1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật múa rối nước truyền thống ở Thái Bình hiện nay

63 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 809,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số thành tựu đạt được trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật múa rối nước truyền thống ở Thái bình và nguyên nhân của nó .... Vì vậy, cần phải tìm ra giải pháp ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

-

BÙI THỊ THÚY DUNG

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TRUYỀN THỐNG

Ở THÁI BÌNH HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

-

BÙI THỊ THÚY DUNG

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TRUYỀN THỐNG

Ở THÁI BÌNH HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học:

ThS Chu Thị Diệp

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, với tình cảm chân thành, em xin bày

tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho em có môi trường học tập tốt trong suốt thời gian em học tập, nghiên cứu tại trường

Bên cạnh sự nỗ lực học hỏi của bản thân em còn nhận được sự hướng dẫn tận tình từ ThS Chu Thị Diệp – Giảng viên khoa Giáo Dục Chính Trị đã định hướng đi cho em, để em hoàn thành tốt nhiệm vụ Và em cũng xin cảm

ơn hai phường múa múa rối nước ở Thái Bình đã cung cấp các tư liệu để em hoàn thành bài khóa luận

Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của báo cáo không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô để bài khóa luận được hoàn thiện hơn

Một lần nữa xin gửi đến thầy cô, bạn bè cùng các cô chú và anh chị lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất!

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Bùi Thị Thúy Dung

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận: “Bảo tồn và phát huy giá trị của loại

hình nghệ thuật múa rối nước truyền thống ở Thái Bình hiện nay” là công

trình nghiên cứu của riêng em dưới sự hướng dẫn của Th.S Chu Thị Diệp Các số liệu, kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Nếu sai, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Bùi Thị Thúy Dung

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TRUYỀN THỐNG 5

1.1 Nghệ thuật múa rối 5

1.2 Nghệ thuật múa rối nước truyền thống ở Việt Nam 9

1.3 Giá trị văn hóa nghệ thuật của múa rối nước 18

Tiểu kết chương 1 21

CHƯƠNG 2 HÁT HUY NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TẠI THÁI BÌNH HIỆN NAY 22

2.1 Vùng đất Thái Bình với nghệ thuật múa rối nước 22

2.2 Một số thành tựu đạt được trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật múa rối nước truyền thống ở Thái bình và nguyên nhân của nó 27

2.3 Những hạn chế trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật múa rối nước ở Thái Bình và nguyên nhân của nó 35

Tiểu kết chương 2 43

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC Ở THÁI BÌNH 44

3.1 Một số phương hướng bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước ở Thái Bình 44

3.2 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật múa rối nước ở Thái Bình hiện nay 47

Tiểu kết chương 3 55

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 6

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Châu thổ sông Hồng là một vùng đất rộng lớn nằm ở hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc nước ta, gồm hệ thống sông và biển với đất đai trù phú và màu mỡ Bởi vậy, đời sống văn hoá của cư dân nơi đây rất phong phú và đa dạng về các lễ hội truyền thống.Đó chính là cơ sở để cha ông ta sáng tạo nên các hình thức nghệ thuật dân gian, mà độc đáo và nổi bật là Múa rối nước - di sản văn hoá phi vật thể mà hiện nay chỉ còn có ở Việt Nam

Thái Bình được biết đến với rất nhiều di tích lịch sử văn hóa như khu di tích Ðền Trần, chùa Keo, Từ đường, Lăng mộ nhà bác học Lê Qúy Đôn, … Đây là những công trình kiến trúc xưa kia nhưng để lại nhiều giá trị to lớn cho con cháu đời sau Ngoài ra Thái Bình còn được biết đến với nghệ thuật hát chèo với những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc cho nền văn hóa Việt Nam Bên cạnh đó, một loại hình nghệ thuật đã có từ rất lâu đời nhưng đến nay vẫn còn tồn tại và được gìn giữ ở Thái Bình, đó chính là nghệ thuật múa rối nước - loại hình nghệ thuật đặc sắc của đồng bằng châu thổ sông Hồng

Có thể nói múa rối nước nói chung và múa rối nước ở Thái Bình nói riêng là một nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn nếu chúng ta biết bảo tồn và phát huy sẽ có giá trị rất lớn để thu hút khán giả và khách du lịch Hiện nay công tác bảo tồn nghệ thuật múa rối nước đang được quan tâm quan tâm, đầu tư Tuy nhiên loại hình này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, khán giả ít người biết đến và đang đứng trước nguy cơ bị lãng quên cũng như chưa phát huy thực sự có hiệu quả trong các hoạt động Vì vậy, cần phải tìm

ra giải pháp cho phường rối ở Thái Bình nhằm phát triển, bảo tồn và phát huy Múa rối nước trong thời gian“hiện nay và thời gian tới, góp phần thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo tồn, phát huy nghệ thuật truyền thống để xây dựng”nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc

Trang 7

dân tộc Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị của

loại hình nghệ thuật múa rối nước truyền thống ở Thái Bình hiện nay” làm

đề tài nghiên cứu của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Múa rối nước là môn nghệ thuật đầy sức cuốn hút và mang những nét độc đáo riêng biệt Nghiên cứu về đề tài này, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và các cuốn sách, có thể điểm qua một số công trình, cuốn sách dưới đây:

+ Cuốn sách “Nghệ thuật múa rối nước”, tác giả Tô Sanh, nhà xuất bản

Văn hóa năm 1976 Cuốn sách này nói về nghệ thuật múa rối nói chung và nghệ thuật múa rối nước Trình bày nguồn gốc lịch sử và quá trình nghệ thuật của múa rối nước Tiết mục và kỹ thuật thể hiện múa rối nước Cuối cùng là tính chất đặc điểm và quan hệ của nghệ thuật múa rối nước với các bộ môn nghệ thuật khác

+ Cuốn sách “Lịch sử nghệ thuật múa rối Việt Nam”, tác giả Nguyễn

Huy Hồng Cuốn sách xuất bản năm 2005 với nội dung là giới thiệu về lịch sử nghệ thuật múa rối ở Việt Nam, nghệ thuật múa rối cổ truyền dân tộc, nghệ thuật múa rối 1945-1995 Giới thiệu từ vựng về nghệ thuật múa rối, các thuật ngữ múa rối

+ Cuốn sách “Nghệ thuật múa rối Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Huy

Hồng được xuất bản năm 1974 với nội dung là đại cương về nghệ thuật múa rối, lịch sử nghệ thuật múa rối Việt Nam và cơ sở rối truyền thống của dân tộc

+ Cuốn sách “Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam”, tác giả: Hoàng

Chương (chủ biên), Đoàn Thị Tình, Đặng Ánh Ngà, Phan Thanh Liêm - Nhà xuất bản: Văn hoá Thông tin, 2012 Cuốn sách giới thiệu lịch sử và đặc điểm của múa rối nước Đồng thời đã nêu lên các định hướng nhằm phát triển múa rối nước Việt Nam và vấn đề bảo tồn, phát huy nghệ thuật múa rối nước dân gian Việt Nam

Trang 8

+ Cuốn sách “Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình”, tác giả Nguyễn

Huy Hồng - Nhà xuất bản: Sở Văn hoá và thông tin Thái Bình, 1987 Cuốn sách giới thiệu vài nét về đất Thái Bình và nghệ thuật múa rối nước cùng với 3 phường tiêu biểu: phường múa rối nước Nguyễn, Tuộc, múa rối thùng ở Đống

+ Luận án “Sự phục hồi của rối nước đồng bằng Bắc Bộ”, tác giả Vũ

Tú Quỳnh Luận án đã nêu lên tổng quan về rối nước vùng đồng bằng Bắc Bộ trước đổi mới Trình bày các tác nhân dẫn đến sự phục hồi và những vấn đề đặt ra trong hiện nay đối với rối nước

