1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân tại chi cục thuế thành phố đà lạt

71 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 704,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp tăng cường quản lý Thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế thành phố Đà Lạt Dân là gốc rễ của đất nước, thu thuế phải thu được lòng dân, sau nhiều năm cải cách, Thuế thu nhập cá

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

o0o

ĐỖ NGỌC THẢO VY

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ

THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CHI CỤC THUẾ TP ĐÀ LẠT

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ VIẾT TIẾN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan bài luận văn là đề tài nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu, kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Ngọc Thảo Vy

Trang 4

Qua thời gian học tập chương trình đào tạo sau đại học, tôi đã được trang bị những kiến thức vô cùng quý báu, làm hành trang cho cuộc sống và công việc hiện tại, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến quý Thầy, Cô giảng viên trường đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh đã không quản ngại khoảng cách địa lý xa xôi để đến và tận tình giảng dạy, hướng dẫn cho tôi nhiều kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hồ Viết Tiến đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Bên cạnh đó tôi muốn cảm ơn Ban Lãnh đạo, các đồng nghiệp tại Chi cục Thuế

TP Đà Lạt và đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn

Điều quan trọng không kém là sự tiếp sức và hỗ trợ từ tài liệu nghiên cứu của các các nhà nghiên cứu trên lĩnh vực Quản lý Thuế Thu nhập cá nhân đương thời và trong lịch sử đã góp phần để tôi vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn một cách thiết thực nhất

Trân trọng!

Lâm Đồng, ngày 17 tháng 6 năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Ngọc Thảo Vy

Trang 5

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix

TÓM TẮT x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 1

1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu: 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Kết cấu của luận văn 4

1.7 Ý nghĩa của đề tài 4

CHƯƠNG 2: XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

2.1 Giới thiệu sơ lược về CCT TP Đà Lạt 6

2.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý – kinh tế - xã hội của TP Đà Lạt 6

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế thành phố Đà Lạt 7

2.2 Những dấu hiệu cảnh báo 9

2.2.1 Dấu hiệu thông qua hồ sơ kê khai 9

2.2.2 Dấu hiệu thông qua thanh tra – kiểm tra tại trụ sở NNT 10

2.3 Biểu hiện của vấn đề 10

2.3.1 Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công 10

2.3.2 Đối với thu nhập từ hộ kinh doanh theo phương pháp khoán 13

2.3.3 Đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng, biếu tặng bất động sản 14 2.3.4 Đối với thu nhập từ hoạt động cung cấp dịch vụ xây dựng cơ bản 15

Trang 6

CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Tổng quan lý thuyết các nghiên cứu trước đây 19

3.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 19

3.1.2 Các nghiên cứu trong nước 22

3.2 Xác định phương pháp nghiên cứu 25

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ TNCN TẠI CHI CỤC THUẾ TP ĐÀ LẠT 26

4.1 Phân tích thực trạng 26

4.1.1 Thuận lợi và thành quả trong việc quản lý thu Thuế TNCN tại CCT Đà Lạt 26

4.1.2 Khó khăn, bất cập trong việc quản lý Thuế TNCN 32

4.2 Xác định nguyên nhân dẫn đến thực trạng 37

4.2.1 Nguyên nhân khách quan: 37

4.2.2 Nguyên nhân chủ quan 41

CHƯƠNG 5: LỰA CHỌN GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ/ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 44

5.1 Các giải pháp cho vấn đề 44

5.1.1 Nâng cao năng lực, phẩm chất công chức Thuế tại CCT 44

5.1.2 Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa CCT với các ban ngành 44

5.2 Đề xuất, kiến nghị 45

5.2.1 Kiến nghị với lãnh đạo CCT TP Đà Lạt 45

5.2.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế 49

5.2.3 Kiến nghị với các ban ngành liên quan 50

5.3 Chứng minh tính phù hợp, khả thi của giải pháp và kiến nghị cho CCT TP Đà Lạt 51

5.3.1 Tính khả thi của đề xuất tăng cường tuyên truyền hỗ trợ NNT và tận dụng nguồn lực từ CNTT 51

Trang 7

Thuế và thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm 52

5.4 Xây dựng kế hoạch thực hiện 53

5.5 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 54

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Tài liệu tiếng Việt 57

Tài liệu tiếng Anh 58

Trang 8

Từ viết tắt Giải nghĩa

Trang 9

Bảng 4.1 Tình hình nộp Thuế TNCN qua các năm theo loại thu nhập 31 Bảng 4.2 Tình hình nộp tờ khai quyết toán Thuế TNCN qua các năm 40

Trang 10

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu chức năng của CCT TP Đà Lạt 7 Hình 4.1 Thủ tục đăng ký mã số Thuế cá nhân 27 Hình 4.2 Mô hình gửi tờ khai Thuế qua mạng 28

Trang 11

Biểu đồ 4.1 Tỷ trọng Thuế TNCN với số thu NSNN các năm 30

Biểu đồ 4.2 Tình hình xử lý vi phạm khi kiểm tra tại trụ sở NNT 33

Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ nợ đọng Thuế TNCN theo nhóm nợ qua các năm 35

Trang 12

Giải pháp tăng cường quản lý Thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế thành phố Đà Lạt

Dân là gốc rễ của đất nước, thu thuế phải thu được lòng dân, sau nhiều năm cải cách, Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là công cụ thích hợp để Nhà nước ta thực hiện mục tiêu điều tiết thu nhập, cân bằng giàu nghèo trong xã hội Bằng phương pháp nghiên cứu phân tích số liệu và so sánh, đánh giá tình hình quản lý Thuế TNCN tại Chi cục Thuế thành phố Đà Lạt sẽ cho chúng ta thấy được tình trạng thất thu Thuế đang diễn ra ngày một nghiêm trọng hơn trong khi ngành Thuế vẫn không ngừng tìm kiếm giải pháp quản lý Thuế TNCN chặt chẽ và hữu hiệu hơn để khắc phục vấn đề này Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thất thu Thuế TNCN và đề xuất giải pháp cho từng nguyên nhân Với đề tài này, chúng ta có thể xem xét đề xuất điều chỉnh mức thuế suất đối với việc tính thuế TNCN phù hợp hơn cho từng khu vực và từng đối tượng nộp thuế

Từ khóa: Thuế thu nhập cá nhân, thất thu Thuế, nguyên nhân, giải pháp

ABSTRACT

Solution to strengthen personal income tax management at Da Lat City Tax Department

