1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số đặc trưng về định chế xã hội và con người ở nam bộ (bản phúc trình nghiên cứu)

323 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 323
Dung lượng 4,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam được xác định về mặt cơ cấu kinh tế với đặc trưng “công nghiệp phải là lĩnh vực trọng yếu”,2 với nhiệm vụ là “vùng kinh tế động lực của cả nước”, “đi đầ

Trang 1

Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ Chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ

“Nghiên cứu Nam bộ năm 2011-2012” (CT11-22)

(Chủ nhiệm chương trình : Bùi Thế Cường)

Báo cáo tổng hợp của đề tài Một số đặc trưng về định chế xã hội và con người ở Nam bộ trong tiến trình phát triển bền vững

giai đoạn 2011-2020 (Mã số đề tài : CT11-22-01)

Chủ nhiệm đề tài : Trần Hữu Quang

TP Hồ Chí Minh, tháng 6-2013

Trang 2

Chủ nhiệm đề tài :

Trần Hữu Quang, PGS.TS xã hội học

Thành viên của nhóm nghiên cứu :

Chuyên viên :

Trần Hữu Quang, PGS.TS xã hội học

Nguyễn Quang Vinh, Nghiên cứu viên cao cấp xã hội học

Nguyễn Nghị, Nghiên cứu viên chính sử học

Ngô Vĩnh Long, GS.TS sử học

Nghiên cứu viên :

Phan Thanh Lời, Cử nhân dân tộc học, thư ký khoa học của đề tài

Đào Quang Bình, Th.S xã hội học

Nguyễn Đặng Minh Thảo, Th.S xã hội học

Phạm Thị Mỹ Trinh, Cử nhân văn hóa học

Trần Hạnh Minh Phương, Th.S nhân học

Trương Quang Đạt, Th.S sử học

Võ Văn Dân, Th.S xã hội học

Vũ Ngọc Xuân Ánh, Cử nhân nhân học

Vũ Thị Thu Thanh, Th.S sử học

Trang 3

Mục lục

Trang

Mục lục 2

Danh mục các bảng thống kê 5

Danh mục các biểu đồ 7

Danh mục các bảng thống kê trong Phụ lục D 8

Danh mục các bảng thống kê trong Phụ lục E 10

Những chữ viết tắt x

Mở đầu 12

Chương 1 Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận 15

A Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

B Tổng quan tình hình nghiên cứu 19

C Một số khái niệm chính 28

D Giả thuyết và cách tiếp cận nghiên cứu 36

E Phương pháp điều tra, xử lý, và đặc điểm của địa bàn điều tra 38

Chương 2 Những đặc trưng của dân cư, lao động, cơ cấu xã hội và mô hình văn hóa ở Nam bộ 45

A Dân cư 46

B Lao động 56

C Sinh kế của hộ gia đình 58

D Ruộng đất 64

E Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình 68

F Kết cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội ở nông thôn Nam bộ 73

G Mô hình văn hóa trong đời sống gia đình và cộng đồng 79

Chương 3 Những đặc trưng trong thái độ và ứng xử kinh tế-xã hội của con người ở Nam bộ 96

A Quan niệm và ứng xử đối với ruộng đất 97

1 Nguồn gốc ruộng đất : thừa kế và mua lại 99

2 Mua bán và thuê mướn ruộng đất 100

3 Xu hướng tích tụ ruộng đất 103

4 Tâm thức ruộng đất 106

5 Quan niệm coi đất đai là hàng hóa 108

B Cung cách sử dụng lao động trong nông nghiệp 111

1 Phân công lao động gia đình 111

2 Lao động thuê mướn và lao động chuyên đi làm mướn 112

3 Tập quán “vần công” và kinh tế hợp tác 114

4 Tình trạng khiếm dụng lao động 117

C Khả năng ứng dụng kỹ thuật mới 118

1 Mức độ áp dụng tiến bộ kỹ thuật 119

2 Tham dự các buổi tập huấn kỹ thuật 122

D Mối quan hệ với thị trường 126

1 Mua lúa giống 126

2 Tiêu thụ nông sản và hệ thống thương lái 128

3 Vay nợ và tín dụng 134

E Năng lực quản lý và óc đầu tư 142

Trang 4

1 Năng lực quản lý 143

2 Mức độ theo dõi thông tin 146

3 Óc đầu tư 148

F Định hướng kinh tế tương lai của hộ gia đình 154

1 Mức độ gắn bó với nghề nông 154

2 Xu hướng xuất cư nông thôn 157

3 Dự tính tương lai của hộ gia đình 159

Chương 4 Những đặc trưng của một số định chế xã hội ở Nam bộ 167

A Làng xã 167

1 Làng Việt ở Nam bộ 168

2 Tính chất “cộng đồng mở” của làng xã Nam bộ 170

3 Ý thức cộng đồng của người dân 183

B Gia đình 185

1 Quy mô và loại hình gia đình 185

2 Phân công công việc trong gia đình 188

3 Quan hệ quyền lực giữa chồng và vợ 190

4 Quan niệm về con cái 192

5 Nơi cư trú của cha mẹ khi về già, và tập quán ở rể 198

6 Tâm thức dòng họ 199

C Nhà nước 202

1 Vài nét về cán bộ chính quyền ở Nam bộ 203

2 Các hoạt động hỗ trợ phát triển nông nghiệp ở địa phương 205

3 Nhận thức của cán bộ xã đối với những vấn đề sản xuất của nông hộ 210

4 Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của xã ấp 215

D Doanh nghiệp 218

1 Loại doanh nghiệp tạo ra sự liên kết với nông dân 220

2 Loại doanh nghiệp tạo ra nguồn hàng hóa sạch 224

3 Loại doanh nghiệp hướng đến sự phát triển toàn diện 226

Chương 5 Những xu hướng chuyển động và những vấn đề cần đặt ra 229

A Ngưỡng tới hạn của nền kinh tế tiểu nông 230

B Những chuyển động về mặt cơ cấu xã hội và nguồn sinh kế 233

1 Xu hướng phân hóa xã hội và vai trò của các tầng lớp trên 233

2 Tầng lớp “công nhân nông nghiệp” 236

3 Đa dạng hóa sinh kế và chuyển dịch ngành nghề 236

4 Hiện tượng xuất cư nông thôn 238

C Những thách thức về mặt tiềm lực con người và xã hội 239

D Vấn đề ruộng đất 242

E Mối liên hệ giữa nông hộ và doanh nghiệp, giữa nông hộ và nông hộ : những loại hình liên kết mới trong định chế kinh tế 248

F Bài toán mô hình phát triển của Nam bộ 250

1 Những cách lý giải khác nhau về quá trình phát triển của nông thôn Việt Nam 250

2 Những chủ thể và những định chế trong tiến trình phát triển 251

3 Một vài chỉ tiêu định hướng phát triển đến năm 2020 254

4 Đi tìm một mô hình phát triển thích hợp 257

Kết luận và kiến nghị 262

A Kết luận 262

B Kiến nghị 267

Trang 5

Phụ lục

Phụ lục A Bản câu hỏi và số liệu kết quả điều tra 269

Phụ lục B Bản hướng dẫn phỏng vấn 281

Phụ lục C Cách thức chọn mẫu hộ gia đình 282

Phụ lục D Một số bảng thống kê kết quả điều tra 284

Phụ lục E Kết quả phân tích nhân tố và phân tích phân loại 303

Phụ lục F Vài dữ kiện cơ bản của sáu xã điều tra ở Nam bộ 307

Phụ lục G Danh mục các bài ghi chép chuyên đề 309

Phụ lục H Một số văn bản pháp quy liên quan đến nông nghiệp, nông thôn và phát triển nông thôn 310

Tài liệu tham khảo 312

Trang 6

Danh mục các bảng thống kê

Trang

Bảng 1 Địa danh, diện tích và dân số của các xã điều tra qua các thời kỳ lịch sử 42 Bảng 2 Đặc điểm của mẫu điều tra ở sáu xã Nam bộ, tháng 5-2012 43 Bảng 3 Dân số Nam bộ trong vòng 30 năm qua 48 Bảng 4 Tỷ lệ di cư ở các vùng trong nước, 2009 49 Bảng 5 Trình độ học vấn của dân cư từ 15 tuổi trở lên và của chủ hộ ở Nam bộ

(không kể TP.HCM) 52 Bảng 6 Trình độ học vấn của những người từ 15 tuổi trở lên ở Nam bộ và một số

vùng trong nước, năm 2009 53 Bảng 7 Cơ cấu tuổi tác của tổng số lao động (đang làm việc), điều tra tại 6 xã Nam

bộ năm 2012 57 Bảng 8 Tuổi bình quân của cư dân nông thôn và của lao động nông nghiệp ở An

Giang, Vĩnh Long và Bà Rịa-Vũng Tàu năm 1999 và năm 2012 57 Bảng 9 Cơ cấu ngành nghề của các hộ nông thôn, Nam bộ 2012 62 Bảng 10 Cơ cấu ngành nghề của các lao động (đang làm việc) phân theo ngành

nghề chính của hộ gia đình, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 64 Bảng 11 Dân số và diện tích đất nông nghiệp ở Nam bộ trong gần hai thế kỷ qua 65 Bảng 12 Cơ cấu nông hộ, phân theo quy mô ruộng đất sở hữu, Nam bộ năm 1931,

2008, 2010 và 2012 67 Bảng 13 Cơ cấu thu nhập ở Nam bộ, từ năm 1998 đến năm 2012 69 Bảng 14 Cơ cấu thu nhập cả năm 2011 bình quân mỗi hộ, phân theo năm nhóm thu

nhập (ngũ vị phân), điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 71 Bảng 15 Cơ cấu thu nhập cả năm 2011 bình quân mỗi hộ, phân theo ngành nghề

chính của hộ gia đình, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 72 Bảng 16 Kết cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội ở nông thôn Nam bộ, theo các cuộc

điều tra vào năm 1978, 2008 và 2012 75 Bảng 17 Bảng liệt kê các ý kiến đồng thuận 81 Bảng 18 Bảng liệt kê các ý kiến không đồng thuận 84 Bảng 19 Bảng phân tổ giữa kết quả câu hỏi-mệnh đề m26 (Nhà phải có con trai để

nối dõi tông đường) với câu hỏi-mệnh đề m35 (Người vợ lúc nào cũng phải phục tùng người chồng) 86 Bảng 20 Bảng phân tổ giữa câu hỏi-mệnh đề m7 (Không nên bán ruộng đất trong

làng xã cho người ngoài) với câu hỏi-mệnh đề m6 (Trong làm ăn buôn bán, nên ưu tiên hợp tác với người cùng xã) 87 Bảng 21 Bảng phân tổ giữa câu hỏi-mệnh đề m43 (Phụ nữ thường không giỏi kinh

doanh bằng nam giới) với câu hỏi-mệnh đề m50 (Nếu vợ không biết nghe lời chồng thì không nên trách chồng đánh vợ) 87 Bảng 22 Ruộng đất của các hộ điều tra ở sáu xã Nam bộ, 2012 98 Bảng 23 Số hộ có đất do mua lại, phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều

tra ở 6 xã Nam bộ năm 2012 101

Trang 7

Bảng 24 Diện tích đất cho thuê hay cho mượn, và diện tích đất đang thuê hay đang

mượn, phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra ở 6 xã Nam

bộ năm 2012 102 Bảng 25 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Dù khó khăn đến đâu, gia đình tôi cũng phải

giữ lấy ruộng đất” (m18), phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội

106

Bảng 26 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Không nên bán ruộng đất trong làng xã cho

người ngoài” (m7), phân theo các nhóm mô hình văn hóa 107 Bảng 27 Tình hình sử dụng lao động và máy móc trong nông nghiệp 112 Bảng 28 Người tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi,

cách thức làm ăn 123 Bảng 29 Những hộ có người tham dự các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng

trọt, chăn nuôi, cách thức làm ăn , phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội 124 Bảng 30 Nhu cầu được huấn luyện thêm về kỹ thuật và trao đổi kinh nghiệm sản

xuất và làm ăn, phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội 124 Bảng 31 Các hộ vay nợ từ các định chế chính thức và phi chính thức, phân theo cơ

cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra ở 6 xã Nam bộ năm 2012 142 Bảng 32 Ứng xử để dành và chi tiêu của chủ hộ nếu có món tiền tương đối lớn,

phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra ở sáu xã Nam bộ

2012 150 Bảng 33 Ứng xử đầu tư và kinh doanh của chủ hộ nếu có món tiền tương đối lớn,

phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra ở sáu xã Nam bộ

2012 152 Bảng 34 Mối quan hệ giữa vốn liếng với ý định tiếp tục làm nghề nông hoặc rời bỏ

nghề nông, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 156 Bảng 35 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trên cả nước, phân theo thành

thị và nông thôn, 2005-2011 158 Bảng 36 Mối quan hệ giữa tâm trạng yên tâm hay lo âu về đời sống kinh tế của gia

đình với sự đánh giá về tình hình sản xuất làm ăn của gia đình trong năm vừa qua, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 160 Bảng 37 Mức đầu tư chi phí, ngày công lao động, mức năng suất lúa, và tỷ lệ sử

dụng tiền mặt trong ngân sách thu và chi của các hộ gia đình trong năm

1977, điều tra ở xã Tây Yên (huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang), phân theo

cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội 163 Bảng 38 Số dòng họ trong các ấp điều tra ở Nam bộ tháng 5-2012 179 Bảng 39 Nơi sinh của những phụ nữ lấy chồng Đào Xá qua các thời kỳ 181 Bảng 40 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Làm ăn với người đồng hương thuận lợi hơn là

với người khác” (m28), phân theo các nhóm mô hình văn hóa 184 Bảng 41 Cơ cấu nhân khẩu trong hộ gia đình nông thôn và đặc trưng của chủ hộ ở

nông thôn, 1971-2012 186 Bảng 42 Các hộ gia đình ở nông thôn Nam bộ, phân theo số thế hệ trong hộ 187 Bảng 43 Loại hình hộ gia đình ở Nam bộ, điều tra tại sáu xã Nam bộ, 2012 188 Bảng 44 Người quyết định về một số công việc trong gia đình, điều tra tại sáu xã

Nam bộ, 2012 189

Trang 8

Bảng 45 Kết quả trả lời ba câu hỏi-mệnh đề m46 (Hầu hết những quyết định lớn

trong gia đình nên để đàn ông quyết định), m35 (Người vợ lúc nào cũng phải phục tùng người chồng) và m50 (Nếu vợ không biết nghe lời chồng

thì không nên trách chồng đánh vợ), phân theo giới tính 191

Bảng 46 Số con trong gia đình, phân theo tuổi tác của chủ hộ 193

Bảng 47 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Nhà phải có con trai để nối dõi tông đường” (m26), phân theo các nhóm mô hình văn hóa 194

Bảng 48 Các nhóm mô hình văn hóa, phân theo nghề nghiệp 195

Bảng 49 Mong muốn về nghề nghiệp của con cái, phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 197

Bảng 50 Số đơn vị doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ trong ngành nông lâm nghiệp và thủy sản ở Nam bộ năm 2011 220

Bảng 51 Những chỉ tiêu định hướng của nhà nước đối với vùng châu thổ sông Cửu Long vào các năm 2015, 2020 và 2050 255

Danh mục các biểu đồ Trang Biểu đồ 1 Dân số Nam bộ so với dân số cả nước trong tiến trình lịch sử 47

Biểu đồ 2 Tháp tuổi dân cư miền Đông Nam bộ, 2009 51

Biểu đồ 3 Tháp tuổi dân cư miền Tây Nam bộ, 2009 51

Biểu đồ 4 Cơ cấu lao động phân theo ngành nghề ở nông thôn Nam bộ 2011 56

Biểu đồ 5 Cơ cấu tổng sản phẩm nội địa ở Nam bộ, 2000 và 2007 59

Biểu đồ 6 Cơ cấu các hộ gia đình nông thôn Nam bộ phân theo nguồn sinh kế, 1978 và 2012 60

Biểu đồ 7 Cơ cấu ngành nghề của các hộ ở nông thôn Nam bộ, 2006 và 2011 61

Biểu đồ 8 Động thái chuyển dịch của cơ cấu lao động phân theo ngành nghề ở nông thôn Nam bộ, 2001, 2006 và 2011 63

Biểu đồ 9 Hộ có đất nông nghiệp phân theo quy mô diện tích, Nam bộ so sánh với cả nước, năm 2011 68

Biểu đồ 10 Hộ có đất nông nghiệp phân theo quy mô diện tích, so sánh Tây Nam bộ năm 1966, 2008 và Nhật Bản năm 2010 68

Biểu đồ 11 Các nhóm mô hình văn hóa xét theo trục nhân tố 1 (óc gia trưởng) và trục nhân tố 2 (óc trọng nam khinh nữ) 93

Biểu đồ 12 Các nhóm quan niệm văn hóa xét theo trục nhân tố 1 (óc gia trưởng) và trục nhân tố 3 (tâm lý coi trọng quan hệ dòng họ) 93

Biểu đồ 13 Nguồn gốc ruộng đất, điều tra tại sáu xã Nam bộ năm 2012 99

Biểu đồ 14 Số hộ mua đất, số thửa và diện tích đất mua lại, phân theo thời điểm mua lại, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 101

Biểu đồ 15 Thái độ đối với chính sách hạn điền và thời hạn sử dụng đất, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 110

Biểu đồ 16 Nguồn cung ứng lúa giống, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 127

Trang 9

Biểu đồ 17 Nơi bán lúa, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 129 Biểu đồ 18 Số hộ có vay mượn trong năm 2011, phân theo nguồn sinh kế của hộ gia

đình, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 136 Biểu đồ 19 Tổng số tiền vay của các hộ trong năm 2011, phân theo nguồn sinh kế

chính của hộ gia đình, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 136 Biểu đồ 20 Số hộ có lập kế hoạch cho việc sản xuất cả năm, phân theo cơ cấu các

tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 143 Biểu đồ 21 Số hộ có ghi chép các khoản chi và thu của gia đình lúc sản xuất làm

ăn, phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 144 Biểu đồ 22 Mức độ theo dõi thông tin thị trường và giá cả nông sản, phân theo cơ

cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 148 Biểu đồ 23 Những nguồn thông tin của hộ gia đình về kỹ thuật sản xuất mới hay

cách thức làm ăn mới, điều tra tại sáu xã Nam bộ năm 2012 148 Biểu đồ 24 Cơ cấu các hộ gia đình phân theo quy mô nhân khẩu trong hộ, 2009 185

Danh mục các bảng thống kê trong Phụ lục D

Trang

Bảng PL1 Cơ cấu tổng sản phẩm nội địa ở Nam bộ, 2000-2007 284 Bảng PL2 Số hộ ở địa bàn nông thôn trên cả nước, phân theo ngành nghề, 2001-

2011 284 Bảng PL3 Cơ cấu ngành nghề của các hộ nông thôn Nam bộ, 2006-2011 284 Bảng PL4 Tình hình phân bố các hộ ở nông thôn Nam bộ theo quy mô diện tích

ruộng đất sở hữu của hộ vào các năm 1931, 2008, 2010 và 2012 285 Bảng PL5 Diện tích ruộng đất sở hữu và ruộng đất canh tác, điều tra ở 6 xã Nam

bộ năm 2012 286 Bảng PL6 Diện tích ruộng đất sở hữu và ruộng đất canh tác của các hộ điều tra ở 6

xã Nam bộ năm 2012, phân theo 5 nhóm thu nhập 286 Bảng PL7 Diện tích ruộng đất sở hữu và ruộng đất canh tác bình quân mỗi hộ, điều

tra ở 6 xã Nam bộ năm 2012, phân theo 5 nhóm thu nhập 287 Bảng PL8 Diện tích ruộng đất sở hữu và ruộng đất canh tác của các hộ điều tra ở 6

xã Nam bộ, 2012, phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội 287 Bảng PL9 Nguồn gốc ruộng đất, điều tra tại sáu xã Nam bộ năm 2012 288 Bảng PL10 Số hộ mua đất, số thửa và diện tích đất mua lại, phân theo thời điểm

mua lại, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 288 Bảng PL11 Tình trạng biến động đất nông nghiệp của hộ gia đình trong vòng 5 năm

qua, phân theo 5 nhóm thu nhập 289 Bảng PL12 Các nguồn thu nhập cả năm 2011 tính bình quân mỗi hộ, phân theo 5

nhóm thu nhập, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 289 Bảng PL13 Các nguồn thu nhập cả năm 2011 tính bình quân mỗi hộ trong mẫu điều

tra ở 6 xã Nam bộ, phân theo ngành nghề chính của hộ gia đình 290

Trang 10

Bảng PL14 Cơ cấu các nguồn thu nhập cả năm 2011 tính bình quân mỗi hộ, phân

theo địa bàn điều tra 290

Bảng PL15 Nhân khẩu và ruộng đất của các tầng lớp kinh tế-xã hội ở nông thôn Nam bộ, điều tra năm 2012 291

Bảng PL16 Các nguồn thu nhập bình quân một tháng của một nhân khẩu trong năm 2011 của các tầng lớp kinh tế-xã hội ở nông thôn Nam bộ, điều tra năm 2012 291

Bảng PL17 Cơ cấu thu nhập bình quân một tháng của một nhân khẩu trong năm 2011 của các tầng lớp kinh tế-xã hội ở nông thôn miền Tây Nam bộ, điều tra năm 2012 292

Bảng PL18 Các nhóm mô hình văn hóa, phân theo giới tính 292

Bảng PL19 Các nhóm mô hình văn hóa, phân theo tuổi tác 293

Bảng PL20 Các nhóm mô hình văn hóa, phân theo học vấn 293

Bảng PL21 Các nhóm mô hình văn hóa, phân theo 5 nhóm thu nhập 293

Bảng PL22 Các nhóm mô hình văn hóa, phân theo nghề nghiệp 294

Bảng PL23 Các nhóm mô hình văn hóa, phân theo tôn giáo 294

Bảng PL24 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Dù khó khăn đến đâu, gia đình tôi cũng phải giữ lấy ruộng đất” (m18), phân theo các nhóm mô hình văn hóa 295

Bảng PL25 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Không nên bán ruộng đất trong làng xã cho người ngoài” (m7), phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội 295

Bảng PL26 Các nguồn vốn sử dụng để hoạt động sản xuất, làm ăn, phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra ở 6 xã Nam bộ năm 2012 296

Bảng PL27 Số ngày công làm trên diện tích đất canh tác của hộ gia đình năm 2011 296

Bảng PL28 Tổng số ngày công làm nông nghiệp của hộ gia đình năm 2011 297

Bảng PL29 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Nếu có điều kiện, tôi sẵn sàng bỏ nghề nông để chuyển sang nghề khác”, phân theo tuổi tác, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 297

Bảng PL30 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Nếu có điều kiện, tôi sẵn sàng bỏ nghề nông để chuyển sang nghề khác”, phân theo 5 nhóm thu nhập, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 297

Bảng PL31 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Nếu có điều kiện, tôi sẵn sàng bỏ nghề nông để chuyển sang nghề khác”, phân theo cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 298

Bảng PL32 Nơi làm của tổng số lao động (đang làm việc), phân theo nhóm tuổi, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 298

Bảng PL33 Nơi làm của tổng số lao động (đang làm việc), phân theo nghề nghiệp, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 299

Bảng PL34 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Nếu có điều kiện, tôi sẵn sàng dời lên đô thị để sinh sống” (m51), phân theo tuổi tác 299

Bảng PL35 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Nếu có điều kiện, tôi sẵn sàng dời lên đô thị để sinh sống” (m51), phân theo 5 nhóm thu nhập 299

Bảng PL36 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Nếu có điều kiện, tôi sẵn sàng dời lên đô thị để sinh sống” (m51), phân theo nghề nghiệp 300

Trang 11

Bảng PL37 Những dự tính gì sẽ làm trong năm nay và năm tới, phân theo cơ cấu

các tầng lớp kinh tế-xã hội, điều tra tại 6 xã Nam bộ năm 2012 300 Bảng PL38 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Hầu hết những quyết định lớn trong gia đình

nên để đàn ông quyết định” (m46), phân theo các nhóm mô hình văn hóa

301

Bảng PL39 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Người vợ lúc nào cũng phải phục tùng người

chồng” (m35), phân theo các nhóm mô hình văn hóa 302 Bảng PL40 Kết quả câu hỏi-mệnh đề “Nếu vợ không biết nghe lời chồng thì không

nên trách chồng đánh vợ” (m50), phân theo các nhóm mô hình văn hóa

(rotated) (kết quả của kỹ thuật phân tích nhân tố) 305 Bảng NT4 Quá trình liên kết giữa các nhóm (kết quả của kỹ thuật phân tích phân

loại theo trật tự thứ bậc, hierarchical cluster analysis) 305 Bảng NT5 Các trị số điểm trung tâm của từng nhóm (kết quả của kỹ thuật phân tích

phân loại, cluster analysis) 306 Bảng NT6 Số trường hợp trong mỗi nhóm (kết quả phân tích phân loại) 306

Trang 13

Mở đầu

Giai đoạn 2011-2020 có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước, vì đây là giai đoạn tiến đến cột mốc năm 2020 mà Việt Nam mong muốn trở thành một nước công nghiệp về cơ bản Trong định hướng chiến lược này, Nam bộ có một vai trò quan trọng vì đây là một vùng kinh tế lớn trong cả nước

Xét về mặt địa lý, Nam bộ bao gồm miền Đông Nam bộ và miền Tây Nam

bộ, với tổng diện tích tự nhiên là 64.146 km2 (chiếm 19% diện tích cả nước), tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 3,97 triệu héc-ta (39% diện tích sản xuất nông nghiệp của cả nước), và tổng dân số vào năm 2011 là 32,2 triệu người (37% dân số cả nước).1

Xét về mặt quy hoạch kinh tế, Nam bộ là địa bàn có hai vùng kinh tế trọng

điểm : (a) vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (bao gồm toàn bộ các tỉnh thành

miền Đông Nam bộ và hai tỉnh miền Tây Nam bộ là Long An và Tiền Giang); và

(b) vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm các tỉnh

thành Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau)

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam được xác định về mặt cơ cấu kinh tế

với đặc trưng “công nghiệp phải là lĩnh vực trọng yếu”,2 với nhiệm vụ là “vùng

kinh tế động lực của cả nước”, “đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước (…), đi đầu trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế”.3

Còn vùng châu thổ sông Cửu Long (tức miền Tây Nam bộ) thì được xác

định là “vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thủy sản, hoa quả của cả nước,

góp phần quan trọng vào an ninh lương thực quốc gia, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông, thủy sản của cả nước”.4

3

Xem Quyết định số 146/2004/QĐ-TTg ngày 13-8-2004 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

Vào năm 1998, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam mới chỉ bao gồm các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu và TP.HCM Đến năm 2003, bao gồm thêm ba tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Long An, và đến năm 2009, thêm tỉnh Tiền Giang

4

Xem Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 19-7-2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm

2020

Trang 14

Vào năm 2012, châu thổ sông Cửu Long sản xuất 24,3 triệu tấn lúa, chiếm

tỷ lệ 56% trong tổng sản lượng 43,6 triệu tấn lúa của cả nước.5 Vùng châu thổ này làm ra 90% sản lượng gạo xuất khẩu và hơn 94% kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước, 70% sản lượng cây ăn trái, 72% sản lượng thủy sản (chủ yếu là tôm

và cá tra) và 75% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước.6

Xét một cách tổng thể, Nam bộ cũng mang cùng những tính chất kinh

tế-xã hội và văn hóa-tế-xã hội chung cơ bản của cả nước Nhưng dù vậy, Nam bộ vẫn

có những nét đặc trưng độc đáo bắt nguồn từ tiến trình hình thành và phát triển đặc thù của vùng đất hơn 300 năm tuổi này qua các thời kỳ lịch sử thăng trầm của mình

Câu hỏi đặt ra ở đây là làm thế nào để sự phát triển của vùng Nam bộ trong giai đoạn 2011-2020 có thể thực sự mang tính chất bền vững trong tiến trình tiến tới mục tiêu chiến lược công nghiệp hóa nêu trên ?

