liệu gồm: LN ròng và tổng vốn CSH (Link:
https://www.cophieu68.vn/categorylist.php
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Mô hình nghiên cứu thể hiện ở sơ đồ sau đây:
Trang 35
Hình 3.5 :Mô hình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước
3.3 Phương pháp kỹ thuật
3.3.1 Thống kê mô tả
Thống kê mô tả nhằm có cái nhìn tổng quan về dữ liệu, cung cấp thông tin ngắn gọn về mẫu dữ liệu được dùng để nghiên cứu, từ đó có thể phát hiện những giá trị sai lệch trong cỡ mẫu Kết quả thống kê mô tả gồm giá trị trung bình, giá trị giữa, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn của các biến trong mô hình
3.3.2 Các kiểm định cần thiết
Trong thống kê, giả thiết phát biểu cần được kiểm định được gọi là giả thuyết
H không (ký hiệu : Ho) Giả thuyết đối được ký hiệu là giả thuyết H1
Trong luận văn này sẽ thực hiện một số kiểm định cần thiết gồm: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan… thể hiện tóm tặt trong bảng sau đây:
Bảng 3.3: Các kiểm định nhằm phát hiện những vi phạm của mô hình
Biến Kiểm Soát
TANG, SGROWTH, SIZE
Trang 36Bảng 3.4: Các kiểm định nhằm phát hiện những vi phạm của mô hình (tiếp theo)
Ho : Ủng hộ REM H1 : Không ủng hộ REM
Breusch and pagan
Ho : Không có hiện tương tự tương quan
H1 : Xuất hiện hiện tương tự tương quan
Nguồn: Tác giả tổng hợp
3.3.3 Hồi quy bằng mô hình GMM GMM
Mô hình GMM được phát triển bởi Lars Peter Hansen năm 1982 từ việc tổng quát hóa phương pháp hồi quy theo moments Theo Nickell (1981) GMM được sử dụng nhiều cho dữ liệu bảng (panel data), đặc biệt khi T nhỏ hơn nhiều lần, hoặc dữ liệu không đồng nhất Khi đó phương pháp GMM sẽ ưu tiên được sử dụng
Ngoài ra, Arellano và Bond cho rằng dùng phương pháp GMM hai bước step difference GMM), thiết kế thích hợp cho dữ liệu bảng với T (Times) là khoảng thời gian sử dụng dữ liệu và số lượng công ty F (Firms) bị giới hạn Do vậy, mô hình GMM sẽ thích hợp với đặc điểm của mẫu dữ liệu trong nghiên cứu này (40 công ty trong 7 năm)
(Two-Đồng thời, để kiểm định tính phù hợp của phương pháp GMM trong hồi quy, luận văn sẽ áp dụng hai kiểm định Sargan và Arellano - Bond
Trang 37Kết luận chương 3
Trong chương này đã trình bày mô hình nghiên cứu đề xuất, mô tả các biến trong mô hình, trình bày nguồn dữ liệu thu thập, xử lý dữ liệu, tính toán các biến và ước lượng các mô hình hồi quy và các kiểm định có liên quan
Luận văn cũng đã trình bày về các giả thuyết nghiên cứu để đưa ra các kỳ vọng dấu tác động trong mô hình dựa trên cơ sở từ các nghiên cứu về các lý thuyết cấu trúc vốn và các nghiên cứu trước
Trang 38CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Phân tích thực trạng cấu trúc vốn và hiệu quả của các công ty ngành năng lượng
4.1.1 Tổng quan về các công ty ngành năng lượng Việt Nam
Theo số liệu thống kê năm 2017 của công ty tư vấn năng lượng (PFC Energy):
“Nhìn chung, các công ty ngành năng lượng có mức vốn hóa rất lớn (theo số liệu thống kê trong top 10 của ngành năng lượng trên thế giới thì mức vốn hóa từ gần 100
tỉ USD đến gần 400 tỉ USD) Tổng giá trị vốn hóa thị trường của top 50 công ty năng lượng là 3.500 tỷ USD” (xem phụ lục 1)
