TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ NGUYỄN THỊ HOA BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HOA
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HOA
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ THỊ MINH THẢO
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô Lê Thị Minh Thảo – người đã truyền cảm hứng, động lực cũng như bảo ban em trong quãng thời gian làm khóa luận
Em cũng xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo, cán bộ, công nhân viên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nói chung cũng như của khoa GDCT nói riêng lời cảm ơn chân thành nhất
Để gặt hái được thành quả như ngày hôm nay, không thể không nhắc đến sự giúp đỡ, động viên và luôn luôn ủng hộ của gia đình, thầy cô, bạn bè đã giúp em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Vì em mới lần đầu tham gia nghiên cứu khoa học nên trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, thiếu sót Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để em hoàn thành khóa luận một cách tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh hiện nay” là công trình nghiên cứu
của riêng em Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất kì kết quả nghiên cứu của tác giả nào Nếu những điều mà em nói trên đây là sai, em xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm trước hội đồng
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoa
Trang 61
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH 28
2.1 Thành tựu và nguyên nhân 28
2.2 Hạn chế và nguyên nhân 37
Tiểu kết chương 2 41
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH 42
3.1 Định hướng trong bảo tồn di sản văn hóa 42
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn phát huy di sản văn hóa chùa Phật Tích 47
Tiểu kết chương 3 51
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 7Nhận thức được tầm quan trọng của di sản văn hóa, Đảng đã đề ra Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII: “về việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu rõ di sản văn hóa là tài sản vô giá giúp gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa” Di sản văn hóa giúp thỏa mãn những nhu cầu sinh hoạt tâm linh của nhân dân, nâng cao tinh thần tự hào dân tộc trong mỗi người dân Việt, làm cho nền kinh tế phát triển - xã hội ổn định
Có thể nói nước ta là một trong những quốc gia có “nguồn di sản văn hóa vô cùng phong phú Ngoài hệ thống di sản văn hóa của dân tộc ra không thể không nhắc đến những di tích văn hóa Di tích văn hóa: “là những minh chứng vật chất xác thực của quá trình lao động sáng tạo, tâm linh, chinh phục thiên nhiên, quá trình dựng nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam từ hàng nghìn năm nay, là tài sản được lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau” Bên cạnh những di tích nổi tiếng tầm Quốc gia như Đền Hùng, Đền Cổ Loa, Cố đô Huế, thì những ngôi đền, chùa, đình, miếu cũng là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam nói chung và người dân mỗi địa phương nói riêng Di sản văn hóa đặc biệt chùa Phật Tích tại xã Phật Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh cũng là một trong những di tích đặc biệt quan trọng Đồng thời, là niềm tự hào của người dân huyện Tiên Du nói riêng cũng như nhân dân tỉnh Bắc Ninh nói chung”
Trang 82
Chùa Phật Tích là ngôi chùa có bề dày lịch sử Đây là “nơi đạo Phật du nhập đầu tiên từ Ấn Độ vào Việt Nam Nơi đây có được những dấu tích cổ xưa và là nơi đặc biệt thiêng liêng” Do đó ngôi chùa phản ánh lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc cũng như phong tục tập quán của nhân dân địa phương
Trước xu hướng đô thị hóa – hiện đại hóa và quá trình mở cửa hội nhập và giao lưu văn hóa với bạn bè quốc tế, di sản văn hóa đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng nhiều thách thức đối với công tác bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc
Trong những năm gần đây, việc bảo tồn di sản văn hóa là “một vấn đề cấp thiết mang tính thời sự cao Di sản văn hóa không chỉ bị ảnh hưởng bởi thời gian, khí hậu mà sẽ mất đi giá trị nguyên gốc nếu không nhận được sự quan tâm, quản lý chặt chẽ của các cơ quan có thẩm quyền quản lý” Chùa Phật Tích cũng là di sản văn hóa cần được quan tâm chú trọng trong công tác bảo tồn
Từ những lí do trên, em đã chọn đề tài: “Bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật
Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ những thế kỷ đầu công nguyên, chùa Phật Tích đã hình thành trung tâm Phật giáo Luy Lâu Đây là ngôi chùa được coi là: “cái nôi của Phật giáo Việt Nam Chùa được xây dựng và tồn tại như là sản phẩm văn hóa truyền thống của nhân dân huyện Tiên Du nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Năm 1962, với những giá trị đặc biệt về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật Chùa Phật Tích đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc” Vì vậy việc bảo tồn di sản vănhóa chùa Phật Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh luôn luôn là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu
Dựa trên những cơ sở những quan niệm DSVH của quốc tế và Việt Nam Năm 1997, GS.TS Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc” Tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về DSVH, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu DSVH nước ta
Năm 2006 Bộ văn hóa Thông tin ấn hành, Hà Nội đã hoàn thành công trình
“Một con đường tiếp cận di sản văn hóa” Công trình tập hợp nhiều bài nghiên cứu
về lí luận di sản văn hóa cũng như thực tiễn có thể làm tư liệu nghiên cứu cho đề tài Nổi bật trong đó là các bài: “Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa” (Vũ Quốc Hiền), “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển
Trang 93
bền vững” (Lê Thành Vinh), “Di tích lịch sử văn hóa đồng bằng sông Hồng” (Đặng Văn Bài), “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử - văn hóa Đường Lâm” (Phan Huy Lê)
Cuốn sách “Giữ gìn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc” được nhà xuất bản Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật phát hành Cuốn sách này
có thể cung cấp cho người đọc có thể nhận diện một số vấn đề lí luận về di sản văn hóa
Bài báo “Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa các dân tộc hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Huy trong Tạp chí Cộng sản số 20, năm
2013, bài báo đã đề cập đến vấn đề lí luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy di sản văn hóa trên phạm vi cả nước
Bài viết “Bảo vệ di sản, cuộc chiến từ những góc nhìn” của tác giả Ngô Phương Thảo đăng ở Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 289 tháng 07/2008 Bài viết đã
đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ DSVH hiện nay Theo quan điểm của tác giả thì:
“Mỗi ngày, di sản văn hoá càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất phát từ những hệ lụy của cuộc sống hiện đại Cũng mỗi ngày, ý thức về trách nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn hoá đã tồn tại với thời gian càng lan toả sâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng để dẫn tới những chương trình dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể”
Năm 2007 phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Chí Bền viết bài “Nghiên cứu bảo tồn
di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay” đăng trên báo văn hóa Bài báo bàn sâu về cách thức bảo tồn văn hóa phi vật thể hiện nay với kinh nghiệm của một người quản lý văn hóa tác giả Nguyễn Hữu Kim giám đốc sở văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc có nhiều đề xuất về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa ở Vĩnh Phúc
Tác giả Chu Quang Trứ đề cập đến di sản văn hoá vùng đồng bằng Bắc Bộ trong bối cảnh chung của DSVH dân tộc Trong cuốn sách “Di sản văn hoá dân gian trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam” (NXB Thuận Hoá, Huế, 1996),
* Một số những công trình nghiên cứu về di sản văn hóa ở tỉnh Bắc Ninh:
Cuốn sách “Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam” của nhà xuất bản văn hóa dân tộc do Nguyễn Lan Phương biên soạn cũng đã đề cập những giá trị truyền thống trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa chùa Phật Tích
Trang 10Cuốn “Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Kinh Bắc” của tác giả Trần Đình Luyện (2006), “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Kinh Bắc, Sở VH-TT Bắc Ninh
là tập hợp một số công trình nghiên cứu của tiến sĩ Trần Đình Luyện trong quá trình tìm hiểu, đánh giá vai trò của Bắc Ninh - Kinh Bắc trong lịch sử dân tộc, khái quát những đặc trưng của nền văn hiến Kinh Bắc đặc biệt đi sâu nghiên cứu khu di tích đền thờ Kinh Dương Vương giá trị lịch sử văn hóa, Luy Lâu - lịch sử và văn hóa, đền Đô (Đình Bảng) và những kỉ niệm về vương triều nhà Lý trên quê hương Cổ Pháp, bia đền Cổ Pháp, khu di tích chùa Cảm Ứng - giá trị lịch sử văn hóa, đền Vua
Bà - di tích về Thủy tổ Quan họ Bắc Ninh” Kết quả của công trình nghiên cứu đã được vận dụng ngay trong thực tiễn xây dựng và phát triển nền văn hóa của tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua
Lê Viết Nga chủ biên (2006), “Văn Miếu Bắc Ninh”, Bảo tàng Bắc Ninh, đây là tập sách ảnh về di tích Văn Miếu trước và sau khi tu bổ nhằm góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn về giá trị lịch sử, ý nghĩa nhân văn của công trình tín ngưỡng văn hóa tiêu biểu mang đậm đà bản sắc dân tộc
Lê Viết Nga chủ biên (2007), “Chùa Dâu (Diên ứng tự)”, Bảo tàng Bắc Ninh, đây là tập sách ảnh chủ yếu giới thiệu về các hạng mục công trình xây dựng,
hệ thống tượng thờ, bia đá và các di vật có giá trị nghệ thuận cao, tiêu biểu ở chùa Dâu trước và sau đợt tu bổ đầu thế kỷ XXI Các hình ảnh và tư liệu của tập sách góp phần cho người xem nhận thức tổng quan sâu sắc hơn về di tích chùa Dâu
BQLDT tỉnh Bắc Ninh (2008), “Di sản văn hóa thời Lý là cuốn sách thiết thực chào mừng đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Đây là công trình đầu tiên giới thiệu một cách hệ thống giá trị và hiện trạng di sản văn hóa thời Lý ở Bắc Ninh trong đó tập trung giới thiệu những DTLSVH thời Lý, có liên quan đến thời Lý như chùa Phật Tích, chùa Tiêu, chùa Dạm, đền Đô… thuộc di tích văn hóa vật thể thời Lý”
Nhân dịp chào mừng sự kiện Bắc Ninh đón bằng công nhận “Dân ca Quan
họ Bắc Ninh - di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” tổ chức vào tháng 4
Trang 115
năm 2010 và đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội tổ chức vào tháng 10 năm 2010 BQLDT tỉnh Bắc Ninh xuất bản cuốn sách“Các di tích tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh” tập 1, nhằm tuyên truyền quảng bá, giới thiệu tới đông đảo bạn đọc về di sản văn hóa tỉnh Bắc Ninh - tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là
bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, tập trung giới thiệu một số di tích tiêu biểu ở tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tư liệu các di tích đã được lập hồ sơ xếp hạng và khảo sát thực tế tại các di tích tiêu biểu trong tỉnh
Nguyễn Đức Thìn (2010), “Di tích lịch sử văn hóa đền Đô”, NXB Văn hóa Dân tộc “Cuốn sách đã giới thiệu một cách hệ thống và khá toàn diện về khu di tích đền Đô, các di tích đền đài, chùa, tháp, lăng mộ thời Lý và các di tích lịch sử cách mạng của xã Đình Bảng” Qua đó giúp người đọc hiểu biết về lịch sử truyền thống văn hiến và cách mạng của xã Đình Bảng
Nguyễn Thừu, Phạm Thuận Thành (2011), Hương Thủy Tự và nữ tướng Bà
Ba Cai Vàng, NXB Văn hóa dân tộc Hai tác giả đã sưu tầm, biên soạn giới thiệu về
“vùng đất văn hóa Thuận Thành - Bắc Ninh và chùa Hương Thúy nơi thờ bà Ba Cai Vàng”
Bảo tàng Bắc Ninh (2012), “Di tích văn hóa về truyền thống hiếu học tỉnh Bắc Ninh”, Lê Viết Nga chủ biên Nội dung cuốn sách đi sâu nghiêu cứu “di sản văn hóa về truyền thống hiếu học - khoa bảng của tỉnh Bắc Ninh theo địa danh, địa giới hành chính hiện nay (2012), sách bao gồm nhiều chuyên đề nghiên cứu về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phản ánh truyền thống hiếu học - khoa bảng của tỉnh Bắc Ninh”
Nguyễn Đức Thìn (2012), Đình Bảng quê hương nhà Lý, NXB Văn hóa -
"Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Ninh”, Bảo tàng Bắc Ninh, nhóm tác giả đã giới thiệu hơn 1000 DTLSVH của tỉnh Bắc Ninh theo địa giới hành chính huyện thị ngày nay Trong đó có các DTLSVH đã được Nhà nước xếp hạng, có giá trị tiêu biểu được giới thiệu chi tiết đầy đủ hơn các di tích khác Thông qua nội dung cuốn sách, người đọc sẽ tiếp thu được nhiều lượng thông tin khác nhau, nhiều di tích thờ thần, thành hoàng làng bị mất tư liệu gốc: thần tích, sắc phong, nội dung văn tế
…qua đây sẽ được hiểu biết để tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm đầy đủ và chính xác hơn
BQLDT tỉnh Bắc Ninh (2014), “Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý Nhà nước về di tích trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, cuốn sách giới thiệu toàn văn Luật
Trang 126
di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi bổ sung năm 2009 và các văn bản dưới luật
“về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSVH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Cuốn sách giúp cho công tác quản lý di tích ở cơ sở và nhân dân hiểu biết, nắm vững Luật di sản văn hóa và các văn bản dưới luật để thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quy định của Nhà nước trong việc bảo tồn di sản văn hóa Cuốn sách đã góp phần bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSVH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”
*Báo, tập chí, luận văn