+ Phạm Trọng Toàn, đề tài “Tìm hiểu nghệ thuật múa rối nước cổ

truyền làng Nguyễn”, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, 2007 Luận văn đã

nghiên cứu múa rối nước về mặt nghệ thuật Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những phương hướng và giải pháp kế thừa và phát huy những giá trị đặc sắc của máu rối nước làng Nguyễn trong nghệ thuật múa rối của dân tộc

+ Nguyễn Hoàng Minh Vân, đề tài “Hoạt động của các phường rối

nước ở châu thổ sông Hồng – Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ

Văn hóa học, 2011 Luận văn đã nghiên cứu hoạt động của 6 phường rối Tác giả đã chỉ ra những tiền đề văn hóa và ảnh hưởng của nó đến giá trị văn hóa

cả múa rối nước Từ đó đã có những biện pháp để khôi phục và phát triển các phường rối nước

Những công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu phong phú để tôi

thực hiện đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật múa

rối nước truyền thống ở Thái Bình hiện nay”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của múa rối nước ở Thái Bình, đề tài làm rõ thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của múa rối nước tại Tỉnh Từ đó đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy loại hình sân khấu độc đáo này

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau: Thứ nhất, tổng quan về nghệ thuật múa rối nước và những giá trị văn hóa, nghệ thuật của nó

Thứ hai, làm rõ thực trạng công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại Thái Bình hiện nay

Thứ ba, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại thái Bình hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của bài khóa luận là múa rối nước cụ thể là hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước ở Thái Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về hoạt động bảo tồn và phát huy múa rối nước trên địa bàn Thái Bình từ khi hình thành đến năm 2019

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội hóa, logic - lịch sử,…

6 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TRUYỀN THỐNG

1.1 Nghệ thuật múa rối

1.1.1 Khái niệm nghệ thuật múa rối

Bàn về nghệ thuật Rối thì ở nhiều nước trên thế giới đều sử dụng khái niệm Sân khấu Rối hoặc Rối còn ở Việt Nam thì gọi nghệ thuật Rối là Múa rối Căn cứ vào đặc điểm về quân rối, kỹ thuật tạo hình hay sân khấu và nghệ thuật biểu diễn Múa rối, các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra một số khái niệm về Múa rối như:

Nhà nghiên cứu Tô Sanh là nguời đầu tiên đưa ra khái niệm về Múa rối như sau: “Múa rối là một loại hình nghệ thuật sân khấu có khả năng truyền cảm một cách cao độ, là sự phối hợp tài tình giữa kỹ thuật và nghệ thuật tạo hình với kỹ thuật và nghệ thuật điều khiển, lấy con rối làm phương tiện chủ yếu để hoàn thành nhiệm vụ thể hiện mọi mặt phong phú của trí tưởng tượng loài người của hiện thực khách quan Nó có khả năng tập trung hoà hợp nhiều hình thức nghệ thuật, không gian và thời gian kể cả các loại hình sân khấu khác Nó phục vụ mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thiếu nhi Múa rối

có rất nhiều loại Nhân vật rối là trung tâm Người diễn viên điều khiển thường che dấu kín, sân khấu của nó và bản thân nó cần phù hợp với kích thước với tính chất của người và rối, chứ không phải cơ bản do hoá trang người thật hoặc máy móc quyết định” [20; Tr.32]

Trong từ điển Văn học, Nxb Khoa học xã hội - 1984, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng đã đưa ra khái niệm về Múa rối như sau: “Múa rối là một loại hình sân khấu truyền thống của hầu khắp các dân tộc thế giới, chuyên thể hiện nhân vật bằng diễn viên mang mặt nạ, đội lốt hay điều khiển các con nộm, con giống (quen gọi chung là con rối) làm trò, đóng kịch Con rối

Trang 11

được sáng tạo, mô phỏng tự nhiên (động vật, thực vật) hay do tưởng tượng (như thần, tiên, ma, quỷ, rồng, phượng ) bằng mọi chất liệu (gỗ, vải, giấy, bông, da, chất dẻo ) thành mọi kiểu (tượng, tròn, hình bẹt, hình bông ) và

cử động nhờ phương tiện: Tay (rối tay), que (rối que), dây (rối dây), máy (rối máy), gió (rối gió), hơi pháo (rối pháo), sức nước (rối nước) Nghệ sĩ Rối luôn luôn giấu kín mình, điều khiển con rối thể hiện hành động sân khấu cử động của thân hình nó và lời nói mượn người lồng tiếng tạo nên sự kỳ diệu của vật chết sống dậy, tái hiện chuyện đời thực và tưởng tượng”

Như vây, chúng ta có thể hiểu múa rối là nghệ thuật dùng con rối làm trò và đóng kịch trên sân khấu Nó bắt nguồn từ những trò chơi ngẫu nhiên trong sinh hoạt, thân thuộc trong cuộc sống của con người Con rối là nhân vật trung tâm nhưng nó lại phụ thuộc vào sự phối hợp nhịp nhàng giữa nghệ thuật điêu khắc và bàn tay khéo léo điều khiển con rối của người nghệ nhân Tất cả những điều đó đem lại niềm vui và tiếng cười cho khán giả

1.1.2 Các loại hình múa rối

Nghệ thuật múa rối dân gian Việt Nam bao gồm : múa rối cạn và múa rối nước Mỗi loại rối lại có những đặc trưng khác nhau phụ thuộc vào cấu tạo của mỗi loại rối

Trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu về nghệ thuật múa rối cạn

Nghệ thuật múa rối cạn phát triển rộng khắp trên cả nước với nhiều tên gọi khác nhau như: Miền Bắc có nhũng tên gọi: ổi, Lỗi, ổi lỗi, Khối lỗi, Rối, Múa rối, Trò, Trò máy,…theo cách gọi của người Việt, Mộc thầu hí theo cách gọi của người Nùng, Slương pấtlạp theo cách gọi của người Tày, Mụa rội theo cách gọi của người Mường,… ở miền Nam gọi múa rối cạn là Hát gỗ, Hát hình, …

Múa rối cạn bao gồm nhiều thể loại khác nhau như: Rối tay, rối que, rối dây, rối bóng, rối mặt nạ, rối nhà mồ, rối lốt,… phần lớn“các tích trò trong

Trang 12

múa rối cạn thường sử dụng các làn điệu”chèo, ca trù, tuồng,… để dẫn trò, hát

đế và biểu diễn trên sân khấu:

Rối tay được mọi người ít biểu diễn trên sân khấu,“còn gặp nhiều trong trò nghi lễ chùa chiền Rối tay có cấu tạo đầu bằng gỗ, mình khâu vải”(không tay) Để điều khiến con rối thì người nhân sẽ lồng bàn tay vào trong lòng khoét rỗng của thân rối

Rối que được sử dụng phổ biến, có kích thước cỡ 30-35 cm Đầu được

tạc liền với mình bằng gỗ có cả tóc, tai, khăn, mũ, bàn tay bằng gỗ gắn liền với cổ tay hoặc rời Đặc biệt, loại rối này không có chân nên các nghệ nhân cần phải chế tác riêng sau đó gắn vào mình rối Rối que được điều khiển bằng que tre hoặc que sắt cắm vào thân rối và cổ tay luồn trong áo

Rối máy rất thông dụng trong cuộc sống khi có cả ở trong đồ chơi, trò

chơi và sân khấu biểu diễn Rối máy được tạc riếng lẻ từng bộ phận sau đó nối với nhau bằng các khớp lỏng Loại rối này không có trang phục mà dùng

àu để vẽ lên Được điều khiển bằng que, dây và dùng xen với rối tay, rối que

Rối dây chỉ“thấy xuất hiện ở vùng biên giới Cao Bằng với tên”Mộc thầu hí, Slương pấtlạp Đầu rối được tạc bằng gỗ, mình rối nan đan, bàn tay

gỗ và không có chân Loại rối này được điều khiển bằng tre, dây tơ hoặc dây gai mềm