“Theo EIC là tổ chức phi lợi nhuận có hơn 650 thành viên là các công ty Anh hoạt động trong lĩnh vực năng lượng (dầu khí và gas, năng lượng tái tạo…) do Hội đồng Công nghiệp Năng lượng (Energy Industries Council) tổ chức nhằm tạo diễn đàn cho các doanh nghiệp, chia sẻ về các cơ hội cung ứng trong các dự án hiện tại và sắp tới của ngành năng lượng với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vào năm 2017 cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong tốp 10 nước có kế hoạch đầu tư nhiều và phát triển ngành năng lượng trong 5 năm tới sẽ thu hút nhiều công ty Anh trong lĩnh vực năng lượng và dầu khí đến Việt Nam để tìm cơ hội hợp tác kinh doanh” (xem phụ lục 2)
Theo thống kê đến năm 2017: “cả nước ta có 21 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành và cung cấp gần 40% sản lượng điện cho cả nước Việc xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điện than được lý giải là do tiềm lực xây dựng nhà máy thủy điện gần như
đã khai thác triệt để; trong khi các nguồn năng lượng sạch, tái tạo thì chi phí đầu tư cao Mặt khác, nhiệt điện khí cho giá điện đắt gấp 2 lần giá nhiệt điện than Với kế hoạch phát triển thêm nhiều nhà máy nhiệt điện than nói trên, không ít ý kiến cho rằng ngành năng lượng Việt Nam đang đi ngược chiều với xu thế thế giới Bởi lẽ, sau hơn một thập kỷ phát triển bùng nổ, công suất điện than trên thế giới đã và đang giảm kể
từ năm 2017” (xem phụ lục 3a)
Cụ thể theo báo cáo khảo sát của Hệ thống giám sát các nhà máy điện than toàn cầu vào tháng 3/2017: “Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có lượng phát thải hàng
Trang 39đầu đã ban hành những biện pháp mạnh mẽ để hạn chế phát triển nhiệt điện than Theo Reuters, ít nhất đến năm 2027, hai nước này sẽ không tăng thêm công suất điện than ngoại trừ những dự án đang xây dựng
Ngoài ra, Ấn Độ đang tham gia cuộc cách mạng năng lượng mặt trời, với mức đấu giá sản xuất điện thấp, rẻ hơn giá điện than hơn 50% Nhiều nhà máy nhiệt điện (chủ yếu là điện than) ở Ấn Độ giờ đây đang trong tình trạng “đắp chiếu” hoặc chỉ hoạt động ở mức tối thiểu vì không bán được điện và không mua được than để vận hành Các nước khác như Mỹ và châu Âu cũng đã lên lộ trình ngưng phát triển và sẽ đóng cửa các nhà máy điện than Cụ thể sẽ loại bỏ dần các nhà máy điện than trong nước bắt đầu từ năm 2025 (Anh, Ý), 2022 (Pháp); 2030 (Hà Lan, Canada) Riêng tại Việt Nam, theo Quy hoạch điện VII (Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030) được cho là phù hợp với điều kiện kinh tế trong nước nhưng các chuyên gia tỏ ra quan ngại, vì nhiệt điện than có quá nhiều rủi
ro cho dù chúng được đầu tư với công nghệ hiện đại đi nữa” (xem phụ lục 3b)
“Bên cạnh vấn đề ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng, theo các chuyên gia, các nhà máy điện than còn sẽ tác động xấu đến ngành công nghiệp du lịch, nông nghiệp Các chuyên gia cho rằng quy hoạch điện nói chung và điện than nói riêng có thể điều chỉnh theo xu thế trong tương lai, nhất là khi thế giới đang đẩy mạnh nghiên cứu, phổ biến sử dụng năng lượng xanh, việc sản xuất năng lượng tái tạo ngày càng rẻ Các tổ chức năng lượng độc lập đề nghị cần tạm dừng đầu tư các nhà máy nhiệt điện mới cho tới khi có giải pháp đồng bộ kiểm soát ô nhiễm” (xem phụ lục 3b)
Tính cho đến nay, số lượng công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khóan VN
là 44 công ty, các công ty này niêm yết vào năm 2005 cho đến hiện nay (xem bảng 3.1), năm niêm yết nhiều nhất là 7 công ty (năm 2016), năm 2008 và 2013 không có công ty niêm yết (năm 2008 và 2013)
Bảng 4.1 Số lượng công ty ngành năng lượng niêm yết qua các năm