Tác giả Nguyễn Tuấn có bài “Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Nhân Chiến kiểm tra tiến độ xây dựng Công viên Nguyễn Văn Cừ” trên Báo Bắc Ninh trang 1,
số 2743 ra ngày 13/4/2012 phản ánh tiến độ xây dựng công viên Nguyễn Văn Cừ đây là công trình xây dựng dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh nhân
kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ
Trên Báo Bắc Ninh ngày 8/8/2012 số 2826, tác giả Nguyễn Văn Phong - Giám đốc SVHTT&DL có bài “Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử gắn với quy hoạch phát triển du lịch” Bài viết đã nêu lên “thực trạng của công tác bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSVH ở Bắc Ninh đồng thời nhấn mạnh thế mạnh về tiềm năng du lịch văn hóa của Bắc Ninh gắn với hệ thống các DTLSVH và quy hoạch các khu du lịch và các điểm du lịch gắn với các DTLSVH tiêu tiêu biểu của Bắc Ninh”
Tác giả Nguyễn Văn Ảnh - Phó giám đốc Sở VH-TT&DL có bài “Tuyên truyền quảng bá về giá trị di sản văn hóa” trên Báo Bắc Ninh ngày 16/4/2013 số
3005 Bài viết về “việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá, giới thiệu những
di sản văn hóa Bắc Ninh trong đó có các DTLSVH”
Trên Báo Bắc Ninh ngày 16/4/2013 số 3005, tác giả Lê Viết Nga - Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh có bài “Công tác nghiên cứu giáo dục lịch sử của Bảo tàng tỉnh” Bài viết về “công tác nghiên cứu sưu tầm hiện vật, tài liệu lịch sử phục
vụ công tác trưng bày, giới thiệu, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, giáo dục lịch sử cho công chúng”
Nhìn chung, những nghiên cứu về di sản văn hóa Bắc Ninh rất phong phú
Do thời gian có hạn, người viết không thể điểm xuyến hết được, chỉ xin nêu ra một
số bài nghiên cứu tiêu biểu, có liên quan đến đề tài Tuy nhiên, những bài báo, sách trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo cứu, thống kê, giới thiệu, mô tả hệ thống di sản văn hóa Tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về công tác bảo
Trang 137
tồn giá trị di sản văn hóa chùa Phật Tích Huyện Tiên Du Tỉnh Bắc Ninh Kế thừa quan điểm chung cùng một số lí luận và kinh nghiệm của các tác giả đi trước, tác giả đi sâu nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật tích góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu, nghiên cứu về “các giá trị di sản văn hóa chùa Phật Tích Khảo sát thực trạng bảo tồn di sản văn hóa Trên cơ sở đó, đưa ra các định hướng và các giải pháp nhằm bảo tồn di sản văn hóa Chùa Phật Tích trên địa bàn Bắc Ninh nói riêng
và người Việt Nam nói chung”
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Vận dụng những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lenin, các chính sách chủ trương của Đảng và Nhà nước, những quan niệm của nhân loại tiến bộ về bảo tồn di sản văn hóa, kết hợp với những kết quả nghiên cứu tổng kết thực tiễn, đề tài thuyết minh sáng rõ về mối quan hệ, vai trò của hoạt động bảo tồn DSVH với đời sống người dân Bắc Ninh
Khảo sát, nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn các DSVH tại Bắc Ninh dựa trên những thành tựu, hạn chế, từ đó tìm ra những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
Đưa ra một số định hướng và các giải pháp nhằm bảo tồn di sản văn hóa Đồng thời cung cấp thêm những tư liệu cần thiết để hoàn thiện t chính sách bảo tồn DSVH dân tộc
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Trang 14* Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu khác như: “Phương pháp logic và lịch sử; phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích, tổng hợp, ”
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa thực tiễn
- Khóa luận có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành hoặc những ai quan tâm trong việc tìm hiểu và nghiên cứu di sản văn hóa của tỉnh Bắc Ninh nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Khóa luận bao gồm 3 chương và 6 tiết
Trang 159
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA
PHẬT TÍCH HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH 1.1 Cơ sở lý luận
* Một số khái niệm cơ bản
* Văn hóa: “Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và
như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện” Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của
văn hóa
Theo cách nhìn nhận và tiếp cận khác nhau các nhà khoa học đã đưa ra những định nghĩa về văn hóa:
Nhà ngôn ngữ học người Mỹ - Edward Sapir đã nhận định : “ văn hóa chính
là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một
xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”
Nhà xã hội học người Mỹ - William Isaac Thomas : “coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào”
Nhà nhân loại học người Mỹ - Ralph Linton, định nghĩa: “Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội” Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam -
Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử" [27-tr.8]
Năm 2004 trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản
Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản thì đưa ra những quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội” [24-tr.9]
Trang 1610
UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa năm 2002, như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Tóm lại, văn hóa có thể định nghĩa như sau: “Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữ con người với môi trường tự nhiên và xã hội”
* Di sản văn hóa
“Khái niệm di sản văn hoá”, có thể xác định được một cách thuận lợi từ khái niệm về văn hoá Như ta đã biết, “văn hoá” có thể định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Nhưng xu hướng định nghĩa “văn hoá” theo tính giá trị và tính đặc trưng cho cộng đồng chủ thể sáng tạo đang được nhiều người chấp nhận nhất
Theo tác giả Trần Ngọc Thêm thì : “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình họat động
thực tiễn” [21-Tr.7] Tính chất lưu truyền đã biến văn hoá của thế hệ trước trở
thành di sản văn hoá của thế hệ sau
Ngoài ra trong từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “Di sản là cái của thời đại
trước để lại” [18, tr.254] Theo nghĩa Hán Việt: “di sản văn hóa là những tài sản
văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai
Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại Sản là tài sản, là những giá quý giá, có giá trị Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên”
Trong điều 1 Luật Di sản văn hóa của Việt Nam nêu rõ định nghĩa về di sản văn hóa của Việt Nam như sau: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể
và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [16-tr.17]
“Văn hóa” là cái chung, “di sản văn hóa” là cái riêng Mọi yếu tố của “di sản văn hóa” đều là “văn hóa”, nhưng không phải mọi yếu tố của văn hóa đều là “di sản văn hóa, vì trong văn hóa còn nhiều yếu tố bị mai một trong dòng chảy lịch sử, do không vượt qua đuợc thử thách của thời gian nên không được lưu truyền lại cho thế