Rối bóng trước kia có ở tỉnh Kiên giang nhưng hiện nay, trò rối này đã

không còn

Rối mặt nạ trong đó mặt nạ được làm bằng nhiều nguyên liệu khác

nhau gần gũi với con người Con rối được sơn màu và vẽ theo tạo hình của nhân vật Loại rối này có thể dùng tay để điều khiển hoặc đeo lên đầu người diễn theo nhân vật đó

Ở Việt Nam, nhân vật trên sân khấu rối rất phong phú và đa dạng, có thể“là những nhân vật trong truyện cổ tích, thần thoại”như Lý Thông, Thạch

Trang 13

Sanh, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh,… hay đó là những nhân vật hiện đại như Cu Tý,

bé Rồng, Anh bộ đội kéo pháo,… Và hơn nữa trên sân khấu múa rối những loài động vật, cây cối, nhà cửa, vật dụng… đều có thể trở thành những nhân vật có đời sống sinh động và phong phú dưới bàn tay khéo léo của người nghệ nhân Có thể nói sân khấu rối “chấp nhận” mọi sự tưởng tượng phong phú do con người tạo nên Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã gọi sân khấu rối là

“Thế giới tuyệt đẹp của tuổi thơ”

Thứ hai, nghệ thuật múa rối nước

Tại Ấn Độ và các nước Đông Nam Á chỉ có rối tay, rối que và rối dây Còn múa rối nước thì chỉ có ở Việt Nam và Trung Quốc Theo nhà nghiên cứu Tô Sanh, Trung Quốc gọi múa rối là bù nhìn nước Tuy nhiên, múa rối nước ở Việt Nam khác với Trung Quốc vì ở nước ta, rối nước diễn trong ao

và biểu diễn trong cộng đồng, còn múa rối nước Trung Quốc diễn trong bể thiên về trò chơi Theo giáo sư J Pim – pa – ne – au, múa rối nước đã không còn xuất hiện ở Trung Quốc và hiện nay có thể nói rằng, khi nhắc đến múa rối nước là nói đến Việt Nam

Nghệ thuật múa rối nước ra đời từ sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo và liên tưởng của cha ông ta trước cuộc sống bình dị của người nông dân, gắn liền với nền nông nghiệp trồng lúa nước của người dân vùng đồng bằng Bắc

Bộ Múa rối nước mang nhiều đặc điểm khác so với múa rối như: dùng mặt nước làm sân khấu, thủy đình là sân khấu biểu diễn trò múa rối nước Thông“qua những tiết mục biểu diễn, khán giả sẽ được dẫn dắt vào một thế giới tưởng tượng phong phú”dưới sự chỉ huy của người nghệ nhân Những con rối mang nét mặt vui tươi rạng rỡ, trình diễn những động tác linh hoạt, uyển chuyển trên mặt nước, kết hợp với âm thanh đầy sôi động đã làm nên một nghệ thuật múa rối nước độc đáo mang những đặc trưng riêng của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ

Trang 14

Theo Tô Sanh: “Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu múa rối, mà chỗ diễn con rối là ở mặt nước Buồng trò của người biểu diễn là một cái nhà được cất giữa ao, hồ hoặc sát mé hồ Người điều khiển ngâm mình dưới nước, nấp sau tấm mành, điều kiển con rối bằng cách khua sào

có dính con rối ở dây và đầu sào Nước che kín các loại que, dây,máy Sân khấu hoặc nhà hát cố định của múa rối nước truyền thống là hệ thống nhà hai tầng tám mái xây bằng gạch, có từ lâu đời Múa rối nước là môn nghệ thuật kì lại chỉ có ở Việt Nam” [20; Tr.37]

1.2 Nghệ thuật múa rối nước truyền thống ở Việt Nam

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của múa rối nước truyền thống ở Việt Nam

Theo giáo sư Trần Văn Khê và nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng thì nguồn gốc ra đời của múa rối nước cho đến nay vẫn chưa ai biết chính xác.“Nhiều nghệ nhân lão thành có nhắc lại theo trí nhớ của mình về thời điểm ra đời của múa rối nước nhưng không có đủ cơ sở để khẳng định tính khoa học lịch sử về nguồn gốc”của múa rối nước Cái mà chúng ta có thể dẫn

về nguồn gốc, xuất xứ của múa rối nước là từ tấm bia “Sùng Thiện Diên Linh” Tuy thế, chúng ta có thể khẳng định rằng dưới thời Lý (1010 – 1225) thì nghệ thuật múa rối nước đã khá phát triển Văn bia “Sùng Thiện Diên Linh” được dựng năm 1121dưới đời vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128) tại chùa Đọi (Phủ Lí – Hà Nam) đã chứng minh cho sự ra đời của múa rối nước ở

Trang 15

nhìn vào bờ, há miệng phun nước, ngẩng xem bộ tua mũ miện, lại nhìn ra chỗ không, nhìn tường vách cao vót, tấu điệu nhạc Vân Thiều, các cửa động cùng

mở, các vị thần tiên lần lượt ra; ý hẳn đó là văn vẻ cầu vồng trên trời há phải sắc đẹp của trần gian, hoa tay mềm mại múa bài Gió về, nhìn lông mày biếc hát khúc Vận tốt Chim quý dàn đội, ra múa nhịp nhàng, hươu lãnh sóng đàn,

đi diễu và nhảy nhót” [20; Tr.53]

Khi nói về nguồn gốc của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam, nhà văn Hữu Ngọc đã mô tả về nghệ thuật múa rối nước như sau: “Không rõ múa rối nước có ở các nước khác hay không, hay chỉ ở Việt Nam mới có thôi, nhưng

có một điều chắc chắn là múa rối này vẫn tiếp tục được lưu truyền và ngày càng được khán giả ưu chuộng Để thưởng thức rối nước trong bối cảnh nguyên thủy của nó, cần phải trở về cái nôi của nghệ thuật này – vùng làng quê châu thổ sông Hồng của Việt Nam” [14; Tr.20] Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, múa rối nước đã ra đời ở miền Bắc Việt Nam Và cụ thể: Vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng chính là nơi ra đời của nghệ thuật múa rối nước cổ truyền của dân tộc Việt Nam Trong đó, mảnh đất Sài Sơn (Quốc Oai – Hà Nội) hay chính là vùng chùa Thầy, nơi có nhà thủy đình sớm nhất nước ta đã được các nhà nghiên cứu hàng đầu về rối nước – Nguyễn Huy Hồng và Tô Sanh đánh giá là có nhiều điều kiện để trở thành cái nôi của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam với tổ nghề là thiền sư Từ Đạo Hạnh

Rối nước là sáng tạo tập thể của nhân dân được lưu truyền qua nhiều đời Trải qua thời gian, múa rối đã có những thay đổi cho phù hợp với các giai đoạn khác nhau mà nó vẫn tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay

Trước hết, căn cứ vào nội dung tấm bia Sùng Thiện Diên Linh thì múa rối nước Việt Nam đã ra đời từ lâu và đến thời Lý được phát triển mạnh mẽ

Sang đến thời Trần (đầu thế kỷ XIII), triều đình vẫn tiếp thu hai luồng văn hóa dân gian Đại Việt và văn hóa nước ngoài nhưng Múa rối nước vẫn

Trang 16

tiếp tục duy trì và phát triển mạnh mẽ Múa rối nước không chỉ phát triển trong lễ hội, phục vụ nơi cung đình mà còn được sử dụng để chiêu đãi sứ giả nước ngoài mỗi khi sang thăm triểu đình

Trong hai thế kỷ XV và XVI, thời nhà Lê rất ưa chuộng văn học, vì vậy,rối nước không được sử dụng trong cung đình, nhưng nó vẫn khẳng định vai trò và vị thế quan trọng trong các hội hè của chốn làng quê Tuy nhiên, múa rối nước tiếp thu các nghệ thuật dân gian khác như: Chèo, Tuồng để làm phong phú và đa dạng vốn diễn