Để góp phần trả lời cho câu hỏi trên, đề tài nghiên cứu này sẽ cố gắng đi tìm và nhận diện ra một số đặc trưng về mặt định chế xã hội và con người ở Nam

bộ Xét về mặt xã hội học, các định chế xã hội là những nhân tố ảnh hưởng mang tính quyết định tới lề lối suy nghĩ và ứng xử của con người, nhưng đồng thời, con người không phải là những tác nhân thụ động, mà cũng chính là chủ thể của các tiến trình xã hội và có khả năng góp phần vào quá trình chuyển biến của các định chế xã hội Do vậy, nghiên cứu về các đặc trưng của các định chế xã hội và con người ở Nam bộ xét về mặt nội hàm cũng chính là nghiên cứu về những nền tảng kinh tế-xã hội của quá trình phát triển của vùng đất này

Đề tài này được thực hiện trong khuôn khổ của Chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ mang tên là “Nghiên cứu Nam bộ năm 2011-2012” do Viện Phát triển Bền vững vùng Nam bộ chủ trì (Chủ nhiệm chương trình : GS.TS Bùi Thế Cường), với nhiệm vụ là góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu chung của

5

Xem “Tình hình năm 2012 và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2013”, báo cáo số 81/BC-BKHĐT ngày 3-1-2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tr 2 Vào năm 2011, toàn vùng Nam bộ sản xuất hơn 24,5 triệu tấn lúa (trong đó châu thổ sông Cửu Long sản xuất 23,2 triệu tấn), chiếm tỷ lệ 58% trong tổng sản lượng 42,3 triệu tấn lúa của cả nước (xem “Cơ sở dữ liệu nông nghiệp, nông thôn các tỉnh”, Vụ Kế hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, http://dlnn.csdldd.com , truy cập ngày 23-12-2012)

Trang 15

Chương trình, đó là : “Dựa trên kết quả của hai chương trình nghiên cứu cấp bộ7

và các nghiên cứu khác của Viện thời kỳ 2006-2010, tiếp tục mở rộng và đào sâu thêm những luận cứ khoa học xã hội cho công tác quản lý phát triển, phân tích một số vấn đề cơ bản trong sự phát triển hiện nay của vùng Nam bộ, góp phần vào việc phát triển bền vững vùng Nam bộ giai đoạn 2011-2020”.8

7

Đó là Chương trình nghiên cứu “Những vấn đề cơ bản trong sự phát triển bền vững vùng

Tây Nam bộ” do GS.TS Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm chương trình, tiến hành trong hai

năm 2007-2008, với mẫu điều tra thực địa là 900 hộ gia đình, được chọn mẫu theo phương pháp phân tầng và ngẫu nhiên thống kê trên quy mô toàn bộ các tỉnh Tây Nam bộ (cuộc điều tra thực địa được thực hiện vào tháng 7-2008) (kể từ đây, sẽ gọi tắt là Chương

trình điều tra cơ bản miền Tây Nam bộ năm 2008) Và Chương trình nghiên cứu “Những

vấn đề cơ bản trong sự phát triển bền vững vùng Nam bộ giai đoạn 2011-2020” do

GS.TS Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm chương trình, tiến hành trong hai năm 2009-2010, với mẫu điều tra thực địa là 1.080 hộ gia đình, được chọn mẫu theo phương pháp phân tầng và ngẫu nhiên thống kê trên quy mô toàn bộ các tỉnh Đông Nam bộ, trừ TP.HCM (cuộc điều tra thực địa được thực hiện vào tháng 4-2010) (kể từ đây, sẽ gọi tắt là Chương trình điều tra cơ bản miền Đông Nam bộ năm 2010) (xem thêm Trần Đan Tâm, “Chọn mẫu cho ba cuộc khảo sát 'Cơ cấu xã hội, văn hoá và phúc lợi xã hội' tại vùng Nam Bộ”,

Tạp chí Khoa học xã hội, số 7 (143), 2010, tr 83-91)

8

Trích từ bản Thuyết minh chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ “Nghiên cứu Nam bộ năm 2011-2012” (mã số : CT11-22) của Viện Phát triển Bền vững vùng Nam bộ do GS.TS Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm chương trình, tháng 12-2010

Trang 16

Chương 1

Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận

Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bầy về mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, phạm vi và giới hạn của đề tài, tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài, những khái niệm chính, những giả thuyết và những cách tiếp cận chính của đề tài, cũng như trình bầy phương pháp điều tra và các đặc điểm của địa bàn điều tra và mẫu điều tra

A Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Mục tiêu và nhiệm vụ

Mục tiêu của đề tài này, khi đi vào khảo sát một số đặc trưng chủ yếu nơi một số định chế xã hội và con người ở Nam bộ, là nhằm xác định được những đặc trưng nào mang tính chất bất lợi, không phù hợp, và nhận diện ra những đặc trưng nào mang tính chất phù hợp, thuận lợi và cần thiết đối với tiến trình phát triển bền vững của vùng đất này trong giai đoạn 2011-2020

Với cách tiếp cận chủ yếu dưới góc độ xã hội học, đề tài này cũng mong muốn qua đó làm sáng tỏ một số cơ sở lý thuyết và thực tiễn nhằm góp phần vào việc hình thành những định hướng phát triển kinh tế-xã hội mang tính chất bền vững của vùng Nam bộ trong thời kỳ mười năm tới, vốn là chặng đường tiến tới yêu cầu công nghiệp hóa về cơ bản trên phạm vi cả nước

Việc nhận diện ra những đặc trưng về định chế xã hội và con người phù hợp và không phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững trong những năm sắp tới

lẽ tất nhiên chỉ có thể được thực hiện bằng cách xuất phát từ việc khảo sát và phân tích những đặc trưng đã và đang tồn tại nơi một số định chế xã hội và con người ở vùng Nam bộ trong thời gian gần đây và hiện nay

Trong khuôn khổ đề tài này, nhiệm vụ trên sẽ được triển khai thông qua việc nghiên cứu trên hai cấp độ : cấp độ định chế xã hội, và cấp độ chủ thể con người

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các đặc điểm của một số định chế

xã hội và của con người trên vùng đất Nam bộ, chủ yếu nhìn dưới góc độ kinh

tế-xã hội, hay nói cách khác, có liên quan chủ yếu tới đời sống kinh tế và chú tâm

vào chiều kích xã hội và con người của các hoạt động kinh tế

Trang 17

Định chế xã hội và con người chỉ có thể được khảo sát và nghiên cứu thông qua thực tiễn vận hành và hoạt động Vì thế, trong đề tài này, các đặc điểm của con người ở Nam bộ sẽ được nhìn nhận và phân tích chủ yếu thông qua các thái độ và ứng xử của họ trong sinh hoạt kinh tế Và các đặc điểm của các định chế xã hội cũng sẽ được khảo sát trong mối quan hệ với người dân

Những nội dung này sẽ được xem xét trong thời điểm hiện tại, trong chừng mực nào đó có đối chiếu với quá khứ lịch sử cũng như quy chiếu về những yêu cầu của tiến trình phát triển bền vững của vùng Nam bộ trong giai đoạn 2011-2020

Xu hướng, tính chất và tốc độ của tiến trình phát triển kinh tế-xã hội trên bình diện vĩ mô suy cho cùng chính là kết quả của các hiệu ứng tích hợp từ những chiến lược ứng xử của từng con người cá nhân Nhưng đồng thời, những ứng xử và hành động cá nhân này không hề nằm ngoài sự chi phối và tác động của các định chế xã hội, mặc dù tự bản thân hành động cá nhân vẫn có những tính chất và động năng đặc thù cần được chú ý nhấn mạnh Mối quan hệ biện chứng giữa con người với các định chế xã hội, cũng như vai trò chủ động của con người và vai trò ảnh hưởng của các định chế xã hội, đấy là những điều cần được làm sáng tỏ khi nghiên cứu về bất cứ quá trình phát triển nào Chính vì thế mà nội dung đề tài này bao gồm hai vế chính cần được quan tâm, đó là định chế và con người

Về các định chế xã hội, đề tài sẽ giới hạn vào các đặc điểm kinh tế-xã hội của một số định chế chính sau đây : (a) làng xã, (b) gia đình, (c) chính quyền cơ

sở và các chính sách kinh tế-xã hội của nhà nước, và (d) doanh nghiệp

Định chế là sản phẩm của con người, và con người luôn luôn sống trong

khuôn khổ của các định chế Công trình này không nghiên cứu trực tiếp về bản thân các định chế xã hội vừa nêu, mà chủ yếu nghiên cứu về các định chế ấy thông qua lăng kính nhìn nhận của con người và các mối quan hệ của họ với các định chế

Liên quan tới con người ở Nam bộ, một câu hỏi có thể được đặt ra là liệu thực sự có “con người Nam bộ” hay không ? Quả vậy, Phan An từng nhận xét

rằng “người Việt Nam bộ là một khái niệm rộng và không rõ ràng”, vì người

Việt di dân vào đây qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, kể từ thế kỷ XVII cho đến tận thời kỳ từ sau năm 1975 tới nay.9 Do mới hình thành trên dưới bốn thế kỷ nên suy cho cùng cũng khó mà nói người nào là người “gốc” Nam bộ

9

Xem Phan An, Người Việt Nam bộ, Hà Nội, Nxb Từ điển Bách khoa, 2012, tr 35

Trang 18

Do vậy, chúng tôi không quan niệm là có một nhân vật gọi là “con người Nam bộ” hiểu theo nghĩa thuần chủng hoặc trừu tượng mà chúng ta có thể

quan sát và tìm hiểu Vì vậy, khách thể của đề tài là con người ở Nam bộ, tức là cộng đồng những người sinh sống trong xã hội Nam bộ, xét dưới những chiều

kích hiện thực đa dạng của cuộc sống của các tầng lớp kinh tế-xã hội khác nhau Khách thể trong đề tài này được giới hạn vào người Việt (người Kinh) mà thôi

Về các đặc điểm kinh tế-xã hội của con người ở Nam bộ, đề tài sẽ giới hạn vào những khía cạnh sau đây : những đặc trưng nhân khẩu học ; đời sống kinh tế của các hộ gia đình ; mức độ di động nghề nghiệp ; kết cấu các tầng lớp kinh tế-

xã hội ; và phần quan trọng nhất là các quan niệm, thái độ và ứng xử trong sinh hoạt kinh tế

Chúng tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu hai đối tượng chính vừa nêu cũng phần nào trùng khớp với ý tưởng của Tô Duy Hợp khi tác giả này cho rằng việc nghiên cứu về cơ cấu xã hội nông thôn hay hệ thống xã hội nông thôn chính là

nghiên cứu về các “thiết chế xã hội” (như xóm làng, các thiết chế chính trị, kinh

tế, giáo dục, tôn giáo, gia đình), và đồng thời về các “nhân vật xã hội” trong

nông thôn (như nông dân, thợ thủ công, người buôn bán ).10

Trong phần kết quả nghiên cứu, chúng tôi sẽ trình bầy theo lô-gic đi từ con người tới định chế xã hội, tức là sẽ trình bầy trước hết những đặc trưng của dân cư, lao động, cơ cấu xã hội và mô hình văn hóa (chương 2), những đặc trưng trong thái độ và ứng xử kinh tế-xã hội của con người ở Nam bộ (chương 3), sau

đó mới đề cập tới những đặc trưng của một số định chế xã hội ở Nam bộ (chương 4)

3 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài

Mặc dù địa bàn Nam bộ bao hàm cả thành phố Sài Gòn-Hồ Chí Minh, nhưng trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi không trực tiếp đưa thành phố này vào diện khảo sát, vì đây là một đô thị mang tính chất của một đại thủ phủ với những đặc trưng độc đáo cần được tiếp cận bởi những công trình nghiên cứu riêng biệt Tuy vậy, mối quan hệ giữa cư dân Nam bộ với thành phố này vẫn là một điểm sẽ được chú ý xem xét

Ngoại trừ TP.HCM, hầu hết các tỉnh ở Nam bộ cho đến nay đều bao gồm phần lớn là địa bàn nông thôn Ở miền Tây Nam bộ, cư dân nông thôn chiếm tỷ

lệ lên tới 75,7% trong tổng dân số, còn ở miền Đông Nam bộ (không kể

10

Tô Duy Hợp, “Thực trạng và xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội nông thôn trong thời kỳ đổi

mới hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, số 4 (44), 1993, tr 18-19

Trang 19

TP.HCM) thì tỷ lệ này cũng lên tới 61,8% (số liệu năm 2011).11 Như vậy, cư dân nông thôn hiện vẫn chiếm đa số trên toàn vùng đất Nam bộ

Nói đến Nam bộ, người ta thường liên tưởng tới vùng đất này trước hết

như là một vùng nông thôn đặc trưng của cả nước Còn khi nói đến con người Nam bộ, thì có thể nói nhân vật tiêu biểu của vùng đất này chính là người nông

dân Nam bộ

Chính vì những lý do vừa nêu nên trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về những đặc trưng kinh tế-xã hội của một số định chế xã

hội và của con người chủ yếu trên địa bàn nông thôn Nam bộ, chứ không trực

tiếp nghiên cứu và khảo sát ở khu vực thành thị của Nam bộ Mặt khác, chúng tôi

cũng chú tâm hơn vào việc tìm hiểu con người nông dân và nông hộ ở Nam bộ

Nhằm khắc phục những hạn chế do phạm vi khảo sát của đề tài này như vừa nêu, chúng tôi đã sử dụng thêm các cơ sở dữ liệu của hai cuộc điều tra cơ bản của Viện Phát triển Bền vững vùng Nam bộ trên quy mô toàn vùng (bao gồm

cả địa bàn nông thôn lẫn địa bàn đô thị), tiến hành ở miền Tây Nam bộ vào năm

2008 và ở miền Đông Nam bộ vào năm 2010.12 Những dữ liệu này được sử dụng một mặt để kiểm chứng một số số liệu kết quả điều tra của chúng tôi, và mặt khác, để bổ túc cho bức tranh toàn cảnh về cư dân Nam bộ (bao gồm cả cư dân nông thôn và cư dân thành thị)