hệ sau thành di sản văn hóa, hoặc những yếu tố văn hóa mới được hình thành chưa
Trang 1711
được thẩm định của thời gian”
Như vậy, “di sản văn hoá” nói chung rất đa dạng, phong phú, bao gồm các yếu tố nhân văn (di tích lịch sử văn hoá, lễ hội, làng nghề, phong tục tập quán,…) nhưng cũng chứa đựng cả các yếu tố tự nhiên (rừng, núi, thác,…), “là tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học… mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau”
* Bảo tồn di sản văn hóa
“Khái niệm bảo tồn di sản văn hóa” được từ điển Tiếng Việt định nghĩa:
“Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi” “Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có Và làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”
Không những vậy đối tượng bảo tồn phải được nhìn là “tinh hoa”, và khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn
Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị DSVH vật thể và phi vật thể) cần thở mãn hai điều kiện:
- Điều kiện thứ nhất là, “nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hoài nghi hay bàn cãi”
- Điều kiện hai là, “nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài (tức là có giá trị lâu dài, có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay với chính sách mở cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động”
Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”)
Trước hết bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng tĩnh là: “áp dụng khoa học công nghệ hiện đại nhằm giữ nguyên trạng những hiện vật từ sự vốn có về, vị trí, kích thước, đường nét màu sắc, kiểu dáng Trong quá trình phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều; chụp ảnh; băng hình, video;
để có thể xác định trọng lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể Để
Trang 18mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh… Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng”
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”)
Thứ hai “bảo tồn động” được coi là: “bảo tồn các giá trị văn hóa dựa trên những cơ sở kế thừa Bảo tồn di sản văn hóa dựa trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng các giá trị di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại đối với các di sản văn hóa phi vật thể” Vì vậy bảo tồn “động” dựa trên cơ sở kế thừa tức là “bảo tồn các hiện tượng văn hóa
đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Vì cộng đồng được coi là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể là nơi để giữ gìn, bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội theo thời gian”
Tóm lại bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng DSVH phi vật thể là:
“mong muốn lí tưởng nhất, hoàn hảo nhất Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì cần phải bảo tồn theo hiện dạng đang tồn tại Vì theo quy luật của thời gian thì các DSVH phi vật thể sẽ ngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc” Do vậy, nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng là điều cần phải thực hiện và có ý nghĩa khả thi nhất
Tuy nhiên, trong quá trình bảo tồn thì hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng Vì thế, “cần xác định rõ thời điểm bảo tồn để sau này khi có thêm
tư liệu tin cậy thì sẽ tiếp tục phục nguyên ở dạng gốc di sản văn hóa”
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khái quát về huyện Tiên Du
* Vị trí địa lý
Trang 1913
Tỉnh Bắc Ninh có diện tích là 823 km2 trong đó tám đơn vị hành chính cấp huyện gồm: “một thành phố (Bắc Ninh), một thị xã (Từ Sơn) và sáu huyện (Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài)”
Cũng nằm trên địa bàn thuộc tỉnh Bắc Ninh - huyện Tiên Du là “huyện nằm
ở phía Tây Nam tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm thành phố năm km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 25km về phía Bắc Huyện Tiên Du nằm trong tọa độ địa lý khoảng từ 2005’30’’ đến 2111’00’’ độ vĩ Bắc và từ 10558’15’’ đến 10606’30’’
độ kinh Đông Đối với diện tích tự nhiên của huyện khi chưa điều chỉnh địa giới là
10.838,94 ha với 14 đơn vị hành chính gồm: 1 thị trấn (thị trấn Lim) và 13 (xã Liên
Bão, xã Đại Đồng, xã Phật Tích, xã Hiên Vân, xã Lạc Vệ, xã Nội Duệ, xã Tri Phương, xã Hoàn Sơn, xã Tân Chi, xã Minh Đạo, xã Cảnh Hưng, xã Việt Đoàn, xã Phú Lâm)”
Trang 2014
Trên địa bàn huyện gồm: “3 tuyến quốc lộ 1A, 1B, 38, tỉnh lộ 276, 295 và đường sắt chạy qua nối liền với thành phố Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận” do có vị trí giao thông thuận lợi tạo điều kiện giúp huyện Tiên Du có nhiều mạnh trong việc phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa và du lịch
Do có địa hình đồng bằng, đất đai màu mỡ, hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh góp phần cho việc phát triển thâm canh lúa của huyện Tiên Du đạt chất lượng cao Không những thế huyện Tiên Du còn là “một trong những huyện giàu truyền thống cách mạng và văn hóa lâu đời với nhiều di tích lịch sử văn hóa: như chùa Hồng Vân, chùa Bách Môn, chùa Phật Tích… Ngoài ra trên địa bàn huyện còn phát triển các làng nghề truyền thống như: Nghề xây dựng ở Nội Duệ, nghề dệt lụa ở thị trấn Lim, nghề làm giấy ở Phú Lâm…”
Vì có vị trí địa lý thuận lợi do đó huyện Tiên Du có đủ những yếu tố để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác, tạo điều kiện để phát triển kinh
tế - xã hội, hòa nhập với nền kinh tế thị trường, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Từ lâu Tiên Du luôn được nhắc tới là “vùng đất văn hiến, khoa bảng và cách mạng Đây là nơi từng in tích Phật dấu Tiên với bao huyền thoại đẹp, giàu giá trị tư tưởng, nhân văn Và cũng là nơi sinh thành của Lưỡng Quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo Trong những năm tiền khởi nghĩa vùng quê này đã sản sinh ra nhiều anh hùng, những nhà cách mạng đã chiến đấu hết mình để bảo vệ Tổ quốc non sông Việt Nam”
Huyện Tiên Du có hơn 42.600 hộ, trên 152.000 nhân khẩu, với trên 9.500 ha diện tích đất tự nhiên, phân bố ở 14 đơn vị hành chính Trên địa bàn huyện có các tuyến đường giao thông như: “Quốc lộ 1A, Quốc lộ 38, tỉnh lộ 276, 287, 295 B và tuyến đường sắt Lạng Sơn chạy qua nối liền với thành phố Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội
và các tỉnh lân cận Huyện có khu công nghiệp và đô thị VSIP, khu công nghiệp Tiên Sơn, khu công nghiệp Đại Đồng - Hoàn Sơn, 2 Cụm Công nghiệp Phú Lâm và Tân Chi Điều kiện thuận lợi đó, đã góp phần giúp Tiên Du có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ”
Năm 2017, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã nỗ lực khắc phục vượt qua khó khăn đạt và vượt nhiều mục tiêu
Trang 2115
quan trọng về phát triển kinh tế xã hội – đảm bảo an ninh quốc phòng Tổng sản phẩm GRDP tăng 11,9%; trong đó “công nghiệp- xây dựng cơ bản tăng 13,7%; thương mại- dịch vụ tăng 11,6% Cơ cấu kinh tế theo ngành; công nghiệp- xây dựng