People are the roots of the Country, tax collection must be popular After many years of reform, personal income tax (PIT) is an appropriate tool for regulating income, balance between rich and poor By using data analysis and comparison methods, assessing current PIT management solutions of Dalat City Taxation Department, which show that tax-loss stll happens while the Tax industry is constantly looking for more effective PIT management solutions to overcome this problem The research results indicated that there are many causes

of personal income tax loss so, this thesis will suggest many solutions to strengthen personal income tax management effectively With this topic, we can consider the proposal to adjust the tax rate for the calculation of personal income tax more appropriate for each region and each taxpayer

Keywords: Personal income tax, tax loss, causes and solutions

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Thuế luôn là một nguồn thu quan trọng của Nhà nước Chính sách Thuế của Nhà nước luôn có quan hệ chặt chẽ đến việc giải quyết lợi ích kinh tế giữa các chủ thể trong

xã hội, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề vĩ mô như: tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng kinh tế Việc hoàn thiện chính sách Thuế sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế

- xã hội là sự quan tâm hàng đầu của Nhà nước.Thuế thường gắn liền với chế độ thống trị của một quốc gia, Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) có lịch sử hàng trăm năm trên thế giới, những năm 10 trước Công Nguyên, nhiều tài liệu cho thấy ở Ai Cập đã có những luật lệ về Thuế tài sản, đất đai, nhà ở, các tài sản sở hữu khác, đây là các đối tượng dễ

đo lường để xác định tỷ lệ đánh Thuế Vì vậy một người sở hữu càng nhiều tài sản sẽ phải nộp Thuế càng cao

Thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập trong xã hội, đảm bảo duy trì và ổn định cho nguồn thu ngân sách Nhà nước (NSNN), đồng thời là công cụ kinh tế vĩ mô được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm, quản lý thu nhập của dân cư Hiện nay thất thu trong lĩnh vực Thuế TNCN có nhiều nguyên nhân, cả nguyên nhân khách quan và chủ quan như người nộp Thuế (NNT) không có ý thức tuân thủ pháp luật, cơ quan Thuế chưa kiểm soát được hiệu quả nguồn thu của những cá nhân có nhiều nguồn thu nhập ở một nơi hoặc ở nhiều nơi khác nhau, khó kiểm tra việc trùng lắp trong giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, các cá nhân hành nghề tự do, hiện tượng trốn Thuế, tránh Thuế còn khá phổ biến

1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu

Các chuyên gia tài chính và Thuế vẫn luôn đặt ra câu hỏi: Ở mức độ nào và trong những tình huống nào Thuế sẽ được công bằng? Hiển nhiên, điều đó là lý tưởng của bất cứ Nhà nước nào đối với công dân của mình Đứng trên phương diện NNT, họ luôn

Trang 14

mong muốn tối thiểu hóa số Thuế phải nộp, làm sao Nhà nước có thể tối ưu được chính sách Thuế để đảm bảo cân đối thu chi đồng thời giải quyết những bất mãn và bất công giữa những NNT Trong thời gian vừa qua, ngành Thuế Việt Nam vẫn không ngừng cải cách và nâng cao chất lượng hỗ trợ NNT với mục tiêu đưa Thuế TNCN trở thành một trong những nguồn thu chủ yếu của NSNN, quản lý hiệu quả Thuế TNCN thể hiện

ý nghĩa nhất định cho toàn bộ cơ chế chính sách Thuế và khẳng định ưu thế tuyệt đối của việc sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) để phân tích rủi ro, quản lý hiệu quả thu nhập của cá nhân và tối thiểu hóa việc thất thu Thuế TNCN

Trong năm 2015, ngành Thuế đã chính thức đưa vào sử dụng phần mềm hệ thống Quản lý Thuế tập trung, gọi tắt là TMS, áp dụng cho việc quản lý thu Thuế trên toàn đất nước Việt Nam, đây là một đánh dấu quan trọng đưa ngành Thuế tiếp cận gần hơn với quản lý Thuế bằng công nghệ thông tin (CNTT) Điều này góp phần cho việc quản

lý thu Thuế TNCN có nhiều chuyển biến tích cực và hiệu quả hơn, tăng cường sự phối hợp của CCT ở các tỉnh khác nhau, giảm bớt phần nào tình trạng thất thu Thuế đồng thời nâng cao chất lượng của dịch vụ công về Thuế, đảm bảo sự hài lòng của NNT trên phương diện khai, nộp Thuế thuận lợi và nhanh chóng Trên thực tế chính sách Thuế ở nước ta còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, các hành vi trốn Thuế, lách Thuế của các đối tượng chịu Thuế phần nào phản ánh ý thức tuân thủ Pháp luật Thuế của NNT chưa cao Xuất phát từ thực tế, trên góc độ quản lý và những kinh nghiệm rút ra trong quá trình

làm việc với cương vị là một công chức Thuế, tôi chọn đề tài:“Giải pháp tăng cường

quản lý Thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế thành phố Đà Lạt” cho luận văn tốt

nghiệp của mình để góp phần đẩy mạnh công tác quản lý, chống thất thu Thuế TNCN

và tăng ngân sách nhà nước

Trang 15

1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:

Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp để phân tích thực trạng quản lý Thuế TNCN tại

TP Đà Lạt trong giai đoạn 2014 – 2018 Dựa vào các báo cáo số thu, số liệu về tình hình quản lý Thuế TNCN để đánh giá kết quả và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu Thuế TNCN tại Chi cục Thuế (CCT) TP Đà Lạt

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề về đến quản lý Thuế, cụ thể là các thu nhập và đối tượng chịu Thuế, đối tượng được miễn giảm Thuế, đối tượng có hành vi trốn Thuế, nợ Thuế

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn sẽ nghiên cứu thực trạng quản lý Thuế TNCN tại CCT TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 5 năm từ 2014 – 2018

1.5 Phương pháp nghiên cứu

- Bài nghiên cứu vận dụng phương pháp so sánh vẽ biểu đồ, lập bảng biểu để phân tích đánh giá số liệu tại TP Đà Lạt

- Thu thập và sử dụng số liệu thứ cấp chứng minh thực trạng quản lý Thuế TNCN tại TP Đà Lạt trong giai đoạn 5 năm từ 2014 – 2018 bao gồm: số Thuế TNCN thu được

so với dự toán thu ngân sách về Thuế TNCN được duyệt hằng năm, số lượt xử lý vi phạm về Thuế TNCN, số tiền phạt và truy thu từ xử lý vi phạm, số Thuế TNCN nợ

Trang 16

đọng qua mỗi năm trong các báo cáo quyết toán tình hình thu ngân sách được phê duyệt và công khai

1.6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần tóm tắt đề tài, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của bài luận văn bao gồm 5 chương:

- Chương 1: Giới thiệu đề tài

- Chương 2: Xác định vấn đề nghiên cứu

- Chương 3: Cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân và phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Phân tích vấn đề nghiên cứu và xác định nguyên nhân của vấn đề