Đất nước thời Lê Mạt tới thời Tây Sơn, với nhiều biến động lịch sử, Múa rối nước vẫn sử dụng rộng rãi trong các hội hè đình đám ở nông thôn, đã

có những ảnh hưởng sâu sắc tới các nho sĩ Họ đã sử dụng Múa rối nước làm hình tượng văn học, như một thứ vũ khí sắc bén để chống lại triều đình

Thời Nguyễn lại tạp trung phát triển nghệ thuật Tuồng thành nghệ thuật nơi cung đình Vì vậy, Múa rối nước ẩn mình nơi làng quê Múa rối nước được tổ chức theo các phường, hội, đề cao tính bí truyền để giữ lại những nét riêng của phường rối

Thực dân Pháp đô hộ nước ta vào nửa cuối thế TK XIX đến đầu TK

XX, triều đình Nguyễn trở thành bù nhìn cho Pháp, vì vậy múa rối nước rơi vào thời kỳ trầm lắng nhưng nó vẫn tồn tại, tiếp tục duy trì trong lòng mỗi người Việt

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đất nước giải phóng khỏi tay phát xít Nhật, nhưng chúng ta lại tiếp tục kháng chiến chống Pháp lần thứ

2 Thực dân Pháp tàn phá các di sản văn hóa dân tộc, bắt giết những người nghệ nhân, phá hủy các hiện vật đã làm cho Múa rối nước truyền thống thời kì

1946 – 1954 thật sự rơi vào giai đoạn đứng trước nguy cơ bị mai một Đến năm

1954, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, Rối nước được khôi phục lại

Tháng 3/1956, nghệ thuật Rối chuyên nghiệp Việt Nam ra đời, khẳng định là một nghệ thuật truyền thống của dân tộc Điều đặc biệt, tính chất bí

Trang 17

truyền được phổ biến rộng rãi trong nhân dân Đến thời kỳ kháng chiến chống

Mỹ, đất nước mặc dù rất khó khăn nhưng Múa rối vẫn không ngừng hoàn thiện và phát triển Năm 1984, Rối nước Việt Nam được bạn bè thế giới biết đến Và từ năm 1986 cho đến nay, nước ta bắt đầu vào công cuộc đổi mới đất nước, Múa rối nước vẫn tiếp tục duy trì được những giá trị về truyền thống và bản sắc văn hóa của người Việt

1.2.2 Những yếu tố tạo thành múa rối nước

Nghệ thuật múa rối nước có những nét tương đồng với nghệ thuật sân khấu và nghệ thuật múa rối, nhưng điểm khác biệt của rối nước so với các nghệ thuật khác là dùng mặt nước để làm sân khấu biểu diễn Vì vậy, nó có những đặc điểm riêng được thể hiện qua các yếu tố để tạo thành múa rối nước:

Thứ nhất, Con rối biểu diễn trong rối nước

Con rối được nghệ nhân làm bằng gỗ và gỗ sung là nguyên liệu thông dụng để tạo con rối bởi loại gỗ này nhẹ, dai và rất dễ điều khiển khi biểu diễn dưới nước Sau đó, con rối sẽ được“sơn một lớp sơn không thấm nước để gỗ không bị ngấm nước gây khó điều khiển Để tạo nên một con rối hoàn chỉnh người nghệ nhân phải trải qua rất nhiều giai đoạn”đòi hỏi sự

tỉ mỉ và khéo léo từ đục cốt đến trang trí Con rối gồm có hai phần chính là phần thân và phần đế:

Phần thân là phần nối bên trên gồm đầu, mình, 2 tay và 2 chân Người nghệ nhân tạc thân với đế là một khối liền, chuyển động là chuyển động toàn thân, các cử động của rối được thiết kế theo yêu cầu của trò diễn Máy điều khiển được lắp ở bụng con rối Rối phụ thuộc vào cấu tạo và yêu cầu cử động

để tạo khớp nên các con rối sẽ có các khớp khác nhau

Phần đế là phần chìm bên dưới, nó là phần tiếp liền với thân rối có nhiệm vụ quan trọng là giúp rối đứng vững được khi biểu diễn trò trên mặt nước Đồng thời, phần đế cũng là điểm tựa để luồn các dây từ máy điều khiển

Trang 18

đóng bên trong thân rối đến tay cầm của sào để người nghệ nhân dễ điểu khiển phần thân của rối

Hình tượng rối rất đa dạng và phong phú, đó có thể là người nông dân bình bị, những người phụ nữ,… hay những nhân vật trong lịch sử của dân tộc Việt: Hai Bà Trưng, Thánh Gióng, Lạc Long Quân,… những nhân vật gần gũi trong cuộc sống thường ngày: đàn vịt, đàn cá, con mèo, con chuột

Nhắc đến rối nước,mọi người sẽ nghĩ ngay đến Tễu Vì vậy,có thể nói Tễu chính là linh hồn của rối nước, là cầu nối giữa người biểu diễn và người thưởng thức Chú Tễu được các nghệ nhân tạc to hơn các con rối khác Tễu thân hình tròn trĩnh, da trắng hồng và lúc nào cũng tươi cười Quần áo của chú Tễu cũng rất đơn giản, chỉ“đóng khố để lộ bộ ngực và bụng phệ Tay vung vẩy, cái đầu quay nghiêng quay ngửa”là những nét đặc trưng của Tễu mỗi khi trêu chọc khán giả để mang lại tiếng cười cho những người thưởng thức Tất cả các phường rối đều dùng Tễu làm nhân vật mở màn cho buổi biểu diễn, mặc dù nội dung giới thiệu của mỗi phường khác nhau

Thứ hai, về nghệ thuật tạo hình trong rối nước

Để tạo hình được quân rối phải trải qua các giai đoạn: Tạo tính cách cho nhân vật – thiết kế trang phục – thiết kế máy điều khiển – thực hiện thiết

kế tạo hình trên vật liệu Tất cả những công đoạn trên đều thực hiện trên gỗ Khi tạo hình con rối phải chú ý đến những con rối chính trong trò diễn Người nghệ nhân đã tạc trên bề mặt những con rối những nét điển hình cần nhấn mạnh riêng cho từng nhân vật Có những vai diễn không phải đầu tư quá nhiều về tạo hình bộ mặt cho nhân vật nhưng lại phải chú ý đến trang phục biểu diễn và những thứ con rối sẽ mang theo để nói lên thân phận của nhân vật đó Một điểm đáng chú ý là khi tạo hình các nhân vật, nghệ nhân phải có

sự tưởng tượng bay bổng để sáng tạo ra những cái đẹp, cái độc và cái lạ

Những con rối ngày nay, khi tạo hình có những nét riêng biệt như:

Trang 19

Về thành phần tạo hình: Có cả các vị thần linh như Phật, Thần, Tiên hay các vị anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo,… các hình ảnh sản xuất của người lao động như cảnh xay lúa, giã gạo, dệt củi, chăn nuôi,…

Về màu sắc khi tạo hình: Nếu xưa kia thường dùng các màu sắc chủ yếu như : màu đỏ, đen, vàng ròng,… với những ý nghĩa riêng của mỗi màu sắc, thì hiện nay màu sắc được sử dụng tùy theo mỗi nhân vật Đa số“mặt người trở nên trắng, quần áo gồm nhiều màu sắc khác nhau, đạo cụ để diễn cùng con rối cũng nhiều hơn và kỹ thuật điều khiển phức tạp, đa dạng hơn”xưa

Về cách tạo động tác: Đầu và thân của quân rối được tạc trên cũng một thân gỗ trong đó tay và chân được gắn vào qua các chốt riêng để tạo sự cử động linh hoạt cho con rối

Về phục trang biểu diễn: Hầu như tất cả các nhân vật đều có quần áo bó sát với tỉ lệ người Vua quan có cách phục trang gần giống với tượng Ngọc hoàng, tượng Hộ pháp ở trên chùa Lính tráng đội nón dấu, vành nón bé phù hợp với con rối, áo có màu nâu, quần lửng Người lao động mặc đơn giản, phù hợp với công việc của bản thân