cơ bản chiếm 68,7%; thương mại- dịch vụ chiếm 25,8%; nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 5,5%”
Ngành y tế thực hiện tốt công tác phòng dịch và chăm sóc sức khỏe nhân dân Công tác dân số KHHGĐ được quan tâm Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao luôn được chú trọng, công tác tổ chức sôi nổi góp phần phục vụ nhu cầu tinh thần cho nhân dân như: Lễ hội Phật Tích, Hội Lim, …Thực hiện có hiệu quả những nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi, việc tang lễ Đẩy mạnh phong trào xây dựng, làng văn hóa, gia đình văn hóa ngày một nâng cao Đối với công tác quốc phòng, an ninh cũng luôn được tăng cường Chính vì vậy tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định Đã tuyển chọn và bàn giao 253 tân binh, đạt 100% chỉ tiêu Việc tiếp công dân, thực hiện các quyết định, kết luận sau thanh tra được thực hiện nghiêm túc, kịp thời đúng quy định của pháp luật Về công tác cải cách hành chính tiếp tục được duy trì và tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đã thành lập trung tâm hành chính công của huyện với các trang thiết bị công nghệ hiện đại, đội ngũ nhân lực có trình độ để nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân
Phát huy kết quả đã đạt được, năm 2018 huyện phấn đấu tổng sản phẩm GRDP tăng từ 9,5 đến 10%, giá trị trồng trọt đạt 113 triệu đồng/ ha; thu ngân sách nhà nước đạt trên 1.300 tỷ đồng Với giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt trên 11.000 tỷ đồng Duy trì tỷ lệ hộ nghèo dưới 2% Đã giải quyết việc làm mới cho 3.500 lao động Do đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1,2%
Năm 2018 là năm thứ 3 huyện thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016-2020; “là năm giữa nhiệm kỳ, năm đánh giá tình hình chính trị, kinh tế, xã hội một nửa chặng đường Nghị quyết Đại hội Đảng bộ đề ra Dẫu vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng những kết đạt được trong năm 2017 sẽ là cơ sở vững chắc cho các năm tiếp theo Với tinh thần đoàn kết, chung sức chung lòng của toàn Đảng, toàn dân, huyện sẽ cố gắng tiếp tục thực hiện thắng lợi những kết quả đã đề ra, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp văn minh”
* Lịch sử, văn hóa xã hội, di tích lịch sử
Trang 2216
- Lịch sử:
Bắc Ninh là một trong 13 tỉnh được vua Minh Mạng thành lập đầu tiên ở Bắc
Kỳ (năm 1831) Nguyên là trấn Kinh Bắc thời vua Gia Long, được đổi thành trấn Bắc Ninh năm 1822 Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh khi ấy bao trùm các tỉnh: “Bắc Ninh, Bắc Giang, một phần các tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn và thành phố Hà Nội ngày nay Năm 1895 tách phủ Lạng Giang ra lập tỉnh Bắc Giang, Năm 1960 huyện Văn Giang của Bắc Ninh được tách sang tỉnh Hưng Yên Hợp nhất hai huyện Quế Dương và Võ Giàng thành huyện Quế Võ ngày 05/07/1961 Từ ngày 27/10/1962 đến ngày 6/11/1996 tỉnh Bắc Ninh hợp nhất với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc, sau đó lại tách ra như cũ từ ngày 1/1/1997 Ngày 14/03/1963, hai huyện Tiên Du,
Từ Sơn của tỉnh Hà Bắc hợp nhất thành huyện Tiên Sơn Đến năm 2015 Bắc Ninh
cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại và trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020”
- Văn hóa- xã hội, di tích lịch sử
Bắc Ninh là "Vùng đất Văn hiến - Vùng đất địa linh nhân kiệt" được mệnh danh là vùng đất khoa bảng với " Một giỏ ông Đồ - Một bồ ông Cống - Một đống ông Nghè - Một bè Tiến sỹ - Một bị Trạng nguyên - Một thuyền Bảng nhãn”, Cùng với Thủ đô Hà Nội, cố đô Huế, tỉnh Bắc Ninh được coi là “địa phương thứ 3 xây dựng văn miếu có tầm cỡ, qui mô, trang trọng Văn miếu của Bắc Ninh nổi tiếng với 677 vị đại khoa, chiếm 1/3 tổng số vị đại khoa của cả nước đã được vinh danh Nhằm phát huy truyền thống hiếu học, khoa bảng từ các bậc cha anh Mỗi năm, Tiên Du là tỉnh có tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng khá cao, số học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh và quốc gia cũng chiếm tỷ lệ cao trong cả nước”
- Di tích:
Bắc Ninh là một trong những tỉnh lưu giữ số lượng di tích lớn trên cả nước Hiện nay, trên địa bàn huyện Tiên Du có “01 di tích quốc gia đặc biệt là chùa Phật Tích được công nhận tại Quyết định số 2408/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ do Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ký và ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2014” Ngoài
ra, trong huyện còn có rất nhiều di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh khác nhau
1.2.2 Tổng quan về di sản văn hóa chùa Phật Tích
* Lịch sử hình thành chùa Phật Tích
Trang 2317
Chùa Phật Tích còn có tên là “Vạn Phúc Tự”, nằm ngay dưới chân núi Phật Tích nay thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh Chùa giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam, là nơi có dấu ấn đầu tiên của Phật Giáo từ
Ấn Độ truyền vào nước ta Theo sách cổ kể lại về câu chuyện “một nhà sư người
Ấn Độ Khâu Đà La vào thế kỉ thứ II sau công nguyên tới lập am tu hành tại núi Phật Tích, dùng mật trú cầu mưa thuận gió hòa cho người Việt” Cũng theo sách “Đại Việt Sử ký toàn thư và các di vật cổ được tìm thấy ở khu vực chùa thì chùa Phật tích được xây dựng vào những năm Đinh Dậu niên hiệu Long Thuỵ Thái Bình thứ IV đời vua Lý Thánh Tông (1057)”
Như vậy có thể thấy “chùa Phật Tích nằm trên địa bàn diễn ra sự gặp gỡ, giao thoa, hội nhập giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian Việt cổ từ đầu Công nguyên” Dựa trên những cơ sở đó nơi đây đã hình thành trung tâm Phật giáo đầu tiên của đất nước, trung tâm Dâu – Luy Lâu Đến thời Lý: “Phật giáo đã phát triển đến đỉnh cao trong lịch sử Phật giáo ở nước ta Bắc Ninh và Phật Tích nói riêng, đều nằm trên quê hương nhà Lý, được vua Lý cho xây dựng nhiều chùa, tháp, phần nhiều là các đại danh lam Phật Tích do đó cũng được xây dựng với quy mô to lớn”
Khác với một số chùa được xây dựng cùng thời, chùa Phật Tích được sự chú
ý quan tâm đặc biệt của vương triều Lý và triều đại nhà Trần cũng như các triều đại sau này
Theo văn bia “Vạn Phúc đại thiền tự bi” dựng năm 1686 thì: “Vua Lý Thánh Tông năm Long Thuỵ Thái Bình thứ IV (1057) đã cất lên cây tháp quý cao ngàn trượng, lại cho tạo pho tượng mình vàng cao 6 thước, cấp hơn trăm thửa ruộng, xây dựng chùa hẳn trăm gian Trên đỉnh núi mở ra một toà nhà đá, bên trong điện tự nhiên sáng như ngọc lưu ly Điện ấy đã rộng, lại to, sáng sủa và lớn Trên bậc thềm đằng trước có bầy 10 con thú, phía sau có ao rồng, góc cao vẽ chim phượng và sao Đẩu lấp lánh, lầu rộng và cao, tay rồng với tận trời cao ”
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” năm Tân Hợi niên hiệu Thần Võ năm thứ III (1071) Lý Thánh Tông về thăm chùa Phật Tích và đã viết tặng nhà chùa chữ “Phật” dài 6 thước (khoảng 2,4m) rồi cho thợ khắc vào đá để ở núi Tiên Du Ngày nay chữ