- Chương 5: Lựa chọn giải pháp và đề xuất kiến nghị

1.7 Ý nghĩa của đề tài

Qua rất nhiều năm trải nghiệm và đấu tranh, Nhà nước ta đã từng bước cải cách thủ tục hành chính và chính sách Thuế nhằm hoàn thiện và đảm bảo một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và một đất nước giàu mạnh Nhưng Thuế luôn là chủ đề bàn cãi chưa có hồi kết, như thế nào mới là chính sách Thuế hợp lòng dân hay thu Thuế thế nào mới gọi là công bằng? Câu hỏi này phần nào cũng do suy nghĩ chủ quan và ý thức của con người Dựa trên những nghiên cứu học thuật trong và ngoài nước các giai đoạn trước đây, căn cứ vào tình hình thực tế chung của ngành Thuế và với riêng địa bàn TP

Đà Lạt; ngoài mục tiêu hệ thống hóa phần nào cơ sở lý thuyết, với đề tài này chúng ta

có thể hiểu rõ hơn vai trò của Thuế TNCN trong quản lý và điều tiết nền kinh tế của Nhà nước

Trong thời gian 5 năm qua (2014-2018) công tác quản lý thu Thuế thu nhập cá nhân có nhiều chuyển biến tích cực, có thể nhận thấy tiềm năng khai thác nguồn thu từ sắc Thuế này qua tỷ trọng Thuế TNCN trong tổng thu NSNN trên toàn TP Đà Lạt Do

Trang 17

vậy, quản lý chặt nguồn thu, không bỏ sót nguồn thu, hạn chế mức thấp nhất hiện tượng thất thu Thuế là nhiệm vụ cấp thiết của toàn CCT Hơn nữa, một chính sách quản lý Thuế có chất lượng, đảm bảo công bằng tại địa bàn là nền tảng góp phần làm minh bạch hóa môi trường đầu tư chung, tạo lòng tin cho các doanh nghiệp nói riêng

và các nhà đầu tư nói chung

Trên thực tế, tại TP Đà Lạt hành vi trốn Thuế, lách Thuế vẫn là vấn đề khó kiểm soát, với mỗi địa bàn đặc trưng, phong tục văn hóa của mỗi vùng miền cũng gây ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Thuế, do vậy xuất phát từ thực trạng quản lý Thuế TNCN tại CCT TP Đà Lạt, những giải pháp đề xuất có thể góp phần giải quyết được vấn đề thất thu Thuế và quản lý Thuế TNCN bao quát hơn nhằm tiết kiệm nguồn nhân lực, đảm bảo mục tiêu duy trì và phát triển đất nước Từ kết quả nghiên cứu, lãnh đạo Chi cục Thuế có thể đánh giá được tình hình quản lý thuế TNCN qua nhiều khía cạnh khác nhau; nhận định rõ ràng và sâu sát nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế và những khó khăn bất cập khi thi hành nhiệm vụ thu ngân sách; đề ra hướng chỉ đạo, đưa ra giải pháp thay đổi hay bổ sung phù hợp hơn với tình hình thực tế tại TP Đà Lạt nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN và tạo tin tưởng của người dân đối với cơ quan quản

lý của Nhà nước

Trang 18

CHƯƠNG 2: XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu sơ lược về CCT TP Đà Lạt

2.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý – kinh tế - xã hội của TP Đà Lạt

Thành phố Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng nằm trên cao nguyên Lâm Viên, cao hơn khoảng 1.500m so với mực nước biển, khí hậu mát mẻ quanh năm, nơi đây có nhiều khu du lịch thiên nhiên, trồng cây lâu năm, hoa màu và cây công nghiệp, lâm nghiệp

Từ nhiều năm trước đây thu nhập chủ yếu của dân cư là hoạt động kinh doanh sản xuất nông nghiệp, đây là khoản thu nhập được miễn Thuế TNCN theo chính sách khuyến khích sản xuất của Nhà nước ở những vùng kinh tế khó khăn Theo bước đà phát triển mạnh mẽ của du lịch trải nghiệm, TP Đà Lạt đã vươn mình trở thành một trong những thành phố du lịch được lựa chọn nhiều nhất trong năm, với những cảnh đẹp ẩn mình trong thung lũng, với khí hậu mát mẻ quanh năm đã thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm

Trong những năm qua, TP Đà Lạt đã có những bước chuyển mình vượt bậc để hướng đến mục tiêu thành phố du lịch thông minh Theo báo cáo của Sở Văn hóa – Thể

dưỡng tại Đà Lạt – Lâm Đồng tăng đột biến Tính đến cuối năm 2017, Đà Lạt đã đón trên 5,8 triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước (tăng 7,8% so với năm 2016) Lượng khách nội địa đạt 5.4 triệu lượt (tăng 6,3%), năm nay khách quốc tế đến Đà Lạt – Lâm Đồng tăng khá cao với 400 nghìn lượt khách (tăng 35,6% so với năm 2016) Trong đó, có khoảng 4 triệu lượt khách lưu trú (tăng 10,3%), trung bình 2,1 ngày lưu trú Tổng thu từ khách du lịch trên địa bàn ước đạt 10.530 tỷ đồng (tăng 7,8% so với năm 2016 Du lịch đã đem lại nguồn thu đáng kể cho thành phố và trở thành một trong những sự lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư tên khắp cả nước và nước ngoài

1 Cục Thống Kê tỉnh Lâm Đồng, 2018 Báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội ước tháng

12 và năm 2018

Trang 19

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế thành phố Đà Lạt

Chi cục Thuế TP Đà Lạt là đơn vị trực thuộc Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng, có nhiệm

vụ và quyền hạn trong việc quản lý thu Thuế, các loại phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN trên toàn thành phố theo quy định của pháp luật Chi cục Thuế TP Đà Lạt thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo quy định của Luật Quản lý Thuế Việt Nam như thực thi các chức năng về cấp và quản lý mã số thuế; theo dõi, đôn đốc nhắc nhở và xử lý các vấn đề về kê khai nộp thuế, thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm Pháp luật Thuế và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt về Thuế Cơ cấu tổ chức của CCT

TP Đà Lạt được chuyển sang mô hình quản lý Thuế theo chức năng là chủ yếu và bộ máy quản lý của Chi cục được mô tả theo sơ đồ hình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu chức năng của CCT TP Đà Lạt

(Nguồn: Tác giả tổng hợp và vẽ sơ đồ)

Trang 20

Chức năng, nhiệm vụ của các Đội thuộc Chi cục Thuế TP Đà Lạt:

- Đội Quản lý thu Lệ phí Trước bạ, TNCN và thu khác: Thực hiện quản lý thu lệ phí trước bạ; tiền chuyển quyền sử dụng đất; tiền cấp quyền sử dụng đất; các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất; phí, lệ phí và các khoản thu khác (bao gồm cả Thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản) phát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi

Chi cục Thuế quản lý

- Đội Hành chính - Nhân sự - Tài vụ - Ấn Chỉ: Thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến văn thư, lưu trữ; quản trị hành chính; nhân sự và tài chính Cấp, bán và quản

lý hoá đơn, ấn chỉ Thuế theo phạm vi được phân cấp; thực hiện cấp, bán hoá đơn, ấn chỉ Thuế cho các đơn vị, tổ chức và cá nhân nộp Thuế; quản lý việc phát hành, sử dụng hoá đơn của các tổ chức, cá nhân nộp Thuế trong TP Đà Lạt

- Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán: Tham mưu cho Chi cục trưởng về nghiệp vụ quản lý Thuế, chính sách, pháp luật cho công chức, công chức Thuế trong Chi cục Thuế; xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước được giao của Chi cục Thuế

- Đội Kê khai - Kế toán Thuế - Tin học: Thực hiện nhiệm vụ quản lý hồ sơ đăng

ký Thuế, xử lý hồ sơ khai Thuế, kế toán Thuế, thống kê số liệu về Thuế; quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; cài đặt và hướng dẫn sử dụng các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý Thuế

- Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp Thuế: Tuyên truyền về chính sách pháp luật Thuế; hỗ trợ người nộp Thuế

- Đội Thuế liên xã: Quản lý Thuế đối với cá nhân nộp Thuế trên địa bàn TP Đà Lạt (bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ, kể cả hộ nộp Thuế thu nhập cá nhân.Thuế nhà đất, Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Thuế tài nguyên )

- Đội Quản lý nợ - Cưỡng chế nợ Thuế: Thực hiện chức năng quản lý nợ Thuế, cưỡng chế thu hồi Thuế nợ, tiền phạt đối với người nộp Thuế

Trang 21

- Đội Kiểm tra và Kiểm tra nội bộ: Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát NNT trong việc kê khai Thuế; đảm bảo số thu theo tiến độ của dự toán cấp trên đã giao cho CCT Bộ phận kiểm tra nội bộ có nhiệm vụ kiểm tra tính liêm chính của công chức Thuế; đảm bảo tuân thủ pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan Thuế, công chức Thuế

- Với cơ cấu tổ chức này, chức năng quản lý Thuế TNCN do đội Quản lý thu lệ phí trước bạ - TNCN và Thu Khác phụ trách Nhân lực hiện tại toàn CCT có 104 người, bao gồm 98 nhân viên phụ trách chuyên môn và 06 các nhân viên không làm chuyên môn như bảo vệ, tạp vụ và văn thư Ngoại trừ Ban lãnh đạo Chi cục và lãnh đạo của mỗi Đội Thuế, nhân viên trực tiếp phụ trách các công việc trung bình 10 người/Đội Với số lượng hơn 24.012 NNT trên toàn địa bàn cùng khối lượng công việc phải xử lý trên thực tế, mỗi công chức vẫn phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau Do đó, đây là một trong những nguyên nhân khách quan gây hạn chế cho việc quản lý Thuế TNCN đạt hiệu quả

2.2 Những dấu hiệu cảnh báo

2.2.1 Dấu hiệu thông qua hồ sơ kê khai

Đối với nhóm NNT có thu nhập từ tiền lương tiền công thì theo quy định về việc

sơ khai Thuế của NNT gửi đến cơ quan Thuế, công chức Thuế tại bộ phận Kê khai –

Kế toán Thuế có thể kiểm tra tại bàn kết hợp với dữ liệu quản lý trên hệ thống ngành Thuế để phát hiện rủi ro hoặc sai phạm ban đầu của NNT như sai sót số học và tính hợp lý trên tờ khai Thuế giữa doanh thu và chi phí Dấu hiệu sai phạm có thể là nộp trễ

hồ sơ khai Thuế hoặc không nộp hồ sơ khai Thuế, không thực hiện quyết toán Thuế

2 Bộ Tài Chính, 2013 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013: Hướng dẫn thi hành

một số điều của Luật Quản lý Thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý Thuế

Trang 22

TNCN thay cho người lao động theo quy định mặc dù đơn vị đã nhận được sự đôn đốc nhiều lần của công chức Thuế

Đối với nhóm NNT có thu nhập từ hoạt động cá nhân sản xuất kinh doanh (gọi tắt

là hộ kinh doanh), dấu hiệu nhận biết là số Thuế tự khai tự nộp bất hợp lý so với quy

mô kinh doanh thực tế, cố tình kéo dài thời gian, không tự giác khai, nộp Thuế theo quy định Một trong những nguồn Thuế TNCN dồi dào nhất là Thuế TNCN từ hoạt động mua bán, chuyển nhượng bất động sản (BĐS) NNT có hoạt động kinh doanh BĐS thường xuyên và tài sản giao dịch lớn nhưng số Thuế TNCN tự khai tự nộp không phù hợp cũng là một dấu hiệu dễ nhận biết hành vi vi phạm

2.2.2 Dấu hiệu thông qua thanh tra – kiểm tra tại trụ sở NNT

Thông qua các cuộc thanh tra, kiểm tra quyết toán Thuế của bộ phận Thanh tra – Kiểm tra tại trụ sở NNT, có thể phát hiện cụ thể hơn hành vi vi phạm của NNT căn cứ vào các chứng từ mà đơn vị lưu trữ tại trụ sở làm để khai báo và nộp Thuế Các bất thường trong sự đối ứng giữa doanh thu và chi phí là cơ sở để phát hiện sai phạm khi đơn vị thực hiện chi trả tiền lương bất hợp lý Đối với hộ kinh doanh có quy mô lớn, số lượng lao động nhiều nhưng không tự giác thành lập doanh nghiệp nhằm giảm thiểu việc khai báo mức lương chi trả và khấu trừ Thuế TNCN cho nhiều người lao động (NLĐ) Bất động sản và động sản là tài sản hợp pháp của doanh nghiệp khi mua bán không có hóa đơn hoặc doanh thu trên hóa đơn không hợp lý với giá trị thị trường của tài sản cũng là dấu hiệu cho thấy việc cố tình lập hồ sơ mua bán thỏa thuận giá cả trên hợp đồng nhằm giảm số Thuế TNCN phải nộp cho cá nhân mua tài sản

2.3 Biểu hiện của vấn đề

2.3.1 Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công

Thứ nhất là cố tình khai sai tiền lương chi trả hoặc khai khống số lượng lao động

Trang 23

Thuế TNCN được sử dụng như một công cụ quan trọng nhất để thực hiện mục

Lý thuyết tài chính công cho rằng Thuế thu nhập lũy tiến đảm bảo phân phối gánh nặng Thuế một cách hợp pháp, thực thi vai trò quan trọng nhất của chính phủ là đảm bảo

thu nhập chịu Thuế càng cao mức Thuế phải nộp cũng tăng tương ứng và hiển nhiên Thuế phải nộp càng cao sẽ làm giảm thu nhập thực sau khi trừ Thuế, điều này khiến cá nhân có xu hướng trốn tránh việc khai báo chính xác mức thu nhập cao Vì vậy, các tổ chức sử dụng lao động thường có những biểu hiện trốn Thuế, lách Thuế cho NLĐ như

kê khai không đầy đủ số lượng người lao động, khai khống số lượng lao động để phân

nhỏ tiền lương thực tế chi trả

Thuế TNCN và tạm nộp ngay vào NSNN theo tỷ lệ 10% trên thu nhập (từ 2.000.000 đồng trở lên/lần chi trả) trước khi chi trả cho người lao động đối với cá nhân ký hợp đồng dưới 03 tháng hoặc lao động thời vụ Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp không thực hiện điều này, họ chi trả bằng tiền mặt đồng thời hợp thức hóa chi phí tiền lương này bằng cách kê khai khống số lượng lao động có ký hợp đồng dài hạn với doanh nghiệp Để làm được điều đó, những năm gần đây đã xuất hiện tình trạng các doanh nghiệp đánh cắp mã số thuế cá nhân (MST) để thực hiện gian lận khai khống chi phí để làm giảm số Thuế phải nộp Hành vi này trực tiếp gây ảnh hưởng đến các cá

3 Egger, P, Radulescu, D & Rees, R., 2014 The Determinants of Personal Income Tax

Progressivity Around the Globe, s.l.: s.n

4 Palic, Dumičić, K., Grofelnik, B., 2017 Analysis of Personal Income Taxation Determinants

in Croatia in Long Run: Evidence from Cointegration Analysis Original Scientific Paper,

Volume 63, pp 12-18

5 Bộ Tài Chính, 2013 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013: Hướng dẫn về chính

sách Thuế thu nhập cá nhân và một số nguyên tắc chung về quản lý Thuế thu nhập cá nhân

Trang 24

nhân có thu nhập không đến mức nộp Thuế TNCN hoặc đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ Thuế TNCN nhưng vẫn phát sinh một số Thuế TNCN phải nộp mà chính bản thân họ cũng không biết

Thứ hai là khai trùng lắp, sai đối tượng người phụ thuộc và kê khai không đúng các khoản thu nhập được miễn Thuế TNCN

Việc quy định nhiều khoản thu nhập được miễn Thuế có thể hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng nộp Thuế xét trên góc độ lợi ích Tuy nhiên, xét trên góc độ công bằng, bình đẳng theo khả năng nộp Thuế, thì các quy định này có thể tạo ra những bất công nhất định do loại trừ các khoản thu nhập là thước đo để đánh giá khả năng nộp Thuế của đối tượng nộp Thuế Do vậy một cá nhân khi có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương tiền công ở nhiều nơi khác nhau nhưng không muốn trung thực khai báo sẽ có hành vi vi phạm thông qua việc kê khai khống các khoản thu nhập được miễn Thuế nhưng trên thực tế không được chi trả theo hợp đồng lao động (Lý Phương Duyên, 2017)6

Mặt khác, các khoản giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc (NPT) được quy

cho một NNT đồng thời chỉ giới hạn độ tuổi của NPT và mối quan hệ nhất định đối với NNT Đối với NNT có thu nhập cao và ở nhiều nơi khác nhau thường xảy ra tình trạng

kê khai trùng lắp NNT để được hưởng giảm trừ gia cảnh khi tính thu nhập chịu Thuế, giảm thiểu tối đa mức Thuế TNCN phải nộp Một số trường hợp, doanh nghiệp do không hiểu rõ quy định của Luật Thuế TNCN sẽ có hành vi khai sai đối với các khoản thu nhập không được miễn Thuế hoặc các đối tượng không đảm bảo yêu cầu là NPT nhưng vẫn đưa vào giảm trừ khi tính thu nhập chịu Thuế

6 Lý Phương Duyên, 2017 Mở rộng cơ sở Thuế đối với thu nhập ở Việt Nam hiện nay, Tạp

chí Tài chính, tháng 8/2017

7 Bộ Tài Chính, 2013 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013: Hướng dẫn về chính

sách Thuế thu nhập cá nhân và một số nguyên tắc chung về quản lý Thuế thu nhập cá nhân

Trang 25

2.3.2 Đối với thu nhập từ hộ kinh doanh theo phương pháp khoán

Hộ kinh doanh là nhóm NNT khó xác định chính xác doanh thu thực tế do không thực hiện sổ sách kế toán để tách riêng được doanh thu và chi phí nên mức Thuế phải nộp là khoán trên doanh thu Mức doanh thu chịu Thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền hoa hồng hoặc tiền thực hiện dịch vụ phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh

Thuế suất áp dụng khác nhau cho từng ngành nghề, đảm bảo phù hợp với lợi nhuận tối thiểu ước tính thu được nhưng thông thường cá nhân kinh doanh không hiểu rõ được hàm ý của chính sách Thuế theo phương pháp khoán sẽ mặc định rằng mình phải nộp Thuế trên tất cả chi phí đã bỏ ra nên hộ kinh doanh thường che giấu và khai báo không trung thực doanh thu thực tế của mình

kinh doanh thì hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hóa đơn quyển ngoài việc khai doanh thu khoán, cá nhân kinh doanh phải tự khai tự nộp Thuế đối với doanh thu trên hóa đơn bán hàng Vấn đề thất thu Thuế từ hộ kinh doanh chủ yếu rơi vào hộ kinh doanh có sử dụng hóa đơn bán hàng; người bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ phải lập và giao hóa đơn cho khách hàng đối với hàng hóa có giá trị từ 200.000 đồng, nếu khách hàng không lấy hóa đơn vẫn phải lập hóa đơn và ghi rõ khách

8 Quốc hội, 2007 Luật số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2002: Luật Thuế Thu nhập cá nhân

9 Bộ Tài Chính, 2015 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015: Hướng dẫn thực hiện

thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về Thuế

Trang 26

hàng không lấy hóa đơn theo quy định tại Điều 16 Thông tư số 39/2014/TT-BTC10 Trên thực tế, hộ kinh doanh không tự giác thực hiện nghiêm túc quy định này, việc bán hàng không xuất hóa đơn dẫn đến khai báo không đầy đủ doanh thu thực tế phát sinh, đây là hành vi trốn Thuế thường gặp và khó kiểm soát Bên cạnh đó một số cá nhân kinh doanh có thái độ không hợp tác và cư xử không đúng mực với công chức quản lý Thuế gây trở ngại và mất thời gian cho việc hiệp thương số Thuế phải nộp đối với hộ kinh doanh

2.3.3 Đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng, biếu tặng bất động sản

BĐS là tài sản có tính sở hữu và việc sử dụng thế nào phụ thuộc vào quyết định của người sở hữu nó Thuế TNCN không đánh vào tài sản duy nhất của cá nhân, đây là một khe hở cho việc tránh Thuế Bằng việc cố tình khai báo tài sản duy nhất là nhà ở hay đất ở, thu nhập của cá nhân khi chuyển nhượng tài sản này được miễn Thuế theo

sản ở cùng một địa bàn huyện, thành phố hoặc ở nhiều địa bàn huyện trong cùng tỉnh vẫn cam kết chỉ có một tài sản khi thực hiện chuyển nhượng BĐS nhằm gian lận trốn tránh việc khai nộp Thuế TNCN Một người sở hữu BĐS ở một nơi nhưng thực hiện chuyển nhượng BĐS đó tại địa phương khác thì rất khó để cơ quan Thuế và các ban ngành liên quan thực hiện xác minh tài sản duy nhất của cá nhân, do đó tạm thời chấp nhận bằng bản cam kết và tự chịu trách nhiệm về việc khai báo tài sản duy nhất của cá nhân đó

Bên cạnh đó, lợi dụng điều luật miễn Thuế TNCN đối với các khoản thu nhập từ chuyển nhượng, cho tặng BĐS, tài sản thừa kế giữa người thân trong gia đình để thực hiện chuyển nhượng BĐS cho người không nằm trong diện được miễn Thuế, cá nhân

10 Bộ Tài chính, 2014 Thông tư số 39/2014/TT-BTC: Hướng dẫn thi hành nghị định số

51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01

năm 2014 của chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

11 Quốc hội, 2007 Luật số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2002: Luật Thuế Thu nhập cá nhân

Trang 27

sở hữu chuyển nhượng cho người trung gian có quan hệ huyết thống và người đó tiếp tục chuyển nhượng cho nguời khác theo đúng mục đích Ví dụ thu nhập chuyển nhượng một mảnh đất từ cô ruột cho cháu ruột không được miễn Thuế TNCN, bằng cách người cô ruột làm thủ tục tặng đất cho anh trai, sau đó anh trai sẽ làm quà tặng cho con mình, như vậy khoản thu nhập này người cháu sẽ được miễn Thuế TNCN như một tài sản được cho tặng từ cha đẻ của mình theo quy định trong Luật Thuế TNCN về việc chuyển nhượng, cho tặng và nhận thừa kế trong cùng mối quan hệ huyết thống Tấc đất tấc vàng, câu nói nay luôn đúng với mọi thời đại và mọi nền kinh tế, việc mua bán trao đổi vẫn luôn diễn ra sôi nổi và thường xuyên ở bất cứ đâu Hiện nay, TP

Đà Lạt đang trên bước đà phấn đấu đến 2020 trở thành thành phố trực thuộc Trung Ương, và dẫn đầu với danh hiệu “Thành phố du lịch thông minh” Việc công bố quy hoạch lại TP Đà Lạt đã đẩy mạnh giá BĐS, kích thích việc mua bán trao đổi BĐS càng trở nên mạnh mẽ hơn Theo đó, việc thỏa thuận giá cả thực tế và giá trên hợp đồng để tối thiểu hóa mức Thuế TNCN đã gây thất thu Thuế nghiêm trọng Mặt khác, do nhận thức của người dân còn hạn chế hoặc e ngại việc thực hiện thủ tục hành chính Nhà nước nên vẫn tồn tại hành vi mua bán BĐS bằng giấy tay giữa các cá nhân, chủ yếu diễn ra tại các vùng ven thành phố, cách xa trung tâm hành chính Điều này cũng dẫn đến thất thu Thuế và gây nhiều khó khăn cho CCT Đà Lạt trong việc thực hiện quản lý thu Thuế TNCN vì căn cứ tính Thuế là thu nhập từ chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền xác thực

2.3.4 Đối với thu nhập từ hoạt động cung cấp dịch vụ xây dựng cơ bản

Mức sống người dân ngày càng nâng cao, một trong những nhu cầu tất yếu là yêu cầu cao hơn về nơi ở, sinh hoạt và nghỉ ngơi Hoạt động xây dựng các công trình, nhà ở

tư nhân tại địa bàn TP Đà Lạt trong những năm qua có những chuyển biến tích cực kéo theo nhu cầu xây dựng cơ bản tăng cao Các nhóm thợ đứng ra làm chủ thầu xây dựng

là nhóm đối tượng chịu Thuế TNCN Mỗi công trình mức Thuế TNCN phải nộp theo

Trang 28

tỷ lệ 7% trên tổng số tiền nhân công đối với hợp đồng dịch vụ nhân công không bao gồm nguyên vật liệu hoặc tỷ lệ 4,5% trên tổng trị giá công trình theo hợp đồng dịch vụ bao thầu nguyên vật liệu Mức Thuế suất trên được quy định rõ tại danh mục ngành

nguồn thu nhập chịu Thuế TNCN chiếm tỷ trọng khá lớn so với các nguồn thu nhập khác và đồng thời tỷ lệ trốn tránh nộp Thuế cũng cao tương ứng Thông thường giá trị mỗi công trình xây dựng đến con số hàng trăm triệu đồng, số Thuế TNCN cũng chiếm phần không nhỏ vì vậy bản thân cá nhân kinh doanh hoạt động dịch vụ xây dựng cơ bản không tự giác đăng ký giấy phép kinh doanh và kê khai nộp Thuế Mặt khác hầu hết chủ thầu xây dựng là cá nhân kinh doanh vãng lai tại nhiều địa bàn huyện lân cận trong một tỉnh hoặc là cá nhân cư trú nhưng có nhiều nguồn thu nhập tại một địa bàn huyện, thành phố, đây là điều khó khăn để cơ quan Thuế quản lý Thuế và xác định được thu nhập của cá nhân

2.4 Xác định vấn đề

Hiện nay trên toàn nước Việt Nam nói chung và TP Đà Lạt nói riêng phần lớn người dân chưa có ý thức tự nguyện chấp hành pháp luật Thuế, họ chỉ chấp nhận đóng góp vào NSNN như một điều bắt buộc và đảm bảo sự thuận lợi khi phải thực hiện một thủ tục hành chính nào đó, trong năm 2018 tổng số Thuế truy thu qua thanh tra, kiểm tra trên toàn tỉnh là 170,8 tỷ đồng, trong đó truy thu hơn 42,7 tỷ đồng (chiếm 25% tổng

số thuế truy thu) Thuế TNCN, đối với mật độ người lao động có thu nhập từ tiền lương