Nhìn chúng khuôn mặt và cơ thể của những người lao động thì đầy vui tươi, có những con rối hồn nhiên nhưng cũng có những con rối đầy những vẻ mặt khắc khổ Bộ mặt của tầng lớp trên ít những nét tươi tắn, mang những vẻ nghiêm nghị và có những phần khô cứng

Thứ ba, sân khấu biểu diễn trong rối

Nếu chú Tễu là biểu tượng của múa rối nước, thì thủy đình hay còn gọi

là buồng trò là đặc trưng tiếp theo của loại hình này Mặt nước chính là sân khấu biểu diễn có chiều dài khoảng từ 10m đến 15m Buổi biểu diễn bắt đầu khi có các hàng cờ bật lên và kết thúc khi hàng quân rối kéo về hết khỏi sân

Trang 20

khấu Sân khấu múa rối nước được đánh dấu bằng mành cửa buồng trò ở phía sau, hai hàng lan can thấp ở hai bên và thường có một cổng chào Các phường

có những sự bố trí sân khấu khác nhau ví dụ như bố trí hai đầu lân trên cột và cho phun khói Sự độc đáo của rối nước chính là sử dụng mặt nước để làm sân khấu cho con rối diễn trò và đóng kịch Ao nước không chỉ khéo léo giúp nghệ nhân giấu kín các dụng cụ như que, sào, dây,… mà còn tạo nên những hiệu ứng hình ảnh tuyệt vời trên sân khấu Mặt nước dập dềnh, gợn sóng làm cho các con rối rực rỡ sắc màu trở nên mềm mại, sống động hơn Bên cạnh

đó, yếu tố nước còn tác động trực tiếp, kích thích giác quan của người xem

Buồng trò rối nước ( nhà rối hay thủy đình ), dựng lên từ giữa ao hay

hồ với cấu trúc cân đối mang những nét đặc trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam Thủy đình có cấu trúc hình vuông với mái lợp được chia làm hai lớp âm dương, bốn cái cột đỡ các mái trên đầu và gánh chịu một đầu các mái dưới ở giữa.“Hai mái được lợp bằng ngói mũi hài xếp chồng nối lên nhau theo hình vẩy cá Nơi giáp góc các mái được làm thành những đầu đao uốn lượn cong lên Nếu tính từ mặt nước lên tới nóc của nhà rối thì cả mái trên và mái dưới cộng lại cao gấp đôi phần thân”nhà Thủy đình cố định bằng gạch ngói và thủy đình dùng đi biểu diễn vẫn được xây mở thông ra nhiều hướng không chỉ đẹp về mặt kiến trúc mà còn mang đậm những ý nghĩa phong thủy Sự kết hợp giữa mặt nước với thủy đình không chỉ tạo nên một không gian diễn xướng rất đặc trưng, độc đáo của rối nước mà còn mang đậm dấu ấn của văn hóa Việt là cội nguồn cho vẻ đẹp nghệ thuật lan tỏa

Thứ tư, nghệ thuật âm nhạc và văn học được sử dụng trong trò rối

Trước hết là âm nhạc biểu diễn trong rối nước

Âm nhạc giữ vai trò rất quan trọng, tạo nên sự hấp dẫn và thu hút khán giả đến với múa rối nước Nếu trước đây âm nhạc chưa xuất hiện thì nhạc cụ ban đầu của múa rối nước là bộ gõ Múa rối nước cần những âm thanh sôi

Trang 21

động để giữ tiết tấu trong khi biểu diễn và khuấy động không khí, thu hút khán giả trong không gian ngoài trời Tiếng trống rộn ràng đầy vui tươi cùng với sự kết hợp của mặt nước phản âm khiến âm thanh trở nên vang xa và đầy náo nhiệt Điều đó tạo nên sự cuốn hút và lôi cuốn có tác động tích cực tới cả người diễn lẫn người thưởng thức Bộ gõ được“sử dụng trong múa rối nước bao gồm : trống cái, trống con, trống cơm, mõ, thanh la, não bạt Khán giả đến với múa rối nước không chỉ xem những con rối”biểu diễn mà họ còn được thưởng thức những âm thanh náo nhiệt, sôi động từ bộ gõ mang lại

Bên cạnh đó, âm nhạc được xem như một trợ thủ đắc lực để truyền tải những tâm tư của con rối mà lời diễn không thể truyền tải hết Âm nhạc còn

có nhiệm vụ hết sức quan trọng là gắn kết các trò diễn với nhau, giúp bài biểu diễn không bị rời rạc Điều đó sẽ giúp cho nội dung của bài được truyền tải tốt hơn, tạo nên sự hài hòa và gần gũi giữa con rối và những người thưởng thức Chính điều này đã tạo nên sự thoải mái cho khán giả làm cho người xem chú

ý từ đầu tới cuối buổi diễn Các nghệ nhân múa rối nước đã dựa theo tiết tấu của âm nhạc mà điều khiển các con rối có lúc lại khoan thai nhẹ nhàng nhưng

có lúc sôi động, náo nhiệt tạo nên các tiết mục có lúc trầm lúc bổng để lại được những ấn tượng với người xem

Thứ 2 là nghệ thuật văn học trong rối nước

Nghệ thuật múa rối nước có xuất thân là trò diễn không lời nhưng nó thu hút, lôi cuốn người xem bởi đôi bàn tay tài hoa của người nghệ nhân qua việc tạo hình và điều khiển con rối Múa rối nước có ảnh hưởng từ những lời chèo, tuồng Lời giáo của rối nước được các nghệ nhân ghi nhớ lại bằng cách thuộc lòng truyền miệng nhớ để diễn

Gia tài văn học của rối nước chỉ còn một số ít lời giáo trò, nhưng bên cạnh đó nhiều phường rối vẫn diễn mà không lời thoại Những lời giáo trò là các bài văn biền ngẫu hay các bài thơ lục bát thậm chí một số lời hát chèo,

Trang 22

tuồng trong những tiết mục diễn trò tuồng hay chèo cũng được sử dụng Hình tượng nêu lên thường mượn các diễn tích trong sử sách xưa

Thứ năm, nghệ nhân múa rối nước

Nghệ nhân Rối nước không phải học nghề theo đào tạo trường lớp, mà

họ học theo lối truyền nghề truyền thống Đó chính là sự tinh ý khi quan sát các bậc đàn anh làm sau đó sẽ bắt chước để làm theo Người nghệ nhân phải làm đi làm lại rất nhiều lần thì mới có sự nhuần nhuyễn Tuy nhiên, cách học theo lối này dẫn đến một hạn chế lớn đó là các trò hay, các trò rối cổ mà phức tạp khó khăn về cách làm và cách diễn thường bị thất truyền Tư tưởng dấu nghề còn nặng bởi lời thề độc: “Ai làm lộ bí mật nghề, sẽ chết một đời cha, chết ba đời con”

Các Nghệ nhân biểu diễn rối nước không lấy nghề này để làm kế sinh sống mà nguồn sống của họ lại chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp hay các nghề nghiệp khác tại địa phương Hàng năm,“vào những lúc nhàn rỗi hay vào hội hè đình đám thì nghệ nhân mới biểu diễn cho bà con cô bác xa gần tới xem Múa rối xưa là các trò thường diễn không lời Lời giáo trò, lời giới thiệu và lời hát làm nền đều do một người có giọng tốt, biết chữ ngồi trên sàn buồng trò đảm nhiệm”hay lời nhân vật nếu có thì cũng được người này đảm nhiệm

Nghệ thuật múa Rối nước xưa hoàn toàn không có nghệ nhân nữ vì do tính chất “bí truyền” Công việc trong phường như hát xướng hay nội vụ đều

do nam giới tự đảm nhiệm Tuy nhiên, do tính “bí truyền” mà nghệ nhân ở phường hội nào cũng chỉ quen cách hoạt động của phường hội mình mà ít biết

sử dụng máy điều khiển và con rối của các phường hội khác

Cuối cùng, cách biểu diễn trong rối nước

Buồng trò là nơi giấu mình của các nghệ nhân, đồng thời là nơi để con rối, để sắp trò, nhạc công biểu diễn Khi biểu diễn, nghệ nhân sẽ sử dụng máy

