1. Thiên nhiên 2. Thời gian tuần hoàn, vòng tròn 3. Tư tưởng vô thường Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai. Sự trục nhãn tiền quá, Lão tùng đầu thượng lai. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. (Cáo tật thị chúng Mãn Giác Thiền Sư) Thân như điện ảnh, hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô. Nhậm vận, thịnh suy vô bố uý, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. (Thị đệ tử Thiền Sư Vạn Hạnh) Cáo tật thị chúng (Mãn Giác Thiền Sư) và Thị đệ tử (Vạn Hạnh) là hai bài thơ thuộc thơ thiền thời Lý Trần. Những nhà nghiên cứu nhận định rằng thơ thiền Lý Trần là thế giới nghệ thuật mới lạ đầy sức thu hút nhờ xây dựng trên cái nền cơ bản là sự trực cảm tâm linh vượt khỏi tầng không gian của suy luận và nhận thức lý trí. Nó có xu hướng vươn tới một không gian và thời gian không có giới hạn và đạt tới sự hợp nhất không gian thời gian để phá bỏ mọi giới hạn đối với con người. Người đọc tìm thấy trên những vần thơ ấy là nỗi lòng, là sự suy nghiệm của các bậc Thiền sư về cõi Đạo và cõi Đời. Những con chữ đó còn như là những lời giải đáp cho sự trăn trở, day dứt, sự loay hoay tìm kiếm con đường đạt Đạo từ xưa đến nay của những bậc chân tu. Có thể nhận xét khái quát rằng, Cáo tật thị chúng và Thị đệ tử mang màu sắc đặc trưng của văn chương phương Đông. Phương Đông là từ dùng để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, Ả Rập, Ấn Độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây. Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị xã hội. Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên. Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật. Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm. Cùng với ảnh hưởng của hai nền triết học, hai nền văn học phương Tây và phương Đông có phương pháp nhận thức khác nhau. Văn học phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Văn học phương Tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên. Phương Tây thiên về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể... Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ...
Trang 1Phân tích tư tưởng văn học phương Đông qua hai bài thơ Cáo tật thị chúng và Thị đệ tử
1 Thiên nhiên
2 Thời gian tuần hoàn, vòng tròn
3 Tư tưởng vô thường
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
(Cáo tật thị chúng - Mãn Giác Thiền Sư)
Thân như điện ảnh, hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận, thịnh suy vô bố uý, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Thị đệ tử - Thiền Sư Vạn Hạnh)
Cáo tật thị chúng (Mãn Giác Thiền Sư) và Thị đệ tử (Vạn Hạnh) là hai bài
thơ thuộc thơ thiền thời Lý Trần Những nhà nghiên cứu nhận định rằng thơ thiền Lý Trần là thế giới nghệ thuật mới lạ đầy sức thu hút nhờ xây dựng trên cái nền cơ bản là sự trực cảm tâm linh vượt khỏi tầng không gian của suy luận
và nhận thức lý trí Nó có xu hướng vươn tới một không gian và thời gian không có giới hạn và đạt tới sự hợp nhất không gian thời gian để phá bỏ mọi giới hạn đối với con người Người đọc tìm thấy trên những vần thơ ấy là nỗi lòng, là sự suy nghiệm của các bậc Thiền sư về cõi Đạo và cõi Đời Những con chữ đó còn như là những lời giải đáp cho sự trăn trở, day dứt, sự loay hoay tìm kiếm con đường đạt Đạo từ xưa đến nay của những bậc chân tu Có
thể nhận xét khái quát rằng, Cáo tật thị chúng và Thị đệ tử mang màu sắc đặc
trưng của văn chương phương Đông