12 Bộ Tài Chính, 2015 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015: Hướng dẫn thực hiện

thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về Thuế

Trang 29

tiền công ở một tỉnh cao nguyên là một con số đáng báo động Với chủ trương của Nhà nước là NNT khai và nộp Thuế theo phương thức tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm Chính sách này đòi hỏi sự tự giác và tự nguyện chấp hành Pháp luật một cách tuyệt đối của NNT nhưng đây cũng là một khó khăn trong việc kiểm tra tính xác thực của các thông tin mà NNT kê khai Bên cạnh đó cơ sở vật chất và trình độ dân trí cũng

là vấn đề mà Nhà nước đang từng bước cải thiện và nâng cao Có rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn dến thất thu Thuế tại Chi cục Thuế TP Đà Lạt, đây là thực trạng chung vẫn tồn tại và trở nên rất nan giải trên toàn ngành Thuế, quản lý Thuế hiệu quả và đảm bảo công bằng đúng với bản chất của Thuế TNCN là mục tiêu tiên quyết nhưng vẫn chưa có biện pháp thực sự hữu hiệu nào Vì vậy đối với mỗi nhóm NNT khác nhau cần thiết có phương pháp quản lý thích hợp và biện pháp chế tài khác nhau để nâng cao hiệu quả quản lý Thuế

Tóm tắt chương:

TP Đà Lạt là thành phố cao nguyên, có địa bàn đặc trưng là rừng núi tương đối rộng, TP Đà Lạt đã từng bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt kinh tế - văn hóa – xã hội Tăng trưởng kinh tế, mức thu nhập và đời sống của dân cư sẽ ngày một nâng cao nhưng ý thức đóng góp cho NSNN chưa cao, chưa đảm bảo trung thực trong việc kê khai nộp Thuế TNCN, đồng thời biên chế công chức quản lý Thuế tại CCT TP Đà Lạt chưa đáp ứng được việc quản lý đầy đủ và chính xác số lượng NNT trên toàn địa bàn nên vẫn còn tình trạng thất thu Thuế Các dấu hiệu vi phạm được cảnh báo thông qua

hồ sơ khai Thuế và việc kiểm tra tại trụ sở NNT, thông qua đó có thể nhận thấy biểu hiện của hành vi vi phạm của NNT rất đa dạng, rơi vào nhiều khía cạnh khác nhau của thu nhập chịu Thuế như: Thu nhập đối với tiền lương tiền công, thu nhập từ hoạt động kinh doanh của hộ khoán, thu nhập từ cho tặng, chuyển nhượng BĐS hay các dịch vụ xây dựng cơ bản và sự trùng lắp các khoản giảm trừ, miễn Thuế nên việc quản lý hiệu quả và nâng cao ý thức chấp hành của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Mặc dù cơ chế chủ yếu của chính sách Thuế là NNT tự khai, tự nộp và tự chịu

Trang 30

trách nhiệm nhưng điều này đã hình thành kẽ hở để NNT thực hiện hành vi vi phạm Pháp luật Thuế

Trang 31

CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Tổng quan lý thuyết các nghiên cứu trước đây

3.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

- Theo định nghĩa Haig – Simons (định nghĩa này được lấy theo tên của hai nhà kinh tế học là Robert M Haig và Henry C Simons) thu nhập của một cá nhân được xem là sự gia tăng về sức mua ròng của cá nhân đó trong một giai đoạn nhất định, ví dụ

là một năm Nói cách khác, đó là “tổng chi cho tiêu dùng” cộng với “sự gia tăng ròng

về mức độ giàu có” của một cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định TNCN khi được định nghĩa theo cách này được gọi là “thu nhập toàn diện” và thường bao quát tất

cả các loại hình thu nhập mà một cá nhân được hưởng dưới các hình thức khác nhau, bao gồm thu nhập từ tiền lương, tiền công, kinh doanh, tiền cho thuê, tiền bản quyền,

cổ tức, tiền lãi cho vay

- Từ nhiều năm trước, các nghiên cứu nước ngoài đã chứng minh tầm quan trọng

Thuế TNCN trong năm 2009 – 2010 thu được $124 tỷ, tương đương 36% tổng doanh

nhân được khai báo đến từ tiền lương và tiền lương, với phần thu nhập vốn còn lại

cấp, hệ thống Thuế cá nhân tiến bộ kết hợp với hệ thống các phương tiện được thử nghiệm thanh toán an sinh xã hội được phân phối lại thu nhập để đáp ứng mục tiêu công bằng xã hội

13 Freebairn, J., 2012 Personal Income Taxation The Economic Society of Australia, 30(1),

pp 18-23

14 Australian Bureau of Statistics, 2011 The Determinants of Personal Income Tax

Progressivity Around the Globe Taxation Revenue, Volume 5560, pp 2009-10

15 Australian Tax Office, 2011 Taxation Statistics pp 2008-09

Trang 32

- Szarowska (2014)16 đã nhận định tầm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân không chỉ đóng góp tài chính cho ngân sách mà còn tác động đến các chính sách và mục tiêu khác của chính phủ mà còn tác động đến các chính sách khác của chính phủ

và các mục tiêu như tăng trưởng kinh tế, phân phối lại, khả năng cạnh tranh của quốc gia, hoạt động của thị trường lao động hoặc liên bang tài chính

- Thuế TNCN đã tạo ra doanh thu nhiều nhất trong lịch sử của các nước phát triển

và đó là loại thuế có sức mạnh phân phối lớn nhất Do những đặc điểm mong muốn này, hầu hết các quốc gia sử dụng thuế này như một phần trong nỗ lực huy động doanh thu của họ và là phương pháp để theo đuổi công bằng trong hệ thống thuế Thuế TNCN

đã liên tục đạt trung bình khoảng một phần tư tổng thu thuế và khoảng 9% tổng sản

Ngược lại, kể từ khi được giới thiệu tại Mỹ Latin như một loại thuế thu nhập vào khoảng năm 1920, và trong phiên bản hiện đại vào cuối những năm 1960, thuế TNCN không đạt được những ước tính này Hiện tại, thuế TNCN bao gồm 10% tổng doanh

chính và thuế luôn phải đặt ra câu hỏi: Ở mức độ nào và trong những tình huống nào thuế sẽ công bằng? Tất nhiên, điều lý tưởng nhất cho người nộp thuế là tối thiểu hóa thuế phải nộp và đó cũng là mức thuế tối ưu để Nhà nước đảm bảo chi tiêu được tài trợ Đồng thời, quan trọng là biết được số thuế mà mỗi người nộp thuế phải nộp từ thu nhập