Trang 23

điều khiển để tạo nên hành động của con rối trên sân khấu biểu diễn Máy điều khiển sẽ làm cho con rối có những hành động và cử chỉ khác nhau Ngoài

ra, khi biểu diễn các nghệ nhân còn có sự hỗ trợ của nhạc đệm, pháo hoa và khói mù làm tăng tính hấp dẫn cho trò rối Mở đầu cho buổi biểu diễn là màn bật cờ tạo nên không khí háo hức sau đó mới là các màn biểu diễn các trò rối Các con rối với những hành động riêng lúc thoắt ẩn thoắt hiện, có lúc lại lặn xuống phóng lên mang những bất ngờ đầy thú vị Điều đó đã tạo nên cho người xem sự thoải mái và hứng thú khi xem

1.3 Giá trị văn hóa nghệ thuật của múa rối nước

Múa rối nước Việt Nam là nghệ thuật gắn liền với những người nông dân, ở các hội làng và làng nghề ở vùng châu thổ sông Hồng Múa rối nước chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống mang những bản sắc riêng của vùng châu thổ sông Hồng Ngoài giá trị mang tính lịch sử thì múa rối nước còn mang những giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc không hòa lẫn với các nghệ thuật khác

Thứ nhất, múa rối nước là sự sáng tạo độc đáo

Trên thế giới có rất nhiều loại rối nhưng múa rối nước chỉ có ở Việt Nam Nó là loại hình nghệ thuật đặc sắc của nền văn minh nông nghiệp Từ

sự đặc sắc mà múa rối nước từ nghệ thuật mang yếu tố dân gian đã nhanh chóng trở thành nghệ thuật truyền thống Yếu tố sáng tạo, độc đáo của rối nước là sử dụng mặt nước để làm sân khấu biểu diễn Thủy đình được dựng giữa ao hồ, mang những nét tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Nhưng sự độc đáo của thủy đình chính là ở chỗ được dựng giữa ao làng không chỉ đẹp về kiến trúc mà nó còn mang đậm ý nghĩa phong thủy trong sinh hoạt của người dân Hay những con rối được người nghệ nhân điều khiển khéo léo bằng que, bằng dây Tất cả những điều đó đã tạo nên cho rối nước cái độc, cái mới và cái lại đối với người xem

Trang 24

Thứ hai, múa rối nước là sản phẩm của cư dân văn hóa gốc nông nghiệp

Múa rối nước thể hiện tư duy văn hoá Việt Nam đó là gốc nông nghiệp lúa nước Rối nước là sản phẩm của sự tư duy và sáng tạo trong nông nghiệp với các hoạt động sống gắn liền với điều kiện thiên nhiên như: thời tiết“nóng

ẩm, mưa nhiều và địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi và ao hồ”dày đặc Múa rối nước gắn liền với các ao hồ, nó có những nét tương đồng với đồng ruộng Việt Nam Do sinh sống đã quen thuộc, vì vậy họ hiểu về nước nên đã sáng tạo nghệ thuật bằng nước Ao làng được sử dụng làm nơi biểu diễn, và ở đó những con rối xuất hiện trên mặt nước một cách tài tình dưới bàn tay của người nông dân hòa lẫn trong tiếng nhạc và kết hợp với cảnh quan thiên nhiên như: màu trời, sắc nước, màu xanh của cỏ cây và hoa lá

Mặt khác những tượng con rối được tận dụng những gì có sẵn trong thiên nhiên như gỗ, thừng, chão, tre, nứa, vải, dây điện, xốp, cao su…Những

đồ vật giản dị“trong cuộc sống hàng ngày nhưng qua bàn tay của người nông dân, đã trở thành sản phẩm thẩm mỹ mang”những đặc trưng của người nống dân Việt Nam

Những nhân vật trong múa rối nước được tạo nên theo sự cảm nhận của nhân dân lao động Hầu hết, các nhân vật đều mang dáng vẻ quê mùa, thô sơ nhưng lại đơn giản chứ không phải là nghệ thuật cầu kỳ đầy sự tinh xảo và chau chuốt Từ những nét tạo hình con rối đến màu sắc trông giản dị, mộc mạc nhưng đó lại là những riêng của người dân quê đầy tính chân thực, mộc mạc và hồn nhiên trong cách biểu cảm Tất cả những điều đó“như toát lên tiếng nói của tình cảm, của cách sống cùng với sức mạnh tinh thần của nhân dân”lao động

Ngôn ngữ sử dụng trong múa rối nước là ngôn ngữ bình dân đầy mộc mạc Nó không chịu ảnh hưởng của sử thi Ra-ma-ya-na như các loại hình múa rối Ấn Độ và các nước Đông Nam Á khác là Thái Lan, Campuchia, Lào, Mianma, Malaysia và Indonesia

Trang 25

Múa rối nước được chính những nông dân trồng lúa nước vùng châu thổ sông Hồng sáng tạo ra Nó phù hợp với tư duy và tồn tại trong môi trường

tự nhiên của con người Đó là những nhu cầu cần thiết luôn có trong cuộc sống và sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng Nếu như thiếu văn hóa cộng đồng thì Múa rối nước không thể tồn tại Bởi vậy, văn hóa cộng động đã trở thành bản sắc văn hóa của Việt Nam, đó đã trở thành một hoạt động mang tính xã hội cao

Thứ ba, Múa rối nước gắn liền với môi trường nước và cảnh quan nông thôn giúp cho con người có lối sống bình dị và gắn bó với tự nhiên

Múa rối nước chứa đựng những hiểu biết của người nông dân khi sáng tạo nghệ thuật, kinh nghiệm sống“và cách ứng xử với môi trường xung quanh được

họ tích luỹ theo thời gian, rất giản dị, rất tự nhiên đi thẳng vào”nghệ thuật

Múa rối nước cho ta thấy được những bức tranh phản ánh chân thực về cuộc sống văn hóa của những người bình dân Họ là những người nông dân chân lấm tay bùn nơi ruộng đồng như: làm đồng, chăn vịt, bắt cá,… và có cả những người đọc sách, đánh giặc,… rồi đến các hoạt động: đánh đu, đấu vật,… Múa rối nước góp phần tạo nên một trò vui trong cộng đồng, thu hút người dân tham gia vào hoạt động giải trí sau những ngày lao động ruộng đồng vất vả Từ những cảnh tượng đó, giúp chúng ta hiểu biết thêm được mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thế giới thiên nhiên và đặc biệt, giúp chúng ta hiểu thêm về cuộc sống lao động và sinh hoạt của người nông dân vùng châu thổ sông Hồng trong tiến trình phát triển của lịch sử

Từ những tiết mục rối nước, có thể nhận thức được cuộc sống của người nông dân trong lao động trồng lúa nước Họ khao khát về một cuộc sống ấm no đầy hạnh phúc, hay mưa thuận, gió hòa để mùa màng bội thu Với tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người và tình yêu cộng đồng trong các dịp hội hè, đình đám đã cho ta thấy được tinh thần lạc quan của người nông dân qua các trò múa rối nước

Trang 26

Tiểu kết chương 1

Nghệ thuật múa rối dân gian nước ta gồm có múa rối cạn và múa rối nước Trong đó, múa rối nước là một sáng tạo độc đáo của cư dân vùng châu thổ sông Hồng Chưa có tài liệu cụ thể nói về nguồn gốc của múa rối nước nhưng chúng ta có thể khẳng định, dưới thời Lý thì nghệ thuật múa rối nước

đã phát triển một cách mạnh mẽ Trải qua các thời kì, múa rối nước ngày càng phát triển và có vị trí vô cùng to lớn đối với nghệ thuật truyền thống