Về mặt thời gian, đề tài này tập trung vào việc khảo sát đối tượng nghiên cứu nêu trên trong thời điểm hiện nay, nhưng khi cần thiết thì có thể đối chiếu

11

Những con số tỷ lệ này là do chúng tôi tính toán dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê,

Niên giám thống kê năm 2011, Hà Nội, Nxb, Thống kê, 2012, Bảng 21, tr 71, Bảng 22,

tr 73

12

Xin xem lại chú thích số 7

Trang 20

với những số liệu ở những thời điểm trước của các công trình khác, và xét trong tầm nhìn định hướng từ nay đến năm 2020

Do quy mô hạn hẹp của cuộc khảo sát và của mẫu điều tra, nên giới hạn của đề tài này là ở chỗ các kết quả nghiên cứu sẽ không thể suy rộng ra toàn vùng Nam bộ Vả lại, cuộc khảo sát cũng không bao quát được hết tất cả các vùng đặc thù như vùng trồng cây ăn trái, vùng trồng cây công nghiệp, vùng ven biển hay hải đảo, vùng biên giới Tây Nam, vùng ven đô và vùng đô thị, hay những vùng

có đông đồng bào dân tộc thiểu số như Chăm, Khmer, v.v Chính vì vậy, các ý tưởng phân tích và nhận định trong công trình này sẽ chủ yếu chỉ nhằm nêu lên vấn đề và mang tính chất giả thuyết, chứ chưa thể được coi là những kết luận mang tính khẳng định và khái quát

B Tổng quan tình hình nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu có liên quan tới những đặc trưng kinh tế-xã hội của các định chế xã hội và của con người ở Nam Bộ trong những thập niên qua tuy chưa nhiều lắm nhưng cũng đã có một số công trình của các tác giả quốc

tế và trong nước đáng chú ý về những khía cạnh khác nhau Sau đây, chúng tôi sẽ điểm lại trước hết là (a) một số công trình mang tính chất khái quát về các đặc trưng kinh tế-xã hội của Nam bộ, sau đó là (b) một số công trình trực tiếp liên quan tới thái độ và ứng xử của con người ở Nam bộ, và (c) một số công trình khác có liên quan tới đề tài

1 Một số công trình khái quát về đặc trưng kinh tế-xã hội của Nam bộ

Trong một công trình chuyên khảo dân tộc học và xã hội học về xã Khánh Hậu (thuộc tỉnh Long An) xuất bản năm 1964, Gerald Hickey đã trình bầy về lịch

sử và địa lý của vùng đất, các định chế tôn giáo và gia đình, thân tộc trong xã, đời sống kinh tế, bộ máy hành chính, và các đặc trưng kinh tế-xã hội của xã này.13 Theo lời nhận xét của Paul Mus (trong Lời mở đầu của cuốn sách này), bên cạnh một số công trình viết về làng xã Việt Nam chẳng hạn như cuốn sách của P Ory hay của P Kresser14 thì công trình của Hickey đem lại những thông tin mang sắc thái địa phương phong phú hơn nhiều Nằm cách Sài Gòn khoảng

60 km, Khánh Hậu là một xã nông nghiệp đang trên đà hiện đại hóa, mặc dù lúc

ấy vẫn còn những phương thức canh tác cổ truyền Trong cuốn sách này, Hickey cũng đã có công mô tả lại một cách khá chi tiết một số phong tục và tập quán của

Xem P Ory, La commune annamite au Tonkin, Paris, Ed Augustin Challamel, 1894., và

P Kresser, La commune annamite en Cochinchine, Paris, Ed Domat-Montchrestien,

1935

Trang 21

người dân nông thôn Nam bộ, chẳng hạn như vào những dịp ma chay, tang lễ, hay trong những trường hợp sinh nở của phụ nữ

Trong một công trình xuất bản năm 1970, thông qua những cuộc khảo sát

và phỏng vấn nông dân, địa chủ, nông dân làm mướn ở hai xã Long Bình Điền

và Thân Cửu Nghĩa (thuộc tỉnh Định Tường, nay là Tiền Giang) vào nửa cuối thập niên 1960, Robert Sansom đã phân tích những chủ đề kinh tế như chế độ sở hữu ruộng đất, năng suất nông nghiệp, vốn và lao động, cách sử dụng phân bón, quá trình áp dụng những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp để bàn luận về những vấn đề lý thuyết của bộ môn kinh tế học phát triển như tình trạng thất nghiệp trá hình ở nông thôn, các quyết định đầu tư trong sản xuất nông nghiệp 15 Đồng thời tác giả cũng đi đến những nhận định tổng quát về những hàm ý xã hội và chính trị của bối cảnh nông thôn vùng đất này Sansom cho rằng chính những nỗ lực cải cách ruộng đất và giảm tô tức của lực lượng Việt Minh trước kia và lực lượng Việt Cộng lúc ấy đã đem lại những lợi ích thiết thực cho nông dân, và nhờ đó thu phục được nông dân tham gia kháng chiến, trong khi chính quyền Sài Gòn và chính quyền Hoa Kỳ thời đó lại không làm được điều này Điểm đáng chú ý trong công trình này là tác giả đã đi sâu vào việc khảo sát các ứng xử và thái độ của người nông dân và nông hộ vùng đất này trong các hoạt động kinh tế (như đầu tư, mua máy bơm nước, cách rải phân bón ) để chứng minh cho tính chất duy lý và lô-gic suy nghĩ của nông dân

Terry Rambo, trong một tập luận văn vào năm 1973,16 đã tiến hành đối chiếu các đặc trưng của làng xã ở miền bắc và miền nam Việt Nam xét trên các bình diện sinh thái, dân số, cộng đồng, sinh hoạt văn hóa để đi đến nhận định cho rằng làng xã ở miền Tây Nam bộ, đặc biệt ở phía tây sông Hậu Giang, mang

tính chất “cộng đồng mở” (open community), khác hẳn với tính chất “cộng đồng

nông dân phường hội” mang tính chất đóng kín (corporate peasant community)

(theo nghĩa của Eric Wolf17) Luận điểm của Rambo là cho rằng sự hình thành và phát triển của loại hình làng xã ở vùng đất này không phải là kết quả của một quá

trình “kế tục” từ hình thái làng xã cổ truyền ở miền bắc (successional model), mà

đã thay đổi mô hình cổ truyền theo hướng thích nghi văn hóa (cultural

adaptation) và thực chất đây là kết quả của một quá trình tiến hóa (evolution)

15

Xem Robert Sansom, The Economics of Insurgency in the Mekong Delta of Vietnam,

Cambridge, The MIT Press, 1970

16

Xem A Terry Rambo, A Comparison of Peasant Social Systems of Northern and

Southern Vietnam: A Study of Ecological Adaptation, Social Succession, and Cultural Evolution, mimeo, Center for Vietnamese Studies, Southern Illinois University at

Carbondale, Monograph series III, 1973

17

Xem Eric R Wolf, “Types of Latin American Peasantry: A Preliminary Discussion”,

American Anthropologist, Vol 57, No 3 (June 1955), pp 452-471

Trang 22

Trong một công trình nổi tiếng mang tên là Nền kinh tế đạo lý của người

nông dân nghiên cứu về nông thôn Myanmar và Việt Nam xuất bản năm 1976,

James Scott cho rằng vấn đề cốt lõi của hộ gia đình nông dân là vấn đề sinh tồn

(subsistence).18 Do tình trạng bấp bênh của sinh kế nông hộ cũng như sự bất trắc của thời tiết nên người nông dân đâm ra lúc nào cũng tìm cách tránh né rủi ro, tránh nguy cơ thất bát mùa màng Chính nỗi lo âu thiếu ăn, hay nói rộng ra là óc

“đạo đức sinh tồn” (subsistence ethic), chính là nhân tố giải thích những đặc

trưng của xã hội nông dân như e ngại áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tâm lý gắn bó với đất đai bằng bất cứ giá nào, cũng như những đặc trưng của những mối quan hệ

với người khác và với các định chế xã hội Trong khuôn khổ của nền “kinh tế đạo

lý” này (moral economy), đời sống của người nông dân và nông hộ buộc phải gắn

liền mật thiết với cộng đồng làng xã và các định chế của cộng đồng này nhằm bảo đảm được an sinh và mức thu nhập an toàn tối thiểu Scott đã điểm lại lịch sử

xã hội nông nghiệp ở Myanmar và Việt Nam để chứng minh rằng các chế độ

thực dân vì đã phá vỡ những khuôn khổ của nền “kinh tế đạo lý” nên đã tạo ra

mảnh đất màu mỡ cho việc phát sinh các phong trào phản kháng của nông dân ở Myanmar chống chế độ thực dân Anh trong thế kỷ XX, và phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh chống địa chủ và chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam vào năm

1930

Một công trình nổi tiếng khác là của tác giả Samuel Popkin, mang tên là

Người nông dân duy lý, xuất bản năm 1979.19 Dựa trên những phân tích về tình hình kinh tế và xã hội cũng như những phong trào phản kháng của nông dân chống chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam kể từ thập niên 1940, Popkin đưa

ra lý thuyết “kinh tế chính trị” về xã hội nông thôn nhằm phản bác lý thuyết

“kinh tế đạo lý” của James Scott trong công trình mà chúng tôi vừa nêu trên Nếu

lý thuyết kinh tế đạo lý cho rằng cộng đồng làng xã là người chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc bảo đảm đời sống và phúc lợi của cư dân của mình, thì lý thuyết kinh tế chính trị cho rằng người nông dân là người có lối suy nghĩ và lối ứng xử theo hướng duy lý, và đặc trưng sinh hoạt làng xã thực ra là kết quả của những sự tương tác giữa những nông dân biết mưu lợi Theo Popkin, sau những đợt chia cấp ruộng đất và giảm tô tức cho nông dân, sở dĩ lực lượng cộng sản ở Việt Nam đã thuyết phục được người nông dân ủng hộ và tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp, đó là do đáp ứng được đúng nhu cầu mưu lợi của họ, đem lại ruộng đất và lợi ích thiết thực cho họ Popkin chọn lựa cách tiếp cận kinh

18

Xem James C Scott, The Moral Economy of the Peasant Rebellion and Subsistence in

Southeast Asia, New Haven, Yale University Press, 1976

19

Xem Samuel L Popkin, The Rational Peasant The Political Economy of Rural Society in

Vietnam, Berkeley, University of California Press, 1979

Trang 23

tế để nghiên cứu về hoạt động cá nhân, với giả định rằng cá nhân là người có lý

tính (rationality) và có óc tư lợi (self-interest) Dựa vào những khái niệm như cách chọn lựa của cá nhân (individual choice) và cách đi đến quyết định (decision making), công trình của Popkin tập trung vào việc phân tích ứng xử đầu

tư, ứng xử sản xuất nói chung là các ứng xử kinh tế của người nông dân trong đời sống kinh tế nông nghiệp và trong sinh hoạt làng xã

Pierre Brocheux (1983) đã phê bình các lý thuyết của J Scott và S Popkin trong việc giải thích những sự chọn lựa của người nông dân Việt Nam, bằng cách quan tâm tới ba điểm sau : cộng đồng làng xã ; cá nhân và óc kinh doanh ; các phong trào nổi dậy của nông dân ở Việt Nam.20 Tác giả cho rằng J Scott và S Popkin đã khảo sát những địa bàn khác nhau, vào những thời kỳ khác nhau, và thực ra chỉ khái quát hóa từ những kinh nghiệm bản thân của chính họ trong thời gian họ ở Việt Nam Theo Brocheux, người nông dân Việt Nam sở dĩ gắn bó với

“nền kinh tế đạo lý” hay tham gia vào “nền kinh tế chính trị” là tùy thuộc vào

tình hình chung và tùy theo hoàn cảnh rủi ro của họ Do vậy, cả hai quan điểm giải thích của J Scott và S Popkin đều không nên được vận dụng một cách riêng

rẽ hoặc đối lập với nhau, mà cần được vận dụng chung với nhau để có thể đi đến một cái nhìn thích hợp hơn về những sự thay đổi của tầng lớp nông dân Việt Nam

Mai Huy Bích (2004) cũng đã điểm lại cuộc tranh luận lý thuyết giữa hai tác giả James Scott và Samuel Popkin về bản chất người nông dân Việt Nam khi

họ nghiên cứu về những phong trào đấu tranh và khởi nghĩa của nông dân trong thế kỷ XX, và đưa ra một số nhận định phê bình đối với các luận điểm lý thuyết của hai tác giả này.21

Bàn luận về tính chất của hình thái kinh tế ở châu thổ sông Cửu Long, Đỗ Thái Đồng (1995)22 cho rằng nền sản xuất nông nghiệp ở vùng đất này đã mang tính chất sản xuất hàng hóa ngay từ trước thời Pháp thuộc, nhưng cho đến ngày nay vẫn còn là một nền kinh tế tiểu nông Bài viết của Đỗ Thái Đồng thảo luận

về yêu cầu giải thể kinh tế tiểu nông với những bước đi thích hợp, nhằm tiến tới mục tiêu chuyển sang một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, gắn với thị

20

Xem Pierre Brocheux, “Moral Economy or Political Economy? The Peasants are Always

Rational”, Journal of Asian Studies, Vol XLII, No 4, Aug 1983, dẫn lại theo Mai Huy Bích, “Góp phần tìm hiểu người nông dân Việt Nam thời đổi mới”, Tạp chí Xã hội học,

số 4 (88), 2004

21

Xem Mai Huy Bích, bài đã dẫn

22

Xem Đỗ Thái Đồng, “Con đường từ kinh tế tiểu nông đến kinh tế hàng hóa ở đồng bằng

sông Cửu Long”, Tạp chí Xã hội học, số 1 (49), 1995, tr 17-26

Trang 24

trường hiện đại và công nghiệp hiện đại Trong một bài viết khác (1994),23 Đỗ Thái Đồng đưa ra giả thuyết cho rằng cơ cấu giai cấp ở vùng đất này trong tương lai cũng sẽ vẫn là một cơ cấu trong đó chiếm đa số là trung nông với quy mô canh tác xấp xỉ một héc-ta một hộ, và giới hạn tối đa của một hộ trung nông là từ

ba tới năm héc-ta mà thôi Hộ trung nông “có khả năng vươn lên một trình độ

sản xuất cao hơn bằng nhiều cách”, nhưng “sự tích tụ ruộng đất dù có xảy ra cũng chỉ trong những giới hạn lịch sử khó mà vượt qua để xuất hiện những nông trại lớn”.24 Trước những giới hạn về diện tích ruộng đất và sự gia tăng dân số, để

có thể phát triển nền sản xuất nông nghiệp hơn nữa, theo Đỗ Thái Đồng, ở vùng đất này sẽ phải xuất hiện những hình thức hợp tác mới, vì đó là tất yếu của quá trình xã hội hóa sản xuất

Dựa trên kết quả các cuộc điều tra hộ gia đình nông thôn trong nhiều năm, Đào Thế Tuấn (1995)25 đã tiến hành phân tích những đặc trưng của các hộ gia đình nông thôn trên cả nước và sự phân hóa giữa các hộ nông thôn tính đến năm

1990 Dựa trên các mô hình tính toán, công trình này đã đi đến chỗ phân biệt được ba loại hình nông hộ chính như sau : (a) loại nông hộ chỉ đủ ăn, tức là tự cấp tự túc (trong đó bao gồm ba tiểu loại : loại hộ thiếu ăn, loại hộ thiếu vốn sản xuất, và loại hộ đủ vốn nhưng mục tiêu sản xuất là chỉ để đủ ăn); (b) loại nông hộ sản xuất vừa để ăn, vừa để bán ; (c) loại nông hộ chủ yếu sản xuất hàng hóa để bán

Bùi Quang Dũng và Đặng Thị Việt Phương (2011)26 đã căn cứ trên kết quả một cuộc điều tra nông dân năm 2009-2010 của Viện Xã hội học để phân tích và bàn luận về những động thái thay đổi và những đặc trưng của chế độ sở hữu ruộng đất hiện nay, đối chiếu giữa châu thổ sông Hồng với châu thổ sông Cửu Long, nhằm xem xét những quá trình xã hội gắn liền với chế độ sở hữu ruộng đất dưới tác động của các chính sách hiện nay

Ngoài ra, còn có những công trình khác đáng lưu tâm như bài viết của Đỗ Thái Đồng về đặc trưng xã hội-văn hóa ở miền Nam (1991), các bài viết của Trần Hữu Quang (1982), Ngô Vĩnh Long (1984), Tương Lai (1989), Vũ Tuấn Anh

23

Xem Đỗ Thái Đồng, “Kinh tế hộ gia đình và những xu thế mới trong hợp tác hóa ở đồng

bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Xã hội học, số 2 (46), 1994, tr 12-21

Xem Bùi Quang Dũng, Đặng Thị Việt Phương, “Một số vấn đề về ruộng đất qua cuộc

điều tra nông dân 2009-2010”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 9, 2011 Xem thêm Bùi

Minh, Bế Quỳnh Nga, Đặng Thị Việt Phương, “Ruộng đất, nông dân và mấy vấn đề phát

triển nông thôn”, Tạp chí Xã hội học, số 3 (119), 2012, tr 26-34

Trang 25

(1990) và Tô Duy Hợp (1993, 1995) về cơ cấu xã hội ở nông thôn, các bài viết của Bùi Quang Dũng về cách tiếp cận thể chế đối với làng xã ở Việt Nam (2010), công trình điều tra cơ bản ở Nam bộ của Bùi Thế Cường và Lê Thanh Sang (2010) 27

2 Một số công trình về thái độ và ứng xử kinh tế của nông dân Nam bộ

Cho đến nay, những công trình khảo sát trực tiếp về thái độ và ứng xử của người dân Nam bộ trong đời sống kinh tế quả thực còn khá hiếm hoi Sau đây là những công trình đáng chú ý

Trương Thị Ngọc Chi và Ryuichi Yamada trong một công trình khảo sát ở

ở huyện Ô Môn (Cần Thơ) (2002)28 đã cho thấy rằng việc lựa chọn thay đổi về

kỹ thuật sản xuất của người nông dân thường chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau : các lớp tập huấn kỹ thuật nông nghiệp, các cuộc họp, truyền thông truyền miệng

từ nông dân này sang nông dân khác, mức độ tin tưởng vào cán bộ kỹ thuật, và mức độ tin cậy vào hiệu quả của kỹ thuật Những nông dân trẻ, có học và có đầu

óc tiến bộ thường dễ áp dụng các cải tiến kỹ thuật mới hơn Còn những nông dân lớn tuổi có đầu óc bảo thủ thì thường không tin vào hiệu quả của kỹ thuật mới Công trình này cũng cho biết rằng mặc dù nói chung nông dân có cái nhìn tích cực đối với các kỹ thuật mới, nhưng họ thường gặp khó khăn và trở ngại trong việc ứng dụng do thiếu vốn, thiếu sự hướng dẫn của cán bộ khuyến nông, chưa

có chính sách đền bù cho những sự rủi ro khi ứng dụng kỹ thuật mới

27

Xem Đỗ Thái Đồng, “Cơ cấu xã hội-văn hóa ở miền Nam nhìn theo mục tiêu phát triển

của cả nước”, Tạp chí Xã hội học, số 1 (33), 1991 ; Trần Hữu Quang, “Nhận diện cơ cấu giai cấp ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 4,

tháng 8-1982 ; Ngô Vĩnh Long, “Agrarian Differentiation in the Southern Region of

Vietnam”, Journal of Contemporary Asia, Vol 14, No 3, 1984 ; Tương Lai, “Những vấn

đề của cơ cấu xã hội và chính sách xã hội ở nông thôn Bắc bộ”, Tạp chí Xã hội học, số 1

(25), 1989 ; Vũ Tuấn Anh, “Về sự chuyển biến cơ cấu xã hội và định hướng giá trị ở

nông thôn trong quá trình đổi mới kinh tế”, Tạp chí Xã hội học, số 4 (32), 1990 ; Tô Duy

Hợp, “Thực trạng và xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội nông thôn trong thời kỳ đổi mới

hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, số 4 (44), 1993 ; Tô Duy Hợp, “Tìm hiểu về sự thay đổi

cơ cấu ở nông thôn trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Xã hội học, số 1 (49), 1995 ; Bùi Quang Dũng, “Làng xã : Dẫn vào một nghiên cứu về các thể chế xã hội”, Tạp chí Xã hội

học, số 1 (109), 2010 ; Bùi Quang Dũng, “Nghiên cứu làng Việt : các vấn đề và triển

vọng”, Tạp chí Xã hội học, số 1 (73), 2001 ; Bùi Thế Cường, Lê Thanh Sang, “Một số

vấn đề về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở Tây Nam bộ : Kết quả từ cuộc khảo sát

định lượng năm 2008”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 3, 2010

Trang 26

Theo Nguyễn Ngọc Đệ và Kotaro Ohara (2005),29 nông dân châu thổ sông Cửu Long thông qua phương thức vừa học vừa làm đã phát triển được nhiều kỹ thuật mới trong việc làm đất, quản lý nước và mùa vụ để vượt qua những khó khăn và cưỡng chế của điều kiện thổ nhưỡng nhằm gặt hái được năng suất cao

hơn Trong quá trình này, những người nông dân “tiên tiến” đóng một vai trò

quan trọng không chỉ trong sự góp phần vào việc cải tiến kỹ thuật, mà cả trong các hoạt động phát triển cộng đồng ở cấp độ địa phương Đây chính là những người giữ vai cầu nối giữa nhà khoa học, tổ chức khuyến nông, chính quyền địa phương với cộng đồng thôn ấp

Dựa trên kết quả khảo sát ở huyện Thoại Sơn (tỉnh An Giang), công trình luận văn của Trần Thế Như Hiệp (2009)30 nhận định rằng chính sách hạn điền đã

có ảnh hưởng đến sinh kế và hoạt động tích lũy đất đai của nông hộ, trong đó ứng

xử của người chủ nông hộ khi cần vượt mức hạn điền là thường tìm cách chia đất cho con hoặc nhờ người thân đứng tên… để tránh né chính sách và tiền thuế Cuộc khảo sát cho thấy đang tồn tại thị trường mua bán ruộng đất và hiện tượng tích tụ đất đai : số hộ sở hữu đất đai vượt quá mức hạn điền chiếm 15% trong tổng số hộ tại điểm điều tra Việc phân tích cũng chứng minh cho thấy quy mô đất đai có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp : quy mô ruộng đất càng lớn thì chi phí sản xuất trên một héc-ta càng thấp, và lợi nhuận càng cao Công trình này đề nghị nhà nước cần điều chỉnh hệ thống pháp luật và chính sách theo hướng khuyến khích người dân tích tụ đất đai cho phù hợp với nhu cầu sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, đồng thời cần quan tâm đến các chính sách tín dụng nông thôn, mở rộng các loại hình họat động kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn, nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ…

Bài viết của Lê Cảnh Dũng và các cộng sự viên (2011)31 đã dựa trên kết quả phỏng vấn 178 nông hộ tại ba vùng sinh thái có các hệ thống sản xuất khác nhau ở châu thổ sông Cửu Long để khảo sát và phân loại mức độ năng lực quản

lý của nông hộ Kết quả nghiên cứu cho thấy có tám yếu tố cấu thành năng lực

29

Xem Nguyễn Ngọc Đệ, Kotaro Ohara, “Role of Advanced Farmers in Agriculture and

Rural Development in the Mekong Delta, Vietnam”, Journal of Rural Problems (The

Association for Regional Agricultural and Forestry Economics, Japan), Vol 41, No 3, Dec 2005

30

Xem Trần Thế Như Hiệp, Phân tích ảnh hưởng của quy mô đất đai và chính sách hạn

điền đến sinh kế nông hộ ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Luận văn thạc sĩ chuyên

ngành phát triển nông thôn, Đại học Cần Thơ, 2009 Xem thêm Lê Cảnh Dũng, “Tích tụ đất đai và hiệu quả kinh tế theo quy mô đất đai trong nông thôn đồng bằng sông Cửu

Long : Trường hợp nghiên cứu ở tỉnh An Giang”, Tạp chí khoa học Đại học Cần Thơ, số

Trang 27

quản lý nông hộ, trong đó quan trọng nhất hiện nay là năng lực quản lý kinh tế của nông hộ, và mức độ hiểu biết về thị trường Phần lớn các nông hộ được khảo sát chỉ có năng lực quản lý ở mức trung bình và khá, số nông hộ có năng lực quản lý giỏi còn rất ít Công trình này đã chứng minh rằng năng lực quản lý có ảnh hưởng tương quan thuận đến mức lợi nhuận của các hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông hộ

Công trình luận án của Ngô Thị Phương Lan (2011)32 khảo sát về hành vi

chấp nhận rủi ro (risk-taking) của người nông dân khi chuyển dịch từ trồng lúa

sang nuôi tôm, và vai trò của vốn xã hội trong hoạt động kinh tế của nông dân Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù người nông dân chấp nhận rủi ro khi chuyển từ trồng lúa sang nuôi tôm, nhưng đây là hành vi chấp nhận rủi ro có điều kiện Do môi trường sản xuất có nhiều khó khăn và bất trắc, nên hành vi kinh tế của người nông dân luôn luôn thể hiện tư duy giảm thiểu và phân tán rủi ro Công trình này cho thấy cách tiếp cận duy lý thị trường chưa thể giải thích được hết đặc trưng của ứng xử kinh tế của người nông dân châu thổ sông Cửu Long hiện nay, mà còn cần được giải thích bổ sung bằng tư duy giảm thiểu và phân tán rủi ro

Ngoài ra, cũng có những công trình khác liên quan tới ứng xử của nông dân trong đời sống kinh tế như công trình của Trần Hữu Quang (1984), Nguyễn Quang Vinh (1989), Chu Hữu Quý (1989), Hồ Cao Việt (2010)…33

3 Một số công trình khác có liên quan

Có khá nhiều công trình khác về nông thôn mà đề tài này cũng phải quan tâm, cụ thể là những công trình về (a) hộ gia đình và lao động ở nông thôn, (b) những vấn đề ruộng đất, và (c) sự phát triển nông thôn Tuy nhiên ở đây chúng tôi không đi vào tóm tắt chi tiết từng bài, mà chỉ liệt kê một số công trình chính

mà chúng tôi sẽ sử dụng để tham khảo và đối chiếu trong quá trình phân tích các kết quả nghiên cứu của chúng tôi (danh sách dưới đây được sắp xếp theo thứ tự thời gian)

32

Xem Ngô Thị Phương Lan, Hành vi giảm thiểu rủi ro và vận dụng nguồn vốn xã hội của

nông dân người Việt ở Đồng bằng sông Cửu long trong quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm, Luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành dân tộc học, Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2011

33

Xem Trần Hữu Quang, “Người nông dân Nam bộ và sự đổi mới kỹ thuật”, Tập san Khoa

học và Phát triển, số 15, tháng 4-1984 ; Nguyễn Quang Vinh, “Hoàn thiện cơ cấu năng

lực người sản xuất hàng hóa trong nông thôn đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Xã hội

học, số 1 (25), 1989 ; Chu Hữu Quý, “Nông dân với các chủ trương, chính sách đổi mới

quản lý kinh tế nông nghiệp hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, số 4 (28), 1989 ; Hồ Cao

Việt, “Động thái kinh tế-xã hội hộ nông dân trồng lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ đổi mới”, luận án tiến sĩ, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam,

2010

Trang 28

a Về hộ gia đình và lao động ở nông thôn

- Trần An Phong, Cao Đức Phát, “Những vấn đề kinh tế của hộ gia đình nông

dân hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, số 2 (34), 1991

- Đào Thế Tuấn, “Kinh tế học gia đình”, Tạp chí Xã hội học, số 1 (49), 1995

- Đào Thế Tuấn, “Nền kinh tế nông dân”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 212,

tháng 1-1996, và số 213, tháng 2-1996

- Trịnh Duy Luân, Helle Rydstrom, Wil Burghoorn (chủ biên), Gia đình nông

thôn Việt Nam trong chuyển đổi, Hà Nội, Nxb Khoa học xã hội, 2008

- Hồ Cao Việt, “Chuyển dịch lao động của hộ nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long từ những năm 1990”, bài báo cáo tại Tiểu ban 9, Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, Hà Nội, tháng 12-2008

- Vũ Tuấn Anh, “Một số tác động ban đầu của khủng hoảng tài chính toàn cầu

đối với nông dân”, Tạp chí Xã hội học, số 2 (106), 2009

- Võ Công Nguyện, “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển vùng Tây Nam bộ”, báo cáo tổng hợp đề tài cấp bộ, Viện Phát triển Bền vững vùng Nam bộ, TP.HCM, 2011

- Trần Hữu Quang, “Nông hộ và ruộng đất : những chuyển động và thách thức (qua khảo sát tại hai xã nông nghiệp ở huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu)”, Tạp chí

Khoa học xã hội, số 9 (169), 2012

b Về những vấn đề ruộng đất

- Lê Du Phong, “Hộ nông dân không đất và thiếu đất sản xuất ở đồng bằng sông

Cửu Long – Thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 243, tháng

8-1998

- Klaus Deininger, Jin Songqing, “Land Sales and Rental Markets in Transition:

Evidence from Rural Vietnam”, Policy Research Working Paper 3013, World Bank,

Washington DC, April 2003

- Lê Du Phong, “Vấn đề đất đai ở nông thôn Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu

Kinh tế, số 12 (355), tháng 12-2007

- Sally P Marsh, T Gordon MacAulay, Phạm Văn Hùng (chủ biên), Phát triển

nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam, Đại học Nông nghiệp I (Hà Nội), Đại

học Sydney, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế của Australia, 2007

- Vũ Trọng Khải, “Tích tụ ruộng đất – Trang trại và nông dân”, Tạp chí Nghiên

cứu Kinh tế, số 365, tháng 10-2008

- Nguyễn Tấn Phát, “Những bất cập hiện nay của chính sách đất đai và thách

thức đối với phát triển tam nông ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 366,

tháng 11-2008

- Martin Ravallion, Dominique van de Walle, Land in Transition: Reform and

Poverty in Rural Vietnam, New York, The World Bank, Palgrave Macmillan, 2008

- Yujiro Hayami, “Strategies for the Reform of Land Property Relations”, in

Randolph Barker (Ed.), Agricultural Policy Analysis for Transition to a

Trang 29

Market-Oriented Economy in Viet Nam, FAO Economic and Social Development Paper 123,

Rome, 1994

- Lê Thanh Sang, Bùi Thế Cường, “Phân bố và chuyển dịch đất nông nghiệp của

hộ gia đình ở Tây Nam bộ”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 4, 2010

- Vũ Tuấn Anh, “Vấn đề đất đai trong quá trình thực hiện Hiến pháp năm 1992”,

Tạp chí Xưa và Nay, số 405, tháng 6-2012 ; Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 405, tháng

2-2012

- Đào Thế Tuấn, “Quy hoạch đất đai trong phát triển bền vững”, Tạp chí Xưa và

Nay, số 405, tháng 6-2012

c Về sự phát triển nông thôn

- Vũ Quang Việt, “Vấn đề phát triển nông thôn qua kinh nghiệm trên thế giới”,

Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 209, tháng 7-1995, và số 210, tháng 8-1995

- Đào Thế Tuấn, “Xã hội nông thôn và các vấn đề của nông nghiệp trong thời kỳ

hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, số 2 (66), 1999

- Đỗ Hoài Nam, Trần Đình Thiên, “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

nghiệp-nông thôn theo lôgic 'rút ngắn'”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 301, tháng 6-2003

- Nguyễn Ngọc Đệ, Farmers, Agriculture and Rural Development in the Mekong

Delta of Vietnam, Ho Chi Minh City, Education Publishing House, 2006

- Philip Taylor, “Poor Policies, Wealthy Peasants: Alternative Trajectories of

Rural Development in Vietnam”, Journal of Vietnamese Studies, Vol 2, No 2, Summer

2007

- Võ Hùng Dũng, “Chiến lược phát triển kinh tế đồng bằng sông Cửu Long”,

Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 350, tháng 7-2007, và số 351, tháng 8-2007

- Võ Hùng Dũng, “Bàn về vai trò của nông nghiệp và chính sách phát triển”,

Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 398, tháng 7-2011

- Bùi Quang Dũng, “Một số vấn đề phát triển xã hội nông thôn Việt Nam thời kỳ hiện đại hóa, công nghiệp hóa”, Tạp chí Xã hội học, số 1 (105), 2009

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã tiếp cận một cách hết sức phong phú đến nhiều khía cạnh và nhiều vấn đề liên quan tới quá trình phát triển kinh tế-xã hội và mô hình phát triển kinh tế-xã hội của nông thôn Việt Nam nói chung và đặc biệt là vùng Nam bộ nói riêng

Trong quá trình phân tích và lý giải các kết quả của đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ có dịp trở lại với những ý tưởng và luận điểm đã được các tác giả trong nước và ngoài nước đưa ra nhằm đối chiếu, thảo luận, hoặc làm sáng tỏ thêm cho những lý giải của chúng tôi về thực tiễn Nam bộ ngày nay

C Một số khái niệm chính

Trang 30

Sau đây, chúng tôi sẽ trình bầy một số khái niệm chính sử dụng trong đề tài này, bao gồm : định chế xã hội, cộng đồng làng xã, nông dân, nông hộ, sự phát triển bền vững, và mô hình văn hóa

1 Định chế xã hội

Dưới nhãn giới xã hội học, một định chế xã hội (social institution, cũng

còn được gọi là thiết chế hay thể chế xã hội) là một hệ thống các mối quan hệ xã hội đã được xác lập ổn định trong xã hội Nó được định hình theo thời gian, khi

mà, trong các mối quan hệ xã hội, một số ứng xử nào đó của con người được lập

đi lập lại, rồi dần dần biến thành tập quán, và cuối cùng trở thành một tập hợp

các vai trò và các chuẩn mực mà mọi người đều mặc nhiên thừa nhận và tuân

thủ Trong số những chuẩn mực này, cũng có những cái được thể chế hóa thành những quy tắc pháp lý

Định chế là một sản phẩm của đời sống xã hội Mỗi định chế đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội Người ta thường phân biệt bốn loại định chế

xã hội như sau : các định chế chính trị (liên quan tới việc phân bố và sử dụng quyền lực trong xã hội), các định chế kinh tế (liên quan tới các quá trình sản xuất

và phân phối của cải và dịch vụ), các định chế thân tộc (như hôn nhân, gia đình),

và các định chế văn hóa (như giáo dục, tôn giáo, phong tục, văn chương, nghệ thuật, truyền thông đại chúng)

Tuy nhiên, định chế xã hội không phải là một thực tại bền vững và đứng yên Nó luôn luôn nằm trong quá trình biến chuyển và đổi thay Khái niệm định

chế cần được xem như bao hàm cả cái “đã” lẫn cái “đang”, nói theo lời Cao Huy Thuần : “Định chế không còn được xem như một sự kiện được tạo thành mà là

một quá trình biện chứng vẽ ra một tranh chấp thường xuyên – và vĩnh viễn – giữa cái đã được định chế và cái đang định chế, giữa institué và instituant ( ) Định chế không phải là một tổng thể đã hoàn thành, có cấu trúc mạch lạc, bền vững, mà là một cái gì đang hoàn thành, luôn luôn đang hoàn thành Đó không phải là một 'sự vật', mà là một 'thực tiễn'.”34

Nếu định chế là sản phẩm của xã hội, thì ngược lại, cũng có thể nói rằng mức độ phát triển của một xã hội hay của một nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào tính chất cũng như sự vận hành của các định chế.35 Theo Đào Thế Tuấn, các

định chế xã hội đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội : “Để đảm

Xem thêm Trần Hữu Quang, “Phát triển các định chế xã hội : Một trong những tiền đề xã

hội của quá trình phát triển ở thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 11

(87), 2005, tr 20-26

Trang 31

bảo cho sự phát triển bền vững, việc cải tiến các thể chế là vấn đề chủ yếu”, bao

gồm vai trò của nhà nước, các cơ chế của thị trường, và phát triển xã hội dân sự trong nông thôn.36

Đề tài này sẽ đi vào tìm hiểu về các định chế xã hội sau đây : làng xã (định chế cộng đồng), gia đình (định chế thân tộc), chính quyền cơ sở và các chính sách kinh tế-xã hội của nhà nước (định chế chính trị), và doanh nghiệp (định chế kinh tế)

2 Làng xã

Việc nghiên cứu về xã hội Nam bộ và con người Nam bộ hiển nhiên là không thể không đề cập tới bối cảnh cộng đồng làng xã

Eric Wolf nhận xét về mối quan hệ giữa người nông dân với cộng đồng

làng xã xét như “một tổng thể văn hóa-xã hội” như sau : “Không giống như các

tầng lớp văn hóa-xã hội khác như các nhà buôn hay các nhà doanh nghiệp, người nông dân hoạt động chủ yếu bên trong một khuôn khổ địa phương, chứ không phải trên một nền tảng liên địa phương hay phi địa phương (…) Điều này cũng có nghĩa là tầng lớp nông dân luôn gắn chặt vào một tổng thể văn hóa-xã hội chủ yếu thông qua cấu trúc của cộng đồng.”37

Làng xã Việt Nam được Đào Duy Anh định nghĩa như là “một đoàn thể tự

trị ở trong phạm vi quốc gia, đối với nhà nước chỉ cần làm trọn nghĩa vụ nộp sưu thuế, làm giao dịch, ngoài ra có thể tự do xử trí công việc trong làng, nhà nước không can thiệp đến”.38

Do những đặc điểm của điều kiện sinh thái cũng như do những đặc trưng kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa của lịch sử khẩn hoang, hình thái làng xã Nam bộ tuy vẫn là làng của người Việt nhưng lại mang những sắc thái đặc thù chỉ có ở vùng đất này

Sự phân biệt của Eric Wolf giữa loại hình “cộng đồng nông dân phường hội” và loại hình “cộng đồng mở” có thể mở ra những giả thuyết phong phú khi nghiên cứu về làng xã ở Nam bộ xét trong mối liên hệ đối chiếu với làng Việt cổ

truyền Theo Wolf, cộng đồng nông dân phường hội là loại cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, mang tính chất đóng kín ; còn cộng đồng mở là loại cộng

Eric Wolf, “Types of Latin American Peasantry: A Preliminary Discussion”, American

Anthropologist, Vol 57, No 3, 6-1955, tr 455

38

Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương (1938), Sài Gòn, Nxb Bốn Phương tái bản,

1951, tr 129

Trang 32

đồng mà trong đó ngoài nông dân ra, còn có những tầng lớp xã hội khác, và cộng đồng này có nhiều mối quan hệ giao lưu với bên ngoài.39

Chúng tôi cho rằng đề tài này có thể sử dụng ý tưởng đối chiếu ấy như một cái khung lý thuyết khi phân tích và lý giải về những đặc trưng của hình thái làng xã ở Nam bộ cũng như của cư dân thành viên các làng xã này

3 Nông dân và nông hộ

Các nhà nghiên cứu về nông thôn và nông dân trên thế giới vào đầu thập niên 1950 đã đưa ra một sự phân biệt quan trọng giữa ba khái niệm sau đây :

người sơ khai (primitive), người nông dân (peasant), và nhà nông hay nông gia (farmer)

Theo Robert Redfield và Eric Wolf, người sơ khai là người sống hoàn

toàn tự cấp tự túc trong những cộng đồng biệt lập với thế giới bên ngoài ; còn

nông dân là những người tuy có sản xuất hàng hóa nhưng chưa thoát hẳn ra khỏi

tình trạng tự cấp tự túc và sống trong những cộng đồng nông thôn có mối liên hệ

với thành thị ; và nhà nông hay nông gia là những người có mức độ sản xuất

hàng hóa cao theo nhu cầu của thị trường, coi ruộng đất là hàng hóa, biết tái đầu

tư vào nông nghiệp, và không còn sống phụ thuộc vào một cộng đồng địa phương nữa.40

Robert Redfield định nghĩa nông dân là người coi “nông nghiệp như một

phương thức sinh nhai và như một lối sống, chứ không phải như một doanh nghiệp nhằm mục tiêu lợi nhuận”.41

Theo Theodore Schultz, nền nông nghiệp ở các nước trên thế giới về đại

thể có thể được chia ra làm hai loại : (a) nền nông nghiệp “cổ truyền” (traditional

agriculture) trong đó người nông dân do phụ thuộc vào truyền thống canh tác có

từ lâu đời nên chỉ sản xuất vừa đủ ăn và làm không có hiệu quả kinh tế ; và (b) nền nông nghiệp hiện đại trong đó người nông dân duy lý biết cách phản ứng với thị trường và coi việc canh tác như một sự đầu tư nhắm đến hiệu quả kinh tế.42

Nói đến người nông dân là phải nói tới nông hộ, bởi lẽ người nông dân không tồn tại đơn lập mà luôn luôn hoạt động với tư cách là thành viên của một

39

Xem Eric Wolf, bài đã dẫn,tr 456-457

40

Xem Eric Wolf, bài đã dẫn, và Robert Redfield, The Primitive World and its

Transformations, Ithaca, New York, Cornell University Press, 1953, dẫn lại theo Eric

Wolf, bài đã dẫn

41

Robert Redfield, The Little Community and Peasant Society and Culture (1956), Chicago,

The University of Chicago Press, Midway Reprint edition, 1989, pp 18-19

42

Xem Theodore Schultz, Transforming Traditional Agriculture, New Haven and London,

Yale University Press, 1964

Trang 33

nông hộ Paul Samuelson từng viết về đặc trưng của nông hộ như sau : “Trong

một nông hộ [family farm] điển hình ( ), người nông dân không thể nào nói cho bạn biết là phần công của riêng ông ta chiếm bao nhiêu trong tổng thu nhập, và phần công của vợ con ông ta chiếm bao nhiêu.”43

Eric Wolf nhấn mạnh thêm về điểm này : “Gia đình [nông dân] không

hạch toán giá thành Họ không biết lao động của mình có giá bao nhiêu Đối với

họ, lao động không phải là một hàng hóa ; họ không bán sức lao động trong nội

bộ gia đình Không có sự trao đổi tiền tệ trong nội bộ gia đình.”44

Tchayanov cho rằng hộ gia đình nông dân là “một đơn vị kinh tế cơ sở,

vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng”.45 Còn theo Đào Thế

Tuấn thì “trong các thể chế của xã hội, gia đình là một thể chế cơ bản nhất và

vững chắc nhất”, và hộ nông dân chính là “trung tâm” của hệ thống xã hội nông

thôn.46 Ông viết : “Việc nghiên cứu hộ gia đình càng ngày càng được chú ý vì

chính các quyết định của họ đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và xã hội của một nước ( ) Việc quyết định sản xuất cái gì, tiêu dùng cái gì, tiết kiệm bao nhiêu ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng”.47

Một trong những kết quả mà đề tài này muốn đạt tới là tiến tới trả lời được cho hai câu hỏi sau đây : (a) Nền nông nghiệp ở Nam bộ ngày nay có phải là một nền nông nghiệp hiện đại theo nghĩa của Theodore Schultz hay chưa ? (b) Người

nông dân vùng đất này hiện nay vẫn còn là “nông dân” hay đã chuyển sang thành

“nhà nông” hay “nông gia” theo nghĩa của Eric Wolf ?

Việc nghiên cứu về người nông dân không thể tách rời khỏi khuôn khổ nông hộ Chính vì thế, đề tài này sẽ tiếp cận người nông dân thông qua đời sống kinh tế trong nông hộ của họ, bởi lẽ các ứng xử của từng thành viên nông hộ phụ thuộc chủ yếu vào các đặc trưng của cả gia đình nông hộ (như nguồn lực đất đai, vốn liếng, lao động ) cũng như vào chiến lược kinh tế của từng gia đình nông

Paul A Samuelson, Economics: An Introductory Analysis, New York, McGraw-Hill,

1948, p 761, dẫn lại theo Eric R Wolf, bài đã dẫn, tr 459

Trang 34

xét : “Việc ra quyết định của họ [tức hộ gia đình] chịu ảnh hưởng của thể chế xã

hội, nhưng ngược lại thể chế lại chịu ảnh hưởng của những quyết định của họ”.48

4 Sự phát triển bền vững

Theo định nghĩa mà Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển (do Gro Harlem Brundtland đứng đầu)49 nêu ra trong bản báo cáo thường được gọi là

“Bản báo cáo Brundtland” đệ trình cho Đại hội đồng Liên hiệp quốc vào năm

1987, thì sự phát triển bền vững (sustainable development) là “một sự phát triển

đáp ứng được các nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không gây nguy hại đến khả năng mà các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ”

Định nghĩa này đã nhấn mạnh tới hai ý tưởng : ý tưởng về các “nhu cầu”,

nhất là những nhu cầu thiết yếu nhất của những tầng lớp nghèo mà người ta cần

ưu tiên ; và ý tưởng về những giới hạn mà trình độ kỹ thuật và trình độ tổ chức của con người hiện tại buộc phải đề ra nhằm bảo toàn được môi trường cho các thế hệ mai sau

Mục tiêu của sự phát triển bền vững là làm sao tìm cách xác định được những khuôn khổ phát triển có thể chấp nhận được bằng cách kết hợp hài hòa ba

khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái trong tất cả các hoạt động của con người Người ta thường coi đây là “ba cột trụ của sự phát triển bền vững”

mà bất cứ cộng đồng nào cũng như bất cứ xí nghiệp hay cá nhân nào cũng buộc phải lưu tâm trong các chương trình phát triển của mình Cứu cánh của sự phát triển bền vững chính là tìm ra một sự quân bình nhất quán và có thể chấp nhận được một cách dài hạn giữa ba cột trụ ấy (xem Sơ đồ 1)

Trang 35

Nguồn : Peter Jacobs, Barry Sadler, Développement durable et évaluation

environnementale : Perspectives de planification d'un avenir commun, Hull, Québec,

Conseil canadien de la recherche sur l'évaluation environnementale (CCREE), 1990, p

10

Cộng với ba cột trụ ấy, về sau người ta còn đề ra thêm một khía cạnh thứ

tư cần thiết cho việc hình thành cũng như việc thực thi các chính sách và các hành động có liên quan tới sự phát triển bền vững, đó là phương thức quản trị

(governance).50 Phương thức quản trị được hiểu là có liên quan đến sự tham gia của tất cả những tác nhân (các công dân, các xí nghiệp, các hiệp hội, những người được người dân bầu lên ) vào quá trình ra quyết định, và do vậy thực

chất đây là một dạng của nền dân chủ tham gia (participatory democracy)

Tuy nhiên, trong thực tế, khái niệm phát triển bền vững, theo Jean-Guy

Vaillancourt, là “một phạm trù lý thuyết mơ hồ và phức tạp”, đôi khi lại “được

Do đó theo tác giả này, “để đi từ lý thuyết tới thực tế, khái niệm phát triển bền

vững trước tiên cần phải được định nghĩa, xác định chiều cạnh và thao tác hóa,

và sau đó phải được áp dụng theo một cách thức cụ thể đối với những lĩnh vực hoạt động phong phú khác nhau của con người”, và chỉ khi đó khái niệm này

“mới có thể được đo lường một cách chính xác với các chỉ số thích hợp”.52

Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi không có tham vọng đề ra những

“chỉ số” cụ thể của khái niệm này đối với vùng Nam bộ, mà chỉ tạm thời dựa trên

nội dung tổng quát của sự phát triển bền vững mà Đào Thế Tuấn đã định nghĩa,

đó là quá trình phát triển “đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ hiện nay mà

không phá hoại khả năng của các thế hệ tương lai”, với ba mục tiêu chính là

“chất lượng của môi trường, lợi nhuận kinh tế, và công bằng xã hội và kinh tế”.53

5 Mô hình văn hóa

Các hoạt động và ứng xử của con người trong bất kỳ một xã hội nào cũng

đều luôn được quy định trong khuôn khổ của những mô hình văn hóa nhất định (modèle culturel trong tiếng Pháp ; cũng có thể gọi đây những khuôn mẫu văn

50

Thang đo sự phát triển bền vững theo các tiêu chuẩn của tổ chức Global Reporting

Initiative cũng đã đưa các chỉ báo về phương thức quản trị (governance) vào trong hệ

thống các tiêu chí của mình, cũng quan trọng tương tự như các chỉ báo về môi trường, về

Jean-Guy Vaillancourt, bài đã dẫn, tr 89 Xem thêm Jean-Michel Severino, Olivier

Charnoz, “Le 'développement durable', une exploration”, Études, No 4005, Mai 2004,

pp 611-623

53

Đào Thế Tuấn, “Quy hoạch đất đai trong phát triển bền vững”, Tạp chí Xưa và Nay, số

405, tháng 6-2012, tr 27

Trang 36

hóa)54 Có thể hiểu mô hình văn hóa là một tổng thể những thuộc tính hay đặc trưng văn hóa vốn có một sự nhất quán nhất định giữa chúng với nhau, và vốn được thể hiện trong những lãnh vực như tư tưởng, ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ thuật, pháp luật, phong tục, lối sống, ứng xử Các mô hình văn hóa là những cấu trúc tinh thần, đóng vai trò chi phối và chỉ đạo cách suy nghĩ, thái độ, ứng xử và hành động hàng ngày của mỗi cá nhân Các mô hình văn hóa được định hình theo thời gian nơi từng tầng lớp xã hội hay cộng đồng dân cư, tùy thuộc vào những mối liên hệ tương tác trong nội bộ cộng đồng, cũng như giữa cộng đồng với bên ngoài cộng đồng.55

Thay vì giải thích sự biến đổi xã hội là do xuất phát từ quá trình sản xuất vật chất, tích lũy vốn và thay đổi công nghệ, quan điểm của Max Weber, theo lời

của Mai Văn Hai, cho rằng “nguồn động lực có sự tác động mạnh mẽ nhất đến

các hình thức tổ chức và quan hệ xã hội, để cuối cùng làm thay đổi xã hội không phải là cái gì khác, mà chính là văn hóa phi vật chất (như tư tưởng và niềm tin,

kỷ luật lao động và tư duy hợp lý, v.v.) ( ) Cái động cơ quyết định của phát

cho rằng sự tăng trưởng kinh tế ở những làng nghề thuộc vùng châu thổ sông Hồng như Bát Tràng, Ninh Hiệp không phải chỉ nhờ vào ưu thế nghề nghiệp

của từng làng xã, mà quan trọng còn là do sự chi phối của “mô hình văn hóa (qua

lối suy nghĩ, cách tổ chức đời sống, kiểu ứng xử…)”.57

Vai trò quan trọng của mô hình văn hóa trong quá trình chuyển biến của

xã hội và của cơ cấu xã hội đã được Tương Lai nhấn mạnh như sau : “Mô hình

văn hóa có tác động sâu xa đến sự phát triển kinh tế, chuyển biến xã hội và ngược lại, sự chuyển đổi xã hội và phát triển kinh tế đòi hỏi sự chuyển đổi của những mô hình văn hóa tương ứng Vả chăng văn hóa không phải là một hệ thống đóng kín những giá trị loại biệt mà là một tổng hợp đang phát triển của những thành tựu về vật chất và tinh thần trong hoạt động thực tiễn của con người Sự chuyển đổi của mô hình văn hóa truyền thống, sản phẩm của một xã hội cộng đồng, tự cung tự cấp và khép kín sang mô hình văn hóa hiện đại, sản

54

Cao Tự Thanh là tác giả đã dùng thuật ngữ “khuôn mẫu” để nói đến khái niệm mô hình

văn hóa (xem Cao Tự Thanh, Nho giáo ở Gia Định, TP.HCM, Nxb TP.HCM, 1996, tr

246)

55

Xem thêm Trần Hữu Quang, Chân dung công chúng truyền thông (qua khảo sát xã hội

học tại TP.HCM), Nxb TP.HCM, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Trung tâm Kinh tế châu

Lê Mạnh Năm, “Ảnh hưởng của một số yếu tố văn hóa trong sự tăng trưởng kinh tế tại

các làng xã châu thổ sông Hồng”, Tạp chí Xã hội học, số 3 (91), 2005, tr 71

Trang 37

phẩm của một xã hội phát triển, dựa trên sản xuất hàng hóa và cởi mở, giao tiếp thường xuyên với bên ngoài, đó là cả một quá trình phức tạp.”58

Trong công trình này, chúng tôi chúng tôi không khảo sát mô hình văn hóa một cách toàn diện (tức bao gồm cả những lãnh vực như tư tưởng, tôn giáo, phong tục ), mà chỉ giới hạn vào việc đo lường một số quan niệm liên quan tới các mối quan hệ trong gia đình và trong cộng đồng làng xã (mục G của chương 2) để xem coi mô hình văn hóa này có ảnh hưởng thế nào tới ứng xử kinh tế của người nông dân

D Giả thuyết và cách tiếp cận nghiên cứu

1 Giả thuyết nghiên cứu

Nam bộ là một vùng đất đã bước vào hình thái kinh tế-xã hội của nền kinh

tế thị trường từ mấy thế kỷ qua Theo lời Đỗ Thái Đồng, việc mở rộng canh tác

lúa nước ở miền Tây Nam bộ “được xúc tiến từ cuối thế kỷ XVIII không chỉ nhằm

vào việc cung cấp lương thực cho nhu cầu tại chỗ, mà còn nhằm đáp ứng một thị trường nông sản đã mở cửa ra các vùng biển phía đông và Đông Nam Á.” Và

nền sản xuất hàng hóa ở đây chính là “do những nhân tố thị trường thúc đẩy.”59

Vậy với hành trang kinh nghiệm tương đối dày dạn trong nền kinh tế thị trường như thế, câu hỏi được đặt ra là trong hoàn cảnh ngày nay, đâu là những lợi thế và đâu là những trở ngại hay rào cản đối với tiến trình phát triển kinh tế-

xã hội của vùng đất này ?

Để trả lời cho câu hỏi ấy, giả thuyết đầu tiên của chúng tôi có liên quan tới

lãnh vực định chế xã hội : hiện trạng và tiềm năng phát triển kinh tế-xã hội của

Nam bộ tuy không bị trở ngại bởi định chế cộng đồng làng xã hay định chế gia đình thân tộc, nhưng lại đang gặp những rào cản bởi sự vận hành của các định chế kinh tế (thị trường, các hình thức liên kết kinh tế, các mối quan hệ với doanh nghiệp ), cũng như bởi các chính sách kinh tế xuất phát từ định chế nhà nước

Giả thuyết thứ hai có liên quan tới đặc trưng của con người ở Nam bộ : nói

chung, người dân Nam bộ có đầu óc tính toán và nhạy bén trong sản xuất và kinh doanh, cũng như đầu óc cầu tiến trong việc ứng dụng kỹ thuật mới, nhưng hiện nay những đặc trưng này đang bị hạn chế bởi những trở lực xuất phát từ một số nhân tố khách quan (diện tích ruộng đất và vốn liếng có hạn, thị trường biến

Đỗ Thái Đồng, “Con đường từ kinh tế tiểu nông đến kinh tế hàng hóa ở đồng bằng sông

Cửu Long”, Tạp chí Xã hội học, số 1 (49), 1995, tr 17-18

Trang 38

động, chính sách đất đai ) cũng như một số nhân tố chủ quan (trình độ học vấn, năng lực quản lý, quan niệm văn hóa, mức độ tiếp cận thông tin )

Đề cập tới con người kinh tế ở Nam bộ, Nguyễn Quang Vinh từng nhận

xét một cách xác đáng như sau : “Các năng lực sản xuất không thể hình thành

một lần cho mãi mãi Quá trình tiếp nối tự nhiên giữa các thế hệ cũng không tự động bảo đảm sự tiếp nối và phát triển thích đáng các năng lực sản xuất trong các thế hệ tới sau, phù hợp với các đòi hỏi rất khắc nghiệt của sự phát triển xã hội.”60 Nói như vậy có nghĩa là người dân Nam bộ không phải đương nhiên và lúc nào cũng là người nhạy bén về mặt kinh tế và sẵn sàng chấp nhận kỹ thuật mới, bởi lẽ sự tồn tại của những tính cách này gắn liền và phụ thuộc chặt chẽ vào hình thái kinh tế-xã hội cũng như các điều kiện kinh tế-xã hội vĩ mô đôi khi khá

“khắc nghiệt”

Trong tầm nhìn hướng đến yêu cầu phát triển bền vững trong tương lai, trước mắt là giai đoạn 2011-2020, đề tài này được thực hiện nhằm kiểm chứng hai giả thuyết chính vừa nêu, để từ đó có thể đi đến một số kiến giải và ý tưởng phác thảo cho mục tiêu thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế-xã hội của vùng đất Nam bộ

Nguyễn Từ Chi, khi nghiên cứu về làng Việt, chúng ta “chỉ có thể hiểu được cơ

cấu tổ chức 'trong mối quan hệ biện chứng với cơ sở kinh tế và hợp thể giai cấp'”

– “hợp thể giai cấp” xét với tư cách là “một phần của cơ cấu xã hội”.61 Trong đề tài nghiên cứu về con người và xã hội Nam bộ này, vốn bao hàm cả chiều kích

làng xã, cách tiếp cận cấu trúc được thể hiện ở hai khía cạnh : một là việc nhận

diện kết cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội ở nông thôn Nam bộ ngày nay (ở cuối

chương 2), tức là cái “hợp thể giai cấp” theo ngôn từ của Nguyễn Từ Chi, nhằm

từ đó sử dụng cái khung phân loại cơ cấu các tầng lớp kinh tế-xã hội ấy để phân tích các quan niệm, thái độ và ứng xử của người dân trong đời sống kinh tế

60

Nguyễn Quang Vinh, “Hoàn thiện cơ cấu năng lực người sản xuất hàng hóa trong nông

thôn đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Xã hội học, số 1 (25), 1989, tr 25

61

Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Hà Nội, Nxb Văn hóa thông

tin, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 1996, bài “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc bộ”, tr 172 và 177

Trang 39

(chương 3); và hai là việc nghiên cứu về các định chế xã hội cũng như cái nhìn

và các mối quan hệ của người dân Nam bộ đối với các định chế ấy (chương 4)

Chúng tôi cho rằng ngoài cách tiếp cận cấu trúc, đề tài này còn cần vận dụng cách tiếp cận văn hóa để đào sâu hơn vào vấn đề Chúng ta có thể hiểu

chiều kích văn hóa như là một “cấu trúc có bề sâu” của con người xã hội, theo ý nghĩa như sau : “Chúng ta thường hiểu văn hóa là những khuôn mẫu hành vi, sự

định hướng giá trị được con người tiếp thu từ sớm, quy định, điều chỉnh sự giao tiếp giữa con người với nhau và tạo cho con người sự an toàn trong thái độ và hành động của mình Có thể chuyển định nghĩa của Max Weber sang từ ngữ hiện đại : văn hóa là một cấu trúc có bề sâu Cuộc sống xã hội được phản chiếu ở bề mặt, dưới bề mặt đó, văn hóa được phân chia theo những tầng khác nhau, thường tiềm ẩn và vô thức Ở độ sâu này, ta thấy có một sự sắp xếp của các quy tắc văn hóa điều chỉnh bề mặt ở bên trên.”62

Trong đề tài này, dựa trên kết quả khảo sát thực địa, chúng tôi sẽ cố gắng nhận diện ra một số chiều kích văn hóa, thể hiện qua các mô hình văn hóa trong đời sống gia đình và cộng đồng, nhằm từ đó thử xem xét mối liên hệ tương quan với các thái độ và ứng xử của người dân trong đời sống kinh tế-xã hội

E Phương pháp điều tra, xử lý, và đặc điểm của địa bàn điều tra

1 Phương pháp điều tra và xử lý số liệu

Đề tài này sẽ vận dụng các phương pháp và kỹ thuật điều tra và xử lý sau đây :

- Tham khảo các công trình đã xuất bản trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài nghiên cứu

- Kế thừa và phân tích xử lý dữ kiện của hai cuộc điều tra cơ bản của Viện Phát triển Bền vững vùng Nam bộ, tiến hành ở miền Tây Nam bộ vào năm 2008

và ở miền Đông Nam bộ vào năm 2010.63

- Chọn địa bàn khảo sát theo phương pháp chọn điển hình : ba tỉnh Nam

bộ, trong đó hai tỉnh điển hình cho miền Tây Nam bộ là tỉnh An Giang và tỉnh Vĩnh Long, và một tỉnh điển hình cho miền Đông Nam bộ là tỉnh Bà Rịa-Vũng

62

Joachim Matthes, Một số vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu con người và xã hội,

Hà Nội, Chương trình KX-07 xuất bản, 1994, tr 180 Trích lại theo Tương Lai, Khảo sát

xã hội học về phân tầng xã hội, Hà Nội, Nxb Khoa học Xã hội, 1995, tr 57

63

Đó là hai chương trình nghiên cứu do GS.TS Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm chương trình, tiến hành trong thời kỳ 2006-2010 (xin xem lại chú thích số 7) Nhân đây, chúng tôi muốn bày tỏ sự tri ân đối với GS.TS Bùi Thế Cường và PGS.TS Lê Thanh Sang đã vui lòng cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được tiếp cận và sử dụng các

cơ sở dữ liệu hết sức có giá trị này

Trang 40

Tàu Tại mỗi tỉnh, chọn một huyện điển hình, và tại mỗi huyện, chọn hai xã điển hình cho huyện

Các tiêu chí chính được sử dụng để chọn sáu xã này là như sau : về mặt kinh tế, chủ yếu trồng lúa ; về mặt dân số, bao gồm phần lớn là người Kinh, sinh sống tương đối lâu đời và không bị xáo trộn về mặt dân cư ; về mặt địa lý, không nằm gần khu vực đô thị và không sát đường quốc lộ, nhưng cũng không nằm ở vùng sâu

Ở mỗi xã, tiến hành phỏng vấn bằng bản câu hỏi nơi 50 hộ (phỏng vấn chủ hộ), và khoảng năm cán bộ lãnh đạo chủ chốt của chính quyền và các đoàn thể của xã

- Phương pháp chọn mẫu hộ gia đình tại mỗi xã : áp dụng phương pháp

chọn mẫu đại diện thống kê Tại mỗi xã, chọn một ấp điển hình cho xã (với điều

kiện không nằm tại trung tâm xã) Sau đó, lấy danh sách toàn bộ các hộ gia đình

trong ấp (do địa phương cung cấp), và chọn ra 50 hộ theo phương pháp ngẫu

nhiên hệ thống, theo bước nhảy đều căn cứ trên tỷ lệ giữa tổng số hộ trong ấp với

con số 50 (xem thêm cụ thể về cách thức chọn hộ ở từng ấp trong phần Phụ lục C)

- Cuộc điều tra thử (nhằm thăm dò và hoàn chỉnh đề cương nghiên cứu cũng như bản câu hỏi) và cuộc điều tra tiền trạm tại ba tỉnh, ba huyện và sáu xã được tiến hành vào tháng 4-2012

- Cuộc điều tra chính thức trên thực địa sáu xã được tiến hành vào tháng 5-2012 với các kỹ thuật điều tra nêu dưới đây

- Phỏng vấn các chủ hộ bằng một bản câu hỏi bao gồm hai phần, phần đầu

là những câu hỏi ở các dạng đóng và mở khác nhau với tổng cộng 83 câu hỏi (kể

cả những câu hỏi về đặc điểm cá nhân và hộ gia đình), và phần sau là 53 câu hỏi dưới dạng mệnh đề (tổng cộng mẫu điều tra : 6 xã x 50 chủ hộ = 300 chủ hộ) (xem mẫu bản câu hỏi ở Phụ lục A)

- Phỏng vấn sâu các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của chính quyền và các

đoàn thể của xã (bao gồm chủ tịch hoặc phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, bí thư hoặc phó bí thư Đảng ủy xã, chủ tịch Hội phụ nữ, và chủ tịch Hội nông dân) với một bản hướng dẫn phỏng vấn sâu bao gồm 20 câu hỏi mở : tổng cộng đã thực hiện 26 cuộc phỏng vấn sâu (xem mẫu hướng dẫn phỏng vấn sâu ở Phụ lục B)

- Phỏng vấn sâu theo chuyên đề, kết hợp giữa phương pháp điền dã dân

tộc học với phương pháp phỏng vấn sâu tự do (không có bản câu hỏi hướng dẫn trước): tổng cộng đã thực hiện được 32 cuộc phỏng vấn một số cá nhân điển hình cho các hoạt động kinh tế-xã hội khác nhau tại sáu xã

Ngày đăng: 22/10/2019, 18:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
Nguyễn Ngọc Đệ, Farmers, Agriculture and Rural Development in the Mekong Delta of Vietnam, Ho Chi Minh City, Education Publishing House, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Farmers, Agriculture and Rural Development in the Mekong Delta of Vietnam
Năm: 2006
Nguyễn Xuân Nghĩa, “Vài nhận xét về các phong trào tôn giáo cứu thế của nông dân Việt ở đồng bằng sông Cửu Long từ cuối thế kỷ 19 đến trước ngày giải phóng”, Tạp chí Dân tộc học, số 2, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về các phong trào tôn giáo cứu thế của nông dân Việt ở đồng bằng sông Cửu Long từ cuối thế kỷ 19 đến trước ngày giải phóng
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghĩa
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 1985
Rambo, A. Terry, and Neil L. Jamieson III, Cultural Change in Rural Việt-Nam: A Study of the Effects of Long-Term Communist Control on the Social Structure, Attitudes and Values of the Peasants of the Mekong Delta, mimeo., Honolulu, Hawaii, Department of Anthropology, University of Hawaii, Human Sciences Research, Inc., September 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cultural Change in Rural Việt-Nam: A Study of the Effects of Long-Term Communist Control on the Social Structure, Attitudes and Values of the Peasants of the Mekong Delta
Tác giả: A. Terry Rambo, Neil L. Jamieson III
Nhà XB: Department of Anthropology, University of Hawaii
Năm: 1970
Ravallion, Martin, and Dominique van de Walle, Land in Transition: Reform and Poverty in Rural Vietnam, New York, The World Bank, Palgrave Macmillan, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land in Transition: Reform and Poverty in Rural Vietnam
Tác giả: Martin Ravallion, Dominique van de Walle
Nhà XB: The World Bank
Năm: 2008
Rigg, Jonathan, “Land, Farming, Livelihoods, and Poverty: Rethinking the Links in the Rural South”, World Development, Vol. 34, No. 1, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land, Farming, Livelihoods, and Poverty: Rethinking the Links in the Rural South
Tác giả: Jonathan Rigg
Nhà XB: World Development
Năm: 2006
Schumpeter, Joseph, Théorie de l’évolution économique (bản dịch tiếng Pháp của công trình Die Theorie der wirtschaftlichen Entwicklung, 1911 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Théorie de l’évolution économique" (bản dịch tiếng Pháp của công trình "Die Theorie der wirtschaftlichen Entwicklung
Năm: 1911
Tổng cục Thống kê, Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010, Hà Nội, Nxb Thống kê, 2012.Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê năm 2011, Hà Nội, Nxb Thống kê, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2012
Trần Hữu Quang, “Sự chuyển biến của cơ cấu xã hội ở nông thôn Tây Nam bộ”, bài tham luận tại cuộc Hội thảo “Khoa học xã hội và phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long” do Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ và Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ phối hợp tổ chức tại Cần Thơ ngày 28-10-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyển biến của cơ cấu xã hội ở nông thôn Tây Nam bộ”, bài tham luận tại cuộc Hội thảo “Khoa học xã hội và phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long
Năm: 2010
Trần Hữu Quang, “Nông hộ và ruộng đất : những chuyển động và thách thức (qua khảo sát tại hai xã nông nghiệp ở huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu)”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 9 (169), 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông hộ và ruộng đất : những chuyển động và thách thức (qua khảo sát tại hai xã nông nghiệp ở huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu)
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: Tạp chí Khoa học xã hội
Năm: 2012
Trần Hữu Quang, “Những chuyển động trong nông hộ ở Nam bộ : xu hướng và vấn đề”, bài tham luận tại Tiểu ban 4, Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ tư “Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển bền vững”, Hà Nội, tháng 11-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chuyển động trong nông hộ ở Nam bộ : xu hướng và vấn đề
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ tư
Năm: 2012
Trần Thế Như Hiệp, Phân tích ảnh hưởng của quy mô đất đai và chính sách hạn điền đến sinh kế nông hộ ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành phát triển nông thôn, Đại học Cần Thơ, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích ảnh hưởng của quy mô đất đai và chính sách hạn điền đến sinh kế nông hộ ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Tác giả: Trần Thế Như Hiệp
Nhà XB: Đại học Cần Thơ
Năm: 2009
Trần Thị Nhung (chủ biên), Lịch sử vùng đất Nam bộ. Một số kết quả nghiên cứu, Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu lịch sử (Viện Phát triển Bền vững vùng Nam bộ, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), Nxb Khoa học xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử vùng đất Nam bộ. Một số kết quả nghiên cứu
Tác giả: Trần Thị Nhung
Nhà XB: Trung tâm nghiên cứu lịch sử (Viện Phát triển Bền vững vùng Nam bộ, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
Năm: 2011
Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch và chú giải, Huỳnh Văn Tới hiệu đính và giới thiệu, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định Thành thông chí
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2005
Võ Công Nguyện (chủ nhiệm đề tài), Báo cáo tổng hợp đề tài cấp bộ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển vùng Tây Nam bộ”, Viện Phát triển Bền vững vùng Nam bộ, TP.HCM, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp đề tài cấp bộ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển vùng Tây Nam bộ”
Tác giả: Võ Công Nguyện
Nhà XB: Viện Phát triển Bền vững vùng Nam bộ
Năm: 2011
Scott, James C., The Moral Economy of the Peasant. Rebellion and Subsistence in Southeast Asia, New Haven, Yale University Press, 1976.Severino, Jean-Michel, et Olivier Charnoz, “Le 'développement durable', une exploration”, Études, No. 4005, Mai 2004, pp. 611-623.Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sài Gòn, Đông Phố xuất bản, 1973 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w