“Phật” ngàn vàng không còn nữa
Đến thế kỷ XIV dưới triều đại nhà Trần, Phật Tích vẫn là một ngôi chùa lớn, một đại danh lam thắng cảnh Thời kỳ này Nho học đã được quan tâm do vậy các
Trang 2418
vua Trần đã cho xây dựng chùa Vạn Phúc, một thư viện lớn do danh nhân Trần Nhân Tông làm viện trưởng Thư viện này còn gọi là cung Bảo Hoà, theo sử cũ năm Quý Hợi niên hiệu Xương Phù thứ XVIII (1383), Thượng hoàng Trần Nghệ Tông đến thăm cung Bảo Hoà và hỏi han bầy tôi vể lịch sử, về thơ văn, về danh nhân, lương tướng…rồi cho chép thành sách, đặt tên la “Báo Hoà dư bút” gồm 8 quyển; Năm sau, năm Giáp tý (1384), ông tổ chức cuộc thi thái học sinh (tức thi tiên sĩ) trên quy mô toàn quốc ở chùa Phật Tích
Đến đời Lê – Trịnh (1623–1657) Đệ nhất cung tần của Thanh Đô vương Trịnh Tráng là Trần Thi Ngọc Am đã cho tu sửa lại chùa với quy mô kiến trúc điêu khắc đẹp đẽ, nằm hài hoà với cảnh sắc thiên nhiên
Chùa được xây dựng ở sườn núi phía nam, toạ lạc trên khu đất cao, bao gồm
ba bậc nền thềm có kè bằng đá tảng dựng đứng như bức tường dài 58m, cao từ 3–5m, ở khoảng giữa tường là lối đi bằng đá rộng 5m có 80 bậc Trước khi lên bậc cấp dẫn đến tầng nền thứ nhất ta bắt gặp một cái giếng đá tròn, nước rất trong Tương truyền dưới đáy giếng có đầu rồng đá phun nước, giếng được che mát bởi cây đa cổ thụ Hai đầu của con đường nhỏ dẫn lên chùa là hai ao hình chữ nhật
Qua 30 bậc đá ta sẽ tới gác chuông (tam quan) dài 13m, rộng 11m dẫn khách lên chùa Tới tầng nền thứ hai ta thấy chiều dài 30m của tầng này được kè đá tảng, chiều rộng của tầng nền thứ hai khoảng 70m và cách so với tầng nền thứ nhất là 5m Đứng tại tầng nền thứ hai ta quan sát được hai phần, một phần là chùa, một phần là vườn chùa – nơi trước kia trồng hoa mẫu đơn để đầu xuân mở hội xem hoa, cũng ở nơi đây đã lưu truyền mối tình duyên trong truyền kỳ “Từ Thức gặp tiên”, ở giữa tầng nền là dấu tích của những toà nhà gồm 11 gian tiền đường, 3 gian thiêu hương,
5 gian thượng điện, 9 gian hậu cung, hai bên là hai dãy hành lang, mỗi bên 7 gian Tất cả toà nhà này được bố trí theo kiểu “nội Công, ngoại Quốc”
Bên phải những toà nhà này là miếu Tiên chúa thờ Trần Ngọc Am Miếu Tiên chúa còn để lại dấu vết trên móng kiểu chữ “Đinh”, lớp trước 4 gian ngang, lớp sau 4 gian dọc Phía trước miếu có dựng một ngọn tháp Linh Quang xây năm Chính Hoà XX (1699) Bên trái có dấu vết của nhà phương trường 5 gian và đằng trước là nhà tổ đệ nhất với 5 gian trước và 3 gian điện phía sau Cũng tại tầng nền thứ 2 này người ta còn thấy tấm bia “Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi” dựng năm Chính Hoà VII (1686) đã bị gãy đôi, nay vẫn còn một nửa tấm bia lưu giữ ở chùa Trong gian thương điện có thờ một pho tượng A Di Đà nổi trên toà sen Các cột của
Trang 25Cũng tại nền thứ ba này là “một vườn tháp được dựng bằng đá xanh và đất nung, cả vườn tháp có tới 32 ngọn tháp lớn nhỏ nằm chen vào núi đá nhấp nhô, một
số tháp có ghi năm dựng và tên tháp như “Tháp Phổ Quang”, dựng năm cảnh trị thứ
II (1664) Tháp cao 4 tầng và cấu trúc tròn, khắc hình bát quái, ba mặt tháp chạm bảy tượng Phật ngồi trên toà sen, “Tháp Viên Dung” dựng năm kỷ Mùi (1679) cao
4 tầng, mặt trước của tầng thứ hai chạm nổi hình tròn, trên có hình vuông để biểu thị trời tròn, đất vuông “Tháp Hiển Quang” dựng năm Vĩnh Trị thứ V (1680)
“Tháp Viên Quang” dựng nam Chính Hoà thứ V (1684) đều cao hai tầng”
“Tháp Bảo Nghiêm” dựng năm Chính Hoà thứ XIII (1692) với “4 tầng, mặt tháp có chạm tượng Phật ngồi trên toà sen và nhà sư đã ngồi nhập định, còn mọt số tháp như Viên Minh, Tông ý Bồ Đề đều không rõ năm dựng Sườn núi bên Phật Tích còn một số hàng gạch nhỏ, mỗi cây tháp đều giữ xá lị của một vị hoà thượng đắc đạo” Với số lượng tháp ở Phật Tích đã chứng tỏ chùa Phật Tích là nơi có nhiều nhà tu hành về đây tu luyện
Ngoài quy mô về không gian của chùa Phật Tích, chúng ta còn tìm thấy ở đây các công trình điêu khắc cổ đặc sắc về nghệ thuật tạo hình của dân tộc Việt, đó
là “tượng Phật A Di Đà bằng đá, chân tảng đá, tượng 10 con vật bằng đá có niên đại thời Lý” Có thể khẳng định những tác phẩm tượng thú có quy mô lớn và lâu đời nhất của nước ta chính là hàng tượng thú trước sân chùa Phật Tích
Ngoài các tác phẩm điêu khắc nghệ thuật bằng đá thời Lý nói trên, chùa Phật Tích còn được biết đến qua một pho tượng không kém phần đặc sắc bởi hình thức thể hiện của pho tượng này, đó chính là “pho tượng Chuyết Chuyết công sư tổ được
Trang 2620
bó cốt (xương) còn gọi là “Nhục thân Bồ tát” Đó chính là “Chân dung kết tủa của Thiền sư Lý Thiên Tộ pháp danh Hải Trừng” hiệu Viên Văn, sinh năm 1590 ở quận Thanh Chương tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc), ông là học trò của vua Minh Thế Tông phong chi là Khuông Quốc Đại sư Thiền sư Chuyết Chuyết Lý Thiên Tộ thuộc thế hệ 34 dòng Lâm Tế, mất vào rằm tháng bảy năm Giáp Thân (1644) thọ 55 tuổi tại chùa Phật Tích được vua Lê Chân Tông phong hiệu Minh Việt phổ giác quảng tế đại đức Thiền sư Sau khi Thiền sư viên tịch, các tín đồ đã dùng dây để dựng khung xương theo thế ngồi thiền rồi tạo tượng phủ ngoài xương bằng chất bôi
mà chủ yếu là sơn ta, vải, mạt cưa” Do thời gian và sự bảo quản không tốt nên pho tương bị hư hại Sau này pho tượng được phục hồi nguyên trạng với chiều cao 67,3
cm, nặng 10kg (từ ngày 12/01/1993 đến 01/05/1993)
Có thể nói: “pho tượng Thiền sư Chuyết Chuyết Lý Thiền Tổ là một trong ba pho tượng táng quý hiếm trên đất nước ta về nghệ thuật ướp xác, bó cốt, điêu khắc chân dung nhân vật lịch sử của người Việt”
Chùa Phật Tích tồn tại, trải qua biết bao biến động của lịch sử, của thời gian Đến năm 1948 chùa bị phá hoại hoàn toàn, chỉ còn lại những công trình kiến trúc điêu khắc đá và một số các di tích khác như tượng người, chim, vườn tháp, ao rồng, bia Vạn Phúc đại thiền từ bi, pho tượng Thiền sư Chuyết Chuyết
Năm 1958, để bảo vệ các di vật quý giá này, Bộ Văn hoá cho làm lại ba gian chùa nhỏ Tuy để lại những di sản không nhiều nhưng rất độc đáo, những hiện vật
vô cùng quý giá ấy đã chứng minh cho sự xuất hiện sớm và phát triển nhanh, mạnh
mẽ, liên tục của một trong những trung tâm Phật giáo của nước ta Đồng thời qua những hiện vật, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về trình độ văn minh, trình độ khoa học
kỹ thuật của ông cha ta thưở trước và công sức tài nghệ của những người thợ chạm khắc đá, kiến trúc xây dựng chùa Chính những di sản văn hoá quý báu đó là tài liệu sống động, đầy sức thuyêt phục trong hành trình về cội nguồn dân tộc nói chung và
mỹ thuật chùa chiền nói riêng
“Vạn Phúc Tự” nằm trong chốn bồng lai tiên cảnh gắn liền với những truyện dân gian “Từ Thức gặp Tiên”, “Man Nương Tố Nữ”, “Tiều Phu Vương Chất”… đầy tính huyền thoại và lãng mạn càng tăng thêm tâm lý sùng kính của khách thập phương về văn cảnh chùa và lễ Phật Với những giá trị tiêu biểu đó, ngày 28/04/1962 Nhà nước đã công nhận Phật Tích là di tích lịch sử cấp quốc gia
Trang 2721
Từ đó đến nay chùa đã từng bước được tu sửa lại vườn tháp, ao Rồng, bậc lên xuống chùa, xây mới 5 gian phía tây để làm nơi tiếp khách, dựng 4 toà nhà gồm: tam bảo, tiền đường, 2 nhà tố, sửa 3 gian hậu đường… Tổng cộng, tới nay chùa có
22 gian Đường dẫn tới chùa được trải nhựa, đường lên chùa là các đá tảng gồm 50 bậc, Chùa Phật Tích cũng đã mở lại hội “Khán hoa” (xem hoa) được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng Giêng Tất cả sự cố gắng trên nhằm bảo vệ, giữ gìn những di sản văn hoá dân tộc, cũng là tạo sự thuận lợi cho khách thập phương tới lễ Phật, văn cảnh chùa
“tiền Phật hậu Thần”, đã chứng tỏ tín ngưỡng đa thần cũng đã được hỗn dung với yếu tố Phật giáo Ngoài ra nơi đây vẫn mang tính ổn định của những yếu tố văn hóa
cổ truyền hơn, mặc dù trong chùa còn xuất hiện nhiều yếu tố văn hóa khác” Tuy nhiên xét về kiến trúc thì chùa vẫn phản ánh khá đầy đủ các hình thái tín ngưỡng dân gian của người Việt
+ Tượng phật A Di Đà
Đây là một trong những bức tượng được coi là “một minh chứng lịch sử
“thành-trụ-hoại-không” của chùa Phật Tích có niên đại 1000 năm tuổi Trong kháng chiến chống Pháp chùa bị phá hủy thì pho tượng A Di Đà cũng bị bắn phá gãy đầu, thân tượng với năm nhở những vết đạn Người dân địa phương đã cất và giữ gìn đầu pho tượng Sau ngày giải phóng thì đầu tượng được đưa về lại chùa để chắp sửa hoàn chỉnh” Về cấu trúc tượng đá phật A Di Đà bao gồm 2 phần: “phần tượng được tác riêng 1 khối đá, mình tượng cao 1,87, ở thế ngồi tĩnh ngồi tọa trên một tòa sen Phần bệ đá được chế tác chạm chổ điêu luyện, cùng với phần tượng thì xét về tổng thể pho tượng cao khoảng 2,69 m”
Trang 2822
Tượng A Di Đà là: “pho tượng thể hiện khá đầy đủ sự hỗn dung, tiếp biến các luồng văn hóa ngoại lai với yếu tố tín ngưỡng bản địa Nhìn từ tổng thể những điêu khắc, mỹ thuật dưới thời Lý thì đều có dáng vẻ của con người Việt trong nghệ thuật Pho tượng đá phật A Di Đà cũng vậy, được chắt lọc từ yếu tố mẹ qua tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Nữ thần ở Việt Nam thì vẻ đẹp của tượng Phật cũng lấy từ vẻ đẹp của phái nữ với những đường nét thanh tú, mềm mại Phật A Di Đà ngồi ở tư thế thiền, hai tay đặt lên nhau hướng về phía trước, áo trong chỉ được để lộ ở phần ngực được thắt đai lưng trước bụng, áo ngoài được điêu khắc như gân lá sen, bó sát vào người với những đường rủ xuống thướt tha, buông kín ha chân Khuôn mặt hình trái xoan hơi bầu bĩnh, phúc hậu, hàng lông mày cong thanh, đôi mắt lim dim, nụ cười kín đáo, cổ cao ba ngấn và đôi tai dài biểu hiện cho quý tướng Bức tượng đã
có sự tiếp biến đủ mức độ với các luồng văn hóa của văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa, ở cách thể hiện những đường nét vô cùng thanh tu, cao cả mang đầy ý niệm soi rọi nội tâm thanh tịnh và không phải là một pho tượng bầu bĩnh, phương phi của những tượng Phật đời nhà Đường”
+ Tượng Hộ pháp (Bát bộ kim cương)
Tượng A Di Đà được ngắm nhìn với vẻ đẹp của sự mềm mại, thanh tú và phúc hậu, thì tượng Hộ pháp ở chùa Phật Tích lại mang “vẻ đẹp của một con người trí tuệ, kết hợp với vẻ đẹp của sự mạnh mẽ” Tượng được tạc ở thể chống kiếm (mang dáng động), mặc giáp phục theo kiểu quan võ, trên áo giáp chạm nổi những bông hoa nhỏ với nếp áp tuôn chảy, dáng tượng rướn về phía trước, dáng áo bay về phái sau như có sự chuyển động
+ Tượng Người chim
Đây là pho tượng tròn, cỡ trung bình, là sự kết hợp giữa cái đẹp của con người và vẻ đẹp của chim để tạo nên một nhân vật “huyền thoại Kinnari trong thần thoại Ấn Độ”
Tượng người chim đậu trên đế vương dùng để trang trí mặt ngoài của tháp
“Phần người của tượng được thể hiện với khuôn mặt hiền từ, đầy đặn, đôi lông mày cong thanh mảnh, hai gò má bầu bĩnh, ngực nở, hai tay đang vỗ trên mặt, chiếc trống cơm đeo trước ngực, từ hai nách mọc ra đôi cánh chim xòe rộng đuôi dài hất ngược lên, hai chân cứng khỏe với móng cong sắc, ở phần thân được chạm những bông hoa nhỏ” Nhìn toàn diện thì tượng người chim là hình ảnh của thần nhạc công với việc đeo chiếc trống cơm nhạc cụ trong âm nhạc Phật giáo
Trang 2923
+ Chân cột chạm dàn nhạc
Các bệ đá được tìm thấy ở chùa Phật Tích đều cùng một kiểu dáng gồm 2 phần: “phần trên mặt tròn đặt trên khối hộp vuông Mặt trong được điêu khắc thoe hình mẫu của hoa sen nở tung với những cánh sen cong úp Điều đặc biệt là ở mỗi cánh sen đều có một đôi rồng chầu uốn mình mềm mại, không vảy, đó là đặc trưng của rồng thời Lý Ở giữa là vòng sáng nhọn bốc lên từ đóa sen tượng trưng cho sự thịnh vượng nơi đất Phật Hai bên vòng sáng là chạm trôt đối xứng hình những con người với những nhạc cụ vừa múa vừa tấu nhạc (mỗi bên gồm 5 nhạc công) với trống cơm, đàn tranh, đàn tì bà, đàn thập lục, tiêu, sáo,… Nhạc công trên bức chạm
có một thân hình tròn, khỏe, uốn mình duyên dáng và thướt tha mang màu sắc của cõi Tiên” Nếu chú ý kĩ thì 10 người có những hành động khác nhau, đặc trưng cho mỗi nhạc cụ nhưng tổng thể lại, thống nhất trong nhịp điệu
Những chạm trổ trên bề mặt chân tảng đều được tạc một cách tỉ mỉ với hình ảnh con song dao động Những tác phẩm này phản ánh sự sáng tạo và trình độ cao của người nghệ nhân, cũng như nghệ thuật điêu khắc kiến trúc thời Lý
+ Tượng linh thú trước tòa tam bảo
Mười bức tượng linh thú có niên đại từ thời Lý là “những pho tượng tròn nguyên khối (trừ con trâu) gồm: tê giác, trâu, voi, sư tử, ngựa trước tòa tam bảo của chùa Phật Tích Mười pho tượng linh thú này đều được đặt trên 1 chân tảng lớn, quỳ trên bệ đá sen, mang đậm nét kiến trúc ở thời Lý” Để có thể lý giải sự tồn tại của những pho tượng thú này, vẫn còn phải nghiên cứu tìm hiểu rất nhiều Theo ông Nguyễn Hùng Vỹ cho rằng: “Vô tượng ký, 500-600 năm sau Phật diệt, lúc đó chưa thờ tượng qua hình ảnh con người thì người ta thờ các hiện tượng, dấu hiệu, biểu hiện của Phật như: Chữ Vạn, hoa sen hay dấu chân hoặc ở chùa Phật Tích là sư tử
kỵ, mã kỵ, ngưu kỵ, tượng kỵ, trư kỵ là những loài vật Phật đã từng cưỡi khi Ngài hành pháp, và vì biểu tượng của Phật nên tất cả được đặt trên tòa sen” Còn theo tác giả Chu Quang Trứ trong cuốn “Mỹ thuật Lý Trần, Mỹ thuật Phật giáo” lại cho rằng
ý nghĩa của những con vật này vừa gắn bó với con người, lại vừa mang màu sắc Phật giáo: “Đã là những con vật của thế giới Phật giáo thì sư tử tượng trưng cho sức mạnh trí tuệ, voi tượng trưng cho bồ tát hạn tự nhiên tự tại tự tại, ngựa tượng trưng cho kẻ chở phật pháp đến với chúng sinh, tê giác tượng trưng cho sức mạnh từ bi”
Ngoài ra ngoài những kiến trúc, điêu khắc được nhắc đến ở trên thì chùa Phật Tích vẫn còn lưu giữ nhiều công trình kiến trúc tiêu biểu đại diện cho kiến trúc Phật
Trang 30lễ hội lớn tiêu biểu như: Hội Lim, Hội Đền Đô, Hội Đền Bà Chúa Kho, Lễ hội Chùa Bút Tháp…” Đặc biệt là lễ hội chùa Phật Tích không thể bỏ lỡ khi du lịch đến Bắc Ninh
Lễ hội Phật Tích là một trong những lễ hội diễn ra với quy mô lớn, sớm nhất tỉnh Bắc Ninh Lễ hội được tổ chức từ ngày 4-5 tháng Giêng, trong đó ngày mùng 4
là ngày diễn ra hội chính nhưng ngay từ những ngày mùng 1 Tết, lễ hội đã thu hút đông đảo du khách đến chùa thắp hương, lễ phật Ngoài ra trong hoạt động lễ hội gồm có: “phần lễ và phần hội, với phần lễ bao gồm những hoạt động dâng hương tại các nơi thờ tự, tín ngưỡng, tổ chức Pháp hội đại bi cầu Quốc thái dân an, cầu bình
an cho nhân dân, phật tử vào tối mùng 5 Còn đối với phần hội bao gồm các hoạt động biểu diễn văn hóa, văn nghệ, các trò chơi dân gian tại trung tâm lễ hội”
Lễ hội Khán hoa mẫu đơn là tên gọi khác của lễ hội Phật Tích: “Việc tổ chức
lễ hội nhằm giữ gìn những nét truyền thống của quê hương Ngoài ra còn tạo nên một không khí vui tươi trong những ngày đầu năm mới, khơi dậy lòng tự hào của nhân dân địa phương về di sản văn hóa Đồng thời lễ hội góp phần cổ vũ động viên nhân dân yêu nước, luôn phấn đấu vì mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội Đây là lễ hội đã tồn tại từ rất lâu cho đến ngày nay vẫn luôn giữ được nét riêng biệt” Bên cạnh đó lễ hội còn gắn liền với ngôi chùa Phật Tích có bề dày lịch sử và chiều sâu tâm linh, nơi khởi nguồn của Phật giáo Việt Nam là câu chuyện tình, cảm động Từ Thức gặp tiên “Xưa kia ở vùng núi đất thuộc xã Phật Tích và ngay tại vườn của chùa Phật Tích trồng rất nhiều hoa mẫu đơn Hằng năm, cứ mỗi dịp xuân về, hoa mẫu đơn thi nhau nở khoe sắc đỏ rực khắp vùng Cũng vào dịp này khắp nơi, người người đổ về đây trảy hội ngắm hoa vãn cảnh chùa Trên trời, nàng tiên Giáng Hương thấy cảnh trần gian tuyệt đẹp đã xin giáng trần dự hội chùa và cũng vô tình nàng đánh gãy một cành hoa mẫu đơn giữa cửa chùa, vì vậy nàng bị chú tiểu trong chùa giữ lại Chứng kiến được cảnh đó chàng Từ Thức bèn cởi áo khoác xin chú
Trang 3125
tiểu chuộc tội cho nàng Cảm động trước nghĩa cử cao đẹp của chàng Từ Thức nàng Giáng Hương đã ngỏ lời hò hẹn với chàng và nàng đã mời chàng về chốn bồng lai, xin được kết duyên vợ chồng Và từ đó câu chuyện tình đẹp đầy thơ mộng của chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương đã được lan truyền khắp vùng và sống mãi với lễ hội Khán hoa mẫu đơn của chùa Phật Tích”
Lễ hội khán hoa Mẫu đơn ở Phật Tích diễn ra ngay những ngày đầu xuân năm mới âu cũng là niềm mong cầu, mơ ước về một tương lai tươi đẹp, may mắn, một đời sống gia đình hạnh phúc, phú quý Ngày xuân rất gần, mọi người sẽ được chiêm ngưỡng các loài hoa mẫu đơn trải khắp núi non Phật Tích và đón mừng lễ hội
“Khán hoa mẫu đơn” với cuộc thi hoa cảnh cây thế đẹp, lạ được tái hiện trên cõi thiêng liêng này
* Giá trị cơ bản của di sản văn hóa chùa Phật Tích
+ Giá trị giáo dục của chùa Phật Tích
Phật giáo từ Ấn Độ truyền bá vào Việt Nam với “giáo lí và đạo đức của một tôn giáo chính thống đã dung hợp với đời sống văn hóa, chính trị, tín ngưỡng và đạo đức truyền thống của người Việt để hình thành một hệ tư tưởng từ bi, hỉ xả, cứu khổ cứu cạn, cầu cho quốc thái dân an” Chùa Phật Tích cũng vậy, ngay từ khi được xây dựng lên, chùa đã giữ một vai trò quan trọng đó là nơi mà các nhà sư giảng đạo, thuyết pháp cho các bậc vua quan hoặc cho tu sĩ Ở thời Lý, chùa Phật Tích có thể coi là một trong những ngôi chùa mẫu mực để các tăng ni, phật tử tu hành cũng như giảng dạy Phật pháp Bước sang thời Trần, mặc dù có sự hòa nhập của văn hóa Trung Hoa đó là Nho giáo và Đạo giáo, và nó cũng tồn tại song song với Phật giáo Chùa Phật Tích tiếp tục là một trung tâm Phật Giáo lớn, hơn thế nữa còn là trung tâm nho học, là nơi tổ chức, đào tạo, tuyển chọn quan lại Vậy ngoài Văn Miếu Quốc Tử Giám là nơi tổ chức thi các cuộc thi Nho học tuyển chọn quan lại, thì chùa Phật Tích cũng giữ vị trí và vai trò là một trong những trung tâm giáo dục Nho học Vua Trần còn cho dựng thư viện ở đây để các nho sĩ đến sáng tác và bình phẩm thơ văn Ở những thời kỳ sau, chùa Phật Tích vẫn giữ vai trò là nơi giáo dục con người
về mặt đạo đức, lối sống thông qua việc đến tu hành và thuyết pháp của nhiều bậc cao tăng và các tín đồ phật tử
+ Giá trị nghệ thuật của chùa Phật Tích
Chùa Phật Tích là “một trong những ngôi chùa được xây dựng dưới thời Lý,
do đó hầu hết các công tình nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc trong chùa đều mang vẻ đẹp độc đáo của nghệ thuật thời Lý” Những công trình kiến trúc trong chùa cũng
Trang 3226
được rất nhiều sự quan tâm, tranh luận của các nhà khoa học về niên đại của những
cổ vật đó, cũng một phần vì do sự tồn tại lâu đời, một mặt hầy hết các cổ vật đó không được ghi chép rõ ràng Vì có thể do bị phá hủy với thời gian, việc xác định niên đại cũng gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên những sáng tạo nghệ thuật ở chùa Phật Tích cũng là một minh chứng, chứng minh một hướng sáng tạo nghệ thuật đầy màu sắc Việt Nam
Trước hết là những giá trị nghệ thuật ở những bức tượng linh thú bao gồm:
“5 cặp: sư tử, ngựa, voi, trâu, tê giác, được sắp xếp trước cửa tam bảo Những bức tượng linh thú hiện nay vẫn được tiến hành xác định niên đại, song về cơ bản có phần mang màu sắc của tượng tròn thời Lý”
Tiếp đó là giá trị nghệ thuật ở “pho tượng A Di Đà bằng đá 1000 năm tuổi Đây được coi là bảo vật quốc gia, bức tượng được tạc theo phong cách Ấn Độ tuy nhiên vẫn mang dáng cấp của người Việt Nam Thể hiện cho sự giao lưu tiếp biến của các luồng văn hóa khác nhau với yếu tố bản địa của người Việt Nam”
Không những vậy giá trị nghệ thuật còn được thể hiện ở rất nhiều cổ vật trong chùa như là: “nền móng tháp, đầu rồng, chim thần, tượng nữ thần mình chim Kinnari có phần giống với nghệ thuật Chămpa Ngoài ra, còn khoảng hơn 30 ngôi tháp thờ các vị tổ sư đã trụ trì ở chùa Phật Tích được xác định là có niên đại dưới thời Lê- Trịnh khoảng thế kỉ XVII-XVIII” Những cổ vật được tìm thấy ở chùa Phật Tích mang giá trị vô cùng quan trọng không những để xác định niên đại của ngôi chùa, mà còn xác định được phong cách nghệ thuật được sử dụng trong những điêu khắc đá ở chùa
+ Giá trị lịch sử
Chùa Phật Tích với những nét đặc biệt không những về kiến trúc, ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng, di sản văn hóa của chùa là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng người dân huyện Tiên Du Tại đây lưu giữ lịch sử về những người đã khai sinh, xây dựng chùa, những anh hùng dân tộc gắn với lịch sử địa phương Từ đó có thể thấy đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn’’ luôn hiện hữu trong mỗi người dân huyện Tiên Du
Những giá trị của chùa Phật Tích đã giúp nhân dân địa phương nhận thức, hiểu và trở thành một nhân cách tích cực, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, biểu hiện như nguồn lực gián tiếp, tác động vào sự phát triển giá trị lịch sử xây dựng đất nước