Trang 2Phương Đông là từ dùng để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, Ả Rập, Ấn Độ và Trung Hoa Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết - nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị - xã hội Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc
là tự nhiên Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài Đa số trường phái thiên về duy tâm
Cùng với ảnh hưởng của hai nền triết học, hai nền văn học phương Tây và phương Đông có phương pháp nhận thức khác nhau Văn học phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn Văn học phương Tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên Phương Tây thiên về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân
Trang 3bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ
Dưới góc nhìn của hai nhà Thiền sư thời Lý - Trần là Mãn Giác Thiền Sư
và Vạn Hạnh, ta thấy được quan niệm về nhân sinh quan mang màu sắc của văn học phương Đông rất nổi bật Trước hết, cả hai nhà thơ đều có tình yêu với tự nhiên và với văn chương phương Đông, thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng bất tận Văn minh phương Tây không phát xuất từ những vùng đất bồi đắp phù sa màu mỡ, họ sớm phải vươn ra biển, chiến đấu với đại dương bao la nên cách ứng xử với thiên nhiên trong tư duy của họ là chinh phục để phục vụ cho con người Vậy nên, cảm hứng chủ đạo của văn học phương Tây là ca ngợi con người - con người là thước đo của vạn vật Ngược lại, từ xa xưa, người phương Đông đã học được cách sống hài hòa với tự nhiên Thiên nhiên đóng vai trò rất lớn trong đời sống của cư dân nông nghiệp - đó vừa là môi trường vừa là nguồn lợi nhưng cũng vừa là nỗi âu lo Điều này xuất phát từ cách cảm nhận về tự nhiên từ cổ xưa của người phương Đông về vạn vật hữu linh Người nguyên thủy dựa vào tự nhiên để sinh sống Trước sức mạnh của
tự nhiên, thái độ của con người là khiếp nhược nên con người tôn sùng tự nhiên, ngưỡng vọng tự nhiên “Thiên nhân hợp nhất” - tư tưởng Kinh Dịch đã trở thành tiền đề cơ bản trong cách ứng xử, nguồn cảm hứng vô tận của văn chương phương Đông Quan niệm triết học “Thiên nhân hợp nhất” bắt nguồn
từ Kinh Dịch: mỗi quẻ đều bao hàm đạo trời, đạo đất và đạo người; coi quy luật của trời và quy luật của người là một Điều đó khẳng định sự thống nhất giữa con người và tự nhiên, con người là một phần của tự nhiên, giữa con người và tự nhiên có mối liên quan, dung hòa nhau Tự nhiên có trước con người, tồn tại và vận động theo quy luật khách quan, con người theo quy luật
Trang 4của tự nhiên để hành động cho hợp lẽ Bởi vậy, người phương Đông thường lựa chọn cách sống hài hòa với tự nhiên để được thanh thản, đủ đầy
Trong tâm thế của người phương Đông, người ta thấy một tâm hồn đối với thiên nhiên rất sâu nặng Trong những vần thơ của hai nhà sư trên, ta không chỉ thấy vẻ đẹp của cảnh vật mà còn thấy một tấm lòng tha thiết với
cảnh vật Nổi bật trong bài thơ Cáo tật thị chúng là mùa xuân của thiên nhiên
trong mối tương quan với mùa xuân của đời người:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai
…Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Thiền Sư Mãn Giác khái quát bức tranh xuân bằng những nét vẽ hoa cỏ của đất trời: Xuân đi thì trăm hoa rụng, xuân đến thì trăm hoa nở Mùa xuân là mùa của sinh sôi nảy nở của vạn vật, của cái đẹp, của sự sống Nhắc đến mùa xuân, người ta thường lấy biểu tượng hoa đào, hoa mai Nhà thơ kết thúc bài
kệ bằng vẻ đẹp thanh cao, kín đáo, dịu dàng của cây mai Mai cũng là loài cây đứng đầu trong tứ hữu của người xưa Cành mai của Mãn Giác vẫn đẹp tươi tắn rạng ngời bất kể thời gian đổi thay Trong tiết đông giá lạnh, trong khi vạn vật như đang run rẩy, co cụm, úa tàn, thì hoa mai vẫn tinh khôi bừng nở bên những lộc non mơn mởn Tuy mảnh dẻ nhưng cứng cáp, thuần khiết, mùi thơm nhẹ nhàng, kín đáo Người xưa lấy cái khí phách của mai ví như người quân tử Các nhà nho gặp thời loạn lạc thường ví mình như cành mai nở trong gió đông để giữ mình thanh sạch Người cao tuổi chuộng cái già nua của lão
Trang 5mai, mong muốn tuổi già khỏe mạnh, trường thọ Còn vóc dáng của hoa thì được ví như người con gái quyền quý, khuê các
Tâm hồn Đông phương Thiền Sư Vạn Hạnh cũng dành niềm ưu ái cho thiên nhiên trong bài Thị đệ tử rất thiết tha:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Thân người được Thiền sư ví với những hình ảnh mong manh, dễ đổi thay như ánh chớp trong chiều tà hoang phế, như giọt sương long lanh trên đầu ngọn cỏ buổi sớm mai Bốn mùa tám tiết, vạn vật biến chuyển không ngừng, xuân qua hoa lá xanh tươi tốt, thu đến lá hoa cũng rụng rời Thiên nhiên là đối tượng để Thiền Sư bày tỏ cảm xúc trước cái đẹp Thiên nhiên còn
là hình ảnh thực, vừa là một ẩn dụ về sự bừng sáng của trí tuệ giữa khoảng không bao la của vũ trụ - tâm hồn Đọc thơ Thiền ta gặp sự thanh vắng trong trẻo của thiên nhiên Thiên nhiên hiện hữu không đơn giản chỉ là tình yêu tạo vật mà là điểm tựa bình yên vĩnh cửu Cái đẹp trong trẻo hiện lên qua giọt sương trên ngọn cỏ Một giọt sương lấp lánh ánh đời Nó đẹp đấy nhưng mong manh làm sao Nó có đấy nhưng không biết sẽ rơi lúc nào, sự sống của nó cũng ngắn ngủi lắm Chỉ cần một vệt nắng, một làn gió hay một cú chạm bất ngờ thì nó tan ngay Phải là một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế với những xê dịch nhỏ ở vẻ đẹp đất trời thì sư Vạn Hạnh mới đúc kết được một ý thơ hay và đẹp đến như vậy
Trang 6Văn học phương Đông không chỉ đề cao quan niệm “Thiên nhân hợp nhất” mà còn nghiêng về thời gian thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần
hoàn Quy luật vòng tròn tuần hoàn thể hiện rất rõ trong cả hai bài thơ Cáo tật thị chúng và Thị đệ tử Thời gian vũ trụ vạn vật mà Mãn Giác Thiền Sư cảm
nhận là vòng thời gian tuần hoàn: “Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai” Đó chính là một thực tại tự nhiên của trời đất, một thứ "chân lý hiển nhiên" của vũ trụ vạn vật Tất cả đều vận hành theo cùng một qui luật muôn thuở như thế: hết đêm đến ngày, hết mùa Đông đến mùa Xuân, trăng khuyết lại tròn là một sản phẩm của tự nhiên, cho dù có được tôn xưng là "chúa tể của muôn loài", con người cũng phải chịu sự chi phối của qui luật này.Tác giả
đã vẽ ra vòng tuần hoàn liên miên bất tận bằng cách gợi lên hình tượng hoa rụng trước, hoa nở sau để dẫn ra những vòng đời tiếp theo của hoa Các cặp ngữ động từ đối nhau: khứ - đáo; lạc - khai; nhãn tiền quá - đầu thượng lai; và các từ được dùng trùng điệp: xuân, hoa như để chỉ ra qui luật này chẳng khác
gì bánh xe luân hồi tuần hoàn mãi không dứt Mùa xuân đi rồi mùa xuân trở lại Cành mai mới nở trong đêm chính là sự sống trở lại, cũng như dòng thời gian bất tận luân hành Vòng quay của tạo hóa hết đông sẽ tới xuân, trong cái băng giá vẫn có cái hơi ấm của sự sống, cũng như kết thúc đêm tăm tối để mà ngày mai tươi sáng Ta cũng nhận ra được thời gian tuần hoàn trong lời dặn của Thiền Sư Vạn Hạnh “Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô”