1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh một nghiên cứu bước đầu (survey of vocational interests among students initial findings)

43 211 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy nhóm nghiên cứu đã quyết định tiến hành khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh phổ thông Việt Nam bằng trắc nghiệm theo lý thuyết của Holland nhằm xây dựng sơ bộ mô hình

Trang 1

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh – một

nghiên cứu bước đầu

Lê Đông Phương1

Cao Thị Phương Chi2

bó lâu dài với nghề và ít bị áp lực trong quá trình học tập cũng như làm việc sau này

và cơ hội thành công trong nghề nghiệp sẽ sớm đến với bạn (New Hampshire

Employment Security, 2013)

Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về tâm lý, sự phù hợp của các đặc điểm tâm lý với các nghề trong xã hội Các nghiên cứu đã đưa đến nhiều công cụ trắc nghiệm dùng trong đánh giá sở thích nghề nghiệp (vocational interest) như một hình thức khám phá tố chất của con người Nổi tiếng nhất trong các công cụ trắc nghiệm đó

có lý thuyết của John Holland về sự lựa chọn nghề nghiệp (Holland, 1997) và lục giác RIASEC (hay còn được dịch sang tiếng Việt là Mật mã Holland) Lý thuyết của Holland, được đề xuất lần đầu từ năm 1958, đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới như tại Bộ Lao động Hoa kỳ, Sở việc làm của CHLB Đức, Canada, Anh quốc… Tuy vậy việc vận dụng lý thuyết chọn nghề của John Holland tại Việt Nam còn hiếm, mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng dạng tối giản của trắc nghiệm Holland trong tư vấn cho học sinh các trường phổ thông khi chọn ngành học Chưa có nghiên cứu nào thực hiện khảo sát một cách rộng rãi về sở thích nghề nghiệp của học sinh ở Việt Nam

Trang 2

Chính vì vậy nhóm nghiên cứu đã quyết định tiến hành khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh phổ thông Việt Nam bằng trắc nghiệm theo lý thuyết của Holland nhằm xây dựng sơ bộ mô hình sở thích nghề nghiệp của học sinh phổ thông hiện nay

2 Mô tả khảo sát

2.1 Công cụ khảo sát

Để có được một công cụ trắc nghiệm phù hợp nhóm nghiên cứu đã tiến hành tìm kiếm

và so sánh các công cụ trắc nghiệm hiện có trên mạng và các mẫu trắc nghiệm đã từng được sử dụng ở Việt Nam

Hiện trạng của các trắc nghiệm sở thích nghề theo lý thuyết Holland bao gồm:

- Trắc nghiệm ngắn với 9 hoặc ít hơn câu hỏi cho mỗi nhóm tính cách tương ứng với 54 câu hỏi tổng số, các câu hỏi được đưa ra dưới dạng hành động (làm…) hoặc mong muốn (thích) Các câu hỏi chỉ có chọn lựa có - không để đảm bảo

có được kết quả rõ ràng theo nhóm câu hỏi, tuy nhiên cách này không tạo ra được độ phân giải tốt của các nhóm ý trả lời Các trắc nghiệm ngắn thường được thiết kế theo cách cho kết quả ngay trên màn hình, không có tương tác tiếp theo giữa người trả lời trắc nghiệm và người cung cấp trắc nghiệm

- Trắc nghiệm dài (10 câu hoặc hơn) với câu trả lời theo mức độ từ thấp đến cao hoặc từ rất không đến rất có Tuy nhiên các trắc nghiệm dài thường ở dạng phải đăng kí hoặc mất phí để nhận được kết quả

- Các trắc nghiệm thường xuất hiện chủ yếu dưới dạng tiếng Anh hoặc tiếng của quốc gia gốc Các trắc nghiệm tiếng Việt hiện nay hầu hết là các phiên bản dịch

từ các trắc nghiệm tiếng Anh nên còn nhiều câu hỏi khó trả lời đối với học sinh Việt Nam do ngữ cảnh không phù hợp

- Luận giải các kết quả trắc nghiệm về cơ bản không có Các trang tiếng Việt không thu thập thông tin và xử lý kết quả tổng thể

Để có thể có được kết quả khả dụng trong nghiên cứu nhóm nghiên cứu đã quyết định xây dựng bộ câu hỏi dựa trên các câu hỏi của trắc nghiệm trung bình do O*NET (U.S Department of Labor, n.d.) xây dựng và sử dụng trong các trắc nghiệm của họ, Việt hóa và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt Nam trên cơ sở tham khảo thêm các câu hỏi của Dự án Open Pyschometrics (“Take a personality test - Open Source

Psychometrics Project,” n.d.) và explorix.net c Các câu hỏi trong bộ trắc nghiệm này được thử nghiệm trên quy mô nhỏ (30 phiếu) trước khi đưa ra thực hiện đại trà

Trắc nghiệm sở thích nghề nghiệm này được thực hiện gồm:

1 Các thông tin về cá nhân: tên, email, trường, lớp đang học và tỉnh/thành phố đang sinh sống

Trang 3

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

2 Các câu hỏi về sở thích nghề nghiệm (10 câu cho mỗi nhóm = 60 câu) với 4 lựa chọn từ thấp đến cao3

3 Các câu hỏi về nghề mong muốn, tự nhận định về khả năng học các môn học trong chương trình trung học hiện hành

Bài trắc nghiệm này có thể được tham khảo tại địa chỉ sau

https://goo.gl/forms/IRVRu9WEFoSzGxsC3

2.2 Cách thức tiến hành khảo sát

Trắc nghiệm được thiết kế để thực hiện online sử dụng nền tảng Google forms để cung cấp câu hỏi và tập hợp dữ liệu của các câu trả lời Lựa chọn sử dụng Google forms có ưu thế là mọi phương tiện truy cập internet (điện thoại di động, máy tính bảng hay máy tính cá nhân) đều có thể mở và trả lời như nhau Điều này giúp học sinh, nhất là học sinh THCS các vùng xa xôi vốn có nhiều cơ hội sử dụng di động hơn

là máy tính cá nhân có thể tham gia trắc nghiệm

Việc tiến hành được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện của người trả lời kèm theo cam kết trả lại kết quả cho người trả lời thông qua email được cung cấp trong form

Để có thể có được người trả lời nhóm nghiên cứu đã sử dụng các kênh truyền thông xã hội (Facebook hay email của cán bộ quản lý, giáo viên, người quen, bạn bè) giới thiệu đến giáo viên, học sinh hoặc cha mẹ học sinh

Sau khi có kết quả nhóm đã tính điểm của các sở thích nghề nghiệm, xác lập các nhóm tính cách nổi trội bên cạnh đó đã thực hiện đối chiếu tính cách và lựa chọn nghề căn

cứ vào câu hỏi mở về các nghề mong muốn để chấm sự phù hợp giữa tính cách về nghề mong muốn

Kết quả là sau 10 ngày đã có hơn 1400 người trả lời trắc nghiệm4 Kết quả phân tích trong báo cáo này là kết quả của 1300 trả lời đầu tiên

Trang 4

Vì thực hiện trực tuyến không có giám sát, không có hướng dẫn cá nhân nên mức độ xác thực của các ý kiến trả lời là một vấn đề cần lưu ý mặc dù nhóm nghiên cứu đã có các chỉ dẫn rõ ràng trong form trắc nghiệm

Đối với không ít học sinh đây là lần đầu tiên thực hiện một khảo sát online nên có thể

có nhiều em chưa quen với phương thức này và có thể đã bỏ dở giữa chừng, vì vậy chúng tôi không chắc rằng có bao nhiêu người đã thực sự quan tâm đến trắc nghiệm tính cách và đã thực sự mở form trắc nghiệm