Múa rối nước có những đặc điểm riêng không bị hòa lẫn với các nghệ thuật khác, được thể hiện qua các yếu tố như con rối được làm bằng gỗ gồm hai phần là phần thân và phần đế, nghệ thuật tạo hình đầy sự sáng tạo qua trí tưởng tượng của người nông dân, sân khấu biểu diễn là mặt nước, nghệ nhân, cách biểu diễn đầy sáng tạo Tất cả những điều đó đã tạo nên những nét riêng cho múa rối nước

Bên cạnh đó, múa rối nước còn chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống mang những bản sắc riêng của vùng châu thổ sông Hồng Nó phù hợp với tư duy, thẩm mỹ và tồn tại trong môi trường tự nhiên của con người, là nhu cầu cần thiết luôn đòi hỏi trong cuộc sống và sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT MÚA RỐI

NƯỚC TẠI THÁI BÌNH HIỆN NAY

Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng được bao bọc bởi hệ thống sông, biển khép kín Cũng giống như các địa phương khác, Người Thái Bình rất yêu múa hát, các làn điệu múa dân gian vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay như: múa quạt, múa cờ, hát chèo,… Trong đó, có múa rối nước là nghệ thuật truyền thống của Thái Bình vẫn tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay

2.1 Vùng đất Thái Bình với nghệ thuật múa rối nước

2.1.1 Một vài nét về điều kiện tự nhiên – xã hội Thái Bình

 Điều kiện tự nhiên Thái Bình

Thái Bình là tỉnh ven biển trong đó phía Bắc và đông bắc tiếp giáp với Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên; phía Tây và Nam tiếp giáp với Nam Định.Toàn tỉnh bao gồm có 8 huyện, thành phố là: Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư và thành phố Thái Bình với tổng số 284 xã, phường, thị trấn

Thái Bình là một tỉnh đồng bằng duy nhất của cả nước không có đồi núi, có bờ biển dài trên 50 km và 4 sông lớn chảy qua địa phận của tỉnh đó là sông Hóa, sông Luộc, sông Hồng và sông Trà Lý Hàng năm, được bồi đắp phù sa nên có nhiều thuận lợi để phát triển nông nghiệp trong sản xuất của người nông dân

Cũng giống như các tỉnh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, thì Thái Bình nằm trong vùng cận nhiệt đới ẩm với mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, còn mùa đông khô lạnh, mùa thu và mùa xuân thời tiết mát mẻ Do nằm trong vùng cận nhiệt đới ẩm nên hàng năm có lượng mưa lớn phục vụ sinh hoạt cho người dân

Trang 28

Ngoài ra, Thái Bình có nguồn khí mỏ và nước khoáng lớn phục vụ cho sản xuất và phát triển du lịch Hiện nay trong lòng đất Thái Bình còn có than nâu có trữ lượng lớn, nếu khai thác sẽ đem lại những giá trị to lớn cho nước

ta Bên cạnh đó, Tỉnh còn có cảnh quan thiên nhiên tương đối thuần khiết để phục vụ khách du lịch đến tham quan Và tỉnh Thái Bình có hai trong số năm khu vực đa dạng sinh học được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng

Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển của văn hóa truyền thống

 Điều kiện xã hội Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh có mật độ dân số cao, hiện nay khoảng 80% dân

số vẫn làm nghề nông nghiệp Các nền văn hóa, văn minh trong nông nghiệp được xác định là đã đến sớm, ở lâu và đi muộn với Thái Bình Bởi vì, tỉnh vẫn lưu giữ rất nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và các lễ hội dân gian cùng với các nghi lễ nông nghiệp tại các địa phương

Sự“hội tụ đa cực của các luồng cư dân về khai phá, chinh phục và cải tạo vùng đất Thái Bình để nơi đây trở thành một vùng điển hình, và phát triển trong điều kiện trống vắng những đô thị trung tâm, yếu tố thị dân mờ nhạt đáng được coi là một trong”những nét đặc trưng quan trọng, gợi mở cho hướng tìm tòi, khẳng định sắc thái văn hoá làng là phong phú, bền vững, và tương đối ổn định ở Thái Bình Cũng chính“đặc trưng này cho thấy tính cách tiêu biểu nhất của người Thái Bình, từ truyền thống đến hiện đại vẫn mang đậm tính cách người nông dân, điển hình về cả hai phương diện: Tích cực và hạn chế vốn có”của nó

Mặt khác, sự hội tụ của các“luồng cư dân mang tính đa cực tới mức điển hình trong truyền thống ở Thái Bình cũng chi phối các mối quan hệ trong đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của cư dân Thái Bình làm cho văn hoá làng

Trang 29

ở Thái Bình không chỉ phong phú, đa dạng mà còn cởi mở, thông thoáng”hơn

ở nhiều lĩnh vực: Tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán và tính dân chủ trong cộng đồng làng xã Đặc điểm này gợi cho hướng“tìm tòi, và lý giải tính phong phú của văn hoá truyền thống ở Thái Bình với một loại văn hoá làng được hình thành, tồn tại và phát triển theo một hệ thống mở”chứ không hoàn toàn đóng kín Về phương diện nào đó tính cởi mở, dễ thích ứng với“các tiếp thu văn hoá từ các vùng miền khác”của cư dân Thái Bình còn phải tìm đến“những yếu tố biến động cơ học về dân số”với việc người Thái Bình ra tỉnh ngoài, nước ngoài làm ăn, sinh sống,“đã tạo ra sự giao thoa văn hoá, góp phần làm cho văn hoá làng”ở Thái Bình thêm phong phú

2.1.2 Khái quát về múa rối nước Thái Bình

Qua công tác sưu tầm và nghiên cứu tài liệu thì miền Bắc xưa có đến hàng trăm cơ sở múa rối với nhiều thể loại Và Thái Bình đã nổi tiếng với các trò “rối tay” ở chùa Keo – Vũ Thư, “rối máy” ở làng Đó – Quỳnh Phụ, trò “rối nước” làng Nguyễn, làng Đống, hay “trò rối trên cây pháo hoa” làng Nguyễn

Toàn tỉnh Thái Bình xưa có 7 phường hội:

Thứ nhất, Bắc Lạng – Nguyên Xá – Đông Hưng

Thứ hai, Tây Trong – Nguyên Xá – Đông Hưng

Thứ ba, Tây Ngoài – Nguyên Xá – Đông Hưng

Thứ tư, Tăng – Phú Châu – Đông Hưng

Thứ năm,Tước – Phú Lương – Đông Hưng

Thứ sáu, Đống – Đông Động – Đông Hưng

Thứ bảy, Kỳ Hội – Đông Hà – Đông Hưng

Bên cạnh sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các di sản văn hóa đang có nguy cơ bị lãng quên vì thế, hiện nay toàn tỉnh chỉ còn hai phường rối vẫn hoạt động là phường rối Nguyên Xá và phường rối Đông Các Hai phường đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển của nghệ thuật

Trang 30

dân gian truyền thống Vì vậy, phường rối được cơ quan nhà nước và tỉnh Thái Bình giúp đỡ để bảo tồn và phát huy những giá trị mà múa rối mang lại cho người dân

Trước tiên, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về rối nước làng Nguyễn

Trò rối nước ở đây còn được gọi là trò “ổi lỗi” hay gọi cách khác là phường ổi lỗi Cũng giống như nghệ thuật múa rối nước của dân tộc, rối nước làng Nguyễn có xuất thân từ những trò diễn“không lời, thu hút người xem bằng sự kỳ diệu dưới đôi tay tài hoa của các nghệ nhân tạo hình”và người nghệ nhân điều khiển con rối tạo nên

Nét đặc trưng trong rối nước làng Nguyễn là những lời giáo Tễu, đó là những bài văn vần nhưng lại mang tính chất thời sự sâu sắc khi phản ánh hiện thực một cách chân thực nhất Bên cạnh đó, rối nước làng Nguyễn do được sinh ra trên cái nôi của nghệ thuật hát“chèo truyền thống, vì thế mà các nghệ nhân múa rối đã biết tận dụng âm nhạc của chèo”để phục vụ cho rối nước