16 Szarowská, I., 2014 Personal Income Taxation in a Context of a Tax Structure Procedia

Economics and Finance, pp 662-669

17 OECD, 2017 Revenue Statistics in Latin America: Comparative tables,s.l.: OECD Tax

Statistics (database)

18 Barreix, A., Benítez,J.C.,Pecho, M., 2017 Revisiting personal income tax in Latin America:

Evolution and impact, Latin American: OECD Development Centre Working Papers

19 Buziernescu, A., 2018 Personal Income Tax in Romania: Where to? Finance: Challenges

of the Future, 18(20), pp 168-174

Trang 33

và sự giàu có của mình, vì vậy sẽ không có sự bất mãn và bất công giữa những người nộp thuế Thật không may, cho đến nay, lý tưởng về thuế này không thể đạt được vì chưa có loại thuế nào áp dụng cho các cá nhân được hoàn hảo và điều này dẫn đến những thiếu sót giữa cả người nộp thuế và Nhà nước cũng như giữa những người nộp thuế

- Có rất nhiều định nghĩa về Thuế TNCN cùng với sự ra đời từ rất lâu với nhiều tên gọi khác nhau của sắc Thuế này Đồng thời Thuế TNCN cũng gắn với nhiều đế chế

đã sử dụng các chính sách Thuế để thúc đẩy đầu tư vào nền kinh tế Mỹ Đưa ra các khoản khấu trừ cho một số chi phí kinh doanh và miễn giảm Thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những cách mà chính phủ liên bang đã sử dụng luật Thuế TNCN để thúc đẩy kinh doanh Năm 1862, như một cách để tài trợ cho Nội chiến, chính phủ bắt đầu thu Thuế TNCN Theo Văn phòng Ngân sách Quốc hội, cho năm tài khóa liên bang 2016 (ngày 1 tháng 10 năm 2015 đến ngày 30 tháng 9 năm 2016), Thuế TNCN đã tạo ra 1,5 nghìn tỷ đô la trong tổng số 3,3 nghìn tỷ đô la doanh thu liên bang

Thuế bằng cách không báo cáo doanh thu đúng thực tế hoặc báo cáo các khoản khấu trừ Thuế không có thực Tác giả cho rằng ở Mỹ mức độ trốn Thuế TNCN trong nền kinh tế bị ảnh hưởng tích cực bởi Thuế suất Thuế thu nhập Nghĩa là Thuế suất Thuế thu nhập càng cao, mức Thuế phải nộp càng nhiều dẫn đến khả năng không báo cáo thu nhập chịu Thuế Bằng cách xác định các yếu tố chính quyết định hành vi trốn Thuế

20 Huber, Marsha M., 2018 Personal income tax Salem Press Encyclopedia

21 Boylan, R., Richard J Cebula, Foley, M and Izard, D., 2013 Implications of recent federal

personal income tax increases for income tax evasion, tax revenues, and budget deficitS

[Interview] 2013

Trang 34

TNCN liên bang bằng cách sử dụng dữ liệu từ năm 1970 đến năm 2008 và dữ liệu từ điều tra trốn Thuế đến năm 2008, kết quả đã cung cấp một khuôn khổ hợp lý để phân tích việc tăng Thuế của Obama Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng việc tăng Thuế suất được thực hiện trong năm 2013, sau một thời gian dài Thuế suất ổn định đáng kể trong giai đoạn 2003-2012, sẽ dẫn đến gia tăng trốn nợ Thuế và dẫn đến giảm tốc độ tăng trưởng của các khoản thu về Thuế

3.1.2 Các nghiên cứu trong nước

3.1.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và đặc điểm Thuế TNCN ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Thuế TNCN dần được hoàn thiện theo thời gian Tiền thân của thuế thu nhập cá nhân là Thuế Thân ra đời dưới thời Trần và được áp dụng với mọi đối tượng, không phân biệt mức thu nhập Thuế Thân vẫn được duy trì cho đến ngày 07/9/1945, Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh đầu tiên hủy bỏ Thuế Thân Từ năm 1991 đến trước năm 2009, Thuế TNCN ở Việt Nam được quy định là Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Luật Thuế TNCN chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2009

Thuế TNCN là loại Thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh trong một kỳ tính Thuế; phát sinh theo năm, tháng hoặc thu nhập từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập Tuy nhiên Thuế TNCN được xem là loại Thuế đặc biệt vì có xem xét đến hoàn cảnh của cá nhân có thu nhập chịu Thuế thông qua việc xác định khoản giảm trừ cho bản thân và người phụ thuộc trước khi tính Thuế

Thuế TNCN có những đặc điểm quan trọng sau:

- Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho NNT, một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định Phân phối và điều tiết các khoản thu nhập qua Thuế TNCN;

Trang 35

- Thuế TNCN là biểu trưng cho quyền lực, sức mạnh của Nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách xã hội của mỗi quốc gia như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe và các chính sách khác

- Đối tượng nộp thuế rất rộng, là tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó; và không phân biệt nơi phát sinh thu nhập chịu thuế Chính vì vậy, đây là sắc Thuế có tiềm năng tạo nguồn thu rất lớn cho NSNN;

- Với vai trò điều tiết thu nhập, tạo công bằng xã hội, Thuế TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc Thuế suất lũy tiến từng phần nghĩa là đối với phần thu nhập tăng thêm càng cao thì Thuế suất sẽ cao tương ứng Ngoài ra, Thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các sắc Thuế khác vì việc biến động cơ cấu Thuế TNCN dường như không gây ảnh hưởng về cơ cấu kinh tế

3.1.2.2 Các nghiên cứu trong nước

- Trên thế giới, Thuế TNCN đã có lịch sử hàng trăm năm (được áp dụng đầu tiên

ở Hà Lan năm 1797) Đối với các quốc gia phát triển, hiện Thuế này là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước (ở Mỹ mức thu này chiếm tới 56,11% tổng thu ngân sách của toàn liên bang) Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay mức thu từ Thuế này hoàn toàn không đáng kể (chiếm khoảng 4,1% trong tổng thu ngân sách) Vậy làm thế nào để tăng thu ngân sách từ loại Thuế trực thu này mà vẫn đảm bảo được công bằng xã hội, phù hợp với thông lệ quốc tế trong vấn đề này? Câu trả lời được thể hiện chính bằng việc thực thi Luật Thuế TNCN (TNCN) ở Việt Nam Luật này được Quốc hội khóa XII, kì họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 Lê Thị

22 Lê Thị Thu Thủy, 2009 Những vấn đề đặt ra khi thực hiện Luật Thuế TNCN ở Việt Nam,

Tạp chí Luật học, số 4/2009

Ngày đăng: 22/10/2019, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w