Khảo sát sử dụng nền tảng Google forms không cho phép tính toán và hiện kết quả tính toán trực tuyến nên đối với nhiều học sinh có thể trắc nghiệm này chưa thực sự hấp dẫn khi có một số trang khác sử dụng lập trình JavaScripts để tính toán trực tuyến

và thể hiện kết quả ngay trên trang khảo sát

Do khảo sát này được thực hiện trực tuyến và gửi lời mời qua mạng xã hội nên đối tượng trả lời sẽ bị giới hạn ở những đối tượng có cơ hội tiếp cận các thiết bị tính toán, điện thoại di động và sử dụng mạng xã hội tích cực

3 Kết quả khảo sát

3.1 Đặc điểm của mẫu khảo sát

Trong số 1300 bài trắc nghiệm đầu tiên đã làm có 94,5% người tự xác định là dân tộc Kinh, tỷ lệ người dân tộc thiểu số là 5,5% (xem Bảng 1) Có những dân tộc thiểu số ít người những cũng đã xuất hiện chứng tỏ trắc nghiệm này đã tiếp cận được đến học sinh một số khu vực xa xôi

Bảng 1 Thành phần dân tộc của những người trả lời trắc nghiệm (sắp xếp theo số

người trả lời trắc nghiệm)

Trang 5

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

Bảng 2 Khối lớp đang theo học của những người trả lời trắc nghiệm

Trang 6

Tất cả các tỉnh và thành phố Việt Nam đều có người tham gia trả lời trắc nghiệm Trong số các địa phương có người đã làm trắc nghiệm TpHCM và Hà Nội chiếm tỷ lệ rất lớn (13,8% và 8,2%) Các tỉnh đang có sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong phạm vi các hành lang phát triển kinh tế như Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu… cũng có tỷ lệ khá cao (trên 2%) Nhiều tỉnh vùng sâu, xa cũng có người tham gia làm trắc nghiệm (xem Hình 1) Rõ ràng trong bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội hiện nay số học sinh rất quan tâm tới khả năng chọn nghề cho tương lai của mình, kể

cả những nơi có nhiều cơ hội học tập và việc làm đa dạng

Hình 1 Phân bổ người trả lời theo địa bàn sinh sống

Xét theo vùng thì Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung chiếm tỷ lệ cao thứ 3, sau Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng (xem Bảng 3) Trung du miền núi phía Bắc chỉ chiếm 6,3% số người trả lời, Tây nguyên 6,5%

Bảng 3 Nơi cư trú hiện nay của người làm trắc nghiệm theo vùng địa lý-kinh tế

Trang 7

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

Kết quả chấm điểm các nhóm tính cách cho kết quả như sau (xem Bảng 4 và Bảng 5):

- Tính cách Artistic chiếm ưu thế lớn nhất trong cả tính cách thứ 1 (mạnh nhất)

và tính cách thứ 2

- Tính cách Investigative là tính cách lớn tiếp theo trong cả Tính cách 1 và Tính cách 2

- Tính cách Realistic là tính cách yếu nhất, tiếp theo là Conventional

Sự phân bổ không đồng đều các nhóm tính cách này cho thấy việc chọn nghề và ngành đào tạo trong tương lai của học sinh hiện nay đang có những điều chưa được hiểu rõ

Bảng 4 Nhóm tính cánh nổi trội nhất

E - Enterprising (Người thuyết phục) 179 13,8

Trang 8

Bảng 5 Nhóm tính cánh nổi trội thứ 2

E - Enterprising (Người thuyết phục) 231 17,8

Trang 9

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

Trang 11

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

Hình 4 Phân bố tổng điểm về sở thích nghề nghiệp theo thành phần dân tộc

Tổng số điểm về sở thích nghề nghiệp của học sinh về cơ bản không có khác biệt giữa học sinh người Kinh và học sinh người DTTS (tham khảo Hình 4) Điểm trung bình của 2 nhóm học sinh này lần lượt là 29,17 và 29,71 (trên thang điểm tối đa 60)

Tuy nhiên khi xét phổ điểm sở thích nghề nghiệp theo vùng ta thấy học sinh vùng Tây nguyên và trung du miền núi phía Bắc là những nhóm có điểm số về sở thích nghề nghiệp thấp hơn các vùng khác (xem Hình 5)

Trang 12

Hình 5 Tổng điểm về sở thích nghề nghiệp theo vùng

Trang 13

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

Hình 6 Tổng điểm về sở thích nghề nghiệp theo bậc học

Giữa THCS và THPT có sự khác biệt của tổng điểm sở thích, khi mà học sinh THCS

có điểm số cao hơn học sinh THPT và các đối tượng học các bậc học khác Học sinh trung học cơ sở có phổ điểm này rộng hơn học sinh THPT trong khi số đã học xong THPT có phổ điểm hẹp hơn cả (Hình 6)

Trang 14

Hình 7 Tổng điểm về sở thích nghề nghiệp theo khối lớp

Điều này cũng đúng khi xét tổng điểm sở thích nghề nghiệp theo khối lớp Học sinh lớp 8 và 9 có điểm cao hơn các lớp THPT và học sinh lớp 12 có điểm sở thích nghề nghiệp thấp nhất

Dường như đây là nghịch lý vì học sinh THPT sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến các hoạt động nghề nghiệp Phải chăng định hướng của gia đình đang có tác động ngược đến quan tâm nghề nghiệp của học sinh THPT?

3.4 Chênh lệch giữa điểm số của các tính cách

Nếu lấy độ chênh lệch (tính bằng điểm số) giữa các tính cách là thước đo về sự chắc chắn của các quan tâm/sở thích nghề nghiệp(“EXPLORIX® - Entdecken Sie Ihre beruflichen Möglichkeiten,” n.d.)6 thì thành phần dân tộc của học sinh không tạo ra sự khác biệt (xem Hình 8) Giải phân bố điểm chênh lệch giữa nhóm tính cách cao nhất

và thấp nhất của 2 đối tượng học sinh này về cơ bản tương đồng nhau

6 Chênh lệch càng lớn thì sự phân biệt / phân giải của các quan tâm nghề nghiệp càng lớn

Trang 15

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

Hình 8 Độ chênh lệch giữa điểm các tính cách theo thành phần dân tộc

Tuy nhiên chênh lệch về điểm giữa các tính cách dường như có dao động nhiều hơn ở bậc THPT so với THCS (Hình 9), có thể vì học sinh còn mơ hồ về các sở thích nghề nghiệp và mong muốn chọn nghề

Hình 9 Độ chênh lệch giữa điểm các tính cách theo bậc học

Trang 16

Chênh lệch điểm số của các tính cách thể hiện theo khối lớp cũng khá rõ khi mà học sinh lớp 12 có độ chênh thấp nhất trong khi học sinh lớp 8 và 9 có độ chênh lệch lớn nhất, cao hơn cả các đối tượng đã học xong THPT (xem Hình 10) Phải chăng áp lực bên ngoài về chọn nghề - ngành học đã làm cho học sinh THPT không ý thức được sở thích nghề nghiệp/tính cách của mình

Hình 10 Độ chênh lệch giữa điểm các tính cách theo khối lớp đang học

Trang 17

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

Hình 11 Mức độ phù hợp giữa các nghề lựa chọn và tính cách theo thành phần dân

tộc

Xét mức độ phù hợp giữa các nghề đã chọn và tính cách học sinh trung học cơ sở là nhóm đạt được sự ổn định hơn cả (Hình 12) Học sinh THPT có khoảng biến động lớn nhất, dường như vì sự thúc ép trong khi xác định con đường nghề nghiệp tương lai và chuẩn bị ngành học ở bậc đại học trong khi học sinh THCS ít chịu các áp lực này hơn

Trang 18

Hình 12 Mức độ phù hợp giữa các nghề lựa chọn và tính cách theo bậc học

Sự vênh giữa tính cách và lựa chọn nghề nghiệp thể hiện mạnh nhất ở học sinh lớp 10

và lớp 12 (Hình 13), 2 khối lớp mà học sinh phải có những quyết định rất quan trong

về con đường học tập (học gì) và tương lai nghề nghiệp của mình (học gì tiếp theo)

Trang 19

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

Hình 13 Mức độ phù hợp giữa các nghề lựa chọn và tính cách theo khối lớp

Một điểm đáng quan tâm là Mức độ phù hợp giữa các nghề lựa chọn và tính cách của học sinh vùng trung du miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung đạt giá trị thấp nhất (xem Bảng 8)

Bảng 8 Mức độ phù hợp giữa các nghề lựa chọn và tính cách theo vùng

Vùng địa lý - kinh tế Trung bình Mẫu Độ lệch chuẩn

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền

Trang 20

Bảng 9 Mức độ phù hợp giữa các nghề lựa chọn và tính cách theo khối lớp

Đây là câu hỏi mở và kết quả thu được khá lớn và đòi hỏi nhiều công sức để phân tích chi tiết Tuy nhiên một số quan sát bước đầu cho thấy

Trang 21

Lê Đông Phương – Cao Thị Phương Chi

Khảo sát sở thích nghề nghiệp của học sinh

- Những nghề được quan tâm học sinh quan tâm nhiều nhất là:

- Một số học sinh chọn con đường tương lai theo các hình dung về tương lai của mình như kiểu ‘ngôi sao Kpop’ hoặc ‘Idol hàn Quốc’ Ở mức độ nào đó nó phản ánh tác động của toàn cầu hóa đến các thế hệ học sinh Việt Nam

Tuy nhiên qua các trả lời về lựa chọn nghề cho tương lai một vấn đề thể hiện rất rõ là học sinh chưa phân biệt được các khái niệm cơ bản trong hướng nghiệp, tư vấn chọn nghề

4 Một số kết luận ban đầu

- Học sinh phổ thông Việt Nam vẫn còn rất mơ hồ về tương lai của mình Họ chưa nhận thức đúng được đặc điểm tính cách bản thân và sự phù hợp với các ngành nghề của xã hội

 Hoạt động hướng nghiệp, tư vấn chọn nghề / chọn con đường học tập cần phải được đẩy mạnh hơn nữa

Trang 22

- Hiệu quả của các hoạt động giáo dục hướng nghiệp vẫn còn rất hạn chế, chưa

có tác động rõ rệt đến sự lựa chọn tương lai của học sinh Các số liệu cho thấy học sinh THPT đang có những lựa chọn ‘yếu’ nhất, do ảnh hưởng của các tác nhân bên ngoài quá trình giáo dục

 Cần có những cấu phần có hiệu quả hơn trong hoạt động giáo dục để giúp các em định hướng tốt hơn

- Nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa được chuyển hóa thành tư duy và hành động của học sinh Học sinh vẫn đang tư duy về nghề nghiệp – con đường học tập với cảm xúc riêng của mình thay vì dựa trên các nền tảng tâm lý – giáo dục học hoặc trải nghiệm cuộc sống của bản thân hay người thân trong gia đình

 Cần có những cách tích cực hơn để đưa các kiến thức, nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp thành năng lực quyết đinh tương lai cho học sinh

- Việc có một tỷ lệ rất lớn học sinh quan tâm đến các khía cạnh mang tính

Artistic cho thấy học sinh đã ‘ngán’ sự gò bó của quá trình học tập và muốn

‘phá cách’ để tìm kiếm sự tự do xác định tương lai của mình Tuy nhiên điều này làm sai lệch cách nghĩ và sự chuẩn bị cho xã hội tương lai ở cấp độ cá nhân – gia đình – nhóm tuổi, sẽ gây nên những hậu quả không tích cực trong phát triển nhân lực của tương lai,

 Giáo dục hướng nghiệp cần giúp học sinh định vị mình tốt hơn trong thế giới tương lai nhưng không làm mất đi các nét cá nhân của học sinh

tư vấn cho học sinh phổ thông về con đương tương lai của các em

Tài liệu tham khảo chính

1 EXPLORIX® - Entdecken Sie Ihre beruflichen Möglichkeiten (n.d.)

Retrieved December 17, 2018, from https://www.explorix.net/

2 Holland, J L (1997) Making vocational choices: A theory of vocational personalities and work environments Odessa, FL: Psychological Assessment Resources

Ngày đăng: 22/10/2019, 18:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w