Buồng trò rối nước làng Nguyễn xưa làm theo kiểu lưu động, lắp buộc

để tháo dỡ một cách dễ dàng, khung được làm bằng tre gỗ, vách tường làm bằng phên hoặc vải, mái được làm bằng cót vẽ giả ngói Hiện nay, được sự hỗ trợ của Nhà nước rối nước làng Nguyễn đã xây dựng thủy đình đẹp và hiện đại nhất nước ta

Quân rối làng Nguyễn xưa được các nghệ nhân của làng làm ra nổi tiếng là đẹp, có sơn son thiếp vàng, ít thấm nước, điều đặc biệt ở chỗ các quân rối xuống nước là bóng lên Hiện nay, phường còn hàng trăm quân rối các loại, nhưng trong các quân rối đó chỉ có 2 quân Tiên và Tễu là được tạo trước

1945, cũng“là quân Tễu đẹp nhất của sân khấu rối nước và của ngành rối nước truyền thống”Việt Nam

Điểm đặc biệt của rối nước làng Nguyễn là tính chất "bí truyền" Việc lưu giữ lại các miếng nghề có can hệ trực tiếp đến danh dự và sự sống còn của

Trang 31

phường rối Để lưu giữ được các bí mật nghề nghiệp, phường rối chỉ kết nạp

và truyền lại cho những người trong nhà hoặc người cùng làng Phường rối chỉ truyền lại cho con trai và không dạy cho phụ nữ vì sợ họ sẽ đem bí mật của phường về nhà chồng Xưa kia, những người xin gia nhập vào phường“phải ăn mặc chỉnh tề, mang cơi trầu, chai rượu đến lễ tổ và trình phường, nguyện làm phường lớn mạnh, nếu để lộ nghề”sẽ chết "một đời cha,

ba đời con" Đứng đầu của phường rối là các ông Trùm có trách nhiệm lo toan

và quản lý mọi việc Làng Nguyễn có các ông Trùm nổi tiếng như ông Lý Mục là người sáng tác ra trò "Rồng phun nước trên cao", trò "Chú Tễu"; ông Tổng Quỳnh nghiên cứu ra trò "Múa bát tiên" …

Qua bao thế hệ, múa rối nước làng Nguyễn đã nối tiếp nhau đem môn nghệ thuật này biểu diễn nơi làng quê Nhờ vậy mà nghệ thuật múa rối nước mới tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay

Thứ hai là rối nước làng Đống, đang là một trong hai phường múa rối của huyện còn hoạt động thường xuyên Rối nước làng Đống do ba cụ Phạm

Viết Tạo, Phạm Việt Cư và Phạm Viết Nghinh sáng lập ra năm 1931

Nếu phường rối Nguyên Xá có chú Tễu cao to nhất là 0,9m trẻ trung, nghiêm trang thì rối nước ở Đông Các có chú Tễu cao 0,7m như một chàng trai làm ruộng béo tròn, da dẻ hồng hào và miệng cười tươi

Bên cạnh đó, nét đặc trưng ở phường rối Đông Các là nghệ nhân điều khiển rối nước dùng máy sào và que tay còn ở Nguyên Xá nghệ nhân dùng cả máy sào và máy dây Làng Đống ít có trò dây Khi biểu diễn thì họ dùng bộ

gõ để tạo không khí và giữ tiết tấu cho buổi diễn

Về lời giáo thì phường rối Đông Các dùng băng thu sẵn lời hát, bài giới thiệu biểu diễn Cùng với lời giáo, quân rối, nghệ nhân điều khiển, kỹ thuật chế tác quân rối… cũng được phường rối đặc biệt chú trọng nhằm mang đến cho người xem những vở diễn hay và độc đáo, góp phần làm phong phú nghệ thuật văn hóa truyền thống của dân tộc

Ngày đăng: 22/10/2019, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay, Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa
Năm: 2009
2. Hoàng Chương (2012), Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chương
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2012
3. Hoàng Kim Dung (1997), Múa rối Việt Nam những điều nên biết, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa rối Việt Nam những điều nên biết
Tác giả: Hoàng Kim Dung
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
4. Phạm Đức Dương (2001), “Sân khấu múa rối - con rối - sứ giả của thế giới tâm linh”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, 2, tr.25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sân khấu múa rối - con rối - sứ giả của thế giới tâm linh”, "Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Phạm Đức Dương
Năm: 2001
5. Nguyễn Văn Định (2007), Nghệ thuật Múa rối nước làng Đống (xã Đông Các,huyện Đông Hưng, Thái Bình), Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Múa rối nước làng Đống (xã Đông Các,huyện Đông Hưng, Thái Bình)
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Năm: 2007
6. Lê Hương Giang (2008), Nghệ thuật Múa rối nước ở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Múa rối nước ở Hà Nội
Tác giả: Lê Hương Giang
Năm: 2008
7. Nguyễn Huy Hồng (1977), Nghệ thuật Múa rối nước Thái Bình, Sở Văn hóa và Thông tin Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Múa rối nước Thái Bình
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng
Năm: 1977
8. Nguyễn Huy Hồng (1996), Rối nước Việt Nam, Nxb Sân khấu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối nước Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng
Nhà XB: Nxb Sân khấu
Năm: 1996
9. Nguyễn Huy Hồng (2005), Lịch sử nghệ thuật Múa rối Việt Nam, Nxb Sân khấu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nghệ thuật Múa rối Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng
Nhà XB: Nxb Sân khấu
Năm: 2005
10. Nguyễn Huy Hồng (2007), Nghệ thuật Múa rối, Nxb Sân khấu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Múa rối
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng
Nhà XB: Nxb Sân khấu
Năm: 2007
11. Vũ Tự Lập, Đàm Trung Phường, Ngô Đức Thịnh, Tô Ngọc Thanh, Đinh Thị Hoàng Uyên (1991), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Vũ Tự Lập, Đàm Trung Phường, Ngô Đức Thịnh, Tô Ngọc Thanh, Đinh Thị Hoàng Uyên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
12. Lê Hồng Lý (2008), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng, Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng
Tác giả: Lê Hồng Lý
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa
Năm: 2008
13. Trần Thị Minh (2012), Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật Múa rối nước ở vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam phục vụ phát triển du lịch, Luận văn thạc sĩ Du lịch, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật Múa rối nước ở vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam phục vụ phát triển du lịch
Tác giả: Trần Thị Minh
Năm: 2012
14. Hữu Ngọc (2006), Rối nước, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối nước
Tác giả: Hữu Ngọc
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
15. Đỗ Trọng Quang (1986), Múa rối và tạo hình rối, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, 4, tr.53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Đỗ Trọng Quang
Năm: 1986
16. Đình Quang (2005), Về Sân khấu Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Sân khấu Việt Nam
Tác giả: Đình Quang
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2005
18. Vũ Tú Quỳnh (2012), Sự phục hồi của Rối nước đồng bằng Bắc bộ từ đổi mới đến nay, Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phục hồi của Rối nước đồng bằng Bắc bộ từ đổi mới đến nay
Tác giả: Vũ Tú Quỳnh
Năm: 2012
19. Tô sanh (1976), Nghệ thuật múa rối nước, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật múa rối nước
Tác giả: Tô sanh
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1976
20. Phạm Trọng Toàn (1997), Tìm hiểu nghệ thuật Múa rối nước và sự phối hợp của âm nhạc trong biểu diễn múa rối nước cổ truyền làng Nguyễn, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nghệ thuật Múa rối nước và sự phối hợp của âm nhạc trong biểu diễn múa rối nước cổ truyền làng Nguyễn
Tác giả: Phạm Trọng Toàn
Năm: 1997
21. Lưu Trần Tiêu (2000), Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, 196, tr. 3 – 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Lưu Trần Tiêu
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm